|
Tóm tắt
Lo âu là một triệu
chứng b́nh thường trong cuộc sống. Mọi người ai cũng đă từng trải qua
cảm xúc và sự căng thẳng khi phải đối diện với những tác nhân gây nên
sự căng thẳng như sự thay đổi trong gia
đ́nh, nói chuyện trước đám đông, vấn đề gặp phải trong công việc làm,
hay khi phải quyết định một chuyện ǵ quan trọng.
Tuy nhiên, hỗn loạn lo âu th́ khác. Nỗi lo sợ do sự hỗn loạn lo
âu tạo ra mạnh đến nỗi có thể ảnh hưởng đến khả năng đối ứng với sư
căng thẳng của chúng ta. Đối với những người mắc
chứng hỗn loạn lo âu, lo lắng và sợ hăi xảy ra thường xuyên; đôi khi
t́nh trạng này càng lúc càng trở nên tệ hại hơn.
Hỗn loạn lo âu là
chứng bệnh thần kinh, ảnh hưởng đến khoảng 40 triệu người, khoảng
19.1% dân số ở Mỹ [1].
Nói một cách tổng
quát, có khoảng bảy loại rối loạn lo âu chính: chứng rối loạn lo âu
tổng quát, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo
âu có tính xă hội, rối loạn lo âu do sự chia cách,
chứng rối loạn do ám ảnh thúc
đẩy COD, chứng rối loạn căng thằng sau chấn thương PTSD, và sự rối
loạn lo âu phobias [2].
Trong bài
viết này, chúng tôi sẽ thảo luận ba loại rối loạn lo âu sau cùng trong
danh sách được đề cập trên.
Abstract
Anxiety is a normal
symptom of a person’s life. Everyone experiences feelings and physical
symptoms of stress when dealing with stressors such as changes in
family, speaking in public, facing with problems at work or making an
important decision. Anxiety disorders are,
however different. The distress they cause is so great that it could
interfere with a person’s ability in response to stress. For people
with anxiety disorders, worry and fear are constant and could get
worse over time.
Anxiety disorders
are the most common mental illnesses in the US, affecting
approximately 40 million adults, or
19.1% of the population [1].
Generally speaking,
there are seven types of anxiety disorders: generalized anxiety
disorder, panic disorder, social anxiety
disorder, separation anxiety disorder, obsessive compulsive disorder
(COD) , post traumatic stress disorder (PTSD), and phobias [2].
In this article,
we’re going to discuss the last three anxiety disorders on the list.
Từ khóa:
anxiety disorders, obsessive compulsive disorder,
post traumatic stress disorder, phobias, panic disorder,
cortex pathway,
cognitive signs, physical signs, behavioral signs, sexual abuse/
violence, parasympathic
nervous system.
1.
Vài lời giới thiệu
Trong
những bài viết trước, chúng tôi đă tŕnh bày về phản ứng chống
trả-trốn chạy hay khuất phục cùng với những nguyên nhân gây nên sự
căng thẳng, lo âu và sợ hăi [3-5]. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ
thảo luận về ba chứng bệnh chính liên quan đến rối loạn do sự căng
thẳng, lo âu và sợ hăi gây nên: chứng rối loạn do ám ảnh thúc đẩy
COD, chứng rối loạn căng thằng sau chấn thương PTSD, và sự rối loạn
lo âu phobias.
Khi bị
rối loạn lo âu, con người thường gặp phải một hay nhiều triệu chứng
như sau:
(i)
triệu chứng vật lư (physical signs) như đổ mồ hôi, tim đập nhanh, thở
nhanh, miệng khô, chóng mệt, và nôn mửa;
(ii)
triệu chứng về nhận thức (cognitive signs): khó khăn trong việc kiểm
soát sự lo âu và chú tâm vào sự việc, tính t́nh dễ thay đổi, lập lại
nhiều lần cùng một suy nghĩ, lo sợ, dễ bị căng thẳng hay giận dữ bất
thường;
(iii)
triệu chứng về thái độ (behavioral signs): tránh những t́nh huống có
thể khởi động sự lo âu, khó giữ được trạng thái b́nh tĩnh, khó ngủ,
hoặc thường nghĩ đến những sự kiện đă xảy ra. Ngoài ra c̣n có những
hành vi khác như: không c̣n quan tâm đến những hoạt động thích làm lúc
trước, gặp khó khăn ở trường học hay nơi làm việc, khó tận hưởng thời
gian nhàn rỗi v́ thường dễ bị phân tâm v́ lo lắng, khó khăn trong liên
hệ với những người chung quanh;
(iv) và
có thể đưa đến bệnh trầm cảm.
2.
Vài chứng bệnh liên quan đến sự lo âu, sợ hăi và căng thẳng
Đại khái
có khoảng bảy loại rối loạn lo âu (anxiety disorders) : (i) rối loạn
lo âu tổng quát (generalized anxiety disorder hay GAD): lúc nào cũng
phập phồng lo âu thoái quá về nhiều sự việc từ sức khỏe chính ḿnh,
sức khỏe người khác, đến tài chánh. Thường cảm thấy băn khoăn hoặc
bồn chồn lo lắng như có một điều ǵ không tốt sắp hay đang xảy ra mà
không biết lư do; (ii) rối loạn hoảng sợ (panic disorder): một cảm
giác sợ hăi, và lo lắng mănh liệt xảy ra rất đột ngột; (iii) rối loạn
lo âu có tính xă hội (social anxiety disorder): sư lo lắng và sợ hăi
quá độ về một t́nh huống trong xă hội. Lo lắng bị phán đoán hay bị
người khác theo dơi. Có thể tránh những cuộc gặp gỡ nếu có thể được
hay cố gắng chịu đựng đi gặp, nhưng không cảm thấy thoải mái; (iv)
rối loạn lo âu do sự chia cách (separation anxiety disorder): xáy ra
vào thời thơ ấu, như trong trường hợp những đứa trẻ phải xa cách cha
mẹ; (v) chứng rối loạn do ám ảnh thúc đẩy (obsessive compulsive
disorder COD): suy nghĩ quá độ do ám ảnh và cưỡng bức; (vi) chứng rối
loạn căng thằng sau chấn thương (post traumatic stress disorder PTSD):
triệu chứng này thường xảy ra sau chấn thương và (vii) sự rối loạn lo
âu đặc thù phobias (specific phobias): lo âu quá độ khi đối diện với
một sự vật hay một t́nh huống đặc biệt (H́nh 1) [2].

H́nh 1.
Bảy rối loạn lo âu chính: chứng rối loạn lo âu tổng quát (generalized
anxiety disorder hay GAD), rối
loạn hoảng sợ (panic
disorder), rối loạn lo âu có
tính xă hội (social
anxiety disorder), rối loạn lo âu
do sự chia cách
(separation anxiety disorder),
chứng rối loạn do ám
ảnh thúc đẩy (obsessive compulsive disorder COD), chứng rối loạn căng
thằng sau chấn thương (post traumatic stress disorder PTSD), và sự rối
loạn lo âu đặc thù (specific
phobias) [2].
3.
Trạng thái rối loạn do ám ảnh thúc đẩy (compulsive obsessive disorder
OCD )
Trạng
thái rối loạn do ám ảnh thúc đẩy OCD đến từ đường vỏ năo (cortex
pathway). OCD biểu hiện một mô dạng bệnh lư tạo ra sự ám ảnh
(obsession) khi tư duy và sự sợ hăi nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng
ta; và thường lập lại với tính cách thúc đẩy và cưỡng bức
(compulsive). Những hành vi thúc đẩy này thường th́ có thể giảm
thiểu sự lo âu do ám ảnh một cách tạm thời; nhưng t́nh trạng ám ảnh
vẫn cứ tiếp tục lập lại trong tương lai.
Chúng ta có thể phớt lờ đi sự ám ảnh, nhưng điều này chỉ làm gia tăng
thêm nỗi lo âu và sự đau khổ tinh thần. Cuối cùng chúng ta lại cảm
thấy phải cần sự kiềm chế hay thúc đẩy để xoa dịu bớt sự căng thẳng;
sự ám ảnh này v́ thế vẫn cứ tiếp tục quay trở lại. Và kết quả là chúng
ta sẽ nằm trong một ṿng luẩn quẩn của sự ám ảnh, thúc đẩy và lo âu-
sợ hăi của OCD.
Thí dụ
1
Jane luôn
có ám ảnh là bàn tay cô ta lúc nào cũng có thể bị ô nhiễm với bụi bậm
và vi trùng. Rửa tay xong rồi, cô lại bị “thúc đẩy“ phải rửa tay trở
lại vài phút sau đó. Đây là chuyện cô làm thông thường mỗi ngày. Chống
lại sự “thúc đẩy“ sẽ kích hoạt hạch hạnh nhân, phần vỏ năo ở quỹ đạo
trán (orbitofrontal cortex) và phần vỏ năo vành đai phía trước
(anterior cingulated cortex); kết quả là sự lo âu cứ tiếp tục gia
tăng.
Thí dụ 2.
Đối diện từ từ với cảm giác lo âu.
Khi đi bơi, bạn thường xuống nước từ từ
để cho cơ thể có cơ hội điều chỉnh với nhiệt độ nước trong hồ bơi hay
ở biển.
Lúc đầu th́ lạnh; nhưng dần dần quen đi.
Trường hợp của trạng
thái rối loạn do do ám ảnh thúc đẩy
OCD cũng tương tự như vậy: nếu bạn có
thói quen rửa tay mỗi lần sờ đồ hộp; thay v́ chống trả thói quen này,
bạn cứ lập đi lập lại động tác sờ mó này cho đến khi bạn cảm thấy thói
quen này giảm đi và sau cùng biến mất. Đừng “trốn
chạy” cho đến khi bạn đạt được hiệu quả mong muốn. Nếu không,
bạn sẽ tạo nơi hạch hạnh nhân một ư niệm
cho rằng trốn chạy là giải pháp thích hợp đối với t́nh trạng lo âu
bạn đang gặp phải.
Thí dụ 3
Quyết tâm hành
động
Phải tạo cho chính
ḿnh cơ hội trải nghiệm với t́nh trạng sợ
hăi và lo âu nếu muốn thay đổi phản ứng của bạn đối với những ǵ gặp
phải. Trải nghiệm là giải pháp huấn luyện hạch hạnh nhân (amygdale) và
là phương pháp hữu hiệu để thay đổi sự kết nối của những tế bào thần
kinh trong năo— nhân tố gây nên sự sợ hăi
và lo âu.
Thí dụ 4
Những thí dụ khác
về trạng thái rối loạn do do ám ảnh thúc đẩy OCD:
(i) động tác quá
trớn trong việc rửa tay, đánh răng, tắm rửa (thí dụ 1); (ii) động tác
làm sạch những đồ dùng trong nhà nhiều lần; (iii) cố dàn xếp những đồ
vật theo một thứ tự đặc biệt; (iv) kiểm tra nhiều lần trong một ngày
những vật dụng trong nhà như đồng hồ, nút điện, cửa, dụng cụ nấu nướng
giặt giũ…
Thí dụ 5
Thí dụ
sau đây nhằm đơn cử hai trường hợp gây nên sự lo âu: một là sự lo âu
đến từ vỏ năo và hai là sự lo âu đến từ hạch hạnh nhân. Có thể bạn
chứng kiến hay nghe nhiều tin tức về chuyện nhà cháy do sự bất cẩn.
Sau đó, bạn trở nên cẩn thận hơn. Theo thời gian, sự cẩn thận này đi
quá trớn, ám ảnh hoạt động thường ngày của bạn,
Trên
đường lái xe đi làm vào một buổi sáng, bạn chợt nhớ lại là không biết
ḿnh đă tắt lửa ḷ nấu ăn hay chưa. Bạn bắt đầu theo dơi tŕnh tự về
những động tác của bạn từ lúc mới thức đậy cho đến khi rời khỏi nhà để
kiểm soát lại một cách chắc chắn hơn về chuyện tắt ḷ. Nhưng càng suy
nghĩ bạn lại càng rối hơn: và rốt cuộc bạn vẫn không thể nào nhớ lại
một cách chính xác là ḿnh đă tắt ḷ hay chưa…Có thể bạn đă tắt; mà
cũng có thể bạn chưa tắt. “Nếu lỡ ḿnh quên tắt, th́ nhà có thể
cháy..?!!”, bạn tự nói với chính ḿnh. Càng suy nghĩ, mức độ lo lắng
lại càng tăng lên. Bạn quyết định quay trở lại nhà để kiệm soát môt
lần nữa cho “chắc ăn”! Cứ thế, sự lo âu này cứ tiếp diễn hàng ngày,
chẳng những chiếc ḷ nấu ăn mà c̣n lan rộng đến những sự kiện chung
quanh như đóng cửa hay gửi mail...Đầu óc bạn sẽ không c̣n “b́nh
thường“ như trước nữa; lúc nào cũng lo lắng và thường hay nổi giận với
chính ḿnh và người chung quanh...
Thí dụ
6
Lượng
melatonin thường thấp ở những người mắc bệnh OCD. Điều này ảnh hưởng
nhiều đến chu kỳ giấc ngủ. Nếu lượng melatonin thấp, bạn sẽ mất ngủ và
khả năng làm việc hàng ngày của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Sự mất ngủ c̣n
làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn.
4. Rối loạn
căng thẳng sau chấn thương (post traumatic stress disorder PTSD)
Rối loạn căng thẳng sau chấn thương xảy
ra có thể sau khi bạn trải qua hay chứng kiến chấn thương.
Chúng ta thường nghe báo chí hay cộng đồng đề cập về PTSD khi nói về
những người lính sau hay trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng thực ra PTSD
có thể xảy ra từ những sự kiện khác như những người sống sót sau những
kinh nghiệm sợ hăi kể cả bạo lực t́nh dục (sexual violence) hay lạm
dụng t́nh dục (sexual abuse). Chấn thương cũng
thường xảy ra ở thời thơ ấu. Những người trải nghiệm
PTSD luôn luôn cảm thấy sự nguy hiểm, bị
đe dọa, buồn bă, căng thẳng hay lo lắng quá độ và rất khó sống một
cuộc sống b́nh thường.
Những triệu chứng
của rối loạn căng thẳng sau chấn thương PTSD có thể được phân loại như
sau:
1. Tái trải nghiệm
(re-experiencing): cảm tưởng như sống lại những sự kiện đă xảy ra qua
ác mộng hay suy nghĩ. Có cảm giác cơ thể đang
sắp bị lâm nguy mỗi khi gặp một điều ǵ làm bạn nhớ lại sự chấn thương;
2. Tránh né
(avoidance): thay đổi hành vi một cách vô t́nh hay cố ư để tránh những
ǵ liên quan đến sự chấn thương hay không c̣n quan tâm đến những hoạt
động mà bạn hăng say lúc trước;
3. Dễ bị kích động
(hyper-arousal): luôn luôn có cảm giác “căng thẳng”.
Khó ngủ và dễ giận dữ một cách đột ngột.
Bi quan về tương lai và có cái nh́n tiêu cực về người khác;
4. Khi bị PTSD,
hạch hạnh nhân trở nên hiếu động hơn (hyperactive) và vỏ trước trán
giảm hoạt động hơn so với lúc b́nh thường.
4-1. Nguyên
nhân có thể gây nên chấn thương trong PTSD
Điều nên ghi nhớ ở
đây là khi lâm vào một trong những t́nh
trạng trên, chúng ta có thể bị căng thẳng v́ chấn thương (traumatic
stress); nhưng không hẳn là chúng ta sẽ bị rối loạn do sự căng thẳng
sau chấn thương PTSD.
Ngoài trường hợp
liên quan đến việc đánh trận, những nguyên nhân tiêu biểu có thể gây
nên sự chấn thương có thể tóm tắt một cách đại khái như sau:
(i)
Bị ngược đăi bằng lời nói hay cảm xúc;
(ii) Bị ngược đăi
thể xác hay tấn công t́nh dục, loạn luân, bắt làm con tin;
(iii) Bị bỏ rơi hay
lạm dụng lúc c̣n nhỏ. Trường hợp điển h́nh
là cha mẹ hay người coi sóc không để ư đến nhu cầu cần thiết của đứa
trẻ về cơ thể và tinh thần như không cho đứa trẻ ăn lúc đói, không tắm
rửa hay giặt giũ quần áo dơ, không an ủi, dỗ dành những lúc đưa bé sợ
hăi hay buồn rầu;
(iv) Bị
bắt nạt hay chứng kiến sự bắt nạt ở trường học;
(v) Tai nạn
xe hơi, tai nạn trong kỹ nghệ, tai nạn do
thiên nhiên gây ra;
(vi) Bị
tấn công về thể xác, hiếp dâm, tra tấn chính trị, tù đày trong trại
tập trung
(vii) Cuộc sống tị
nạn, bị mất người thân;
(viii) Chứng kiến
sự chết chóc trong chiến tranh hay trong cuộc sống hàng ngày;
Những người mắc
bệnh PTSD thường : (i) có khuynh hướng trốn
tránh những ǵ có thể làm họ nhớ lại sự chấn thương, kể cả sự vật, con
người, nơi chốn, phim ảnh và ngay cả những mẫu chuyện đối thoại hàng
ngày; (ii) phản ứng căng thẳng, dễ cáu đưa đến sự giận dữ; (iii) ảnh
hưởng về nhận thức như trong trường hợp bị hăm hiếp. Nạn nhân thường
có thái độ bi quan về riêng cá nhân của họ
và hoàn cảnh chung quanh. Thêm vào đó, nạn nhân
có khuynh hướng không c̣n quan tâm đến những hoạt động mà họ yêu thích
lúc trước.
Thí dụ 7
H́nh 2 minh họa một
số triệu chứng liên quan thường xảy ra ở những người mắc chứng rối
loạn căng thẳng sau chân thương như: (i) ác mộng; (ii) hồi tưởng;
(iii) tránh những trường hợp làm họ nhớ lại những ǵ đă xảy ra; (iv)
t́m quên những khía cạnh quan trọng của sự chấn thương; (v) không thể
có những cảm xúc tích cực; (vi) khó chịu và dễ nổi giận; và (vii) có
thái độ tiêu cực về chính ḿnh và người khác [6].
H́nh 2.
Một số triệu chứng của sự rối loạn căng thẳng sau chấn thương
PTSD [6].
Thí dụ 8
Sự căng thẳng v́ chấn thương không nhất
thiết sẽ đưa đến PTSD.
Theo kết quả báo
cáo năm 2022 về COVID-19, có khoảng 20% trong số 100,000 chuyên viên y
tế đối diện hàng ngày với bệnh nhân của COVID bị nhiễm bệnh COVID. Một
trường hợp nữa liên quan đến người thân của những nạn nhân chết v́
bệnh COVID: số người có triệu chứng PTSD có gia tăng phần nào so với
số những người thân trong trường hợp trải nghiệm những chấn thương
khác. Sự khác nhau c̣n tùy thuộc vào hoàn cảnh
sau chấn thương. Theo Viện Tâm thần Quốc gia (the National
Institute of Mental Health), triệu chứng PTSD thường bắt đầu sớm,
khoảng 3 tháng sau chấn thương, nhưng đôi khi có thể xảy ra một hay
nhiều năm sau đó. Triệu chứng phải kéo dài hơn
một tháng và trầm trọng để được xếp loại vào PTSD [7]..
Thí dụ 9
Đối với người đàn bà, ở chu kỳ
kinh nguyệt, có thai hay sau khi sinh, lượng hoocmon thay đổi bất
thường nhất là estrogen và progesterone. Estrogen gia tăng cảm giác
lo lắng; một lượng estrogen cao c̣ thể gia tăng cơ hội gây nên OCD.
Với những người mắc chứng bệnh
PTSD, cơ thể của họ tiếp tục sản xuất một số lượng cao hoocmon về
chống trả hay trốn chạy ngay cả khi không có sự nguy hiểm nào cả.
Những triệu chứng khác do sự biến động về hoocmon có thể như: giận dữ
không duyên cớ, suy giảm khả năng tập trung, cảm thấy dễ mệt, nhức đầu,
mất ngủ,và dễ quên.
Theo kết quả của một số nghiên
cứu, những người mắc bệnh PTSD thường có một lượng hoocmon về căng
thẳng khá cao. B́nh thường ở những lúc nguy hiểm, cơ thể họ sẽ sản
xuất hoocmon về căng thẳng như adrenaline để gia tăng độ nhạy cảm của
giác quan và giảm cường độ đau đớn, Ở những người mắc chứng bệnh PTSD,
lượng cortisol (hoocmon về sự căng thẳng) nằm trong khoảng từ b́nh
thường đến mức độ thấp và hệ số tiết ra corticotropin CRF (corticotropin
releasing factor) gia tăng.
4-2.
Liên hệ giữa OCD và PTSD
Có một số không ít
những người mắc phải bệnh rối loạn căng thẳng sau chấn thương PTSD
đồng thời cũng nhiễm chứng rối loạn do ám ảnh thúc đẩy OCD. Một số nhà
nghiên cứu cho rằng ở một số trường hợp, hành vi liên quan đến sự ám
ảnh (obsessive behaviors) như rửa ráy nhiều lần hay lập đi lập lại
sự kiểm tra đồ vật cũng có thể thường xảy ra như một phương cách để
đối phó với sự căng thẳng sau chấn thương (post-traumatic stress).
Thực ra, một số kết quả nghiên cứu đă chứng tỏ độ nguy cập của triệu
chứng OCD có thể liên kết với số sự kiện
chần thương (traumatic events) mà bênh nhân gặp phải trong cuộc sống
của họ.
Mặc dù
những sự kiện này liên kết với nhau như thế nào vẫn
chưa rơ rệt, nhưng có một số lớn những
người bị chứng OCD cũng đă trải qua một số chấn thương trong quá khứ;
và một số triệu chứng của PTSD như thái độ luôn luôn cảnh giác sự vật
chung quanh (hypervigilance) – một điểm tương đồng với triệu chứng
OCD.
Thái độ
luôn luôn cảnh giác (như có) sự đe dọa chung quanh
có thể đưa đến sự thách thức suy luận v́ cá nhân người bệnh
lập đi lập lại những động tác như kiểm tra lại cửa ngơ, t́m kiếm xem
có sư nguy hiểm nào. Mục đích của những hành động
này là để giảm thiểu sự sợ hăi (như đă tŕnh bày ở phần 3 về OCD trong
bài viết này).
Cũng
rất dễ hiểu khi thấy một người đă trải qua một cơn hỏa hoạn bị ám ảnh
về việc chưa tắc ḷ nấu ăn và v́ thế có thể gây cháy nhà; hay một
người bị ăn trộm vào nhà lúc nào cũng kiểm soát cửa ngơ. Tuy nhiên
cũng rất quan trọng là ư thức được độ cảnh giác- nếu đi quá độ có thể
dẫn đến t́nh trạng COD hay PTSD hay cả hai.
5. Sự rối
loạn lo âu (phobias)
Cả hai từ “fear” và
“phobias” đều có thể dùng để nói về sự sợ hăi.
Nhưng thực sự th́ có sự khác nhau giữa hai từ này mặc dù cả hai từ có
liên quan với nhau. Nói một cách rơ rệt hơn,
“phobias” có thể đưa đến sự sợ hăi; nhưng sự sợ hăi có thể sẽ không
đưa đến “phobias”. “Fear” là phản ứng b́nh thương đối với sự đe
dọa thực sự sắp xảy ra thí dụ như sự sợ hăi khi có cơn băo sắp đến. V́
sự sợ hăi này, bạn chuẩn bị những thiết bị, đồ ăn
cần thiết trong nhà cho đến khi cơn băo qua đi. Trong khi đó “phobias”
là một sự rối loạn về lo âu (anxiety
disorder) đưa đến sự sợ hăi không hợp lư ngay khi bạn không đối diện
với một sự nguy hiểm nào hay không có sự nguy hiểm hiếm nào xảy ra cả:
chẳng hạn thấy một con rắn trong chương tŕnh truyền h́nh, bạn cảm
thấy lo âu và sợ hăi. Sự sợ hăi (fear) là một t́nh
trạng không thể tránh trong cuộc sống. Tuy nhiên khi nỗi sợ
hăi về một số t́nh trạng đặc thù có thể quá mạnh
làm cho tinh thần bạn có thể trở nên suy nhược và lâm vào trạng
thái phobias (hay phobias đặc thù).
“Phobias”có thể
xảy ra do sự liên kết với nhiều sự vật và t́nh trạng khác nhau, chẳng
hạn như sợ độ cao, lo lắng khi đi phi cơ, sợ súc vật, môi trường hay
không gian. Nếu “phobias” trở nên trầm trọng, con người có khuynh
hướng dàn xếp lại lối sống nhằm tránh những ǵ có thể gây cho họ sự lo
âu. V́ thế cuộc sống sẽ bị giới hạn với nhiều căng
thẳng và phiền muộn.
Có rất nhiều loại
phobias; nhưng chúng ta có thể chia làm hai loại chính: loại phobias
dơn giản và loại phobias phức tạp: Loại phobias đơn giản (simple
phobias) ít trầm trọng hơn chẳng hạn như sợ (i) động vật như chó, nhện,
rắn, chuột; (ii) môi trường như chiều cao, nước sâu hay vi trùng;
(iii) đi phi cơ; (iv) liên quan đến cơ thể như máu, chích kim…
Loại phobias phức
tạp (complex phobias): trầm trọng hơn, phần chính bắt nguồn từ sự lo
âu về một t́nh trạng hay hoàn cảnh đặc thù. Vài thí dụ của loại
phobias này như: (i) lo lắng khi ở một nơi
hay t́nh huống v́ cảm thấy sẽ gặp phải sự khó khăn để thoát khỏi trong
trường hợp có sự tấn công hoảng loạn (panic attack) như ở một ḿnh,
chỗ đông người, du lịch hay phương tiện công cộng; (ii) phobias có
tính xă hội (social phobias) như nói chuyện trước đám đông v́ sợ xấu
hổ hay có thể bị phê phán hay chỉ trích.
6. Kết từ
Cổ nhân có câu” một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”.
Câu này hàm chứa sự tương quan mật thiết giữa cơ thể và năo bộ, Nói
một nôm na hơn, khi bộ năo không hoạt động
tốt, th́ những chức năng khác trong cơ thể sẽ bị ảnh hưởng hay ngược
lại. Sự mất thăng bằng về hoocmon và hệ thống miễn dịch ảnh hưởng khả
quan đến năo bộ và cơ thể và v́ thế có thể đưa đến những bệnh liên
quan đến rối
loạn lo âu như
OCD hay PTSD. Một thí dụ điễn h́nh là
bệnh nhân với OCD thường thiếu melatonin— một hoocmon
rất quan trọng trong việc điều chỉnh giấc ngủ. Nếu
lượng melatonin thấp, bệnh nhân sẽ ngủ không đủ; cơ thể và sinh hoạt
hàng ngày v́ thế sẽ bị ảnh hưởng. Và nếu sự
thiếu ngủ như thế này cứ tiếp tục, hệ thống miễn dịch cũng sẽ suy yếu
dần, đưa đến những hậu quả trầm trọng đến thể xác lẫn tinh thần.
Kết quả nghiên cứu cũng cho biết có khá nhiều trường hợp,
OCD, PTSD và ngay cả phobias có khả năng liên hệ với nhau.
Thêm vào đó,
căng thẳng, sợ hăi và
lo âu – nằm trong số những nhân tố chính tạo nên sự thay đổi hoocmon
–có thể giảm thiểu bắng cách kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm
(parasympathic nervous system) bằng cách tập chánh niệm, sống trong
hiện tại, kết hợp việc thực tập sự thở hít sâu với thư giăn cơ bắp như
yoga, tai-chi và tập thể dục thông thường [4].
Trong bài
viết tới, người viết sẽ gợi ư một số phương pháp hy vọng có thể giảm
thiểu sự căng thẳng, lo âu hay sợ hăi. Nên nhớ là “có nhiều con đường
dẫn đến La mă” và
không
có một phương pháp nào có thể thích ứng cho tất cả mọi người. Tùy
theo sở thích cá nhân và hoàn cảnh sống,
chúng ta có thể chọn cho ḿnh một hay vài phương pháp tập luyện thích
hợp.
7.
Tài liệu tham khảo
[1]
https://www.forbes.com/health/mind/anxiety-statistics/
[2]
https://www.simplypsychology.org/anxiety-disorders.html
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2040-01102024.htm
[4]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2039-12122023.htm
[5]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2042-09012024.htm
[6]
https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/9545-post-traumatic-stress-disorder-ptsd
[7]
https://mightypursuit.com/blog/
October 14, 2024
|