|
Tóm tắt
Trục HPA (vùng hạ đồi- tuyến yên- tuyến
thượng thận) chẳng những đáp ứng với sự đe dọa thể xác, mà c̣n phản
ứng đối với những sự kiện được xem như là nguồn gốc gây
nên sự lo âu và sợ hăi.
Xă hội chúng ta đang sống đầy
rẫy sự căng thẳng và lo âu; v́ thế hệ báo động của trục HPA hầu như
lúc nào cũng ở vị trí ON; gây nên sự bất ổn định mănh liệt về hoocmon
ở mức độ khó kiểm soát được. Theo thời gian, cơ thể trở nên suy yếu,
ảnh hưởng đến t́nh trạng sức khỏe với những chứng bệnh như bệnh tim,
bệnh khó ngủ, bệnh trầm cảm, và sự suy giảm trí nhớ.
Abstract
The hypothalamic-pituitary-adrenal axis
HPA responds not only to the physical threats, but also to those that
are anticipated and perceived as the root causes of our anxiety and
fear. In our society where stress and worry are everywhere, the HPA
alarm is almost constantly in the ON position, thus causing wild
hormone instability in an unruly and destructive manner. Over time,
the body starts to burnout, leading to such health conditions as heart
disease, sleep problems, depression, and memory impairments.
Từ khóa:
hypothalamic-pituitary-adrenal HPA axis,
adrenocorticotropic hormone
ACTH, corticotropin relasing hormone CRH, cortisol, anti-inflammation
hormone melatonin,
glucocorticoids, epinephrine, norepinephrine, adrenal medulla,
negative feedback loop, homeostasis, adrenal fatigue, cognitive
fusion, cognitive
restructuring, rewiring the brain.
1. Vài nét tổng quát
Sự căng thẳng, sợ hăi hay lo
âu đi chung và có liên hệ khắng khít xen kẻ với nhau: yếu tố này dẫn
đến yếu tố kia và ngược lại. Thế nên, khi chúng ta đề cập đến một
trong ba trạng thái (căng thẳng, sợ hăi hay lo âu), chúng ta cũng sẽ
bao gồm hai trạng thái tâm thần c̣n lại. Thêm vào đó, hạch hạnh nhân
(amygdala ) và vỏ năo (cortex); cả hai đều có thể ở ba trạng thái tâm
thần trên.. Ư thức được nguyên do và nguồn gốc của những nhân tố này
có thể giúp chúng ta t́m được giải pháp thích hợp ngơ hầu có một cuộc
sống tinh thần thoải mái hơn cho chính cá nhân, trong gia đ́nh và
ngoài xă hội.
Nguyên nhân của căng thẳng, sợ
hăi hay lo âu đă được thảo luận trong bài viết trước [1].
Ở đây chúng tôi chỉ
đề cập thêm một số khía cạnh khác liên quan đến đề tài quan trọng này.
2. Trục HPA
(Hypothalamic-Pituitary-Adrenal axis)
Trục HPA là một tổ hợp gồm những tương
tác giữa vùng hạ đồi (hypothalamus), tuyến yên (pituitary gland), và
tuyến thượng thận (adrenal glands).
Trục này đóng vai tṛ thiết yếu trong việc điều chỉnh phương cách đối
ứng với sự căng thẳng, trạng thái tâm lư, sự tiêu hóa, chức năng miễn
dịch, tồn trữ và chi tiêu năng lượng trong cơ thể con người. Con
đường vận chuyển của trục HPA đưa đến sự
sản xuất cortisol. V́ đáp ứng đối với sư căng
thẳng nhằm tạo năng lượng diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối
dài, sự đáp ứng này không cần phải nhanh; v́ thế hoocmon có thể dùng
trong việc truyền tải tín hiệu.
Trục HPA gồm có một số tuyến tiết ra
hoocmon từ hệ thần kinh và hệ nội tiết.
Nhiệm vụ chủ yếu của trục HPA là điều
chỉnh phản ứng đối với sự căng thẳng.
Quá tŕnh chế tạo hoocmon trải
qua nhiều công đoạn: Trước tiên, khi nhận tín hiệu về sự đe dọa, hạch
hạnh nhân gửi tín hiệu đến vùng hạ dồi; vùng này tiết ra hoocmon giải
phóng corticotrophin CRH (corticotropin relasing hormone). Chất kích
thích tố CRH ra lệnh cho tuyến yên tiết ra chất hoocmon kích thích vỏ
thượng thận ACTH (adrenocorticotropic hormone) vào trong mạch máu.
Sau đó, ACTH di chuyển xuống đến tuyến thượng thận, thúc
đẩy mau lẹ quá tŕnh tiết ra nhiều chất kích thích khác nhau từ nhiều
thành phần thuộc tuyến thượng thận. Chất ACTH cũng gây nên sự tiết
ra một loại xteoid hoocmon (steroid hormone) có tên là
glucocorticoids từ vỏ năo; và một trong số này có cortisol- một chất
đóng một vai tṛ quan trọng trong phản ứng đối với sự căng thẳng.
ACTH cũng kích thích sự tiết ra chất epinephrine (hay adrenaline) và
norepinephrine từ tủy tuyến thượng thận (adrenal medulla). Khi được
tiết ra từ tuyến thượng thận, hai chất này hoạt động như hoocmon. Vai
tṛ của norepinephrine và epinephrine nhằm cảnh giác và giúp cơ thể
đối ứng với sự căng thẳng bằng cách báo động và gia tăng lượng máu đến
cơ xương (skeletal muscles) để chuẩn bị cho những hành động kế tiếp
(H́nh 1 và H́nh 2).

H́nh 1.
Con đường (pathway) của trục HPA kết
hợp vùng hạ đồi (hypothalamus), tuyến yên (pituitary gland), với tuyến
thượng thận (adrenal glands) trong việc sản xuất cortisol [2]

H́nh 2:
Cortisol
được tạo ra trong vỏ tuyến thượng thận (adrenal cortex). Tuyến
thượng thận nằm dưới sự điều khiển của tuyến yên (pituitary glands) và
gồm có hai phần: tuyến phần ngoài (outer glands) hay vỏ tuyến thượng
thận (adrenal cortex) và tuyến bên trong (inner glands) hay tủy
tuyến thượng thận (adrenal medulla). Tuyến bên trong sản xuất
epinephrine (hay adrenaline) [1&3].
Sự tiết ra chất cortisol tạo
nên một số biến đổi nhằm giúp cơ thể đối ứng với sự căng thẳng. Chẳng
hạn như chất cortisol giúp điều động việc cung cấp đủ năng lượng để
đối ứng với tác nhân gây ra sự căng thẳng. Sự bài tiết ra chất
cortisol và catecholamine nhằm tiếp viện thêm năng lực cho phản ứng
chống trả hay trốn chạy (flight-or- flight response).
Khi hàm lượng cortisol trong
máu quá cao, những cảm giác thụ thể (sensory receptors) trong năo có
thể ngưng lại phản ứng, theo ṿng hồi tiếp âm (negative feedback
loop). Quá tŕnh của ṿng hồi tiếp này “phanh lại“ các phản ứng nhằm
đưa cơ thể chúng ta trở về lại trạng thái cân bằng nội môi
(homeostasis). Tuy nhiên đối với trường hợp có sự căng thẳng măn
tính, hệ miễn dịch “bị thỏa hiệp” và không c̣n có thể kiềm chế lượng
cortisol tiết ra được nữa.
Vài nét về ACTH
(i) Thiếu hormone kích thích
vỏ thượng thận ACTH, vỏ thượng thận sẽ bị teo lại; (ii) ACTH kích
thích vỏ thượng thận tổng hợp và bài tiết hoocmon; (iii) ACTH có vai
tṛ làm tăng quá tŕnh học tập, trí nhớ và tăng cảm giác sợ hăi; (iv)
ACTH kích thích tế bào sắc tố sản xuất sắc tố melanin rồi phân tán sắc
tố này trên bề mặt da biểu b́ da;
(v) Hàm lượng ACTH do nồng độ
hoocmon giải phóng corticotrophin CRH quyết định. Khi CRH tăng th́
ACTH tăng. Ngược lại khi không có CRH, th́ lượng ACTH sẽ giảm rất
nhiều; và (vi) Lượng ACTH c̣n biến đổi theo nhịp sinh học: cao nhất
vào buổi sáng và giảm xuống tới mức độ thấp nhất khi đến gần nửa đêm.
Thí dụ về
“STRESS
mode“
Cortisol hoạt động như chuông
báo động sự căng thẳng. Khi năo bộ của bạn đưa ra quyết định đặt cơ
thể ở t́nh trạng cảnh báo hoàn toàn, lượng cortisol sẽ được thiết đặt
nhằm gia tăng đến mức độ có thể điều chỉnh một số cơ năng, chuẩn bị cơ
thể bạn chống trả hay trốn chạy (fight or flight). Đây gọi là SET mode
. Khi đến lúc cơ thể bạn cho là sự nguy hiểm đă qua rồi, năo bộ sẽ ra
lệnh điều chỉnh và giảm lượng cortisol tiết ra; và cơ thể trở lại
trạng thái b́nh thường (RESET mode) .
Nếu năo bộ không đưa ra tín
hiệu “lắng dịu lại”, hệ cảnh báo lúc nào cũng ở vị trí ON và cơ thể
bạn luôn ở trạng thái căng thẳng “STRESS mode”.
Thí dụ 2 về ṿng hồi tiếp âm
Chúng ta hăy dùng một hệ lắp
ráp dây chuyền với bộ phận ở đầu vào và sản phẩm ở đầu ra để cắt nghĩa
khái niệm cơ bản về ṿng hồi tiếp âm: Sản phẩm lắp ráp được chứa ở
nhiều dăy kệ trong pḥng bên cạnh. Khi sản phẩm chất đầy các dăy kệ
rồi, hệ lắp ráp sẽ chậm lại hay ngừng lại; nếu không số lượng hàng sẽ
bị ứ đọng; có thể gây nên những bất lợi về kinh tế hay sự hư hại về
sản phẩm. Khi dăy kệ bắt đầu trống, th́ hệ lắp ráp hoạt động trở lại
với công suất lúc đầu.
Thí dụ 3 về ṿng hồi tiếp âm
Cơ cấu hoạt động của cân bằng
nội môi nhằm tạo sự thăng bằng trong cơ thể. Ṿng hồi tiếp âm điều
chỉnh và duy tŕ những cơ quan trong cơ thể ở mức độ thích đáng nhất
để duy tŕ sự cân bằng nội môi và v́ thế giữ cho cơ thể chúng ta được
khỏe mạnh. Thí dụ như trường hợp của lượng đường trong máu (blood
glucose)- một nguồn năng lượng chính trong cơ thể. Thường th́ con
người chúng ta cần lượng đường trong máu vào khoảng 4g (mức độ tới
hạn) để duy tŕ sự hoạt động b́nh thường trong cơ thể mỗi ngày. Ṿng
hồi tiếp âm (và cũng có thể ṿng hồi tiếp dương trong một số trường
hợp) nhằm giữ lượng đường trong máu ở mức độ đ̣i hỏi. Khi lượng đường
glucose nằm ở dưới hay vượt quá mức độ tới hạn này, hoocmon sẽ “mở
ra“ hay “đóng lại“ nhằm gia tăng hay giảm thiểu lượng đường trong
máu, theo quá tŕnh hồi tiếp âm.
3. Sự kiệt quệ của tuyến
thượng thận (adrenal burnout)
Trong trạng thái b́nh thường,
lượng cortisol cao nhất trong ngày và hạ xuống thấp vào buổi tối nhất
là trước khi đi ngủ; khi đó melatonin -chất hoccmon chống viêm
(anti-inflammation hormone melatonin)- bắt đầu tiếp quản.
Trở về trường hợp của tổ tiên
chúng ta vào thời kỳ khoảng 100 ngàn năm về trước, khi họ bị những con
vật săn mồi tấn công, trục HPA phụng sự rất tốt trong việc bảo vệ họ
tránh khỏi được những sự nguy hiểm xảy ra bất th́nh ĺnh. Điều chúng
ta đối diện ở đây là trục HPA không thể phân biệt được t́nh trạng
thực sự nguy hiểm đến tính mạng xảy ra cho tổ tiên chúng ta ngày xưa
với t́nh trạng của những sự việc xảy ra hàng ngày trong xă hội hiện
tại [3]. Nói một cách khác, trục HPA không c̣n hoạt động hữu hiệu
trong việc phân biệt giữa những tác nhân gây ra sự căng thẳng tâm lư
như bị kẹt xe, hoạch định kế hoạch cho một buổi tiệc và trường hợp
sống c̣n mà tổ tiên chúng phải đối diện với một con vật săn mồi. Xă
hội chúng ta đang sống đầy rẫy những tác nhân kích thích sự căng
thẳng; v́ thế hệ báo động của trục HPA hầu như lúc nào cũng ở vị trí
ON. Lượng cortisol trở nên cao ở những thời điểm trong ngày đến nỗi
chúng ta cảm thấy không c̣n có thể đối diện được nữa với sự căng thẳng
do những hoạt động thông thường gây ra như viết email hay làm thức ăn
trưa đem đi làm.
Theo thời gian, cơ thể chúng
ta không c̣n có thể bồi thường hữu hiệu những thiệt hại do sự bất ổn
định dữ dội về hoocmon; lượng hoocmon v́ thế bắt sẽ kiệt quệ. Tuyến
thượng thận không c̣n có thể theo kịp với việc cung cấp lượng cortisol
liên tục tiết ra theo chỉ thị hành động của ATCH. Những cơ năng trong
cơ thể chúng ta v́ thế dần dần trở nên hoang mang, chùn bước và cuối
cùng ngừng đáp ứng đối với những đ̣i hỏi mới. Hiện tượng này thường
được gọi là sự mệt mỏi của tuyến thượng thận (adrenal fatigue) và có
thể đưa đến những t́nh trạng bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe như bệnh
tim, bệnh khó ngủ, khó khăn trong việc tiêu hóa, bệnh trầm cảm, ảnh
hưởng xấu đến trí nhớ, lên cân và những t́nh trạng tệ hại về da.
4. Sự lo âu do vỏ năo gây
nên và đường vỏ năo (cortex-based anxiety
and cortex pathway)
Như đă thảo luận ở những bài viết trước
đây, quá tŕnh tạo nên sự căng thẳng, lo âu và sợ hăi trong năo có thể
(và thường xảy ra) không có sự tham gia của vỏ năo.
Thông qua đường hạch hạnh nhân, phản ứng đối với sự sợ hăi có
thể xảy ra ngay trước khi quá tŕnh xử lư
của vỏ năo hoàn tất.
Khi tác nhân khởi xướng một phản ứng về
sợ hăi, sự thay đổi của tư duy hay h́nh ảnh có thể xoa dịu và pḥng
ngừa mà cũng có thể gia tăng sự lo âu, đưa đến những hậu quả bất lợi.
Thí dụ
4
Trong một buổi thi bằng lái
xe, Joe lo lắng, trong khi đó Ricardo th́
thản nhiên, bởi v́ anh ta bị thâu hút bởi những câu diễu cợt hóm hỉnh
của ba anh ta. Cả hai người đều thi đậu, nhưng chỉ
có Joe là phải trải qua một thời gian chờ đợi, chịu đựng sự căng thẳng
và lo âu.
Thí dụ
5
Một thí dụ khác, khi nhận một lá thư từ
sở thuế, tự động bạn nghĩ ngay trong đầu
là có thể là bạn đang nợ tiền chính phủ. V́ thế, bạn có vẻ lo lắng
khi xé phong thư; để rồi khám phá ra đây
chỉ là một lá thư thông báo thông thường cơ quan gửi đến tất cả những
người trả thuế.
Bằng cách thay đổi
cách suy nghĩ, chúng ta có thể thiết lập một dạng thức phản ứng mới.
Sự cắt nghĩa ở vỏ năo có thể gia tăng hay giảm thiểu sự lo âu. Thay
đổi suy nghĩ của chúng ta trước khi hạch hạnh nhân bị kích hoạt sẽ dễ
hơn trong việc lấy b́nh tĩnh trở lại so với trường hợp một khi hạch
hạch nhân đă can thiệp vào.
5. Sự dung hợp về nhận thức (cognitive
fusion)
Liên kết giữa tư duy và kinh nghiệm là
yếu tố cơ bản của sự dung hợp về nhận thức.
Sự liên kết này xảy ra khi chúng ta lâm vào một
t́nh huống mà chúng ta quên là điều chúng ta đang suy nghĩ chỉ là một
sự suy đoán mà thôi. Kết quả là một số
không ít những lo âu không cần thiết có thể xảy ra.
Để giảm thiểu sự liên kết này, nhiều nhà
tâm lư học đă nhấn mạnh sự quan trọng của việc đặt câu hỏi và thách
thức suy nghĩ của chính chúng ta.
Chúng ta phải triển khai một phương thức hành động như một người quan
sát (khách quan) hơn là một người đă có
sẵn tư duy rồi (chủ quan) khi theo dơi những ǵ đang suy nghĩ. Phương
thức này có tên gọi là tái tạo nhận thức
(cognitive restructuring). Học hỏi cách nghi ngờ suy nghĩ do lo âu
gây nên và thách thức suy nghĩ với bằng
chứng là điểm chính. Để cho phương thức này hoạt
động có hiệu quả, điều quan trọng là chúng ta nên để ư đến những suy
nghĩ có tính cách thiên vị (biased thinking) và nhận dạng những suy
nghĩ có tính cách định kỳ (recurring thoughts). Bằng cách thay
thế nhiều lần suy nghĩ do sự lo âu với những suy
nghĩ khác có tính cách thực tế hơn, chúng ta sẽ dần dần đạt
được kết quả thuận lợi, bởi v́ mạch kết nối trong năo bộ đă bắt đầu
thay đổi.
Thí dụ
6
Một thí dụ về sự liên giữa ư nghĩ (tư
duy) cho rằng sẽ gặp phải một cơn hoảng
loạn tấn công (kinh nghiệm) khi bạn bước vào một cửa tiệm đông khách.
Ư nghĩ như thế rất có thể kích hoạt đường lo âu thứ hai (second
anxiety pathway) của hạch hạnh nhân. Kết
quả là bạn cảm thấy không thoải mái, trở nên lúng túng dẫn đến những
triệu chứng như: cơ thể bạn toát ra nhiều mồ hôi,
tim đập mạnh và thở nhanh hơn.
Thí dụ
7
Sự dung hợp nhận thức xảy ra khi bạn
giải thích sai lầm cho rằng điều bạn đang nghĩ (tư duy)
là sự thật (kinh nghiệm). Chẳng hạn, có suy nghĩ làm cho bạn
sợ hăi, hay nếu bạn nghĩ rằng sự kiện sẽ trở nên nghiêm trọng
hơn nếu bạn không lo lắng về chúng ngay từ
bây giờ. Lúc này bạn đă dung hợp tư duy với kinh nghiệm.
6. Tái nối mạch trong năo (rewiring the
brain)
Hăy tưởng tượng bạn
là bộ năo. Trong lúc làm công tác điều động công
việc, bạn “đốt sáng” môt số tế bào thần kinh nhằm đáp ứng với sư lo âu.
Với sự lo âu đang có và những lo âu khác tiếp tục đến, bạn nghĩ cần
cung cấp thêm nguồn viện trợ, nên bạn “đốt sáng” thêm một số tế bào
thần kinh nữa. Cứ như thế, bạn bắt đầu tạo ra một
sự kết nối kiên định và ổn định. Không bao
lâu trước khi bạn nhận thức được, bạn đă thiết lập một cấu trúc thần
kinh tốt trong việc đối ứng đối với sự lo âu.
7. Sự lạc quan và bi quan trong vỏ năo
(optimism vs pessimism in the cortex)
Sự lạc quan nằm ở bán cầu bên trái và sự
bi quan nằm ở bán cầu bên phải của năo bộ.
Một bộ phận trong thùy trán – nhân áp
ngoài (nucleus accumbens)- đóng vai tṛ chính trong việc tạo thành sự
lạc quan . Đây là trung tâm của niềm vui thích (pleasure
center)- một nhân tố tạo nên hy vọng, lạc quan và kỳ vọng vào sự khen
thưởng. Chất dẫn truyền thần kinh dopamine được
tiết ra. Sự lo âu đến từ vỏ quỹ đạo trán (orbitofrontal cortex)-
một phần của thùy trán (H́nh 3 bên trái). Sự lo
âu có thể gây nên từ những ư nghĩ dựa vào vỏ năo về những sự kiện đă
và đang xảy ra hoặc có thể sẽ không bao giờ xảy ra.
Vỏ quỹ đạo trán cho chúng ta năng lực để
thiết lập kế hoạch và khả năng tự kiềm chế, nhằm chuẩn bị chúng ta khi
phải đối diện với những sự kiện trong tương lai.
Bộ phận thứ hai là vỏ năo phía trước
(prefrontal cortex); có tên là vỏ vành đai
phía trước (anterior cingulated cortex) (H́nh 3, bên phải). Bộ phận
này là cầu nối giữa vỏ năo và hạch hạnh
nhân và có vai tṛ giúp chúng ta xử lư những phản ứng về cảm xúc trong
năo. Lúc này, con người trở nên bận rộn với việc giải
quyết những vấn đề chưa xảy ra, nhưng có
thể xảy ra – đây là mạch nối về lo lắng (worry circuit).

H́nh 3
Bên trái: .
H́nh MRI cắt dọc đứng (sagital MRI) chỉ định vị
trí của quỹ đạo trán OFC (orbitofrontal cortex).
OFC thuộc thùy trán và là vùng chính liên quan đến
những hoạt động về nhận thức và quyết định của năo bộ [4].
Bên phải: H́nh MRI cắt dọc đứng chỉ
định vị trí của vỏ năo vành đai phía trước
ACC (anterior cingulate cortex). ACC là
trung tâm tích hợp sự đau đớn với những tín hiệu về xúc cảm và môi
trường của những tác nhân kích thích. ACC kết nối mật thiết với hồi
hải mă, hạch hạnh nhân và vùng hạ đồi [5].
8. Kết từ
Trong cuộc sống mỗi ngày từ
chuyện học hành, thi cử, công ăn việc làm đến những sự việc xảy ra
trong gia đ́nh, mọi người trong chúng ta ai cũng đều đă từng trải qua
những cảm giác bồn chồn, lo lắng đôi khi c̣n sợ hăi với những mức độ
nghiêm trọng khác nhau. Sợ hăi là một cơ chế của sự sinh tồn. Đây là
phản ứng có tính cách “lâu đời”: có từ thời xa xưa từ nhiều ngàn năm
trước khi tổ tiên chúng ta c̣n ở thời kỳ “ăn lông ở lỗ”. Với sự sợ
hăi, kích thích tố được tiết ra nhiều hơn. Sợ hăi cũng có thể ảnh
hưởng đến sức khỏe, tâm thần như rối loạn thần kinh, hoảng sợ, lo âu
và căng thẳng, chứng rối loạn do ám ảnh thúc đẩy COD (compulsive
obsessive disorder) và chứng bệnh rối loạn thần kinh như rối loạn căng
thằng sau chấn thương PTSD (post traumatic stress disorder). Đây là đề
tài người viết dự định thảo luận trong bài viết tới.
9. Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2040-01102024.htm
[2]
https://www.simplypsychology.org/hypothalamic-pituitary-adrenal-axis.html
[3]
https://my.clevelandclinic.org/health/body/23005-adrenal-gland
[4]
https://en.wikipedia.org/wiki/Orbitofrontal_cortex
[5]
https://en.wikipedia.org/wiki/Anterior_cingulate_cortex
September 3, 2024
|