|
"Now I am become Death, the
destroyer of worlds.”
Robert Oppenheimer trích từ Bhagavad Gita [1]
GS
Oppenheimer là một nhà khoa học lớn, một nhà thơ, một triết
gia và là một nhà quản lư kỳ tài. Ông
cũng là người tiên phong đưa khoa lượng tử vật lư lư thuyết
(theoretical quantum physics) về Mỹ. Trong ṿng ba năm, ông đă điều
khiển chương tŕnh kỹ thuật của Manhattan Project đưa đến thí nghiệm
thành công quả bom nguyên tử đầu tiên tại New Mexico [2-4].
Cộng đồng khoa học gọi ông là “Cha đẻ của bom
nguyên tử”. Nhưng sự thành công về loại “siêu vũ khí” này đă
đưa đến sự “chạy đua vũ khí hạt nhân” giữa Mỹ và Liên Bang Sô Viết (tiền
thân của Nga) và cũng đă đưa ông đến “Kangaroo Court” kết tội ông là
gián điệp cho Liên Bang Sô Viết, tước
“security clearance” của ông, nhằm để “bịt miệng” và phá hủy uy tín
của ông trong cộng đồng khoa học thế giới. GS Oppenheimer là “nạn nhân”
của sự thành công “có một không hai” của
thế kỷ hai mươi. Đây đúng là “một thảm kịch” cho một nhà khoa học có
một không hai này! Trong bài viết này, người
viết xin giới thiệu khái quát về sự nghiệp của GS Oppenheimer; c̣n về
phần “Kangaroo Court” để kết tội GS Oppenheimer” người viết xin sẽ
tŕnh bày chi tiết hơn ở bài viết sau.
Tản mạn
bên lề
Chúng tôi
ghé vào một quán cà phê tương đối vắng khách nằm ở góc
đường Massachusetts và Brattle nh́n xuống Harvard
Square. V́ c̣n sớm nên người lại qua không tấp nập
cho lắm. Các sạp báo và tiệm quán cũng cũng
vừa bắt đầu mở cửa. Ăn sáng xong, chúng tôi đi thẳng vào
Campus. Bầu trời trong xanh không gợn một áng mây.
Mặt trời bắt đầu lên cao, tỏa những tia
sáng vàng rực rỡ xuống con phố, làm cho cái lạnh cuối tháng hai dễ
chịu hơn. Đi ngang qua bức tượng của John Harvard,
chúng tôi đến John Paulson School of Engineering & Applied Science nằm
trên đường Oxford. Ghé lại thăm trung tâm
nghiên cứu Gordon McKay, một ṭa nhà năm tầng bằng kính nằm sỏng soài
dưới nắng [H́nh 1]. Tôi đi một ṿng chung
quanh gọi là “t́m về kỷ niệm”! Có một “cái ǵ” để
nhớ. Để quên…
Ṭa nhà
không mấy thay đổi; chỉ có cái khác là phía sau giờ co hai cụm cây
forsythia đă bắt đầu đơm chồi.
Loại hoa này thường nở hoa màu vàng từ xa trông
giống hoa mai. Ở nhà chúng tôi ở Minnesota cũng có trồng loại
hoa này để”tạm” thưởng thức hương vị mỗi
độ xuân về!
Chiếc cầu bắt ngang qua ḍng sông Charles
Nối liền Cambridge với Boston.
Xe cộ lại qua, sóng người ồ ạt
Không khí mát trong chợt ấm cả ḷng.
Harvard
sáng nay nhẹ bước thong dong
Những ṭa nhà gạch đỏ khằn màu năm tháng
Nắng đổ thênh thang, cụm vàng chói rạng
Đồi cỏ xanh êm rộn bước chân về.

H́nh 1. H́nh chụp chung
với hai đứa con trước ṭa nhà Gordon McKay. Cảnh
cũ, trường xưa. Chạnh nhớ những ngày.
(h́nh bên trái). Ḍng
sông Charles nằm tắm ḿnh trong nắng. Nắng
đổ thênh thang. Nắng rộn ḷng người (h́nh
bên phải).
Đại lộ Massachusetts đi ngang qua Harvard, MIT dẫn
đến thành phố Boston ngang qua ḍng sông Charles.
Sáng hôm nay trời trong và mát.
Nên người lại qua cũng thủng thẳng bước chân về.
Campus MIT nằm dọc theo bờ sông cũng bắt
đầu đông người lại qua. Kẻ chạy bộ. Người
ngồi ngắm cảnh hay t́m một chút b́nh an. Nhịp sống nhẹ nhàng trong
ḷng thiên nhiên tươi mát.
Những
con sóng lân tinh muôn ngàn sắc hiện
Nhảy múa bên nhau chuẩn bị đón xuân về
Dọc bờ sông bầy chim trắng măi mê
Dành miếng bánh ai lỡ quên bỏ lại.
V́ cũng thuận đường, nên vài ngày sau, chúng tôi
quyết định đi thăm Đại học Princeton và Viện Nghiên Cứu Cao Cấp
(Institute for Advanced Study) [H́nh 2]. Đối với cá nhân tôi,
Princeton không có ǵ xa lạ! Ngày xưa tôi
thường đi công tác đến đây. Cảnh vật. Con
đường. Chẳng mấy ǵ thay đổi.
Vẫn những khu shopping khang trang.
Vẫn những khu nhà đắt tiền.
Những tiệm sách hai bên đường vẫn đông người đến
đọc. Điều thiếu vắng bây giờ là tiếng cười nói của những người
bạn cùng làm chung nghiên cứu thuở nào! Nói
về Viện, nghe tên đă lâu, nhưng cứ “hẹn lần hẹn hồi”;
măi cho đến hôm nay tôi mới có “cơ hội” đến thăm.
Khi
đặt chân đến đây, điều tôi liên tưởng trước tiên là tên những những
nhân vật nồng cốt hay có liên quan đến Manhattan Project như Bohr, Von
Newmann. Đặt biệt là GS Einstein và
Oppenheimer, hai người đă từng làm việc ở đây và đă mất tại Princeton.

H́nh 2.
Một góc nh́n của Institute for Advanced Study từ phía Institute Woods.
Viện biệt lập với Đại học Princeton và nằm
cách Đại học khoảng vài miles. Viện nằm trên một khu đất rộng thênh
thang với Einstein Circle trước mặt và Olden Lane chia cách khu làm
việc với khu nhà ở cho những thành viên trong Viện và cho khách viếng
thăm Viện. Trong quá khứ, những người làm việc ở đây đă đóng góp nhiều
cho nền khoa học của nhân loại. Cho đến
năm 2015, đă có 34 Nobel laureates và 41 Fields medalists đă từng làm
việc với Viện, trong số đó có Ngô Bảo Châu. Viện nằm đối diện với
căn nhà có nhiều nét lịch sử Thomas Clarke, nơi tướng Hugh Mercer (người
Ái Nhĩ Lan, di dân sang Mỹ năm ông 27 tuổi)
mất sau chín ngày dưỡng thương trong Battle of Princeton. Căn nhà này
[H́nh 3] cũng là nơi dưỡng thương của những chiến sĩ đă lội qua sông
Delaware giữa đêm Giáng Sinh nước lạnh như đá để tấn công bất ngờ và
chiếm đồn lính của Anh. Thế nên, mặc dù Chiến trận Princeton tương đối
có tầm kích nhỏ nhưng đă làm những chiến
sĩ khác trong quân đội của Washington “lên tinh thần” đưa đến thắng
lợi cuối cùng của chiến tranh dành độc lập (Revolution War). Chúng tôi
đi ṿng theo Viện.
Không khí thật yên tĩnh. Nghĩ về những người đă đi qua ở Viện
và ở Battle of Princeton, tôi chợt có một cảm nghĩ
mơn mang và kính phục bao người đă tranh đấu và hy sinh để cho
chúng ta cuộc sống được như ngày hôm nay.
Khu rừng
bao quanh cánh đồng cỏ thênh thang
Những ngôi nhà gạch, mái đỏ trắng thẳng hàng
Những khuôn mặt ngày xưa như ẩn hiện c̣n đâu đó
Nh́n kẻ lại qua, chợt mĩm nụ cười…

H́nh 3. Khu sinh hoạt
trước Đại học Princeton với University Store và quán sách bên đường.
Và… nắng lên rộn ră phố phường (h́nh bên
trái). Căn nhà màu trắng của Thomas Clarke, nơi đă cứu sống nhiều
người lính Mỹ trong chiến tranh dành độc lập (h́nh bên phải).
2.
GS Oppenheimer- một nhà khoa học đa dạng
GS
Oppenheimer là một nhà khoa học lớn, một nhà thơ, một triết
gia và là một nhà quản lư kỳ tài. Trong
ṿng ba năm, ông đă điều khiển chương tŕnh kỹ thuật của Manhattan
Project đưa đến thí nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên tại
New Mexico- một thành tích phá kỷ lục chưa bao giờ có. Khi Thế Giới
Đại Chiến Thứ Hai chấm dứt vào năm 1945
với Nhật đầu hàng vô điều kiện sau khi hai quả bom thả xuống
Hiroshima và Nagasaki; ông được bầu làm chủ tịch Ủy Ban Tư Vấn Tổng
Quát (General Advisory Committee) của Hội Đồng Năng Lượng Nguyên Tử
(Atomic Energy Commission), một tổ chức mới thiết lập lúc bấy giờ.
Trong trách nhiệm mới này, ông đă dùng uy tín của ông để “lobby” thế
giới về việc giới hạn năng lượng nguyên tử và kiểm soát cuộc chạy
đua vũ khí nguyện tử. Ông phản đối việc phát triển hydrogen bomb, có
những thái độ “hơi tiêu cực” về loại vũ khí mới này và tỏ vẻ hối hận
về sự đóng góp của ông trong việc chế tạo bom nguyên tử. Điều
này đă làm một số người trong giới cầm quyền bất măn và muốn ngăn chận
thế lực của ông.
Sẵn với
khuynh hướng khuynh tả của ông trước chiến tranh và những liên hệ cá
nhân trong gia đ́nh như cô bạn gái, vợ ông và người em có những liên
hệ hoạt động với Đăng Cộng Sản tại Mỹ, một ṭa án được thiết lập dưới
chính quyền của Tổng Thống Dwight Eisenhower. Và kết quả là 1954,
chính phủ tước “security clearance” của ông v́ cho rằng ông thuộc loại
“security risk” có thể tiết lộ bí mật bom nguyên tử cho Liên Bang Sô
Viết. Mặc dù thất vọng về những ǵ đă xảy ra,,
ông vẫn tiếp tục giảng dạy,và nghiện cứu.
Ông về làm giám đốc ở Viện Nghiên Cứu Cao Cấp
(Institute for Advanced Study). Sau này,
chính phủ trả lại ông “security clearance”. Gọi là để “trả lại
công đạo”, Tổng thống John F. Kennedy
thông báo là sẽ trao giải Enrico Fermi Award về physics cho GS.
Oppenheimer vào 1963. Nhưng v́ Kennedy bị
ám sát trước đó, Tổng thống Lyndon B.
Lyndon phát giải thưởng này vào tháng 12 cùng năm [H́nh 5].
(Chú thích
của người viết: Trớ treo thay lịch sử thường hay lập lại! Trường họp
của GS Oppenheimer “na ná” giống trường hợp của GS Lise Meitner- người
đáng lư được giải thưởng Nobel về Nuclear Fission với GS Otto Haln
vào năm 1944; nhưng Hàn Lâm Viện Thụy Điễn đă không trao giải này cho
bà v́ phần chính bà là người Áo gốc Do Thái. Sau này gọi là “đền bù
phần nào” sự mất mác này, Tổng thống Harry Truman của Mỹ đă trao bà
giải Enrico Fermi Award vào năm 1966, như đă tŕnh bày trong những
bài viết trước).
2-1 Vài
nét về GS Oppenheimer
Sinh ở New
York City vào 22 tháng 4, năm 1904 trong một gia đ́nh di dân Đức gốc
Do Thái. Sau khi tốt nghiệp về vật lư thực nghiệm
ở Harvard trong 3 năm, ông đến học ở University of Cambridge vào năm
1925. Ông làm việc với Max Born ở
Göttingen University về vật lư lư thuyết ; ở đây ông có cơ hội gặp
Niels Bohr. Ngay sau khi lấy bằng PhD, ông được bổ
nhiệm giảng dạy cùng một lúc ở Caltech và University of California
Berkeley ở vào cái tuổi 23. Ông có những
đóng góp quan trọng về nuclear fusion, electrons, positrons.
Đáng kể nhất là neutron stars, black
holes, quantum mechanics, quantum field theory và cosmic rays. Cộng
đồng khoa học mệnh danh ông là “founding father” của ngành
theoretical physics ở Mỹ. Ông cũng được đề cử vài lần với Hàn Lâm Viện
Thụy Điễn về giải thưởng Nobel về vật lư, nhưng lần nào cũng “hụt”!
Một phần có lẽ liên quan đến chính trị!? Điều này
cũng chẳng có ǵ ngạc nhiên. V́ “tài” bao nhiêu mà “vận chính
trị” không may, th́ cũng toi công thôi, như chúng ta có thể thấy nhan
nhăn trong lích sử giải Nobel. (Nên nhớ Mahatma
Gandhi được đề cử với Hàn Lâm Viện Thụy Điễn 5 lần, nhưng
không nhận được giải Nobel. Lần cuối cùng ông được đề cử vài tuần sau
khi ông bị ám sát vào tháng giêng 1948).

H́nh 4.
Tướng Leslie Groves và GS Oppenheimer ở Los Alamos
Laboratory (h́nh bên trái). GS Oppenheimer
và GS. Albert Einstein ở
Institute for Anvanced Study,
Princeton
(h́nh bên phải).
Google Images.

H́nh 5.
Tổng
thống Lyndon Johnson trao giải
Enrico Fermi Award về physics cho GS. Oppenheimer
năm 1963 (h́nh bên trái)
Oppenheimer
với Kitty (wife) và
hai người con (Peter & Toni)
(h́nh bên phải).
Googles Images.
2-2 Los
Alamos National Laboratory và Kế Hoạch Manhattan
Để cho độc giả dễ theo dơi hơn về những diễn tiến
trong việc chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới, người
viết chỉ tóm lược ở đây những nét chính đă tŕnh bày về Manhattan
Project ở những bài viết trước.
GS Albert Einstein- một nhà vật lư nổi tiếng người Đức gốc Do Thái-
được mời sang Mỹ trước tiên dạy ở Caltech, sau đến làm việc ở Viện
Nghiên Cứu Cao Cấp (Institute for Advanced Study) gần Đai Học
Princeton, New Jersey [H́nh 2 & 4].
Môi trường mới này cho ông sự yên tĩnh và điều kiện thuận lợi để ông
tập trung vào công tác nghiên cứu về những vấn đề liên quán đến vật lư
của ông. Mặc dù thế, ông vẫn luôn luôn quan tâm đến việc bành trướng
thế lực của Adolf Hitler và việc đàn áp và giết hại người Do Thái ở Âu
Châu. Einstein lúc nào cũng chủ trương giải pháp ḥa b́nh. Càng lúc
ông càng thấy thất vọng về sự sụp đổ nhanh chóng của Âu Châu với thế
lực quá mạnh của Đức Quốc Xă. Đồng thời trong giới khoa học, sau sự
khám phá thành công của GS Meitner và GS Hahn về phân hạch nguyên tử
với năng lương không lồ phóng ra dưa vào phương tŕnh E= mc2 của
Einstein, nhiều khoa học gia nhất là ở Đức trở nên chú tâm nghiên cứu
vào lănh vực phân hạch nguyên tử này. Điều này khiến ông và một số
khoa học gia lo ngại là Đức có thể phát triển và chế tạo thành công
bom nguyên tử và thôn tính toàn cầu với loại siêu vũ khí nguyên tử
này. Trong số những nhà khoa học gốc Do Thái tị nạn sang Mỹ có TS
Leó Szilárd. Sau khi đến Mỹ không lâu, ông đă tŕnh bày kết quả nghiên
cứu hạch phản ứng với TS Enrico Fermi và muốn tŕnh bày với Tổng Thống
Franklin.D. Roosevelt
về triển vọng Hitler có thể có bom nguyên tử
trong vài năm.
Nhưng khổ nỗi Szilárd
lúc bấy giờ không có nhiều uy tín trong cộng đồng khoa học, nhất là ở
Mỹ. Nên ông đă nhờ Einstein giúp đỡ trong công tác này. Einstein lúc
đầu c̣n hơi do dư, nhưng sau cùng đồng
ư
kư
tên trong lá thư gửi đến Tổng Thống Roosevelt vào ngày 2 tháng 8 năm
1939, đề nghị Mỹ phát triển chương tŕnh khai phát “quả bom cực mạnh”
dùng phân hạch nguyên tử và phản ứng dây chuyền từ chất urani. Đứng
trước t́nh trạng khẩn cấp và nguy cập và nỗi lo sơ về khả năng Đức
Quốc Xă có thể thôn tính thế giới với siêu vũ khí nguyên tử này, Tổng
Thống Roosevelt quyết định cho phép kế hoạch Manhattan (Manhattan
Project) tiến hành với mục đích duy nhất là chế tạo quả bom nguyên tử
đầu tiên trên thế giới.
Kế hoạch Manhattan được đặt dưới quyền lănh đạo tổng
quát của Tướng Leslie Groves và sự quản lư
kỹ thuật của GS J. Robert Oppenheimer [H́nh 4].
Kế hoạch bắt đầu vào 1939 và phát triển lớn mạnh với ngân sách 2 tỉ
(tương đương với 27 tỉ USD của năm 2017) với 130 ngàn nhân viên. Có
hơn 30 địa điểm nghiên cứu, phát triển và và chế tạo trên toàn nước
Mỹ; nổi tiếng nhất là Khoa Nghiên Cứu và Khai Phát Bôm (Research &
Development) ở Los Alamos Laboratory, New Mexico.. Oppenheimer
chọn Jornada del Muerto Valley (Journey of the Dead Man) v́
ông quen thuộc với địa thế của vùng này (ông và người em của ông
Frank Oppenheimer thường đến đây hiking và có khi ở cả tuần lúc c̣n
trẻ).
Jornada del Muerto Valley nằm biệt lập ở giữa
New Mexico, có diện tích 16x24 km2, với cao độ 1,565 m. Tướng Leslie
Groves cũng thích nơi này v́ đây là một địa điểm khá biệt lập; nhưng
đủ thuận tiện để các khoa học gia, cán bộ kỹ thuật và những cán bộ
liên quan có thể đến tham dự; có nguồn nước uống
tốt ; phong cảnh thiên nhiên trù phú với nhiều thắng cảnh đẹp
và khí hậu quanh năm tương đối ôn ḥa.Los Alamos Laboratory là nơi
thiết kế và chế tạo thành công quả bom nguyên tử đầu tiên.
Trong ṿng ba tháng đầu khi mới thành lập, GS
Oppenheimer đă “chạy ngang dọc” trên toàn nước Mỹ để chiêu mộ nhân tài
ở những đai học và trung tâm nghiên cứu lớn như UC Berkeley, MIT,
Columbia, Minnesota, Chicago, Princeton, Iowa, Stanford, Purdue và
National Bureau Standards. Lúc đầu có khoảng 30 khoa học gia và gia
đ́nh đến sống và làm việc ở đây.
Một khoảng thời gian sau, dân số gia tăng đến sáu ngàn
người. V́ là những nhà nghiên cứu và chuyên viên tầm cỡ lớn của Mỹ,
cộng với môi trường sống và làm việc chung với nhau trong không khí tự
do và cởi mở; thêm vào đó trách nhiệm và áp lực phải hoàn thành vũ khí
nguyên tử cần thiết và đúng thời hạn để tranh đua với Đức, tiến độ
phát triển trở nên nhanh chóng vượt bực. Mọi người làm việc 10-12 giờ
mỗi ngày, 6 ngày một tuần; ngày c̣n lại gặp nhau tại nhà TS
Oppenheimer uống rượu, ca hát và tán dóc.
Chỉ trong ṿng hai năm, trái bom đầu tiên đă hoàn thành.
Phản ứng phân hạch đầu tiên được thực hiện vào 2 tháng 12, 1942.
Và trái bom nguyên tử đầu tiên được thử ở
Jornado del Muerto Valley gần Alamogordo, New Mexico- vào lúc 5:29:45
sáng, ngày 16 tháng 7 năm 1945 (codename là Trinity Site). Phản ứng
của những người lúc đó rất phức tạp, như GS Oppenheimer đă thổ lộ
trong cuộc phỏng vấn:
"We waited
until the blast had passed, walked out of the shelter and then it was
extremely solemn. We knew the world would not be the same. A
few people laughed, a few people cried. Most people were silent. I
remembered the line from the Hindu scripture, the Bhagavad Gita:
Vishnu is trying to persuade the prince that he should do his duty,
and to impress him he takes on his multiarmed form and says, “Now I
am become Death, the destroyer of worlds.”
I suppose we all thought that, one way or another."
Một tháng sau đó, hai trái bom nguyên tử “Little
Boy” và “Fat Man” cũng được chế tạo. “Little
Boy” với 12-15 kilotons of TNT chở trong chiếc phi cơ Enola Gay do Đại
tá Paul Tibbets lái và thả xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng
8 năm 1945; trong khi đó vào ngày 14 tháng 8, 1945. “Fat Man” với 21
kilotons of TNT được chuyên chở trong chiếc Bocks Car do Thiếu tá
Charles Sweeney lái và thả xuống thành phố Nagasaki. Nhật đầu hàng vào
ngày 18 tháng 8, năm 1945; và ky hiệp
ước đầu hàng vô điều kiện trên tàu USS Missouri nằm ở Vịnh Tokyo vào
ngày 2 tháng 9, năm 1945.
2-3 GS Oppenheimer là một nhà quản lư
kỳ tài
Làm việc với những nhà khoa học và chuyên gia tầm cỡ
lớn- có những người đă nhận giải Nobel- trong một điều kiện kiểm soát
chặt chẻ quân sự để hoàn thành một công tác ảnh hưởng lớn đến vận mệnh
nhân loại trong một thời gian ngắn (ba năm) là một thành tích vĩ đại
cần một người có khả năng quản lư kỳ tài. Thêm vào đó, GS Oppenheimer
phải tiếp xúc và báo cáo thường xuyên với Tướng Groves, người trách
nhiệm tổng quát về Manhattanm Project là một điều không dễ v́ cá
tính, cách sống, tôn giáo và khuynh hướng chính trị và xă hội của
hai người hoàn toàn khác nhau. Dung ḥa một cách khôn khéo giữa những
chuyên gia lúc nào cũng muốn thảo luận với tinh thần cởi mở và giới
sĩ quan quân sự lúc nào cũng muốn giữ
“bí
mật“
bằng cách giới hạn việc trao đổi thông tin để cho công
việc trôi chảy với hiệu xuất tốt là một chuyện ít người làm được.
2-4. “Kangaroo Court“
Giống như phần lớn những nhà trí thức khác vào thập
niên 30’s, GS Oppenheimer có khuynh hướng thiên tả nhất là ngay vào
thời ky Cuộc Đại Khủng Hoảng (Great Depression) với nhiều sinh viên
ở UC Berkeley của ông thất nghiệp. Khi nh́n những người Đức gốc Do
Thái bị đàn áp bởi Đức Quốc Xă, ông cũng bị ảnh hưởng với y nghĩ là
chế độ Cộng sản có thể giải quyết được phần nào t́nh trạng nguy cập
này!. Trong t́nh tự đó, ông đă đóng góp 3% lương của ông cho những nhà
khoa học tị nạn sang Mỹ. Ông cũng ủng hộ Teachers’ Union và các phong
trào lao động khác.
Thêm vào đó, vài người thân cận với ông như vợ của ông
(Katherine Puening Harrison) và người em của ông Frank Oppenheimer
cũng có cảm t́nh và có liên hệ trong Đăng Cộng Sản lúc trước. Những
điều này nằm trong hồ sơ tiết lộ với Tướng Groves và Ban Lănh Đạo của
Kế Hoạch Manhattan khi đề cử ông giữ chức giám đốc ở Los Alamos
Laboratory. Nhiều người tỏ kiến không đồng dể GS Oppenheimer
lănh đạo chương tŕnh A-bomb ở Los Alamos v́ họ nghĩ ông không thích
họp với vai tṛ “rất“ quan trọng này. Nhưng Tướng Leslie Groves-
người chịu trách nhiệm toàn Kế hoạch quyết định chọn Oppenheimer.
Theo vị tướng này v́ tính cách khẩn cấp của A-bomb nên người độc
nhất theo ông có thể dẫn dắt và điều khiển để đưa đến thành công
trước khi Đức Quốc Xă hay Nhật có loại siêu vũ khí này phải là
Oppenheimer. Sự khẩn cấp này đă khống chế những do dự về ḷng trung
thành của Oppenheimer.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, thế lực của Liên Bang
Sô Viết càng ngày càng mạnh và sự xung đột về quân sự cũng có thể xảy
ra. Giới lănh đạo của Mỹ lo sợ là Liên Bang Sô Viết có thể phát
triển những loại vũ khí nguyên tử mạnh hơn A bomb dùng ở Hiroshima và
Nagasaki, điển h́nh là hydrogen bomb do Edward Teller trong nḥm của
Oppenheimer ở Los Alamos khám phá ra. Nhưng GS Oppenheimer phản đối
việc bành trướng hydrogen bom – loại vũ khí nguyên tử cực kỳ mạnh này
sợ có thể đưa đến cuộc chạy đua vũ khí nguyên tử và có ảnh hượng trầm
trọng đến tương lai của nhân loại. Để đàn áp tiếng nói và thế lực
chính trị của Oppenheimer, chính phủ Mỹ t́m cách tước mất “security
clearance“ của ông và “làm nhục“ qua hệ thống ṭa án. Vào năm 1953,
Lewis Strauss, lúc bấy giờ là chủ tịch của Hội Đồng Năng Lương Nguyên
Tử (Atomic Energy Commission) của chính quyền Tổng thống Dwight
Eisenhower, toa rập với TS Edward Teller để Teller làm chứng nhân
đối kháng với Oppenheimer trước ṭa (Oppenheimer là boss cũ của
Teller ở Los Alamos). Đây là “Kangaroo Court“ v́ Strauss tự đặt ra
những luật lệ cho ṭa án này: ông chọn ban bồi thẩm (jury) ; chọn tài
liệu nên tiết lộ và không nên tiết lộ với luật sư của Oppenheimer;
chọn nhân chứng và cho FBI ḍ thính và thu âm những hoạt động của
Oppenheimer. Họ dùng những tin tức mà GS Oppenheimer đă tiết lộ trước
chiến tranh với những “cái mẹo“ của luật sư công tố (proseccutor)
để kết tội Oppenheimer “nói láo“ trước ṭa. (phương pháp “perjury
này cũng rất thịnh hành để quan ṭa kết án người vô tội ngay cả ở
thời điểm hiện tại!). Kết quả là Ủy ban bầu với số phiếu 4-1, quyết
định “tước“ “security clearance“ của Oppenheimer, bất luận sự phản
đối rất mạnh của cộng đồng khoa học và một số nhân vật có quyền lưc
trong xă hội lúc bấy giờ..
Chúng tôi sẽ viết chi tiết hơn về “Kangaroo Court“ này
trong số tới.
3. Kết từ
Để kết túc bài viết này, người
viết xin trích vài cảm nghĩ của một số đồng nghiệp của GS Oppenheimer
nói về ông:
-TS Emilio Segrè: "The fastest thinker
I've ever met with an iron memory...brilliance and solid merits,"
but with some "grave defects," including "occasional arrogance...[that]
stung scientific colleagues where they were most sensitive."
-GS Hans
Bethe: "Robert could make people feel they were fools."
- Tướng
Leslie R. Groves::
"He's a genius, a real genius. While
[Ernest] Lawrence is very bright he's not a genius, just a good hard
worker. Why, Oppenheimer knows about everything. He can talk to you
about anything you bring up."
- Tướng
Leslie R. Groves::
"He understood immediately when he heard anything, and fitted
it into the general scheme of things and drew the right conclusions.
There was just nobody else in that laboratory who
came even close to him. There was human warmth, as well. Everybody
certainly had the impression that Oppenheimer cared what each
particular person was doing."
Tài
liệu tham khảo
[1] http://www.wired.co.uk/article/manhattan-project-robert-oppenheimer
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-12.htm
[3] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-13.htm
[4]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-14.htm
|