|
Phản ứng
chống trả- trốn chạy- bất động hay khuất phúc (fight- flight- freeze
or fawn) đều
do sự căng thẳng gây nên. Những sự kiện xảy ra trong cơ thể khi chúng
ta bị một con gấu đuổi theo, bị (được) mời ra sàn nhảy hay bị đuổi
việc đều không khác bao nhiêu với trạng thái tinh thần và thể xác của
một con chuột khi bị một chú mèo đuổi bắt.Tất cả đều xuất phát từ hạt
trung ương (central nucleus) của hạch hạnh nhân (amygdala). Những
triệu chứng như tim đập nhanh, huyết áp gia tăng, con ngươi mở rộng,
nhịp thở nhanh; tất cả đều do sự kích hoạt của hệ thần kinh giao cảm
(sympathetic nervous system) và sự tiết ra những kích thích tố như
cortisol và adrenaline.
Phản xạ
với nỗi sợ hăi và lo lắng đối với một sự
vật hay sự kiện dần dần h́nh thành trong con người khi những kư ức này
in sâu vào trong năo bộ qua thời gian. Sự lo lắng
và sợ hăi này có thể không b́nh thường, thường xảy ra bằng trực giác
với những lư do không thể giải thích được [1]. Kết quả có thể
ảnh hưởng không tốt đến cá nhân về cả hai phương diện tinh thần lẫn
thể xác; và có thể gây những bất lợi đến sự giao tiếp trong gia đ́nh,
ngoài xă hội và ngay cả công ăn việc làm.
Trong nhiều năm, các nhà khoa học cũng đă nghiên cứu về ảnh hưởng và
hoạt động của năo bộ trong những t́nh trạng tâm lư học như lo lắng, sợ
hăi, ám ảnh và rối loạn căng thẳng.
Chính nhất là phản ứng của hạch hạnh nhân: chống trả tích cực (chống
trả hay fighting), tránh né sự chạm trán (trốn chạy hay fleeing), đáp
ứng tiêu cực (bất động hay freezing) hay nhượng bộ (khuất phục hay
fawn).
1. Hạch hạnh nhân kiểm
soát sự sợ hăi
Hạch hạnh nhân là một phần của hệ viền
trong năo bộ- một nhóm các cấu trúc phức tạp, liên kết với nhau trong
năo và chịu trách nhiệm về các phản ứng liên quan đến cảm giác và hành
động của con người. Hạch
hạnh nhân nằm gần hồi hải mă (hippocampus), bên trong thuỳ thái dương,
và liên quan đến khả năng kiểm soát trí nhớ cũng như mức độ nhận thức
về sự sợ hăi của con người.
Hạch hạnh nhân
nhận diện, tiến hành và xử lư những thông
tin về cảm giác trong chúng ta.
Nói một cách khác, hạch hạnh nhân là nơi kiểm soát sự sợ hăi.
Hạch này điều hợp cảm xúc, xử lư sự sợ hải và đưa
đến những động tác để đáp ứng với t́nh trạng gặp phải. Điều này
có nét tích cực và tiêu cực: tích cực là bảo vệ cơ thể tránh khỏi
những nguy hiểm xảy ra bất ngờ trước khi các cơ quan của vỏ năo có th́
giờ t́m giải đáp thích ứng. Một mặt khác, sự sợ hăi có thể vô căn cứ
và dựa vào những điều không có thực dẫn đến những kết quả tiêu cực:
hạch hạnh nhân quyết định phản ứng tùy
theo thông tin nhận được. Thế có nghĩa là nếu hạch
hạnh nhân bị kích thích quá độ, sự lo âu sẽ trấn áp cơ cấu tư duy của
năo, và đưa đến t́nh trạng hoảng loạn (panic).
2.
Thế nào là chống trả- trốn chạy-
bất động hay khuất phục (fight -r flight -freeze or fawn)?
Sự sợ hăi
được điều kiện hóa, có nghĩa là chúng ta liên kết một t́nh trạng hay
sự vật nào đó với kinh nghiệm bất lợi đă xảy ra (negative
experiences). Sự đáp ứng tâm lư được khởi động khi chúng ta gặp phải
kinh nghiệm không hay này lần đầu tiên và từ đó kinh nghiệm này phát
triển theo thời gian và tồn trữ trong năo
bộ chúng ta.
Sự vật mà chúng ta sợ hăi hay cảm thấy
nguy hiểm hay bất lợi được gọi là sự đe doạ nhận thức được (perceived
threat). Mức độ nhận thức sự đe dọa khác nhau tùy
theo từng cá nhân.
2-1
Phấn đấu- trốn chạy - bất động hay khuất phục
Chống trả - trốn chạy- bất động hay
khuất phục là phản ứng tự nhiên của cơ thể con người khi phải đối diện
với một sự kiện được xem là nguy hiểm.
T́nh trạng xảy ra qua thay đổi sinh lư và sự phóng thích các
chất kích thích tố (hormone) nhằm bảo vệ
cơ thể của chúng ta. Phản ứng chống trả hay trốn chạy có từ lâu đời
ngay vào thời tổ tiên chúng ta sống hàng chục ngàn năm trước. Phản ứng
này chẳng những xảy ra trong con người mà c̣n ngay ở sinh vật v́ lư do
sinh tồn. Ở xă hội hiện đại của chúng ta, sự đe
dọa không đến nỗi nguy hiểm đến sinh mạng như ở thời xa xưa và phần
lớn có thể chỉ liên quan đến cuộc sống hàng ngày mà thôi.
Mặc dù phản ứng chống trả- trốn chạy
(fight-or- flight) rất phổ cập, hạch hạnh nhân cũng có thể phát sinh
ra phản ứng khác đối với sự sợ hăi làm cho con người trở nên bất động
hay khuất phục. V́ thế,
hiện tượng này có cái tên chung là chống
trả- trốn chạy- bất động hay khuất phục (fight-or flight- freeze or
fawn). Đây là là một dạng đáp ứng đối với sự căng
thẳng giúp chúng ta đối ứng kịp thời với một t́nh trạng chúng ta cảm
thấy có thể gây nên nguy hiểm, đe dọa hay bất lợi.
Trước tiên,
chúng ta đề cập đến hành động chống trả hay trốn chạy.
Đây là phản ứng tích cực khi phải tự vệ.
Phản ứng này xảy ra kịp thời, thích đáng và nhanh
chóng. Những lúc như thế này, nhịp tim
đập nhanh hơn, làm gia tăng lượng oxy đến những bắp thịt chính. Cảm
giác đau đớn cũng suy giảm, và tai nghe
thính hơn. Phản ứng chống trả - trốn chạy có thể biểu hiện ở những
trường hợp như: (i) đạp thắng khi xe phía trước ngừng lại một cách
th́nh ĺnh; (ii) gặp con chó gầm gừ khi đi bộ ngoài đường; (iii) nhảy
tránh một chiếc xe bỗng nhiên chạy tới; (iv) cảm thấy ngạc nhiên khi
có ai nhảy đến trước mặt một cách bất ngờ; (v) cảm thấy không an toàn
khi đi trên con đường vắng người về đêm.
Riêng về
sự bất động.
Đây là phản ứng ngưng lại quyết định phấn đấu hay chạy trốn, để cho
chúng ta đủ thời gian suy nghĩ, chuẩn bị bước kế tiếp cho một đối ứng
tốt hơn. Phản ứng này cũng sẽ gây ra những biến đổi sinh lư giống như
trong phản ứng chiến đấu hay trốn chạy.
Nhiều
trường hợp khác xảy ra nhan nhản hàng ngày do phản ứng chống trả- trốn
chạy hay bất động như: (i) lớn tiếng với một đồng nghiệp khi người này
xúi giục bạn nói chuyện ở một hội nghị mà bạn không thích (phản ứng
chống trả); (ii) tránh mặt không đến dự một buổi tiệc hay có đến mà ra
về sớm v́ bạn không thấy thoải mái với những người không quen (phản
ứng trốn chạy) hay (iii) không biết phải trả lời thế nào khi bị người
sếp hỏi bạn (phản ứng bất động).
Về phản ứng
khuất phục: đây là phản ứng phục tùng và làm theo
đ̣i hỏi của người hay tác nhân chủ động mà không dám cải lại. Để giữ
an toàn và tránh khả năng có thể nguy hiểm
đến bản thân cá nhân hay người thân, con người c̣ khuynh hướng làm
theo đ̣i hỏi và nhu cầu của người đ̣i hỏi. Nạn
nhân thường đặt quyền lợi của người đ̣i hỏi trên quyền lợi của ḿnh.
Thường xảy ra ở những trường hợp bị “ngược đăi”: thí dụ trong một gia
đ́nh với cha mẹ ngược đăi (abusive patent), con cái thường có khuynh
hướng làm theo mà không dám cải lại. Những
dấu hiệu khác của phản ứng khuất phục gồm cả: (i) khó nói “không”;
(ii) lúc nào cũng muốn vừa ḷng mọi người; (iii)
giả vờ bằng ḷng; (iv) làm theo sự đ̣i hỏi bất luận là có đồng
ư hay không; và (v) đặt nhu cầu của người khác trên nhu cầu riêng của
cá nhân ḿnh.
2-2. Hệ thần kinh
giao cảm (sympathetic nervous system SNS) và hệ thần kinh phó giao cảm
(parasympathic nervous system PNS)
Phản ứng chống
trả- trốn chạy- bất động hay khuất phục hoạt động qua hạch hạnh nhân.
Hạch này phản ứng bằng cách truyền tải thông tin về cảm giác đến vùng
hạ đồi (hypothalamus). Vùng này kích thích hệ thần kinh tự động
(autonomic nervous system ANS), làm gia tăng nhịp tim đập, huyết áp và
sự cảnh giác.
Hệ thần kinh tự
động ANS gồm có hệ thần kinh giao cảm SNS điều động phản ứng chống trả
- hay- trốn chạy (fight- flight) và hệ thần kinh phó giao cảm PNS điều
động và chế ngự phản ứng bất động (nghỉ ngơi và phân tích dữ kiện-
rest and digest).
Hệ thần kinh giao
cảm và hệ thần kinh phó giao cảm hoạt động tùy theo phản ứng của cơ
thể chúng ta đối với tác nhân kích thích của môi trường chung quanh.
Hai hệ thống giao cảm này làm việc chung và hổ tương cho nhau nhằm
giúp cơ thể sinh vật (kể cả con người) có thể vượt qua được sự nguy
hiểm. Cân bằng nội môi (homeostasis) là sự thăng bằng giữa hai hệ này.
Chẳng hạn như trái tim có mạch kết nối với hệ thần kinh giao cảm và hệ
thần kinh phó giao cảm. Hệ giao cảm gia tăng nhịp đập của tim; trong
khi đó hệ phó giao cảm làm giảm nhịp tim đập để duy tŕ sự cân bằng
bên trong cơ thể.
Khi hệ thần kinh
giao cảm khởi động, cơ thể chúng ta chuẩn bị cho phản ứng chống trả
hay trốn chạy (fight or flight). Nhưng cũng có thể đổi sang phản ứng
bất động hay khuất phục (freeze or fawn) nếu cơ thể chúng ta nhận định
rằng chông trả hay trốn chạy không phải là giải pháp hữu hiệu để đáp
ứng với sự căng thẳng chúng ta đang đối diện và và với sự thiết lập sự
cân bằng nội môi.
Hệ thần kinh phó
giao cảm trách nhiệm về những hoạt động liên quan đến “nghỉ ngơi- phân
tích dữ kiện/rest and digest” hay “cung cấp- nuôi dưỡng/feed and
breed”. Thêm vào đó, hệ thần kinh phó giao cảm c̣n kiềm chế cơ thể
không cho làm việc quá độ và hoạt động nhằm phục hồi lại trạng thái
thăng bằng trong cơ thể.
Nói một cách tổng
quát, khi hệ thần kinh tự động bị kích thích, cơ thể tiết ra
adrenaline (hay c̣n gọi là epinephrine), norepinephrine và cortisol-
những kích thích tố về căng thẳng. Những chất kích thích này được tiết
ra rất nhanh, ảnh hưởng đến: (i) nhịp đập của tim, nhanh chóng mang
oxy đế những bắp thịt; (ii) hơi thở nhanh gia tăng lượng oxy cung cấp
đến máu. Trong trường hợp bất động, con người có thể nín thở hay thở
ít hơn; (iii) độ nh́n rơ hơn với con ngươi giăn rộng ra, cho nhiều ánh
sáng vào mắt hơn; (iv) tai thính hơn; (v) máu đặc hơn; (v) cơ thể có
thể xuất ra nhiều mồ hôi; (vi) cảm thấy lạnh ở tay chân; và (vii) cảm
thấy ít đau.
3. Vài thí dụ
Thí
dụ 1
Lấy một trường hợp giả tưởng vào một
ngày đẹp trời nào đó, trong lúc đang đi bộ trong một khu rừng th́
th́nh ĺnh bạn gặp môt con sư tử đang đi săn mồi.
Hệ thống thần kinh tự động liên quan đến phản ứng chống trả- trốn chạy
(fight-flight) chuẩn bị cho cơ thể bạn đối ứng với con vật săn mồi
ăn thịt này. Trường hợp
này thường xảy ra với tổ tiên của chúng ta nhiều ngàn năm về trước (H́nh
1), chứ rất hiếm trong xă hội bây giờ. Nhưng
dù sao đi nữa. cơ thể chúng ta vẫn
có những phản ứng tương tự khi đối diện với những sự kiện mà chúng ta
cho là nguy hiểm trong môi trường sống hiện tại.
Thí dụ như
vào một buổi chiều thứ sáu, khi mọi người chuẩn bị đi về nhà để nghỉ
ngơi với nhiều dư định với người thân quen vào cuối tuần, th́ bỗng đâu
bà sếp đi xuống về phía hành lang t́m những
“người t́nh nguyện” đi làm vào ngày cuối tuần.
Có lẽ bạn sẽ từ chối lời yêu cầu của bà
sếp (phản ứng chống trả/fight).
Hệ thần kinh tự động trách nhiệm về phản ứng sinh
lư sẽ hoạt động. Nhiều hiện tượng xảy ra nhằm chuẩn bị cơ thể
bạn cho phản ứng chống trả này: Kích thích tố adrenaline bắt đầu chạy
trong cơ thể. Nhịp tim đập gia tăng.
Tuyến mồ hôi hoạt động; phổi nới rộng ra, cho phép
nhiều hoán đổi không khí hơn, huyết áp gia tăng, và gân máu trong bắp
thịt nới rộng ra.
Hệ thần
kinh tự động không những chỉ đáp ứng với sự đe dọa không thôi (hệ thần
kinh giao cảm SNS); với phản ứng chống trả-
trốn chạy (fight- flight) mà c̣n với phản ứng “nghỉ ngơi và phân tích
dữ kiện /rest and digest” với hệ thần kinh phó giao cảm (PNS). Sau
một thời gian 20-30 phút, tim bạn đập chậm
lại, ít ra mồ hôi, huyết áp giảm …và cơ thể bạn trở lại trạng thái
b́nh thường lúc ban đầu.

H́nh 1.
Hệ thống thần kinh quyết định phản ứng chống trả hay trốn chạy của
chúng ta vẫn không có ǵ thay đổi so với những người sống trong hang
động 100 ngàn năm về trước. Tổ tiên chúng ta
thường bị thú dữ đi săn mồi (như sư tử) tấn công. Lúc đó, hạch
hạnh nhân phải quyết định nhanh chóng kịp thời để giúp họ thoát chết.
Chớ chờ quyết định hợp lư hơn từ vỏ năo th́ có lẽ quá muộn rồi!
Trường hợp này rất khó có thể xảy ra trong xă hội
bây giờ. Nhưng dù sao đi nữa.
cơ thể chúng ta vẫn có những phản ứng tương
tự khi đối diện với những sự kiện mà chúng ta cho là nguy hiểm hay bất
lợi trong môi trường sống hàng ngày [2].
Thí
dụ 2
Một người
đang đi bộ với đứa con trên vỉa hè đường
phố. Th́nh ĺnh, một chiếc xe hơi lách
ngang vào vỉa hè về hướng hai người. Anh ta nhanh nhẹn kéo
tay cậu bé, nhảy về phía mặt đường để tránh
khỏi bị xe đụng (phản ứng trốn chạy- flight). Mọi việc xảy ra trong
một tích tắc chớp mắt!
Hiện tượng
này có thể cắt nghĩa như sau:
Khi thấy
chiếc xe chạy đến, giác quan liền gửi thông
tin đến vùng hạ đồi. Từ vùng này, thông tin được
gửi xuống tuyến thượng thận và chất adrenaline (hay epinephrine) được
tiết ra. Chất kích thích tố này được gửi đến nhiều cơ quan
trong cơ thể chẳng hạn như (i) đến gan ,
biến thành glucose để cung cấp năng lượng adenosine triphosphotase
(ATP); (ii) đến tim làm tăng nhịp đập tim v́ cần nhiều máu cho bắp
thịt, tăng sự hô hấp ở phổi và nhiều hiện tượng khác nữa cũng xảy ra
vào lúc này.
Thí
dụ 3
Mike đang
thong dong đi tản bộ trong công viên. Đột nhiên,
một anh hề xuất hiện. Sự căng thẳng đưa đến phản ứng chống trả
hay trốn chạy bắt đầu. Mike sợ quá, nên chạy nhanh để tránh (trốn chạy-flight).
Một lúc sau, anh ta đứng lại quan sát hiện trường
chung quanh, xem thử mọi chuyện bây giờ đă được an toàn chưa.
Th́nh ĺnh, Mike lại thấy anh hề xuất hiện trở lại.
Mike liền đứng khựng lại, quan sát và suy nghĩ (phản
ứng bất động, freeze). Vỏ năo thị giác khởi
động; hồi hải mă kiểm tra lại vùng kư ức xem thử anh ta đă từng thấy
anh hề này ở một t́nh trạng như thế này bao giờ chưa.
Anh nhận thấy đây chỉ là một anh hề b́nh thường
không có ǵ nguy hiểm đến nỗi phải lo ngai. Anh đưa ra quyết
định chống trả (fight) v́ không có ǵ sợ hăi mà phải trốn chạy như lúc
ban đầu.
Thí
dụ 4
Người sếp
gọi Mark đến văn pḥng để nói chuyện về thành tích làm việc của anh ta
trong ṿng sáu tháng qua. Khi nghe người sếp phân tích, b́nh luận và
đề nghị, thái độ lúc này của Mark có thể là một trong bốn phản ứng như
sau: giận dữ, nói lớn tiếng (chống trả- fight), rời pḥng họp (trốn
chạy- flight), im lặng (bất động- freeze) hay
đồng ư và làm theo với những ǵ người sếp đề nghị (khuất phục- fawn).
Mặc dù chỉ là chuyện b́nh thường, nhưng tùy theo
phản ứng Mark lựa chọn, công ăn việc làm của anh sau này có thể bị ảnh
hưởng ít hay nhiều, nhất là phản ứng chống trả hay trốn chạy.
4.
Lời kết
Ngày nay, phản ứng chống
trả- trốn chạy của chúng ta không giống phản ứng đối với sự nguy hiểm
đến sinh mạng như ở thời kỳ của tổ tiên của chúng ta hàng chục ngàn
năm về trước.
Nhưng hệ thống hoạt động của năo bộ để bảo vệ sự
sinh tồn vẫn hoạt động giống nhau.
Phản ứng của chúng ta
đối với sự đe dọa hay sợ hăi tùy thuộc vào trường hợp và môi trường
chung quanh. Trong một số rất ít trường hợp, phản
ứng chống trả- trốn chạy- bất động hay khuất phục có thể cứu được sinh
mạng. Nhưng hầu hết không nguy hiểm nhưng có thể ảnh hưởng đến
sức khỏe của thể xác lẫn tinh thần, liên hệ cá nhân và công
ăn việc làm. Các phản
ứng này hầu hết có tính cách trực giác, không qua sự suy nghĩ và phân
tích của vỏ năo và v́ thế không có tính cách hợp lư. Lư do của
sự lo lắng và sợ hăi này có thể
không b́nh thường, với những lư do không thể giải thích một cách thỏa
đáng được.Những yếu tố khởi động những
phản ứng này có thể là sự việc b́nh thường hàng ngày bao gồm: kẹt xe
lúc đi làm, sự căng thẳng trong công việc làm, tài chánh, cải nhau với
đồng nghiệp hay những người trong gia đ́nh.
Để giảm thiểu và kiềm
chế được phần nào sự lo lắng, phiền năo do những phản ứng nói trên gây
ra, chúng ta cần phải t́m hiểu về ngôn ngữ của hạch hạch nhân và ngôn
ngữ của vỏ năo. Dùng những phương pháp như tập thể
dục, hít thở và tịnh tâm của thiền, yoga có thể mang lại lợi ích.
Chú tâm vào “giây phút hiện tại” cũng có thể giúp chúng ta b́nh tĩnh
hơn khi phải đối phó với những sự sợ hăi hay lo lắng và tránh được
những phản ứng đáng tiếc trong cuộc sống hàng ngày. Những thực tập
thư giăn này
sẽ gia tăng hoạt động của hệ thần kinh
phó giao cảm PNS và giảm hoạt động của hệ thần kinh giao cảm SNS.
Ngay cả thay đổi tư thế
ngồi, đi lại vài giây trong pḥng trước khi làm một sự quyết định cũng
có thể cho chúng ta lựa chọn phản ứng “chống trả- trốn chạy- bất động-
khuất phục” một cách thích hợp hơn.
Cuộc sống của chúng ta sẽ ít căng thẳng hơn; liên hệ với mọi người có
thể tốt hơn và công ăn việc làm v́ thế cũng
trở nên dễ chịu hơn.
5. Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2038-11112023.htm
[2]
https://educationgateshead.org/wp-content/uploads/2021/09/3535e-JH-Fight-Flight-Freeze.pdf
December 10, 2023
|