|
(Click vào link
dưới đây xem slideshow)
https://photos.app.goo.gl/qUFwvZDSWj1rVGp47

Geiko of Kyoto
Sau một ngày đi viếng thăm Itsukushima Jinja và cầu Kintaikyo
miền Tây của Himeji [1] chúng tôi hướng về Đông đến cố đô
Kyoto. Mặc dù hai năm trước đã ghé thăm [2] và từng đi
“honeymoon” với nhau 40 năm trước, Kyoto lúc nào cũng có sức
quyến rũ kéo chúng tôi về lại nơi đây.
Kyoto cách Himeji khoảng chừng
55
phút bằng Hikari Shinkansen. Ngồi trên xe “super-express” nầy
thật thoải mái. Nói chung xe điện chạy đường xa của Nhật
lúc nào cũng mang đến cho ta một cảm hứng của kẻ “lữ
hành” khó tả. Từ xưa văn nhân NB thường dùng từ “lữ tình” (旅情)
để nói lên cái “roman” của chuyến đi xa xuyên biên giới –
nước Nhật xưa kia có rất nhiều biên giới của nhiều “tiểu
quốc” -thí dụ như Echigo, Kôzuke, Shinano, Mino, Hida, v.v.
“Quốc” của tiếng Nhật ngoài nước còn dùng để chỉ địa
phận hành chánh của “Han” (藩;
phiên) xưa kia. Đối với tôi những địa danh xưa của Nhật rất
thi vị nhất là sau khi nghe qua trong “jidaigeki”.

Kiyomizu-dera
Đến nhà ga Kyoto xong chúng tôi dùng xe bus để di chuyển trong
thành phố. Nơi đi xem đầu tiên của ngày hôm đó là chùa
Kiyomizu. Xuống xe ở trạm Gozo-zaka (五条坂)
chúng tôi đi lên cái dốc Monzen-Sando (
門前参道
) dẫn về chùa. Dọc đường có rất nhiều quán bán đồ đặc
sản và souvenir. Đây là con phố có nhiều kiến trúc của
thời Meiji còn sót lại.
Chùa Kiyomizu (
清水寺・Thanh
thủy tự) được cất từ thời Heian
(平安)
vào khoảng năm 798. Sau bao lần tàn lụi v́ hỏa hoạn, chùa được sứ
quân Tokugawa Iemitsu (徳川家光)
cho xây lại vào năm 1633 như ta thấy hiện nay. Chùa có nhiều
tự viện sơn son thếp vàng trừ “Honden” (本殿・bổn
điện), là nơi để ta đến xem hoa Anh đào vào mùa Xuân và lá
đỏ vào mùa Thu. Tự viện sau có chân cao lấy từ gỗ “keyaki”
(欅;
zelkova), chính điện từ gỗ “hinoki” (
檜;
Japanese cypress). Là một kiến trúc kỳ thú thu hút được sự
hâm mộ của Thế giới. Hiện nay tòa nhà đang được trùng tu
để chờ đón khách đến viếng vào dịp Tokyo 2020 Olympics.
Sau Kiyomizu-dera chúng tôi dùng taxi đi về Gion (祇園).
Gion là một khu thương mãi lớn, một đầu gần con sông Kamo (鴨川)
một đầu gần đền thờ thần Yasaka (
八坂神社).
Ông tài xế taxi thả chúng tôi xuống ở đầu đường Hanami dẫn
về chùa Kenninji (建仁寺).

Vọng Khuyết Lâu
Là một chùa Thiền Tông cổ nhất của NB do sư tổ Yôsai (栄西)
khai sơn năm 1202, Kenninji thuộc phái Rinzai (臨済).
Trong khuôn viên chùa nầy có một hồ "vô thủy" "Kareike" (枯池,
Zen garden) rất đẹp. Chùa có giữ tranh "Song long đồ" – một
quốc bảo của NB. Sư Yôsai cũng là người mang thuật uống
trà từ Tống quốc (TQ) về NB. Khi nói đến chùa Kennin chuyên
gia Nhật Học thường liên tưởng đến “Thiền”(禅),
“Trà”(茶)
và “Viên”(園),
i.e., vườn Thiền. Chùa là chỗ bắt đầu cho Thiền học như
nói phía trên. Bên trong khuôn viên chùa có một trà thất từ
thời Azuchi-Momoyama (c.1573-1600), nơi đây từng được Tôyôbô
Chôsei (東陽坊長誠)
dùng để dạy “wabi Cha” (詫茶;
trà đạo theo phong cách wabi sabi NB). Tôyôbô Chôsei là đệ tử
ruột của Trà Thánh Sen-no-Rikyū (千利休).
Dưới mái hiên của Sơn môn (山門
cũng viết là
三門;
cổng chùa) [3] có hàng chữ Hán望闕楼
(vọng khuyết lâu) làm cho tôi tò mò. Chữ “khuyết” (闕)
theo nghĩa Hán Việt là cái cổng hai tầng có phần giữa bỏ
trống để làm lối đi, ngoài ra còn có nghĩa là “hoàng cung”
như trong sự tích “đăng lâu vọng khuyết” (登楼望阙)
đời Tống TQ . Chữ vọng (望)
là ngó, chữ lâu (楼)
là lầu đài. “Vọng khuyết lâu” đọc theo âm Nhật là
“bô-getsu-rô”, có nghĩa là “lầu nhìn về Hoàng cung nơi vua
ở” – Một nhắc nhở về mối tương quan giữa Phật và Thần của
NB. Tầng trên của Sơn môn có thờ tượng Phật Thích Ca Như Lai
(釈迦如来),
Phật Ca Diếp (迦葉),
Phật A Nan (阿難)
và 16 La Hán (十六羅漢).
Ngày chúng tôi tới cây “kaede” (楓;
thường được gọi là “momiji”) gần Sơn môn (山門)
đang đổi màu lá đỏ trông rất ăn ảnh!.

Cây Momiji trước cổng chùa
Sau Kenninji chúng tôi đi bộ về “Yasaka Jinja” (八坂神社).
Đền Thần (Jinja) nầy có cổng sơn son đỏ rất rực rở nhất
là dưới ánh nắng buổi chiều. Lịch sử của Yasaka-jinja đã
có trên 1350 năm. Đây là nơi dân Kyoto đến cầu nguyện thánh
thần cho được phước lành và cũng là nơi để quan thưởng hoa
Anh đào vào đầu xuân. Mỗi năm vào tháng bảy đền thờ là nơi
cử hành lễ “Gion Matsuri” (祇園祭).
Trong lễ nầy người ta đi diễu hành trên phố vừa khiêu vũ
vừa ca hát gọi là “Nagashi Odori” (流し踊り)
theo sau những chiếc xe cồ “dashi” (山車)
rất hào hứng.

Yasaka-jinja dưới ánh nắng chiều
Trước khi khuất nắng chúng tôi ghé phố Gion trên đường Shijô
(四条通り)
gần Yasaka-jinja để tìm mua vài món quà mang về Ohio cho
bạn. Ngoài những tiệm buôn đồ đặc sản và souvenir Gion còn
nổi tiếng là nơi có nhiều “ochaya“(お茶屋;
tea houses) nơi mấy nàng “Geiko”(芸子;
cũng gọi là Geisha ở Tokyo) đến phục vụ khách sang trọng
buổi chiều đêm. Người thích ăn mặc theo truyền thống NB chắc
không bỏ qua cơ hội tìm đến những “shinise” (老舗;
cửa tiệm lâu đời) chuyên về “gofuku” (呉服;
quần áo Nhật) để xem những mẫu hàng “Kyo-yuzen-some” (京友禅染;
vải lụa in nhuộm cổ truyền) thời trang tuyệt mỹ cho
“kimono”. Từ ngàn xưa dân Kyoto nổi tiếng là thích ăn diện
cho dù đến phải phá sản.
Thời gian cho chuyến thăm Kyoto năm nay rất ngắn ngủi. Biết
thế chúng tôi chỉ chọn những nơi nào mình muốn xem, tránh
đi lê thê như những lần trước, nhờ thế thấy cũng khá đầy
đủ. Ngoài sự ngắm cảnh chụp hình mục đích của tôi là tìm
điều để học hỏi về văn hóa NB. Kyoto có trên 2000 chùa
chiền và Thần xã. Với dân số là khoảng 1.5 triệu, thế thì
mật độ dân cho mỗi tự viện là ~750, con số nầy tương đương
với con số 738 dân/church (no. 4 US) của thủ đô Washington Hoa
Kỳ.

Thiên thần -鬼瓦
(bị cột đuôi?)
Lòng tín ngưỡng của dân cố đô được thể hiện qua cách sống
hàng ngày. Đi vài bước ta sẽ thấy có tượng “Jijô” (地蔵;
địa tạng) – một tượng trưng của lòng từ bi theo Phật Giáo.
Có chùa có hơn 1000 tượng Jijô. Trước cửa nhà dân gian
thường có cái chậu hoa, cây “bonsai” hay món trang sức gì đó
thí dụ như cái “mini-torii”, cái đèn lồng, thiên thần bằng
đất nung trên mái ngói (gọi là “onigawara” –
鬼瓦).
Tôi thích nhất là những tấm “noren” (暖簾)
trước cửa tiệm buôn – đây là những tấm màn vải gai mềm mại
có in chữ để mời gọi người vào. Nhiều “noren” dùng chữ
Hán viết theo Thư đạo (書道)
một cách “fancy” khiến tôi phải tò mò nghiên cứu nhiều ngày
mới ra câu trả lời. Đó là những chữ người Nhật thường
cũng phải bó tay.
Trong phố Gion có một quán cơm tên là “Kiyoshi” và viết là “㐂與志“.
Chữ “㐂”
(i.e., hỷ) vốn là lược tự của
喜.
Cách đọc theo chiết tự của
㐂là
“thất thập thất”, i.e.,
七十七.
Người Tàu và Nhật xưa kia hay chơi chữ nên khi chúc ai sống
đến 77 tuổi thì họ dùng “hỷ thọ”, tức “喜寿”
[4].

Kiyoshi Restaurant
Trên đường Hanamikoji của Gion có một “ochaya” (お茶屋;
i.e., tửu gia) tên là “Ichiriki-tei”. “Ichiriki-tei” có lịch sử
rất lâu đời ở Kyoto. Tranh “ukiyo” (浮世絵)
của Utagawa Hiroshige (歌川広重)
có vẽ hình của nhà nầy dưới nhan đề “Ôishi Kuranosuke” (大石蔵之助).
Ôishi là “rônin” – i.e., samurai mất chủ, thủ lĩnh của 47
rônin giả vờ sống say sưa như kẻ thất chí trong quán
“Ichiriki”” để mưu kế phục thù cho chủ.

Ichiriki-tei nơi Ôishi sống say sưa với Geiko – tranh Utagawa
Người ta cũng kể rằng anh hùng cách mạng cuối thời Edo như
Ôkubo Toshimichi (大久保利通
), Saigô Takamori (西郷隆盛)
đã từng ra vào nơi đây. Ngày nay tên “Ichiriki-tei” viết là “一力
亭”
trong đó “亭”
là tửu đình. Nhà nầy vốn có tên là “Yorozu-tei (万亭)
trong thời Edo nhưng vì đã từng xuất hiện trong vở kịch
Kabuki - “Kana dehon Chushingura” (仮名手本忠臣蔵)
[5] qua cái tên “一力
亭”
(Ichiriki-tei) nên chủ của nó giữ để dùng sau đó. Cái màn
“noren” của nhà “Ichiriki” dùng một chữ Hán rất lạ, thoạt
nhìn dễ tưởng là một chữ
万
(vạn; đọc là “yorozu” hay “man” ), nhưng khi nhìn cẩn thận
thì mới biết không đúng vì phần dưới của nó là chữ
力
(lực). Vậy chữ ghi trên “noren” phải được tách riêng và đọc
là “ichi” (一)
và “riki”(力).
Không biết các bác nghĩ sao chớ theo tôi đây chắc phải là
cách chơi chữ “biệt kích văn nghệ” của dân Kyoto chăng?

Ryôtei Ichiriki
Ngày nay nếu bạn muốn ghé vào nhà nầy để ăn mà không có
“reservation” trước thì sẽ được một nàng “Maiko”(舞子;
i.e., Geiko đang tập sự)
ra đón với nụ cười: “ichigen san okotowari desu” (
一見さんお断りです)
– có nghĩa là “xin từ chối khách lạ ạ.....” vừa dễ thương
vừa khó hiểu. Biết rằng không thể ghé vào nhà “Ichiriki”
nầy để ăn bửa cơm “lịch sử” trước khi rời Kyoto chúng tôi
ghé quán “kaiseki” (会席料理)
[6] để thử mùi vị của cố đô. Tuy chọn quán có giá bình
dân nhưng cũng phải trả một “man” (万;
i.e., 10,000 Japanese yen, ~100 US dollars) cho mỗi người. So với
bửa cơm ở Mỹ thì hơi đắc giá nhưng nếu mà vào được
“Ichiriki-tei” thì tiền “tip” cho mỗi cô “Geiko” không cũng
phải cở chừng một “man”chưa kể tiền cho bửa ăn, rượu và
service khác. Nghĩ đến đó tôi mới biết câu nói từ chối nhỏ
nhẹ “ichigen san okotowari desu” của nàng Geiko không phải vì
có ác ý, mà thật ra là vì nhân đạo đó các bác ơi!
Naruhodo – Mùa vãn Thu năm 2018
Chú thích:
[1] Xem thêm bài viết về
Himeji,
Itsukushima và
Kintaikyo trên ERCT.com
[2] Xem thêm bài “Kyoto”
trên ERCT.com
[3] Sơn môn là một cổng chùa nằm sau chính môn đại biểu cho
3 cổng: Không môn, Vô tướng môn và Vô tác môn để tu trước khi
vào được Niết Bàn. Sơn môn cũng được gọi là 3 cửa giải
thoát, i.e.,
三解脱門
(sangedatsumon) khỏi Tham, Sân, Si.
[4] Tham khảo theo Đặng Lương Mô: “Các
từ Nhật ngữ liên quan tới tuổi thọ” trên ERCT.com
[5] Kịch liên quan đến 47 Rônin trung tiết như tranh của Utagawa
Hiroshige có vẽ trên “ukiyo-e”. Vở kịch “Kana dehon
Chushingura” (仮名手本忠臣蔵)
vốn dựa vào sự tích có thật “Akô jiken” (赤穂事件)
trong thời đầu Edo.
[6] “Kaiseki” hay “Kaiseki ryori” là món ăn đặc biệt của Kyoto.
“Kaiseki” có hai loại và viết khác nhau theo Hán tự, i.e.,
会席料理
vs.
懐石料理
- là từ đồng âm nhưng dị nghĩa.
会席料理
là bữa ăn gồm có nhiều món thường với “lượng” nhỏ nhưng
“chất” cao (theo người miền Nam ngày xưa), i.e., tương đương
với “haute cuisine” của Pháp. Còn
懐石料理
là bữa ăn thanh đạm đi theo lễ trà đạo wabi sabi.
|