|
Mục đích
chính của hạch hạnh nhân là để bảo vệ sự an toàn cho con người hay
những sinh vật khác bằng cách kịp thời giúp cơ thể tránh khỏi sự nguy
hiểm. Sự bảo vệ này dựa vào kinh nghiệm đạt được
qua kư ức và vào những thông tin đến từ cảm xúc.
Hạch hạnh nhân có thể đáp ứng ngay lập tức bằng
cách điều khiển năo và những động tác trong thân thể khi chúng ta cảm
thấy có một sự nguy hiểm đang sắp xảy ra.
Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm thế nào
chúng ta có thể chế ngự được hạch hạnh nhân?
Như thế chúng ta mới có thể giảm bớt được phần nào
sự lo âu và sợ hăi ngơ hầu có thể có được một cuộc sống thoải mái và
dễ chịu hơn về phương diện tinh thần lẫn thể xác.
Và câu trả
lời là chúng ta phải t́m hiểu cơ cấu liên quan đến hoạt động của hạch
hạnh nhân chẳng hạn như con đường của hạch hạnh nhân, con đường của vỏ
năo, ngôn ngữ của hạch hạnh nhân. cơ cấu và
nguyên nhân của sự phản ứng quá trớn và không tặc hạt hạnh nhân.
Từ khóa:
amygdala pathway, cortex pathway, amygdala language,
lateral nucleus, central
nucleus, adrenaline, cortisol, amygdala hijack, stress response,
fight- flight reaction.
1. Con dường của hạch hạnh
nhân (amygdala pathway)
Có hai con đường chính dẫn đến sự lo âu: con đường của vỏ năo (cortex
pathway) và con đường của hạch hạnh nhân. Con đường của vỏ năo liên
quan đến cảm giác, tư duy, lôgic, sự tưởng tượng, trực giác, kư ức, và
thiết lập kế hoạch. Mắt, tai, mũi, da là những nguồn thông tin về cảm
giác con người nhận được từ thế giới chung quanh. Những thông tin này
được truyền tải đến thùy trán để phân tích, lư giải, và t́m giải pháp
thích hợp. Đôi khi một số dự đoán có thể bị sai lệch, không có thật,
đưa đến sự lo âu.
Riêng về hạch hạnh nhân, hạch này liên kết với hầu
hết các cơ quan khác trong năo, kiểm soát và điều hành nhanh chóng
việc tiết ra chất kích thích tố (hay c̣n gọi là hoocmon). Hạch
này được chia thành nhiều vùng, nhưng hai vùng đóng vai tṛ quan trọng
nhất trong nhiệm vụ đáp ứng đối với cảm xúc, kể cả sợ hăi và lo âu là:
hạt nhân phần bên và hạt nhân trung ương [1].
(i) Hạt nhân phần bên (lateral nucleus). Hạt này được
xem là cửa ngơ dẫn đến hạch hạnh nhân. Giống như một hệ thống an toàn
với chuông báo động, nhiệm vụ của phần hạt nhân này là nhận dạng bất
cứ sự đe dọa nào do cảm giác đưa đến từ thế giới bên ngoài. Bộ phận
này nhận thông tin trước vỏ năo. Lư do hạt nhân phần bên nhận thông
tin nhanh như vậy là bởi v́ con đường của hạch hạnh nhân nằm ngay ở
trên tuyến đường kết nối trực tiếp với giác quan. Hạch hạnh nhân nối
mạch với những giác quan nhận được để có thể đáp
ứng kịp thời ngơ hầu bảo vệ cơ thể chúng ta tránh khỏi nguy hiểm ngay
trước khi vỏ năo ư thức được những ǵ có thể xảy ra [2].
(ii) Hạt
nhân trung ương
(central nucleus).
Hạch hạnh nhân có thể
hoàn thành sự đáp ứng nhanh bởi v́ tính chất đặc biệt của hạt nhân
này. Có một con đường kết nối trực tiếp hạt nhân trung ương với hạt
nhân phần bên. Hạt nhân trung ương đóng vai tṛ như một công tắc đánh
lửa. Một khi nhận được tín hiệu từ hạch hạnh nhân liên quan đến sự
nguy hiểm, hạt nhân phản ứng ngay lập tức bằng cách gửi tín hiệu đến
những thành phần khác trong năo.
Mạch kết nối này có thể đưa tín hiệu đến hệ thần kinh giao cảm
(sympathetic nervous system) để kích hoạt sự tiết ra những chất kích
thích tố như adrenaline và cortisol vào trong mạch máu.
Thí dụ
Hạch hạnh nhân và vỏ năo, cả hai đều có thể đưa đến sự lo âu.
Khi thấy một con chó gầm gừ, chúng ta thở dồn dập; sự lo âu có thề bắt
nguồn từ hạch hạnh nhân. Tuy nhiên, khi chúng ta chờ đợi một cú điện
thoại, chúng ta đi lại, đứng ngồi không yên, sư lo âu bắt nguồn từ vỏ
năo. Hiểu rơ nguyên do và nguồn gốc của sự lo âu sẽ giúp chúng ta ngăn
chận được quá tŕnh gây ra sự lo âu một cách hữu hiệu hơn. Nên ghi
nhận ở đây là hạch hạnh nhân luôn luôn liên quan đến việc tạo ra phản
ứng đối với sự lo âu, bất luận phản ứng này bắt đầu từ hạch hạnh nhân
hay từ vỏ năo. V́ thế, sự hiểu biết và ư thức được quá tŕnh hạch hạnh
nhân vận hành thế nào sẽ trở nên cần thiết trong việc ư thức sự lo âu
và t́m một phương cách thích hợp nhằm giúp chúng ta thoát khỏi sự lo
âu này.
2. Kích thích tố adrenaline và
cortisol
Kích thích tố adrenaline, cortisol, norepinephrine, estrogen,
testosterone và chất dẫn truyền thần kinh dopamine và serotonin được
biết là những chất liệu có thể ảnh hưởng đến đường lối chúng ta phản
ứng đối với sự căng thẳng; nhưng có lẽ adrenaline và cortisol thường
được đề cập nhiều v́ những hiệu quả đặc biệt của hai chất hoocmon này.
2-1 Adrenaline
Adrenaline c̣n được gọi là epinephrine, là chất kích thích tố dùng
trong phản ứng chống trả hay chạy trốn (fight or flight hormone).
Adrenaline phần lớn được tạo ra trong tủy tuyến thượng thận (medulla
of the adrenal glands) nằm phía trên quả thận; một lượng nhỏ của chất
này cũng được tiết ra từ tế bào thần kinh của hệ thống thần kinh trung
ương (central nervous system) (H́nh 1, bên trái) [3].
Adrenaline giúp cơ thể con người đáp ứng nhanh đối với sự sợ hăi. Chất
kích thích tố này làm tim đập nhanh hơn, thở nhanh hơn, chảy nhiều mồ
hôi, gia tăng lưu lương máu chảy đến năo và bắp thịt, và kích hoạt cơ
thể sản xuất một lượng đường dùng làm năng lượng. Adrenaline c̣n làm
cho thụ thể về đau (pain receptors) ít nhạy cảm hơn, cho phép chúng ta
có thể trốn chạy hay chống trả ngay cả khi đang bị thương. Thêm vào
đó, một số triệu chứng khác cũng xảy ra như: đau đầu nhẹ, nôn mửa,
t́nh trạng tê liệt hay chứng đau nhói dây thần kinh, ngực như bị vật
ǵ ép lại, nuốt khó hay cảm thấy ớn lạnh.
Ngay cả sau khi sự căng thẳng được chế ngự, hiệu quả của adrenaline có
thể kéo dài cả tiếng đồng hồ sau đó.
2-2 Cortisol
Cortisol được tạo ra trong vỏ tuyến thượng thận (adrenal cortex). Quá
tŕnh chế tạo chất hoocmon này phải trải qua nhiều công đoạn: Trước
tiên, khi nhận ra tín hiệu của sự đe dọa, hạch hạnh nhân gửi tín hiệu
đến vùng hạ đồi (hypothalamus); vùng này tiết ra CRH hoocmon
(corticotrophin relasing hormone).
Chất kích thích tố này ra lệnh cho tuyến
yên (pituitary gland) tiết ra chất ACTH hoocmon (adrenocorticotropic
hormone).
Sau cùng chất ACTH ra chỉ thị cho tuyến thượng
thân (adrenal gland) tạo ra chất cortisol.
Tuyến thượng thận nằm dưới sự điều khiển của tuyến yên và gồm có hai
phần: tuyến phần ngoài (outer glands) hay vỏ tuyến thượng thận và
tuyến bên trong (inner glands) hay tủy tuyến thượng thận (adrenal
medulla).
Tuyến bên trong sản xuất adrenaline.
(H́nh 1, bên phải) [4].
Cortisol là một kích thích tố chủ yếu được tiết ra để đáp ứng với sự
căng thẳng. Hầu hết mọi tế bào đều có thụ thể đối với cortisol. Chất
này giúp cơ thể con người đáp ứng với t́nh trạng căng thẳng như trong
trong trường hợp phản ứng chống trả hay trốn chạy. Sự kiện chất
cortisol được tiết ra trong một thời gian ngắn có thể giúp chúng ta
thoát khỏi sự nguy hiểm kịp thời.
Trong trạng thái b́nh thường, có một
ṿng hồi tiếp âm (negative feedback loop) điều chỉnh lượng cortisol để
duy tŕ cân bằng nội môi (homestasis) trong cơ thể.
Tuy nhiên đối với sự căng thẳng măn tính, hệ miễn
dịch “bị thỏa hiệp” và không thể kiềm chế được lượng cortisol tiết ra.
Một lượng cortisol quá
cao sau một thời gian dài có thể đưa đến những bệnh măn tính như bệnh
cao huyết áp, bệnh tim, bệnh đái đường
(diabetes); những triệu chứng khác như sự khó ngủ, lên cân, khó tập
trung và những ảnh hưởng không tốt đến hệ miễn dịch.
H́nh 1.

H́nh bên
trái: Vị trí
của tuyến thượng thận (adrenal glands) nằm phía trên quả thận
[3].
H́nh bên
phải:
Cortisol được
tạo ra trong vỏ tuyến thượng thận (adrenal cortex). Tuyến thượng thận
nằm dưới sự điều khiển của tuyến yên (pituitary glands) và gồm có hai
phần: tuyến phần ngoài (outer glands) hay vỏ tuyến thượng thận
(adrenal cortex) và tuyến bên trong (inner glands) hay tủy tuyến
thượng thận (adrenal medulla).Tuyến bên trong sản xuất adrenaline [4].
2-3 Sự khác nhau về vai tṛ
của adrenaline và cortisol
Sư khác nhau cơ bản giữa cortisol và adrenaline là tác nhân kích
thích dẫn đến sự tiết ra hai chất kích thích tố này.
Trong trạng thái b́nh thường, lượng cortisol trong máu biến đổi: cao
nhất vào buổi sáng thường vào khoảng 10- 20 micrograms ở mỗi
deciliter (mcg/dL); dần dần giảm xuống tới 3-10 mcg/dL lúc mặt trời
lặn và trước khi sắp đi ngủ
[5].
Chất này cũng được tiết ra ở t́nh trạng căng thẳng hay lo âu do những
sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
Adrenaline th́ ngược lại, được tiết ra trong những lúc nguy hiểm hay
những khi cần tạo ra một môi trường thuận lợi để chúng ta có thể đáp
ứng hữu hiệu hơn trong việc chống trả hay trốn chạy. Adrenaline v́ thế
c̣n có tên là kích thích tố khẩn cấp (emergency hormone). Chất này
giúp chúng ta thoát khoải t́nh trạng nguy hiểm, nhưng có thể không cần
thiết trong những hoạt động thường nhật.
Bởi v́ adrenaline và cortisol cả hai đều đáp ứng với sự căng thẳng và
có hiệu ứng chồng chéo lên nhau, rất có khả năng là chúng ta có thể có
sự lẫn lộn về kinh nghiệm trải qua với hai chất kích thích tố này.
Điểm chính cần ghi nhớ ở đây là adrenaline là chất kích thích tố được
tiết ra như là một giải pháp cuối cùng để đáp ứng với một t́nh trạng
nguy hiểm. Nếu chúng ta không ở t́nh trạng nguy hiểm, thường rất có
thể là chúng ta chỉ đối diện với chất cortisol mà thôi.
Tuy nhiên trong trường hợp có sự căng thẳng quá độ, cả hai chất
cortisol và adrenaline được tiết ra để đối ứng với tác nhân gây nên sự
căng thẳng.
Chẳng hạn
như trước một kỳ thi ở trường học hay khảo hạch liên quan đến công
việc làm. Trong những sự kiện có sự căng thẳng cấp tính (acute
stress), cơ thể chúng ta sẽ tiết ra chất adrenaline trước,
theo sau đó là chất cortisol cho đến khi
t́nh trạng căng thẳng qua đi. Đừng nên quên rằng sự căng thẳng và lo
âu đi đôi và khắng khít xen kẽ với nhau; yếu tố này dẫn đến yếu tố
kia và ngược lại.
2-4
Một thí dụ về vai tṛ của vỏ năo và của hạch hạnh nhân
Thí dụ sau
đây nhằm đơn cử hai trường hợp gây nên sự lo âu: một là sự lo âu đến
từ vỏ năo và hai là sự lo âu đến từ hạch hạnh nhân.
Trên đường
lái xe đi làm vào một buổi sáng, bạn chợt
nhớ lại là không biết ḿnh đă tắt lửa ḷ nấu ăn hay chưa. Bạn bắt đầu
theo dơi tŕnh tự về những động tác của bạn
từ lúc mới thức đậy cho đến khi rời khỏi nhà để kiểm soát lại một cách
chắc chắn hơn về chuyện tắt ḷ. Nhưng càng suy nghĩ lại càng rối hơn:
và rốt cuộc bạn vẫn không thể nào nhớ lại một cách chính xác là ḿnh
đă tắt ḷ hay chưa…Có thể bạn đă tắt; mà cũng có thể bạn chưa tắt.
“Nếu lỡ ḿnh quên tắt, th́ nhà có thể cháy..?!!”,
bạn tự nói với chính ḿnh. Càng suy nghĩ, mức độ lo lắng lại càng
tăng lên. Ngay vào lúc đó, người lái chiếc xe
trước bạn th́nh ĺnh ngừng lại. Bạn phản ứng nhanh bằng cách xoay
tay lái và đạp thắng thật mạnh để tránh
chiếc xe phía trước. May mắn là không có tai
nạn xảy ra. Bạn thở phào nhẹ nhơm. That was
close!
Chuyện tắt
lửa chiếc ḷ nấu ăn và đạp bàn thắng chiếc
xe trong thí dụ này đưa ra hai con đường biệt lập trong năo dẫn đến sự
lo âu. Sự lo âu nổi dậy trong con đường của vỏ năo bởi ư tưởng và h́nh
ảnh có thể xảy ra về chiếc ḷ nấu ăn; trong khi đó, một sự lo âu khác
phát sinh từ con đường của hạch hạnh nhân với phản ứng một cách trực
giác khi
đạp thắng xe. Cả hai con đường đều nhằm bảo vệ bạn tránh khỏi sự nguy
hiểm có thể xảy ra..
3.
Không tặc hạch hạnh nhân (amygdala hijack)
3-1.
Thế nào là không tặc hạch hạnh nhân?
Cụm từ “không tặc hạch hạnh nhân” được
Daniel Goleman đưa ra lần đầu tiên trong quyển sách ông xuất bản vào
năm 1995 [6].
Không tặc hạch hạnh nhân không phải là một cụm từ dùng để cắt nghĩa
một sự chẩn đoán y học.
Hiện tượng này xảy ra khi hạch hạnh nhân bị sự
căng thẳng chế ngự; hạch này khống chế phản ứng từ vỏ năo,
và hoàn toàn kiểm soát cơ thể để bảo
vệ chúng ta tránh khỏi nguy hiểm.
Khi đối diện với
không tặc hạch hạnh nhân, hạch hạch nhân chiếm quyền kiểm soát trong
năo bộ; và v́ thế không có cơ hội cho vỏ năo góp phần để có sự suy
nghĩ và phân tích hợp lư hơn.
Ở vào t́nh
trạng hoảng loạn (panic attack) này, con người
có thể phải chọn một trong hai phản ứng hoặc chống trả hoặc trốn chạy.
Phản ứng này thường xảy ra ở những người đă
trải qua những kinh nghiệm như chấn thương (trauma). Sau khi bị
chấn thương, con người có thể có phản ứng quá độ về sự căng
thẳng liên quan đến sự kiện xảy ra lúc ban
đầu. Thường xảy ra ở những người đă trải nghiệm qua những trường hợp
rối loạn căng thẳng sau chấn thương (post traumatic stress disorder)
sau khi trở về từ chiến trận, bị tấn công thể xác hay tấn công t́nh
dục, tai nạn thảm họa do thiên nhiên gây nên như động đất, băo lụt,
chấn thương thời thơ ấu, bị ngược đăi về thể xác hay tinh thần hay cả
hai hay cuộc sống có nhiều căng thẳng và lo âu.
3-2.
Tiến tŕnh của không tặc hạch hạnh nhân
Chúng ta tạm dùng h́nh ảnh trạm kiểm
soát không lưu để cắt nghĩa hiện tượng không tặc hạch hạnh nhân.
Ở đây vùng đồi thị hoạt động như nhân viên trạm kiểm soát không lưu;
tín hiệu cảm giác từ những giác quan
như nghe, thấy, ngửi mùi đến từ môi trường bên ngoài tương tự
như phi cơ đến và rời phi trường; và vỏ năo là trạm kiểm soát. Trong
t́nh trạng b́nh thường, nhân viên kiểm soát (đồi thị)
gửi thông tin đến trạm kiểm soát (vỏ năo) để trạm này phân tích,
quyết định và “ra chỉ thị” hành động.
Ở một số rất ít trường hợp, nhân viên
trạm kiểm soát (đồi thị) có phản ứng khác
nhanh hơn bằng cách phớt qua những bước tuần tự trong quá tŕnh
liên quan đến vỏ năo và gửi tín hiệu trực
tiếp đến hạch hạnh nhân.
Lư do là đồi thị cho rằng thời gian quá cấp bách, những thông tin tồn
trữ trong quá khứ có thể không thích hợp và cảm thấy tiếp tục quá
tŕnh hiện tại có thể gây ra nguy hiểm
[7].
Thí
dụ
Khi chúng
ta nghe một âm thanh mà chúng ta cảm thấy có vẻ nguy hiểm, hạch hạnh
nhân sẽ ngay lập tức gửi tín hiệu cấp cứu, tạo nên phản ứng ngay cả
trước khi những vùng khác trong năo tiến
hành và phân tích để t́m hiểu thực sự tiếng động ấy là ǵ. Điều này
cắt nghĩa lư do tại sao chúng ta nhảy nhỗm lên khi bất th́nh ĺnh nghe
một tiếng động lớn!
4.
Ngôn ngữ của hạch hạnh nhân (language of the
amygdala)
Nói về ngôn ngữ của hạch hạnh nhân,
chúng ta nên t́m hiểu cơ cấu và phương thức hạch hạnh nhân tiếp xúc và
truyền thông với thế giới bên ngoài.
Ngôn ngữ này chính là cảm xúc và dựa vào kinh
nghiệm. Khi hiểu được ngôn ngữ này, chúng
ta có thể huấn luyện hạch hạnh nhân trong công tác đáp ứng hợp lư và
nhanh lẹ để phục vụ chúng ta một cách hữu hiệu hơn.
4-1.
Ngôn ngữ của hạch hạnh nhân dựa vào sự liên hợp
Kết quả thực nghiệm cho thấy những tế
bào kết nối với nhau khi được kích thích cùng một lúc.
Hiện tượng này có thể quan sát khi dùng cộng hưởng từ chức năng fMRI:
lúc đó những tế bào kết nối nhau phát sáng ở cùng một thời điểm [1,8].
Một số những kết nối này được tồn trữ ngay trong
hệ thống mạch của năo dưới dạng kư ức; và những kư ức này nằm ở ngay ở
vỏ năo và ở hạch hạnh nhân.
Trong bất cứ trường hợp nào, hạch hạnh
nhân làm việc với h́nh ảnh, âm thanh hay những cảm xúc liên quan đến
khả năng có thể xảy ra của sự nguy hiểm.
Thế nên, sự liên hợp (association) đóng một vai
tṛ thiết yếu trong ngôn ngữ của hạch hạnh nhân.
Trong trường hợp của sự lo âu, hạt nền
phần bên kết nối thông xin về cảm xúc từ một sự kiện liên quan đến cảm
xúc do sợ hăi gây nên. Sau
khi sự kết nối này được thiết lập, chúng ta sẽ cảm thấy lo ngại
khi hạch hạnh hạnh nhân nhận ra một cảm
xúc tương tự. Thông tin về cảm giác này có khả năng khởi động hệ thống
cảnh báo của hạch hạnh nhân.
4-2.
Nút khởi động (trigger)
Nút khởi
động là tác nhân kích thích sự lo âu và là
một yếu tố quan trọng trong ngôn ngữ của hạch hạnh nhân. Nút khởi động
ở đây có thể là một sự kiện, một sự vật, cảm xúc, âm thanh, hay mùi vị…
Nút này có thể khởi động hệ thống cảnh báo của
hạch hạnh nhân, đặt nền tảng trên kiến thức và kinh nghiệm đạt được
dựa vào sự liên hợp. B́nh thường nút khởi
động nằm ở trạng thái trung tính - có nghĩa là không có liên đới ǵ
đến kư ức về cảm xúc, dù là tích cực hay tiêu cực và v́ thế không tạo
nên phản ứng nào cả.
Khi nút khởi động đi đôi với một sự kiện
bất lợi, hạch hạnh nhân cảm nhận sự lo âu và tạo ra phản ứng sợ hăi.
Sự liên hợp này có tác động rất mạnh trong ngôn
ngữ của hạch hạnh nhân.
Hạt nhân phần bên của hạch hạnh nhân là
bộ phận đóng vai tṛ quyết định.
Bộ phận này chọn lựa phản ứng của hạt nhân trung ương đối với
nút khởi động như một cái nh́n hay một âm
thanh đặc biệt nào đó. Sự quyết định này tùy thuộc
vào kư ức liên quan đến sự lo âu, hay thông tin về cảm xúc nhận được.
Hạt nhân phần bên tạo ra kư ức dựa vào sự lo âu
và theo đó mà nối mạch với hạch hạnh nhân trở lại .
V́ sự lo âu
dựa vào hạch hạnh nhân căn cứ vào sự liên hợp chớ không phải vào lôgic,
nút khởi động không cần phải hợp lư theo
đúng nghĩa của từ này. Dùng lư luận để thoát ra
khỏi sư lo âu v́ thế sẽ không có hiệu quả.
Chúng ta phải dùng ngôn ngữ của hạch hạnh nhân để thực hiện điều này.
4-3.
Vài thí dụ
Thí
dụ 1
Một người
bộ hành gặp phải một con chó. H́nh ảnh và âm thanh của con chó
được vùng đồi thị xử lư và truyền tải trực tiếp đến hạt nhân phần bên
của hạch hạnh nhân.
Khi kinh
nghiệm bị thương do chó cắn lúc trước xảy ra, tế bào thần kinh truyền
tải thông tin về cảm xúc về khả năng bị chó cắn trở lại, tạo một kích
thích mạnh về cảm xúc ở hạt hạnh nhân phần bên. Nếu sự kích thích này
xảy ra hẩu như đồng thời với thông tin hạt nhân phần bên nhận được về
con chó, hạt nhân phần bên sẽ thay đổi mạch nối trung tính (neutral
circuitry). Kết quả là người bộ hành phản ứng một cách dè dặt đối với
con chó lúc này và những con vật tương tự khác sẽ gặp phải trong tương
lai.
Thí
dụ 2
Cũng cùng
một thí dụ như trên, mức độ liên hợp này chẳng những đối với con chó,
con vật tương tự mà ngay cả đối với những h́nh tượng
na ná giống con chó như con gấu bông.
Một cậu bé
té ngă trầy đầu gối khi chạy vội đến nhận
con gấu bông từ ông ngoại. Cậu bé đă liên hợp h́nh
ảnh con gấu bông với sự bị thương của ḿnh lúc trước. Con gấu bông v́
thế trở thành nút khởi động, đưa đến sự sợ hăi.
Một t́nh trạng tương tự cũng có thể xảy
ra khi liên tưởng đến một kinh nghiệm thuận lợi.
Chẳng hạn như trường hợp gặp một con chó thân thiện trong quá khứ hay
nhận con gấu bông như món quà sinh nhật trong ṿng tây thân yêu của
ông ngoại.
Nói một
cách khác,cùng một sự vật, mỗi người có một
trải nghiệm khác nhau tùy theo diễn tiến xảy ra. Tất cả phần lớn đều
do ngôn ngữ của hạch hạnh nhân. Và nút khởi động có thể dẫn đến phản
ứng bất lợi hay thuận lơi.
5. Kư
ức về cảm xúc (emotional memory)
Một phần của hạch hạnh nhân bị kiểm soát
bởi vỏ năo.
Thực ra mà nói, ở một số trường hợp, hạch hạnh
nhân nhận chỉ thị hành động từ vỏ năo để quyết định bước đi kế tiếp.
Như ở một số trường hợp quá căng thẳng và có tính cách cấp bách, hạch
hạnh nhân phớt lờ sự can thiệp và chấp thuận của vỏ năo phía trước (giống
như trong thí dụ về trạm kiểm soát không lưu ở phần trên!).
Các mạch
trong năo được tạo nên bởi sự kết hợp giữa các tế bào thần kinh và các
tế bào kết nối với nhau khi bị kích thích cùng một
lượt như đă tŕnh bày ở phần 4. V́ thế,
nếu chúng ta muốn thay đổi sự lo âu đang có, chúng ta cần thay đổi sự
kết nối các tế bào thần kinh đă đưa đến phản ứng lo âu.
Một số những kết nối này được tồn trữ ngay trong
hệ thống mạch của năo dưới dạng kư ức; và những kư ức này nằm ngay ở
vỏ năo và hạch hạnh nhân.
Kư ức về cảm xúc được tạo nên bởi hạt
phần bên trong hạch hạnh nhân thông qua quá tŕnh liên hợp.
Nên nhớ rằng đối với một số kư ức và dữ kiện, vỏ năo không nhớ!
Trong t́nh trạng như thế này, phản ứng dựa vào cảm
xúc làm cho chúng ta hoang mang, lúng túng, nhất là khi liên quan đến
sự lo âu. Chúng ta có thể không hiểu tại sao chúng ta lo âu khi
đi qua cầu, hay tại sao chúng ta tránh ngồi xoay lưng về cánh cửa của
nhà hàng, hay mùi cà chua làm cho chúng ta cảm thấy căng thẳng.
Thí
dụ 1
Sự kiện vỏ
năo bị loại khỏi ra ṿng hoạt động là lư do tại sao chúng ta thường
hoang mang và lẫn lộn với những phản ứng cảm xúc.
Lily cảm thấy một nỗi sợ hăi ám ảnh mỗi
khi khi đọc về những triệu chứng về ám ảnh sợ hăi trong một trang mạng
xă hội.
Ngoài ra, cô không cảm thấy thoải mái ở giữa đám
đông trong những buổi họp mặt gia đ́nh (nhất là khi có nhiều người
nh́n cô!).
Khi bị hỏi
lư do tại sao, Lily cho biết là những lúc như thế làm cho cô ta nhớ
lại một sự kiện đă xảy ra khi cô ta c̣n học ở lớp hai bậc tiểu học. Có
một hôm, thầy giáo xếp cô vào trong nhóm những đứa trẻ phải đọc to
trang sách đang cầm trong tay để mọi người
trong lớp cùng nghe. Khi đến lượt cô phải đọc,
Lily gặp phải khó khăn và cô giáo nh́n cô ta với một cái nh́n làm cô
ta cảm thấy ngượng.
Phản ứng dựa vào kư ức về cảm xúc nhằm
bảo vệ Lily tránh những sự bối rối đáng tiếc có thể xảy ra trở lại.
Thí
dụ 2
Hạch hạnh
nhân liên hệ với con đường của vỏ năo và con đường của hạch hạnh nhân.
Nếu là
trường hợp sự lo âu dựa vào hạch hạnh nhân, chúng ta có thể cho rằng
cảm giác sợ hăi hay lo âu là do kư ức về
cảm giác của một sự kiện đă xảy ra trong quá khứ.
Sam gặp
phải một tai nạn xe hơi do cô bạn gái lái.
Cô này bị thương trầm trọng và phải nằm bệnh viện
hơn ba tháng. Cho đến ngay cả ngày hôm nay, mỗi khi lên ngồi
nơi ghế hành khách của chiếc xe do người
khác lái, Sam vẫn c̣n một cảm xúc về sự nguy hiểm liên quan đến tai
nạn xảy ra nhiều năm trước. Sam cảm thấy hoang
mang hoảng sợ. Và nếu có sự lựa chọn, anh ta chỉ muốn xuống
xe.
6. Kết
từ
Cả hạch
hạnh nhân và vỏ năo đều có thể dẫn đến sự
lo âu, sợ hăi và căng thẳng.
Hiểu biết
nguyên do và nguồn gốc của sự lo âu và sợ hăi sẽ giúp chúng ta đáp ứng
với sự căng thẳng một cách hữu hiệu hơn. Phản ứng
“chống trả- trốn chạy- bất động hay khuất phục” [2] sẽ được thực hiện
một cách hợp lư hơn. Điều này giúp gia tăng chất lượng của cuộc
sống hàng ngày của chúng ta chẳng những trong gia đ́nh mà c̣n ở ngoài
xă hội.
Nên ghi nhận ở đây là hạch hạnh nhân
luôn luôn có liên quan đến việc tạo ra phản ứng đối với sự lo âu, bất
luận sự đáp ứng này bắt đầu từ hạch hạnh nhân hay từ vỏ năo.
V́ thế, hiểu biết và kiểm soát sự đáp ứng của hạch
hạnh nhân trở nên rất cần thiết trong việc truy cầu phương cách giảm
thiểu sự lo âu. Nếu sự lo âu bắt nguồn từ hạch hạnh nhân, ngăn
chận hay giảm thiểu sự lo âu không thể giải quyết bằng lư luận.
Ngược lại, nếu sự lo âu bắt nguồn từ vỏ năo, chúng
ta có thể dùng phân tích và lư luận để kiềm chế sự lo âu.
Hạch hạnh
nhân liên hệ với con đường của vỏ năo và con đường của hạch hạnh nhân.
Sự lo âu không chỉ đến từ hạch hạnh nhân, mà có
thể đến từ vỏ năo. Khi hiểu được ngôn ngữ
của hạch hạnh nhân và ngôn ngữ của vỏ năo, chúng ta có thể huấn luyện
hạch hạnh nhân để hạch này đáp ứng hợp lư và hữu hiệu hơn.
Chúng ta cần kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm
để đưa đến trạng thái “nghỉ ngơi- phân
tích dữ kiện” và v́ thế có thể giảm hoạt động gây nên sự lo âu của hệ
thần kinh giao cảm.
Để tránh
ảnh hưởng của không tặc hạch hạnh nhân và giảm thiểu sự lo âu, chúng
ta có thể dùng phương pháp gia tăng trí tuệ cảm xúc (emotional
intelligence) bằng cách trau dồi khả năng tự nhận thức, khả năng tự
kiềm chế, gia tăng động lực, phát triển sự đồng cảm và kỹ năng xă hội
[6]. Chúng ta cũng có thể thực tập những phương pháp thư giăn như
thiền, yoga, tai-chi, thể dục, thể thao, nghe nhạc, đi bộ hay chọn một
sở thích đam mê như làm vườn, hội họa, hay thơ văn.
Chúng ta cũng có thể dùng
“luật 6 giây” trước khi có phản ứng.
Theo một số nhà nghiên cứu, sáu giây là thời gian
các chất kích thích tố bắt đầu có hiệu quả. Thế nên trừ một số
rất ít trường hợp có thể nguy hiểm đến tính mạng, chúng ta không nên
phản ứng ngay lập tức đối với “chống trả- trốn chạy- bất động hay
khuất phục”, mà nên chờ ít nhất 6 giây để
vỏ năo có thời gian phân tích và đề nghị một phản ứng hợp lư hơn. Thay
đổi tư thế ngồi, hít thở chậm hay đi qua
lại một thời gian ngắn cũng là những phương pháp thực tế để đáp ứng
với sự căng thẳng do hạch hạnh nhân gây ra. Đây
cũng là đề tài mà người viết dự định sẽ thảo luận nhiều hơn trong
những bài viết tới.
6.
Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2038-11112023.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2039-12122023.htm
[3]
https://www.hopkinsmedicine.org/health/conditions-and-diseases/adrenal-glands
[4]
https://my.clevelandclinic.org/health/body/23005-adrenal-gland
[5] University of Rochester
Medical :
https://www.urmc.rochester.edu/encyclopedia/content.aspx?contenttypeid=167&contentid=cortisol_serum
[6]
Daniel Goleman: “Emotional Intelligence: Why It Can Matter More
Than IQ”, Bantam Books, 1995.
[7]
https://www.maendelwealth.com/blog/waiting-for-the-tech-crash-amygdala-hijack
[8]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2027-11042022-FMRI.htm
January 12, 2024
|