|
“All the time you're saying to yourself, 'I could do that, but I
won't,'
— which is just another way of saying that you can't.”
(Richard Feynman)
Vào buổi sáng ngày 28 tháng
giêng, 1986, phi thuyền không gian Challenger STS-51-L nổ tung trong
ṿm trời Florida 73,6 giây sau khi được phóng lên, làm thiệt mạng tất
cả bảy người trong phi hành đoàn, trong số đó cô giáo Christia
McAuliffe, người dân sự đầu tiên tham gia vào chương tŕnh không gian
của NASA. Trong buổi tường thuật dữ kiện liên quan đến phi thuyền
không gian Challenger, GS Feynman đă áp đặt một cách tuyệt vời một thí
nghiệm đơn giản và đă chứng minh thành công rằng O ring trong bộ tăng
áp của phi thuyền không c̣n duy tŕ được tính đàn hồi khi nhiệt độ
xuống thấp và là nguyên do chính của sự nổ tung phi thuyền trong không
gian. Trong thí nghiệm này, ông đặt môt phần của O ring cùng chất liệu
cao su giống như ṿng O ring dùng trong phi thuyền Challenger giữa một
cái kẹp. Xong ông nhúng phần O- ring này và cái kẹp trong một ly nước
đá lạnh. Vài phút sau, ông lấy ra. Ông cho thấy phần O-ring không c̣n
đàn hồi lại như vị trí lúc trước sau khi đă nhúng vào nước đá. Mọi
người đều ngạc nhiên với thí nghiệm cấp trung học này! Dùng một thí
nghiệm đơn giản để tŕnh bày và cắt nghĩa với khán thính giả về một sự
kiện khoa học quan trọng trong buổi họp một lần nữa chứng tỏ hùng hồn
khả năng cắt nghĩa hiện tượng vật lư của Feynman- một nhà giáo kỳ tài.
Sau thí nghiệm đơn giản của Feynman ở buổi tường thuật dữ kiện hôm đó,
Ủy Ban Rogers (Rogers Commission) đă thống nhất với kết luận rằng thảm
họa xảy ra phần chính là gây ra bởi O ring không đệm kín với vai tṛ
chống ṛ khí hữu hiệu ở nhiệt độ lạnh tại Cape Canaveral trong ngày
phóng phi thuyền.
Cũng nên làm sáng tỏ ở đây một
điều mà môt số báo chí và phim ảnh đă hiểu sai lầm cho rằng Feynman là
người đă khám phá ra nguyên nhân của sự thất bại của phi thuyền không
gian Challenger. Feynman chỉ là người cắt nghĩa hiện tượng vật lư một
cách rơ ràng mà ngay những người có tŕnh độ khiêm nhường về vật lư có
thể lănh hội được! Một điều nữa về sự đóng góp của GS Feynman , theo
thiển ư của người viết, là ông đă dùng phương pháp kiểm tra « bottom
up » trong việc truy cầu thành công nguyên nhân của sự thất bại của
phi thuyền Challenger ; Ông đă “bỏ qua rào cản” của Ban lănh đạo trong
chương tŕnh NASA và thay vào đó ông đă đến nói chuyện trực tiếp với
những kỹ sư cấp dưới của hăng Thiokol để t́m ra dữ kiện thí nghiệm về
sự biến đổi của O ring với nhiệt độ. Ông cũng khám phá ra một lỗ hổng
lớn trong “kênh truyền thông” giữa Ban lănh đạo và các kỹ sư chuyên
môn!
Sau buổi tường thuật này và với hồ sơ báo cáo của Rogers Commission
trong đó GS Feynman là một thành viên, Ban lănh đạo của NASA quyết
định hoăn chương tŕnh không gian lại ba năm. Trong thời gian này,
NASA đă thay đổi nhiều về thiết kế O ring, cấu trúc tổng quát của phi
thuyền, và t́m giải pháp an toàn cho những phi thuyền không gian trong
tương lai.
Từ khóa :
Shuttle Challenger, NASA,
Morton- Thiokol, Ronald Reagan, Christa McAuliffe, Michael Smith, Dick
Scobee, Ronald McNair, Ellison Onizuka, Gregory Jarvis, Judith Resnik,
solid rocket boosters, O rings, Kennedy Space Center, Cape Canaveral,
Marshall Space Flight Center.
1. Tản mạn bên lề
Nói đến Thiền Viện Trúc Lâm mà
không nhắc đến Thầy Thích Thanh Từ là một điều thiếu sót ! Tôi c̣n nhớ
vào khoảng thập niên 90’s Thầy có ghé thăm và ở lại Minnesota vài ngày.
Tôi và nhà tôi được cái duyên hầu chuyện và đi Thiền Hành với Thầy mỗi
buổi sáng. Giọng nói của Thầy lúc nào cũng điềm đạm, từ tồn khiến
người nghe cảm thấy dễ chịu, an b́nh.
Hôm nay là ngày Lễ Phật Đản, chúng tôi một lần nữa lại được cái duyên
lành đến thăm Thiền Viện [H́nh 1]. Theo ngày lên, Thiền Viện càng lúc
càng trở nên đông đúc hơn với khách thập phương về thăm viếng. Sau khi
lễ bái Phật trong chánh điện xong, tôi bắt đầu đi tản bộ về phía bờ hồ
phía dưới để t́m một phút giây yên tĩnh hơn và để nghe tiếng thông reo.
Đà Lạt có một vài loại thông mà tôi không thấy/hay chưa thấy ở
Minnesota. Tôi đi trong gió mát trong lành của vùng cao nguyên. Giữa
đất trời lồng lộng. Tôi cảm nhận được ở đây một nguồn tự do mênh mông.
Vừa đi tôi vừa nhớ lại những ngày “gasshuku” ở một ngôi chùa trên núi
Koyasan , thuộc huyện Wakayama ở Nhật. Ngày
nào cũng dậy sớm, ăn chay và hành thiền! Có mệt nhưng vui và ḷng th́
lúc nào cũng thật nhẹ nhàng, mát rượi. Một cảm giác thật hiền họa,
trong sáng và thanh tịnh.
“…Giữa đất trời trải rộng
thênh thang muôn nơi, ru nhịp đời mênh mang trong tôi; người người trở
về trong cánh rừng nhỏ thầm kín ngàn đời.
Koyasan sáng nay thông reo ngút ngàn , cụm
mây trắng nhẹ nhàng lướt bay trong bầu trời xanh sâu thẳm; mọi vật bao
trùm với ngàn tia nắng nồng nàn sưởi ấm tâm thân.
Người cúi đầu chào người, nhẹ bước thong dong, nghe hơi thở nhịp nhàng
theo từng nhịp điệu bước chân;
Chim trao nhau lời hát, cánh hoa là tứ đại sắc thắm tươi cười, ḥa
nhịp đều cùng tiếng chuông chùa ngân xa, khi bổng lúc trầm.
An hưởng phút giây, tránh những tạp niệm phóng tâm và quên đi những
mẫu chuyện quá khứ tương lai theo ḍng năm tháng …”

H́nh 1. Trúc Lâm Thiền Viện
nằm trên ngọn đồi cao nh́n xuống thung lũng có mặt hồ trong xanh.

H́nh 2. Con đường đưa khách
thập phương đến thăm bờ hồ (h́nh bên trái) ; và tấm bia với bài thơ đề
bạt của Thầy Thích Thanh Từ.
Con đường đi qua gió theo gót
chân vuốt ve ngọt ngào. Bóng người lại qua theo những cụm mây trôi về
nẽo xa. Hướng định về đâu? Với những ước mơ vị đắng?
ngọt ngào? Mỗi người mỗi nơi như xác bèo
trôi theo ḍng nước reo. Rồi ngày cứ lên.
Và nắng cứ phai. Chân
cứ bước đi. Từng bước chân dài. Nhịp nhàng.
Dịu dàng. Như đếm nhịp điệu thời gian. Chợt đến. Chợt tan.
Đi trên đồi cao nên gió có hơi lành lạnh.
Thằng bé mĩm cười. Tôi vẫy
tay vui. An hưởng phút giây đời. Dù chỉ một
thoáng thôi!
Tôi đi “chầm chậm” dọc theo
con đường gạch [H́nh 2]. Theo từng làn hơi hít vào thở ra. Đếm bước
chân giẫm theo vạt nắng hiền ḥa. Càng đi tôi càng thấy ḷng càng nhẹ
nhàng. Trong màu nắng mới. Trong tiếng thông reo ŕ rào. Phút giây này
quy giá làm sao! Ḍng thời gian lúc cạn, lúc sâu ,
nhưng chưa bao giờ dừng lại. Nh́n màu xanh thắm của chiếc hồ phía dưới,
tôi cảm nhận được sư huyền diệu của thiên nhiên ngàn đời. Mặt hồ vẫn
nằm êm lặng trầm buồn theo triều luân chuyển tháng năm [H́nh 1]. Tiếng
chim hót, lời gió ca với âm hưởng thấm sâu vào ḷng đất núi. Cho cây
xanh đâm rễ sâu vào ḷng đất. Nhè nhẹ, nhịp nhàng mang màu mỡ về cho
cây cỏ đơm hoa…Thăm viếng Thiền Viện hôm nay. Biết khi nào trở lại !
Những hoa nắng nở trên vai tôi. Những nụ cười hồn nhiên của em bé.
Những giây phút trôi qua. Nhẹ nhàng. Sâu đậm. Xin giữ lại nơi đây.
Những thân thương. Mát rượi t́nh người.
Tĩnh
lặng dấu chân khằn đen trên đá
Nhịp thời gian buông. Điểm nhẹ giấc trưa
Cụm nắng vỡ từng giọt rơi trong mắt
Tĩnh thức. Trong hồn vạn ánh sao rơi!
Đường Thiền Viện
hôm nay tô đủ sắc
Khách thập phương từ khắp nẽo đi về
Trong tĩnh lặng, tai tôi nghe mồn một
Ḍng sống thăng trầm.
Sinh diệt. Diệt sinh.
Mặt hồ yên.
Thông ru đậm ân t́nh
Theo gió nhẹ thoảng mùi thơm của phấn
Rực sáng vàng sơn ḥa trong màu nắng
Một thoáng qua rồi.
Một phút trôi xa.
2. Phi thuyền không gian Challenger
Vào buổi sáng ngày 28 tháng
giêng, 1986, phi thuyền không gian Challenger STS 51-L nổ tung trong
ṿm trời Florida 73.6 giây sau khi được phóng lên, làm thiệt mạng tất
cả bảy người trong phi hành đoàn, trong số đó cô giáo Christia
McAuliffe, người dân sự đầu tiên tham gia vào chương tŕnh không gian
của NASA. (V́ có cô giáo McAuliffe, hầu hết các trường học ở Mỹ trực
tuyến buổi phóng phi thuyền Challenger ngày hôm đó. Sự nổ tung này đă
ảnh hưởng không ít đến các em học sinh sau này!). Trước tiên, ở giây
thứ sáu , nhân viên bắt ng̣i động cơ phi
thuyền; tiếp theo là khơi động bộ tăng áp tên lửa chất rắn (the solid
rocket booster SRBs). Một khi SRBs được bắt ng̣i rồi, không thể nào
ngừng hoạt động lại được. Challenger đi lên một cách rất hoành tráng,
bay xuyên qua một vùng khói đen. Hiện tượng này có thể do khí nóng
trong bộ tăng áp bên phải thổi xuyên qua cả hai O-rings ! Ở giây thứ
56, ngọn lửa bốc lên với nhiệt độ cực cao cháy bùng tạo nên một cái lỗ
trống càng lúc càng lớn hơn. Ở giây thứ 64, thùng chứa khí hydrô bị
đâm thủng và khí hydrô bắt đầu cháy . Ở
giây thứ 72.3, khí hydrô cháy xuyên qua phần chống đỡ bô tăng áp
(booster support). Ờ 72.5 giây, bộ tăng áp tách rời ra v́ thiếu sự
chống đỡ hữu hiệu. Ở giây thứ 73.6, tất cà đều bốc cháy khi khí hydrô
ḥa lẫn với khí oxy và bộ tăng áp nổ tung; đẩy phi thuyền đi lên ở một
tốc độ khoảng 1.000 miles per hour ( tương
đương với 1.609 km/hr) [H́nh 3];. Nhưng rồi bị phá tung ra v́ một ứng
suất bất ngờ. Lúc này, buồng điều khiển của phi hành đoàn chưa bị tổn
hại và vẫn tiếp tục theo hướng đi lên một khoảng thời gian ngắn nữa
trước khi quay đầu đi xuống về hướng trái đất. Theo NASA, ít nhất ba
người trong phi hành đoàn vẫn c̣n sống lúc này v́ h́nh ảnh cho thấy họ
cố t́m cái nút để tháo tấm chắn để có thể điều khiển phi thuyền. Phi
thuyền, không trang bị với dù , đâm xuống
mặt biển ở thời điểm 2 phút 45 giây với tốc độ khoảng 207 mph (333
km/h), khoảng 200 lần trọng lực. Tất cả xảy ra trong ṿng một giây, đủ
để giết chết những phi hành gia c̣n lại v́ sự thay đổi tốc đô một cách
cực kỳ đột ngột này.

H́nh 3.
Challenger launching Spacelab (h́nh bên trái) [1]
; và phi thuyền Challenger nổ tung trong ṿm trời Florida. Bộ
tăng áp bên trái bay phía trên những cụm mây (h́nh bên phải) [2]
.

H́nh 4.
Phi hành đoàn của phi thuyền Challenger.
Hàng phía trước (từ trái sang phải): Mike Smith (pilot), Dick Scobee
(commander), Ron McNair (mission
specialist). Hàng phía sau (từ trái sang phải): Ellison Onizuka
(mission specialist), Christa McAuliffe (teacher in space), Greg
Jarvis (payload specialist), Judith Resnik
(mission specialist). Image source: NASA [3]
3. Feynman và Rogers Commission
Ủy Ban
Rogers ( Rogers Commision) được đặt ra dựa
theo tên của ông William P Rogers, trưởng nhóm và là cựu bộ trưởng
ngoại giao của Mỹ dưới thời Tổng Thống Nixon. Ngoài GS Feynman ra, Ủy
Ban này gồm có những nhân vật nổi tiếng khác như Neil A. Armstrong
(phi hành gia đầu tiên đặt chân lên mặt trăng), Sally K Ride (phi hành
gia nữ đầu tiên của Mỹ đă bay trong những phi tuyền Challenger khác
như STS-7 và STS-41-G), Donald J. Kutyna (tướng không quân, nhiều kinh
nghiệm về ICBMs) và Charles E Yeager (tướng không quân và là người đầu
tiên bay xuyên qua bức tường âm thanh). Nhiệm vụ của Ủy Ban này là
điều tra nguyên nhân của thảm họa của phi thuyền STS 51-L. Bản báo cáo
của Ủy Ban Rogers được đệ tŕnh lên Tổng Thống Ronald Reagan vào ngày
9 tháng 6 năm 1986 và khẩn trương đề nghị NASA cải thiện và thiết lập
những chức năng an toàn trong phi thuyền và cải tổ dường lối tổ chức
trong việc điều hành những phi thuyền khác trong tương lai. GS Feynman
đă đóng vai tṛ quan trọng trong Ủy Ban Rogers trong việc truy cầu
nguyên do gây ra thảm họa của phi thuyền không gian Challenger. Đáp
ứng với đề nghị của Rogers Commission, NASA bắt đầu công tác thiết kế
trở lại toàn diện bộ tăng áp chất rắn của phi thuyền; và công tác này
được đặt dưới sư giám sát của một Nhóm Giám Thị độc lập do Ủy ban
Rogers chỉ định. NASA cũng thiết lập những cơ quan mới chuyên lo về an
toàn , độ tin cậy và quản lư chất lương.
Thời biểu phóng phi thuyền hơi thiếu thực tế lúc trước của NASA cũng
được thay đổi với số lần phóng ít hơn và dùng nguồn tên lửa thay v́
phi thuyền để phóng vệ tinh vào quỹ đạo. Sau 32 tháng đứt quảng,
chương tŕnh không gian bắt đầu trở lại với lần phóng phi thuyền
STS-26 vào ngày 29 tháng 9 năm 1988.

H́nh 5 .
GS Feynman cắt nghĩa hiện tượng vật lư về sự thay đổi tính đàn hồi
của O ring và là nguyên nhân chính sự nổ tung của Challenger Shuttle
tại Buổi tường thuật dữ kiện vào ngày 11 tháng 2 năm 1986. (h́nh
bên trái) [4]; và các thanh viên của Ủy Ban Rogers đến Kennedy Space
Center (h́nh bên phải) [4,5].
4. Feynman và vấn đề O rings
4-1.
Vấn đề O rings
O-rings
dùng để cung cấp lớp đệm không ṛ khí (gas-tight seal) cần thiết trong
cấu trúc nhiều tầng h́nh trụ sắp thẳng đứng (vertically stacked
cylindrical sections) của bộ tăng áp nhiên liệu chất rắn. Sự thất bại
của phi thuyền không gian Challenger không là điều ngạc nhiên đối với
một số người trong NASA. Nhiều kỹ sư của hảng Thiokol – hăng chế tạo
bộ phận tăng áp đă biết và quan tâm đến chuyện O ring thay đổi độ co
giăn với nhiệt độ. Ủy Ban đă khám phá ra vấn đề này và từ năm 1977
cũng đă bắt đầu quan tâm đến O rings trong việc duy tŕ sư an toàn cho
phi thuyền. Cấp quản lư của NASA chẳng những biết về sự khiếm khuyết
của O rings mà c̣n biết là O ring có khả năng gây ra thảm họa trầm
trọng cho phi thuyền không gian. Ủy ban cũng đă chỉ trích gắt gao về
quy tŕnh đưa ra quyết định dẫn đến thảm họa của Challenger. Có một
cuộc họp đêm trước ngày phóng phi thuyền Challenger để thảo luận những
vấn đề thiết yếu này và kết quả có thể hoăn lại việc phóng phi thuyền.
Nhưng v́ không có người đại diện nào của Ủy Ban phụ trách khâu an toàn,
Ban lănh đạo NASA quyết định phóng phi thuyền như dự định [4]. Điều
này manh nha chính từ cơ cấu tổ chức của NASA và sự thiếu nghiêm túc
trong việc thực hiện “checks and balances” .
Ủy ban c̣n cho rằng sự thất bại trong việc cắt nghĩa những dữ liệu kỹ
thuật cũng góp phần trong việc gây ra thảm họa Challenger.
4-2
Feynman và thí nghiệm nổi tiếng
Trong
buổi tường thuật dữ kiện liên quan đến phi thuyền không gian
Challenger, Feynman đă áp đặt một cách tuyệt vời thí nghiệm để chứng
minh thành công rằng O ring trong phi thuyền không c̣n giữ tính đàn
hồi khi nhiệt độ xuống thấp và là nguyên do của sự nổ tung phi thuyền
này trong không gian (Thời tiết của Florida ngày phi thuyền phóng ra
thấp, ở nhiệt độ 28-29 độ Fahrenheit. Nên ghi nhớ là nhiệt độ bên
ngoài trong những lần phóng phi thuyền khác la khoảng 53- 66F). Trong
thí nghiệm này, ông đặt một phần của O ring cùng chất liệu cao su
giống như ṿng O ring dùng trong phi thuyền Challenger giữa cái kẹp
h́nh chữ C. Xong ông nhúng phần O ring này và cái kẹp trong một ly
nước đá lạnh. Vài phút sau, ông lấy ra. Ông cho thấy phần O ring không
c̣n đàn hồi lại như lúc trước khi nhúng vào nước đá. Mọi người đều
ngạc nhiên với thí nghiệm cấp trung học này! Sau thí nghiệm đơn giản
của Feynman ở buổi tường thuật dữ kiện, Ủy Ban kết luận rằng thảm họa
Challenger phần chính là gây ra bởi sự thay đổi tính đàn hồi của O
ring ở nhiệt độ khá thấp tại Cape Canaveral trong ngày phóng phi
thuyền [4,5]
Cũng nên làm sáng tỏ ở đây một điều mà môt số báo chí và phim ảnh đă
hiểu sai lầm cho rằng Feynman là người đă khám phá ra nguyên nhân của
sự thất bại của phi thuyền không gian Challenger. Feynman chỉ là người
cắt nghĩa hiện tượng vật lư một cách rơ ràng mà ngay những người có
tŕnh độ khiêm nhường về vật lư có thể lănh hội được ! Một điều nữa về
sự đóng góp của GS Feynman , theo thiển ư
của người viết, là ông đă dùng phương pháp nghiên cứu « bottom up »
trong việc truy cầu thành công nguyên nhân của sự thất bại của phi
thuyền Challenger ; Ông đă “bỏ qua rào cản ” Ban lănh đạo của chương
tŕnh NASA và đă đến nói chuyện trực tiếp với những kỹ sư cấp dưới của
hăng Thiokol để t́m ra dữ kiện về sự biến đổi của O ring với nhiệt độ.
Ông cũng khám phá ra một lỗ hổng lớn trong “kênh truyền thông ” giữa
Ban lănh đạo và cán bộ kỹ thuật.
5. Vài nhận định thêm của Feynman về
thảm họa Challenger
GS
Feynman dành gần nửa quyển sách “What Do You Care What Other
People Think?” [6] nói về kinh nghiệm ông đă trải qua ở Rogers
Commission. Feynman đă tiết lộ ra sự “đứt đoạn thông tin” giữa cán bộ
kỹ thuật và Ban lănh đạo của NASA và các cơ quan liên hệ ở mức độ mà
ông không ngờ được. Ông phỏng vấn cán bộ lănh đạo ở NASA và được cho
biết là tỉ số của “thất bại đưa đến thảm họa” (catastrophic failure)
của phi thuyền là 1 trong 100,000.; trong
khi đó theo nhóm kỹ sư của NASA, con số này ước lượng vào khoảng 1
trên 200. Ông kết luận rằng ước tính của các cán bộ lănh đạo ở NASA là
không thực tế; nhất là khi NASA dùng con số này để công bố trong đại
chúng và tuyển chọn cô giáo Christa McAuliffe vào chương tŕnh Teacher-in-Space.
Ông tuyên bố rằng “For a
successful technology, reality must take precedence over public
relations, for nature cannot be fooled”. Và
ông muốn những y kiến của ông với ngôn từ của chính ông (thay v́ ngôn
ngữ chính thức của Ủy Ban Rogers) phải được đính kèm trong phần phụ
lục (Appendix) của bản báo cáo của Ủy Ban. Bằng không ông sẽ
không ky tên. Sau cùng Ủy Ban đồng y kèm
bản báo cáo của ông (Appendix F) trong bản báo cáo chính thức [7]
Kết quả
những lần kiểm tra về O ring dùng trong một một số bộ tăng áp lúc
trước cháy khoảng 1/3 toàn thể O ring..
Theo cán bộ quản lư của NASA, th́ nhưng O-rings này có một “chỉ số an
toàn” (safety factor) bảng 3.
Feynman
cắt nghĩa như sau: “chỉ số an toàn” là con số dùng để xác định khả
năng chịu đựng của một vật thể và sức chịu đựng này nhiều lần lớn hơn
sức lực thông thường mà vật thể đó phải chịu đựng trên thực tế. Thí du
như nếu kỹ sư xây một cây cầu có thể chịu đựng một sức nặng 3.000
pounds mà không bị thiệt hại nào; mặc dù trên thực tế chiếc cầu này sẽ
không bao giờ phải chịu đựng một sức nặng hơn 1.000 pounds. Trong
trường họp như thế này, “chỉ số an toàn” là 3. Nếu một chiếc xe vận
tải 1.000 pounds vận chuyển qua cầu mà cầu bị nứt mặc dù vết nứt chỉ
lan đến khoảng 1/3 của trụ cột chống đỡ chiếc cầu, «chỉ số an toàn »
trở thành 0 ; và chiếc cầu trở nên khiếm khuyết về chất lượng và v́
thế trở nên không an toàn. Feynman cảm thấy rất khó chịu về sự hiểu
biết sai lầm này. Nhưng ông vẫn tiếp tục công tác điều tra và khám phá
ra một lỗ hổng lớn trong việc truyền thông thông giữa Ban lănh đạo và
các kỹ sư ở NASA : Ban lănh đạo chủ trương rằng “độ nguy hiểm” do sự
khiếm khuyết chức năng có thể dẫn đến thảm họa (
the risk of catastrophic malfunction) la 1 trên 100.000; có
nghĩa là NASA có thể phóng một phi thuyền mỗi ngày liên tục trong 274
năm mà chỉ thiệt hại với một tai nạn. Điều này tự nó rất vô lư và
không tưởng đối với ông. Tiếp tục t́m ṭi thêm nữa, th́ con số này là
con số của các bộ phận (components), được tính bằng cách bắt đầu bằng
độ an toàn cho toàn phi thuyền mà NASA muốn thực hiện, rồi tính ngược
lại con số cần thiết cho các bộ phận liên quan. Ông tính một cách đại
khái (tính rợ) và t́m ra một con số khoảng 1 trên 100.
Ông kiểm tra lại với
kỹ sư của NASA và yêu cầu họ dự đoán ẩn danh và con số trung b́nh nằm
trong khoảng 1 trên 50 đến 1 trên 200.
Con số này gần với con số ông dư đoán! Càng bất măn hơn nữa là khi ông
biết Ban lănh đạo của NASA đă dùng con số không tưởng 1 trên 100.000
này để thuyết phục quần chúng tham dự vào chương tŕnh không gian.
Điển h́nh là cô giáo Christa McAuliffe, người đă không may mắn bị
thiệt mạng v́ sự thất bại của phi thuyền Challenger. Feynman càng lúc
càng tin rằng sự tuyên bố sai lầm về “chỉ số an toàn” của Ban Lănh Đạo
NASA là nguyên do chính của sự thất bại của phi thuyền không gian
Challenger.
O-rings là những ṿng làm bằng cao su
được dùng như lớp đệm không ṛ khí trong bộ gia áp chất rắn để ngăn
chận khí nóng thoát ra và gây thiệt hại cho những bộ phận khác của phi
thuyền. Mặc dù với những
luận điệu của NASA, Feynman nghi ngờ O-rings này không thích họp ở
nhiệt độ thấp và mất t́nh đàn hồi và độ cứng lúc lạnh; làm cho lớp đệm
không ṛ khí trở nên ít hiệu lực hơn khi áp suất trong phi thuyền làm
sai lệch chức năng của bộ tăng áp nhiên liệu chất
rắn . Sự nghi ngờ của Feynman được xác nhận bởi tướng Kutyna,
cũng là thành viên trong Ủy Ban Rogers..
Người này đă gợi ư cho Feynman bằng cách hỏi Feynman về hiệu quả của
đô lạnh đối với khả năng chống ṛ khí của O rings sau khi đề cập rằng
nhiệt độ của ngày phóng phi thuyền thấp hơn nhiệt độ những lần phóng
trước nhiều; dưới độ đông đá 28- 29 F. Nhiệt độ những lần phóng trước
ở vào khoảng 53F. Feynman truy cứu thêm vấn đề và nói chuyện với nhóm
kỹ sư của Morton Thiokol – hăng chế tạo bộ tăng áp nhiên liệu chất rắn
và được biết những người này nghi ngờ trầm trọng về khả năng chống ṛ
khí của những O rings này; nhưng dưới áp lực của NASA để giảm phí tổn;
con số những thí nghiệm cần thiết của bị giảm thiểu.
GS Feynman kết luận
bằng cách đưa ra hai điểm thiếu sót trầm trọng: một là thiếu “kênh
truyền thông” hữu hiệu giữa ban lănh đạo và kỹ sư và hai là sự hiểu
sai lệch về những dữ kiện thí nghiệm có thể đưa đến sư nguy hiểm cho
phi thuyền. Cần phải tŕnh bày một cách trung thực
về độ tin cậy của phi thuyền. và cho
đến khi những khác biệt và yếu điểm được giải quyết, chương tŕnh
phóng phi thuyền không gian phải tạm thời ngừng lại [8].
6. Kết từ
GS
Feynman không có liên hệ ǵ với NASA và giới kỹ nghệ nên không bị ràng
buộc trong mối liên hệ cá nhân ; ông có ít kiến thức và không có kinh
nghiệm ǵ về kỹ thuật liên quan đến việc phóng phi thuyền không gian
nên cái nh́n của ông có tính cách mới mẻ và khách quan ; thêm vào đó,
ông là một nhà giáo dục giỏi và là một nhà vật lư kỳ tài với khả năng
siêu việt trong việc cắt nghĩa dễ hiểu những hiện tượng vật lư. Chính
những đều này đă giúp ông điều tra một cách hiệu quả trong việc t́m
hiểu nguyên nhân của sự thất bại của phi thuyền Challenger.
Được biết
là khi NASA mời ông tham gia vào Rogers Commission, Feynman muốn từ
chối; nhưng rồi vợ ông – bà Gweneth thuyết phục ông tham gia. Chúng ta
hăy cùng nhau nghe Feynman thuật lại cuộc đàm thoại giữa hai người:
My last chance
was to convince my wife. "Look," I said. "Anybody could do it. They
can get somebody else." "No," said Gweneth. "If you don't do it, there
will be twelve people, all in a group, going around from place to
place together. But if you join the commission, there will be eleven
people—all in a group, going around from place to place together—while
the twelfth one runs around all over the place, checking all kinds of
unusual things. There probably won't be anything, but if there is,
you'll find it." She said, "There isn't anyone else who can do that
like you can."
GS
Feynman đă dùng “Feynman’s way” để t́m ra giải pháp cho bất cứ đề tài
và vấn đề khoa học nào ông gặp phải trong tinh thần như ông đă tiết lộ
“ Study hard what interests you the most in the most undisciplined,
irreverent and original manner possible” [9].
Trong
buổi họp báo tại Pasadena ngày 10 tháng 6 năm 1986, Feynman phát biểu
những nhận xét sau: [5]
“NASA exaggerated
the reliability of the space shuttle to the point of fantasy”
“NASA officials
“fooled themselves” into believing the shuttle was safe and that the
probability of a catastrophe was low”
''I saw considerable flaws in their logic. I found they were making up
numbers not based on experience. NASA's engineering judgment was not
the judgment of its engineers.''
“The fact that the
shuttle flew many times without failure was accepted as an argument
that it would fly safely again. Because of this reasoning, obvious
weaknesses were accepted again and again”.
“The seals were not
designed to erode, and when erosion was discovered, it was dismissed
by NASA. Erosion was a clue that something was wrong”.
Sự khám phá của
Feynman về sự thất bại của phi thuyền không gian Challenger có thể
được tổng kết như sau:
Rocket booster
design flaw + management failure + cold weather = disaster.
Không lâu sau Rogers Commission hoàn
thành bản báo cáo và đề nghị lên Tổng thống Reagan, GS Feynman mất vào
tháng hai năm 1988 ở tuổi 69.
Thế giới mất đi một nhà vật lư ưu việt và một nhà giáo dục kỳ tài!
Tài liệu tham khảo
[1http://rense.com/general69/chall.htm
[2]https://simple.wikipedia.org/wiki/Space_Shuttle_Challenger_disaster
[3]
http://insights.globalspec.com/article/2012/challenger-disaster-heeding-the-ethical-lessons-30-years-on
[4]
]
https://en.wikipedia.org/wiki/Rogers_Commission_Report
[5]
Rogers Commission
report (1987).
"Implementation of the Recommendations
of the Presidential Commission on the Space Shuttle Challenger
Accident, Recommendation IV" [A]
Rogers Commission report (1986).
"Report of the Presidential Commission on the Space
Shuttle Challenger Accident"
[6]
Feynman, Richard P. with Ralph Leighton (1989). What Do You Care What
Other People Think?. New York: Bantam
Books.
[7]
Feynman, Richard P. (1986)
Appendix F - Personal Observations on Reliability of Shuttle.
NASA.
[8]
S. Blakeslee: Feynman’s own findings:
they fooled themselves, New York Times ,
June 11, 1986.
[9]
http://www.nytimes.com/1986/06/11/us/feynman-s-own-findings-they-fooled-themselves.html
|