|
Kỹ thuật
chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging hay MRI) dựa vào hiện
tượng cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear Magnetic Resonance hay NMR). Đây
là một phương pháp thu h́nh ảnh dựa vào
lượng nước bên trong của các cơ quan trong cơ thể con người [1]. Năm
2003, giải Nobel về lănh vực Sinh lư học hay Y
khoa (Physiology or Medicine) được trao cho GS Paul Lauterbur
và Sir Peter Mansfield về “sự khám phá liên quan đến h́nh cộng hưởng
từ /for their discoveries concerning magnetic resonance imaging”. Hàn
Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển (Swedish
Academy of Sciences hay
gọi tắt ở đây là HLVKHTĐ) đă cẩn thận trong việc chọn chữ trong bản
tuyên dương công trạng (citation), bằng cách chỉ dùng thuật ngữ
“medical imaging” mà không đề cập ǵ đến việc áp dụng của NMR trong
MRI cho cơ thể con người. Chữ “imaging” dùng ở đây để phân biệt công
tŕnh nghiên cứu của hai vị giáo sư này với những thành quả nghiên cứu
khác nhằm tránh đề cập sự kiện hai vị GS này không phải là người chủ
trương đưa ra ư tưởng áp dụng NMR trong lănh vực tạo h́nh ảnh trong
y khoa . Mặc dù giải Nobel có thể phát cho đến 3 người, bác sĩ Raymond
Vahan Damadian và có thể GS Herman Carr lại không có tên trong danh
sách những người nhận, mặc dù BS Damadian là người tiên phong dùng NMR
trong việc tạo h́nh ảnh trong y khoa và đă thực hiện h́nh ảnh 1D của
cơ thể con người; có bằng sáng chế đầu tiên; lắp đặt và thành lập hăng
đầu tiên chế tạo máy quét MRI (MRI scanner).
Bỏ tên của Damadian ra khỏi
danh sách những người được vinh danh lănh giải Nobel năm 2003 là một
sự vô t́nh hay cố ư? Chúng ta phải chờ thêm 32 năm nữa mới biết rơ lư
do!
Theo truyền thống, giải Nobel về khoa học và kỹ thuật dành cho những
phát minh có tầm đóng góp quan trọng lớn trong sự phát triển và thịnh
vượng của xă hội loài người. Trong chiều hướng này, những người phát
minh sẽ nhận giải và những người hoàn thiện phát minh thành sản phẩm
sẽ không được hân hạnh này. Thế nên, thường phải đợi ít nhất vài chục
năm sau khi phát minh ra đời để xem ảnh hưởng của phát minh này trong
xă hội và thành quả cống hiến cho nhân loại như thế nào trước khi được
chọn- tức là phải qua giai đoạn “thử thách với thời gian“. Tiêu chuẩn
để chọn người lănh giải Nobel càng ngày càng trở nên mơ hồ, mâu thuẫn
với nhau và đôi khi trở nên có vẻ “chọn lựa tùy tiện” của các Hội Viên
thuộc Hàn Lâm Viên Khoa học Thụy Điển. Họ trích dẫn công trạng đóng
góp của những người lănh giải chỉ vỏn vẹn trong 21 chữ hay ít hơn để
phù hợp với việc chọn lựa của họ. Trong suốt lịch sử 120 năm của giải
Nobel, HLVKHTĐ đă dần dần đi lệch với đường hướng và tiêu chuẩn ban
đầu của giải Nobel. Với nhiều áp lực về chính trị, kinh tế, cá nhân,
tôn giáo, thậm chí có môt số trường hợp người cải thiện kỹ thuật được
lănh giải mà người phát minh lại không được, ngay cả tên cũng không
được đề cập đến. Đây là đề tài đă được thảo luận trong nhiều số trước,
nhưng cũng nhân cơ hội này, người viết cũng xin mạo muội góp ư thêm
trong bài viết này. Trong số sau, chúng tôi sẽ viết chi tiết hơn với
những dữ liệu khoa học để chứng tỏ rằng quyết định của HLVKHTĐ liên
quan đến MRI không phản ảnh đúng sự thực những ǵ đă xảy ra.
1. Sự tranh luận quanh
giải Nobel về MRI
Thực sự người đầu tiên nghĩ đến và áp dụng NMR trong việc chụp h́nh
các mô cơ thể trong con người MRI là BS Damadian [2-3]. Ngoài những
nghiên cứu tiên phuông trong việc khai phát MRI, bác sĩ Damadian cũng
là người có bằng sáng chế đầu tiên về MRI với US patent No. 3789832
được công bố vào ngày 5 tháng hai năm 1974 và chế tạo máy quét MRI
(scanner) đầu tiên đặt tên là “Indomitable” vào năm 1977.
Hiện tại máy này được giữ tại
Smithsonian Instution, Washington D.C. Damadian cũng đă
thiết lập FONAR, hăng đầu tiên
sản xuất máy chụp MRI vào năm 1977.
GS Lauterbur và GS Sir Mansfield đă thành công trong việc khám phá kỹ
thuật tạo h́nh 2D và 3D với khả năng tạo h́nh thiết thực trong việc
tầm soát và chẩn đoán lâm sàng. HLVKHTĐ cho rằng Paul Lauterbur và
Mansfield đă thành công trong việc tạo h́nh 2D và 3D và điều này đă
mang lại những ứng dụng thiết thực của MRI trong y khoa. Lauterbur đă
dùng ṿng xoắn tạo građiên (coil gradient) [4] trong máy quét MRI; và
Sir Peter Mansfield đă dùng phương pháp toán học để tái tạo h́nh ảnh
cho phép quá tŕnh quét (scanning) chỉ mất vài giây thay v́ hàng giờ
để tạo h́nh ảnh rơ hơn như trong trường hợp h́nh ảnh Lauterbur đă đạt
được. Với phương pháp toán học này, MRI trở nên thích hợp với công tác
chẩn đoán trong môi trường bệnh viện và thương mại hóa sản phẩm.
Mansfield dùng thuật toán Fast Fourier Transform phân ly tín hiệu MRI
thành một tổng số h́nh sin với những tần số, pha và biên độ khác nhau
[5]. Xin ghi chú ở đây là Lauterbur dùng cấu trúc h́nh xoắn tạo
gradient mà GS Herman Carr đă dùng để tạo h́nh 2D dựa vào nguyên lư
NMR trong luận văn PhD của ông ở Harvard nhiều năm trước đó [6,7].
Cũng nên biết rằng đóng góp chính nhất của Lauterbur vào sự h́nh thành
của MRI là việc thực hiện h́nh 2D bằng cách dùng ṿng xoắn tạo
gradient. Mặc dù những nhà nghiên cứu đă dùng NMR spectroscopy để
phân tích những hợp chất hóa học trong nhiều thập niên qua, có rất ít
nghiên cứu về ứng dụng của NMR trong lănh vực sinh học và hoàn toàn
không có nghiên cứu ǵ liên quan đến h́nh ảnh y tế (medical imaging).
BS Damadian đă khám phá ra sự khác nhau của T1 và T2 giữa mô b́nh
thường và mô có ác tính; điều này giúp ông thực hiện việc tầm soát
h́nh ảnh liên quan đến bệnh ung thư, một kỹ thuật vẫn c̣n dùng trong
các máy MRI ngày nay. Ông đă chụp h́nh ảnh các bộ phận trong toàn cơ
thể con người [8].
Đóng góp của Lauterbur, Mansfield và Damadian trong lănh vực MRI đă
được cộng đồng khoa học công nhận với nhiều giải thưởng có giá trị.
Riêng tại Mỹ, cả hai ông Lauterbur và Damadian đều được giải “National
Medal of Technology” do tổng thống Reagan trao vào năm 1988.
Riêng Damadian, ông được vinh
danh được để tên trong “The United States
National Inventors Hall of Fame” bởi tổng thống
George H.W. Bush vào năm 1989- 14 năm
trước khi giải Nobel được trao cho hai ông Lauterbur và Mansfield!
Môt số
người cho rằng lư do chính Damadian không được chọn v́ một số người có
thẩm quyền quyết định trong HLVKHTĐ không thích cá tính của Damadian;
ông lại không phải là người trong giới giáo chức, học viện hay nghiên
cứu và ông đă “lobby” nhiều về giải Nobel về thành quả nghiên cứu của
ḿnh. Thêm vào đó, quan điểm không tin vào thuyết tiến hóa luận
(evolution) và sự ủng hộ triệt để của ông đối với quan điểm của nhóm
thần học Young Earth Creationism [9] đă làm cho một số người trong
cộng đồng khoa học tránh xa ông. Vấn đề làm cho việc chọn lựa càng trở
nên khó khăn hơn là sự tranh chấp có tính cách cá nhân giữa Damadian
và Lauterbur trong nhiều năm và càng lúc
càng quyết liệt hơn; điều này làm cho một số người trong cộng đồng
khoa học lo sợ là HLVKHTĐ có lẽ sẽ không bao giờ trao giải Nobel về
lănh vực MRI. Có lần Lauterbur tuyên bố rằng ông sẽ không nhận giải
Nobel nếu Damadian có tên trong danh sách người nhận! Có lẽ đây cũng
là một điều (mặc dù chỉ là suy đoán của người viết!) đă mất HLVKHTĐ
một thời gian khá lâu để quyết định và sau cùng không thể chờ đợi lâu
hơn nữa v́ Lauterbur lúc đó đă 74 tuổi và t́nh trạng sức khỏe lại
không tốt [10].
Sự tranh căi về vai tṛ của Damadian,
Lauterbur trong việc phát triển máy MRI cứ tiếp tục ngay cả nhiều năm
sau khi HLVKHTĐ trao giải Nobel cho GS Lauterbur và GS Mansfield.
Damadian cho rằng giải Nobel phải trao cho ông trước rồi sau đó đến
Lauterbur; trong khi đó Lauterbur chủ trương rằng
chỉ có ông là người có công trạng nhiều nhất trong phát minh này. TS
Nicolaas Bloembergen, người đoạt giải Nobel Vật Lư vào năm 1981 đă có
ư kiến như sau: “Bước quan
trọng thứ hai (second important step) của TS Lauterbur
là kết hợp kết quả Damadian đạt được và
phương pháp xử lư dữ liệu nhanh của kỹ thuật chụp cắt lát vi tính CT.
Kỹ thuật CT này do GS Hounsfield và GS Cormack triển khai và hai
người đă được trao giải Nobel về kỹ thuật này. Theo ư kiến của tôi,
góp phần của BS Raymond Damadian cũng quan trọng và đáng kể không kém
ǵ bước thứ hai của TS Lauterbur”[11].
Một nhóm
chuyên gia có tên là “The Friends of Raymond Damadian” do Damadian
thành lập đă đăng một tờ quảng cáo toàn trang phản đối quyết định của
HLVKHTĐ trên báo New York Times (hai lần),
The Washington Post, The Los Angeles Times và nhiều tờ báo ở ngoại
quốc với tiêu đề ” The Shameful Wrong That Must Be Righted”. Mục đích
chính của những trang quảng cáo này là làm
cho những hội viên có quyền thẩm định trong HLVKHTĐ đổi ư và đề tên
của Damadian trong danh sách những người lănh giải. [12,13].
Nhưng thực tế mà nói, những cố gắng này chỉ có tính cách h́nh thức mà
thôi v́ hầu hết mọi người trong cộng đồng khoa học đều biết rằng một
khi đă quyết định rồi, HLVKHTĐ sẽ không bao giờ thay đổi!
2. Vài nét về GS Paul Lauterbur, Sir
Peter Mansfield và TS Raymond Damadian

H́nh 1.
GS Christian Lauterbur và Sir Peter Mansfield (Google Images)
Paul
Christian Lauterbur (6 tháng 5 năm 1929– 27 tháng3 năm 2007)
(H́nh
1, bên trái) được sinh ra ở Sidney, Ohio.
Nhận BS ở
Case
Western University và PhD từ University of Pittsburgh.
Giảng dạy ở Stony Brook University (hay The State University of New
York at Stony Brook) từ 1963 đến 1985, nơi ông nghiên cứu và triển
khai MRI. Sau đó GS Lauterbur về dạy tại
University
of Illinois at Urbana-Champaign cho đến khi mất [14].
Peter
Mansfield (9 tháng10 năm1933- 8 tháng 2 năm 2017 )
(H́nh 1, bên phải) được sinh ra ở London, Anh Quốc.
Ông nhận BSc (1959) và PhD (1962) từ Queen Mary’s.
Luận văn PhD của ông liên quan đến việc lắp ráp
một máy NMR dùng để nghiên cứu hệ polymer rắn (solid polymer systems).
Ông dạy ở
Nottingham
University sau hai năm làm postdoc ở University of Illinois at
Urbana-Champaign.
Sir Mansfield triển khai echo-planar
imaging, một phương pháp tái tạo (reconstruction) toán học giúp thời
gian thu nhập h́nh ảnh T2 rất nhiều lần nhanh hơn hệ thống của GS
Lauterbur. Ông cũng góp phần trong việc phát triển
fMRI [15].

H́nh 2.
TS Raymond Damadian và GS Herman Carr (Google Images)
Raymond Vahan Damadian
(16 tháng 3 năm 1936- ) (H́nh 2, bên trái) được sinh ra tại New
York City vào ngày 16 tháng ba, 1936. Nhận BS về toán, University of
Wisconsin-Madison năm 1956 và MD từ Albert Einstein Collge of Medicine
năm 1960. Ông nghiên cứu về MRI và lập hăng Fonar để chế tạo máy chụp
MRI vào năm 1978 [16].
Herman Y. Carr
(28 tháng 11 năm 1924- 9 tháng 4 năm 2008)
(H́nh 2, bên phải) được sinh ra ở Alliance, Ohio. Trở về
sau thời gian phục vụ trong Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Hai, ông nhận
học bổng đến học ở Harvard University, nơi ông tốt nghiệp về ngành vật
lư năm 1948; và nhận MS và PhD ở cùng trường lần lượt vào năm 1949 và
1953. TS Carr dạy và nghiên cứu MRI ở Rutgers University cho đến khi
ông mất [17].
3. Tản
mạn về giải Nobel
3.1
Vài nét tổng quát về giải Nobel
Mỗi năm giải
Nobel được trao cho những nhân vật đă có những đóng góp quan trọng
trong sáu lănh vực: vật lư, hóa học, y khoa, văn chương, ḥa b́nh và
kinh tế. Ngoại trừ giải Nobel về kinh tế (economic sciences), những
giải khác đều đă được đề cập trong di chúc của Afred Nobel; trong đó
Nobel vật lư là giải thưởng ông đề cập trước tiên vào năm 1895. Hàn
Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển (The Royal Swedish Acedemy of Sciences)
trao giải Nobel vật lư, hóa học và kinh tế; Hội đồng Nobel (Nobel
Assembly) của Karolinska Institute và Hàn Lâm Viện Thụy Điển (Swedish
Academy) theo thứ tự phụ trách giải Nobel y khoa & sinh lư
học (physiology & medicine) và giải văn chương. Trong khi đó giải
Nobel ḥa b́nh th́ do một hội đồng đề cử bởi Quốc hội Na-uy (Storting)
đảm nhiệm [18]. Nhiệm kỳ của hội viên trong hội đồng thẩm định giải
Nobel ḥa b́nh là 6 năm và có thể tái cử. V́ là quốc hội chỉ định, nên
thành phần hội viên thường phải phản ứng khuynh hướng chính trị chung
của các đảng phái trong Storting ở thời điểm giải thưởng được chọn
lựa! Đây cũng là lư do mà trong số những giải Nobel, giải
thưởng bị nhiễm nhiều màu sắc chính trị nhất là giải Nobel ḥa b́nh.
3.2 Lịch sử giải Nobel nhan
nhản với nhiều sự tranh cải
Trong loạt bài viết về
“Nobel Prizes in Science and Technology” trước đây, người viết đă
tŕnh bày những khó khăn HLVKHTĐ đă gặp phải trong quá tŕnh chọn
người lănh giải trong suốt lịch sử 120 năm của giải Nobel. Người Mỹ có
câu nói”Không phải tất cả những ǵ sáng rực rỡ đều là vàng/ All that
glitters is not gold”. Giải thưởng Nobel cũng không nằm ngoại lệ!
Theo thiển ư của người viết, giải thưởng Nobel về khoa học và kỹ thuật
là kết quả của một sự tổng hợp gồm có sự làm việc cần cù, khả năng
chuyên môn, niềm tin vào công việc, đề tài và môi trường nghiên
cứu,thời điểm được chọn, ” lobby”, sự may mắn, người quen biết và thời
cơ (bôn ba chẳng qua thời vận!). “Lobby” ở đây bao gồm những dịch
vụ như hổ trợ tài chánh, tài trợ nghiên cứu, thăng quan tiến chức cho
những hội viên có quyền quyết định, những trợ tá trong Tổ chức tài trợ
giải Nobel (Nobel Foundation), những người đề cử và công tác tuyên
truyền và quảng bá thành tích nghiên cứu của cá nhân. Đôi khi, hiệu
quả của công tác “lobby” c̣n lấn áp ngay cả công tŕnh đóng góp của cá
nhân người lănh giải! Cũng có trường hợp, tên của người đáng nhận giải
lại không được đề cập!
Điều này đă được gian tiếp
xác nhận bởi GS Ulf Lagerkvist (1926-2010), hội viên của HLVKHTD và
cũng là hội viện của Hội Đồng Thẩm Định và Tuyển Chọn người lănh giải
Nobel về Hóa học. Ông đă phát biểu như sau: “Bản chất của Giải
Nobel là luôn luôn có một số ứng viên rơ ràng đáng được nhận giải
nhưng không bao giờ được tuyên dương nhận giải. Dĩ nhiên để tránh vấn
đề này không cho xảy ra là một công tác không thể khả thi mà Hàn Lâm
Viên đă phải đối đầu hơn một thế kỷ nay. Sau tất cả những ǵ đă xảy
ra, có thể người ta cho rằng là Hàn Lâm Viện đă làm công tác khá tốt.
Mặc dù thế có những thiếu sót đáng tiếc và điều làm bất măn nhiều
người nhất là trường hợp của Dimitri Mendeleev. Thật đáng tiếc là tên
của ông không nằm trong danh sách những người được vinh danh nhận giải
Nobel. Nếu có tên ông, điều chắc chắn là uy danh của Giải Nobel và Hàn
Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển sẽ gia tăng”.
(It is in
the nature of the Nobel Prize that there
will always be a number of candidates who obviously deserve to be
rewarded but never get the accolade. Of course it is an impossible
task that the Academy has struggled with for more than a century. May
be one can claim that it has done a fairly good job after all.
Nevertheless there have been unfortunate sins of omission and the most
outrageous is that committed against Dmitri Mendeleev. It is indeed a
pity that his name does not appear in the distinguished list of
laureates. It would certainly have added to both the prestige of the
Nobel Prize and the Royal Swedish Academy of Sciences) [19]
3.3.
Những người đáng nhận giải lại không có tên trong danh sách người nhận
Khi nói về những người
không nhận được giải Nobel, trường họp của Mohatmas Ghandi về giải ḥa
b́nh và của bác sĩ Oswald Avery về DNA thường được nhắc đến! Ông
Ghandi được đề cử bốn lần vào năm 1937, 1938, 1939, 1947, và lần đề cử
cuối cùng xảy ra vài ngày trước khi ông bị ám sát vào tháng giêng
1948. Về trường hợp của BS Avery, Avery là người tiên phong về lănh
vực DNA với “transforming principle” biểu hiện bản chất tế bào trong
việc di truyền. Bài báo của ông ngày 1 tháng 2, 1944 tiết lộ chứng cớ
hùng hồn đầu tiên là chính DNA (chớ không phải proteins) cưu mang
genetic information. Đây là một tin “bất ngờ” đối với cộng đồng khoa
học lúc bấy giờ v́ hầu hết mọi người tin tưởng rằng proteins đóng vai
tṛ này! Ông được đề cử 38 lần đến HLVKHTD trong khoảng thời gian
1930-1950, nhưng lần nào cũng không được may mắn; một phần v́ nhiều
người trong cộng đồng vi sinh học và vài người trong Ban Thẩm Định
của HLVKHTĐ không chấp nhận điều ông t́m được. V́ ông đă đi trước
thời gian!
Trong phần này, người viết
chỉ tŕnh bày vài trường hợp tiêu biểu liên quan đến lănh vực nghiên
cứu vật lư và hóa học:
Ông
Dmitri Mendeleev
Ông bị từ
chối giải Nobel 1905 và 1906 về Bảng Tuần Hoàn nguyên tố (Periodic
Table)- the Rosetta Stone trong lănh vực hóa học.
Ông bị loại ra khỏi danh sách v́ một thành viên trong Hội Đồng Thẩm
Định không thích và không đồng ư với Bảng Tuần Hoàn của ông. Sự
kiện này đă làm suy giảm một phần uy tín của giải Nobel!
Ông Mendeleev sinh vào năm 1834 tại
Siberia, Nga. Sau khi tốt
nghiệp thạc sĩ về ngành giáo dục, ông được gửi đi du học ở Heidelberg,
Đức. Ông dạy ở Đại học St. Petersburg từ năm 1861- 1890.
Mendeleev phát biểu bảng tuần hoàn vào ngày 6
tháng 3, năm 1869. Ông xác định rằng "Các nguyên tố, nếu được
sắp xếp theo trọng lượng nguyên tử của
chúng, sẽ thể hiện các thuộc tính tuần hoàn một cách rơ ràng".
Mendeleev chia Bảng Tuần Hoàn dựa theo cột
(gọi là groups) và hàng (gọi là periods). Các
nguyên tố nằm trong cùng cột hay groups có cùng tính chất; trong khi
đó các nguyên tố trong cùng hàng hay periods tạo một nhóm lập lại dựa
vào đặc tính giống nhau. Định luật trong
Bảng Tuần Hoàn này giúp các nhà khoa học khám phá những nguyên tố mới
trong tương lai. Điển h́nh là chất gallium
và germanium được thêm vào bảng tuần hoàn vào năm 1875 và 1886.
Sự khác biệt thực sự duy nhất giữa Bảng Tuần Hoàn của ông lúc bấy giờ
và Bảng Tuần Hoàn mà chúng ta xử dụng hiện nay là Bảng Tuần Hoàn của
Mendeleev sắp xếp các nguyên tố theo sự gia tăng của khối lượng nguyên
tử, trong khi Bảng Tuần Hoàn hiện tại được sắp xếp dựa theo cơ cấu
h́nh điện tử của các nguyên tố, c̣n được gọi là
số nguyên tử.
Bảng Tuần Hoàn đầu tiên của Mendeleev có
66 nguyên tố.
Đến năm 1900, 30 nguyên tố khác được các nhà khoa
học thêm vào danh sách. Bảng Tuần Hoàn của Mendeleev đă được bổ
sung với nhiều nguyên tố mới, trong đó có cả những nguyên tố được tổng
hợp nhân tạo. Đến đầu năm 2019, đă có 118 nguyên
tố hóa học có tên trong Bảng Tuần Hoàn.
GS Nick
Holonyak Jr.
GS
Shuji Nakamura,
GS Isamu Akasaki và GS
Hiroshi Amano
là
ba người lănh
giải. giải Nobel vật lư
năm 2014 về đèn LED với tuyên
dương (citation):
“for the invention of efficient blue light-emitting diodes which
has enabled bright and energy-saving white light sources.”.
Trong bản tuyên dương này Hàn Lâm
Viện Khoa Học Thụy Điển đă thêm vào một câu tḥng “…which has
enabled bright and energy-saving white light sources.” (V́ nếu
không có câu này th́ giải Nobel 2004 về LED sẽ phải dành cho GS.
Nick Holonyak Jr và TS Herb Maruska!) .
Chẳng những không được chọn,
HLVKHTĐ
cũng
đă không “đá động” ǵ đến tên của hai nhà khoa học này trong
danh sách những người đă góp phần đáng kể trong lănh vực đèn LED.
Sự kiện này không phải xảy ra t́nh cờ v́
GS Nick Holonyak
Jr. đă
được đề cử vài lần trước đó và là người phát minh ra đèn LED vào năm
1962 và nhiều sản phẩm LED’s sau này-
ông c̣n có cái tên là “cha đẻ của đèn LEDs!)
.
Nói về
TS
Herb Maruska,
ông là
người đă thí nghiệm thành công
về đèn blue LED đầu tiên trên thế giới vào năm 1972. Trường hợp của GS
Nakamura về góp phần vào việc triển khai và sản phẩm hóa “bright and
energy-saving white light sources” th́ không ai có thể chối cải được!
Tuy nhiên, GS Akasaki và GS Amano về phát minh P-type GaN (làm việc
chế tạo blue LED có thể thực hiện được!) th́ không hoàn toàn chính xác
v́ trước khi hai GS nghiên cứu đề tài này, Manuska đă báo cáo về sự
thành công trong việc tạo P-type GaN và đèn LED màu xanh blue vào
năm 1972 khi ông c̣n
làm việc ở RCA [20-21]. Akasaki và Amano cũng có thăm viếng pḥng
nghiên cứu của Manuska và có xem đèn blue LED này!
GS Nick Holonyak Jr. của
University of Illinois at Urbana -Champaign (UIUC) phát minh đèn LED
với ánh sáng nh́n thấy (màu đỏ) lần đầu tiên vào năm 1962 khi ông làm
việc ở General Electric, Syracuse, New York. Kỹ thuật về LEDs tiếp tục
cải tiến và nhiều năm sau GE chế tạo đèn LED có công xuất 100 W –
tương đương với đèn incandescent light bulb- và tiêu thụ khoảng 2/3
năng lượng ít hơn.
Sau đó, Holonyak rời GE về dạy UIUC và tiếp tục nghiên cứu về đèn
LEDs. Có nhiều người cùng nghiên cứu chung với ông ở UIUC đáng kể nhất
là Cradford, mở đầu cho một số sản phẩm LEDs màu cam, đỏ và xanh với
độ sáng cao (chỉ thiếu màu xanh blue thôi!). Sau khi rời UIUC,
Cradford tiếp tục nghiên cứu ở Monsanto và chế tạo sản phẩm LED đầu
tiên trên thị trường. Một thời gian sau, Cradford đổi sang làm việc ở
Hewlett- Packard (HP). Vào năm 1987, AlGaAs LEDs sản xuất bởi HP đủ
sáng để thay thế bóng đèn dùng trong thắng xe hơi và những áp dụng
khác như đồng
hồ, tín hiệu giao thông và hiển thị điện tử (electronic displays).
Đèn LEDs dựa trên AlInGaP chế tạo vào năm 1990 cung cấp độ sáng gấp
đôi AlGaAs. HP cũng đă thành công với GaP, đầu tiên là bright green
LEDs vào năm 1993, và một năm sau đó với reddish – orange AlInGaP LEDs
.
TS Mike Francis Tompsett
Năm 2009, Hàn Lâm Viện Khoa
Học Thụy Điễn đă trao Giải thưởng Nobel về Vật lư cho TS Willard S.
Boyle và TS George E Smith của Bell Labs. Việc chọn lựa này lại càng
mâu thuẩn hơn v́ khái niệm về CCD (charged coupled device) mà hai vị
này đề cử thuộc về memory CCD và không liên quan trực tiếp đến imaging
CCD. Đây không hẵn là một phát minh về khoa học v́ những khái niệm căn
bản góp phần vào cấu trúc CCD của hai ông đều được biết trong cộng
đồng khoa học vào thời cuối thập niên 60’s. Trong khi đó, Mike
Tompsett (cũng ở Bell Labs), người đă chế tạo imaging CCD từ concept
đến prototype th́ không được thừa nhận và tên cũng không được đề cập
đến. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: (i) có thực sư Boyle và Smith phát
minh ra imaging CCD và (ii) tuyên dương “for the invention of an
imaging semiconductor circuit- the CCD sensor”của HLCKHTĐ có thích
hợp và chính xác hay không?
(i) Có thực sư Boyle và
Smith phát minh ra imaging CCD?
Cơ cấu chính của CCD là bộ ghi dịch dựa
trên mạch tích hợp tuyến tính silíc (silicon IC linear shift register)
để di chuyển tín hiệu hay thông tin; và khái niệm này đă được biết
trong cộng đồng khoa học vào thời điểm đó.
Nhóm của Gordon của Bell Labs (nơi Boyle và Smith làm việc lúc đó và
là “home” của magnetic bubble memory) phụ
trách về ống ghi h́nh mục tiêu dựa trên silíc (silicon target vidicon)
lúc đó muốn áp dụng khái niệm này cho những ứng dụng liên quan đến
hiển thị (displays). Theo Gordon, ngay cả trước khi Smith đến gặp
Boyle, sau một buổi họp của nhóm displays do Gordon chủ tŕ, Gordon đă
đề cập với Smith khái niệm mà ông đang suy nghĩ về dùng silicon linear
shift register trong ứng dụng hiển thị để Smith hiểu rơ hơn và đề nghị
Smith tính toán các dữ liệu dựa vào lư luận đang có. Thậm chí, Gordon
c̣n đưa cho Smith một bài báo cáo của nhóm nghiên cứu ở Burroughs dùng
khái niệm tương tự với shift register. Bài báo cáo của Burroughs tŕnh
bày dùng bộ shift register để di chuyển điểm ánh sáng dựa trên khái
niệm three-phase clock. Khi kết nối khái niệm này với điều mà nhóm
Gordon đă theo dơi và nghiên cứu được trong việc khai phát video
camera target dựa trên silíc điốt, khả năng “nhảy vọt” từ khái niệm
của Burroughs đến khái niệm về imaging CCD trở nên một tiến tŕnh hợp
lư đối với những người nghiên cứu cùng ngành, nhất là ở trong hoàn
cảnh thuận lợi của Bell Labs lúc bấy giờ. Gordon phát biểu như sau:
” chúng tôi đă biết cách tích trữ điện tích trong khoảng không
gian nằm giữa lớp oxide và phần rỗng không trong tấm nền silíc, nơi mà
điện tích tích trữ có thể di động khoảng vài centi-mét.” Rồi Gordon
tiếp tục: “ việc cần làm là áp đạt điện áp
theo dạng thức “phase clock” để chuyển di điện tích.”
Tompsett cũng có xác nhận điều này là có thấy bài
báo cáo về three-phase shift register của nhóm Burroughs mà Gordon đề
cập trên bàn làm việc của Smith. Thêm vào đó patent quan trọng
của Boyle và Smith
có tựa đề là “ Charge coupled memory with storage sites” US
3654499 A
mà HLVKHTĐ căn cứ để trao giải Nobel
chỉ nói về memory CCD và không đề cập ǵ đến imaging CCD!
(ii)
Citation của Hàn Lâm Viện Thụy Điễn có thích hợp hay không?
Câu trả lời là “Không”.
Người phát minh và làm ra imaging CCD là Mike
Tompsett.
Bằng phát
minh “Charge transfer imaging devices” US 4085456 A của
Tompsett đă cắt nghĩa rơ ràng về imaging CCD. Điều mới lạ là
Mike Tompsett đă t́m cách thực hiện “area imaging device” dựa
vào linear CCD registers. V́ thế, nếu theo
kết quả thí nghiệm của Tompsett và dựa theo patent US US 4085456A, và
những bài báo cáo khoa học của Tompsett th́ Tompsett mới đúng ra là
người xứng đáng để lănh giăi Nobel v́ ông chính là người đầu tiên đă
triển khai và phát minh và chế tạo thành công imaging CCD.
Trong patent
US 4085456 với Tompsett là người phát
minh độc nhất, Tompsett dùng khái niệm frame transfer trong việc thực
hiện việc chuyển tải điện tích trong imaging devices.
Ư tưởng này đă giải quyết vấn đề trong việc dùng CCD as an imager nhất
là area imager: CCD tiếp tục cảm biến ánh sáng và
thu nhặt điện tích ngay cả trong lúc tín hiệu từ các hàng điểm
ảnh (pixels) được đọc ra (read out) dùng phương pháp chuyển tải điện
tích (charge transfer). Tompsett t́m ra phương án để chuyển tải điện
tích nhanh hơn bằng cách chuyển tải điện tích thu
nhận được đến một vùng CCD ẩn (hidden CCD). Tín hiệu từ
pixels của vùng CCD ẩn (hidden CCD) được
đọc ra, trong khi CCD tiếp tục phơi sáng để tiếp nhận và thu thập điện
tích từ những quang tử mới. Điện tích được chuyển
di từ trên đi xuống dọc theo từng cột (columns) từ hàng (rows) này
sang hàng kế tiếp cho đến khi được đọc ra từ shift registers nằm ở
phía dưới của con chip. Với phương thức và cấu trúc này, có nghĩa là
CCD sẽ phơi sáng, rồi đóng lại với màn chắn sáng, chuyển di điện
tích , rồi mở màn chắn sáng để phô bày con
chip ra ánh sáng trở lại. Có nghĩa là cứ hai khung
(frame) có một khung dùng để chuyển di điện tích và v́ thế thời gian
đọc tín hiệu sẽ dài hơn. Để giải quyết vấn đề này, Tompsett
tăng gấp đôi kích cỡ của bộ cảm ảnh (image sensor). Có nghĩa là một
khung (frame) của bộ cảm biến quang sẽ phơi sáng, rồi khung phơi sáng
kế tiếp sẽ dùng trong khi điện tích di
chuyển. Tóm lại, Tompsett là người đầu tiên phát
minh, triển khai và chế tạo thành công CCD imager. Chẳng những
ông có bằng sáng chế đầu tiên về image CCD mà c̣n đăng báo, phát biểu
ở hội nghị khoa học và nhất là thực hiện thành
công image CCD. Ngay cả Boyle (một trong hai người lănh giải Nobel)
cũng đă công nhận điều này!
Với sự phản
đối của nhiều người trong cộng đồng khoa học nhất là Gordon và
Tompsett, HLVKHTĐ sau này đă sửa đổi citation như sau: 'The
motivation for the invention of an imaging semiconductor circuit--
the CCD sensor” bằng cách thêm vào chữ “motivation”
để phản ảnh một phần nào trung thực hơn.
Khách quan mà nói, phần chính
trong bản tuyên dương “for the invention of an
imaging semiconductor circuit- the CCD sensor” nằm ngay
trong bằng sáng chế US4085456A của Tompsett
[22-23].
GS Lise Meitner
GS Lise Meitner, “người mẹ của năng
lượng hạt nhân”, không được nhận giải Nobel hóa học về “Nucler
fission-phân hạch nguyên tử” năm 1944 trong khi đó giải thường này lại
trao cho GS Otto Haln (người công tác với bà) [24]. Lư do bà là người
Áo gốc Do Thái và lúc đó Hitler muốn promote tŕnh độ khoa học của Đức.
Một điểm thú vị nữa là TS Enrico Fermi cũng nhận giải Nobel Vật lư
1938 về một phát minh tương tự mặc dù ông đă cắt nghĩa sai về cơ cấu
của sự phân hạch.
Vào ngày 19 tháng 12,1938 GS Meitner nhận được một lá thư từ GS Otto
Hahn cho biết kết quả thí nghiệm của ông và
và người trợ tá của ông – Fritz
Strassmann, về việc
bắn phá hạch của urani (uranium)
với nơtron cho ra bari (barium). TS
Hahn cho rằng đây là “sự vỡ
tung của hạch nhân”, nhưng không chắc chắn
về cơ cấu vật lư của hiện tượng này. Bari có khối lượng nguyên tử 40%
ít hơn uranium và không có thí nghiệm nào trong quá khứ về phân ră
phóng xạ có thể cắt nghĩa được nguyên nhân của sự khác nhau quá lớn về
khối lượng của hạch trong phản ứng này. Làm thế nào hạch urani có thể
bị “vỡ vụn” thành bari? Một thời gian ngắn sau,
dựa vào lư thuyết của
Niels Bohr, GS Meitner có thể cắt nghĩa thành công cấu trúc của nguyên
tử urani phản ứng với bari và đưa ra kết luận rằng nơtron chậm của
nguyên tử bari phản ứng với hạch của urani, gây ra sư sự phân hạch.
Kết luận của bà căn cứ trên dữ kiện là trọng lượng của vật chất mới
tạo ra cân nhẹ hơn tổng số trọng lương của những vật chất đầu
vào,
và một lượng năng lượng khổng lồ được phát sinh.
Trong phản ứng này, hạt nhân
của nguyên tử bị chẻ tách ra thành những hạt nhân nhỏ hơn.
Quá tŕnh phân hạch này này cho ra nơtron tự do và gamma quang tử và
kết quả là một lượng năng lượng rất lớn phát ra. Phân hạch là một h́nh
thức chuyển hóa hay biến đổi hạt nhân (nuclear transmutation) bởi v́
những mảnh sinh ra không có cùng những phần tử như nguyên tử ban đầu.
Hai hạt nhân sinh ra có những tầm cở có phần hơi khác nhau, với tỉ số
khối lượng (mass ratio) điển h́nh khoảng 2 đến 3 dối với những đồng vị
phân hạch thông thường.
Những phân hạch này hầu hết là
nhị phân (binary fissions), có nghĩa là biến thành hai mảnh tích điện.
Sự kiện này xảy ra do phản ứng dây chuyền nguyên tử.
Sự phân hạch nguyên tử sản
xuất năng lượng rất lớn dựa vào
phương tŕnh của
Einstein E= mc2. Với sự kiện này,
Meitner và Robert Frisch đă chứng minh cơ cấu của phản ứng đầu tiên về
sự phân hạch urani (uranium fission)
dùng để cung cấp điện và
trong vũ khí nguyên tử.
Điều này đối nghịch hoàn
toàn với kết luận của GS Enrico Fermi về sự tạo thành transuranic
elements.
Ông này lănh giải Nobel về vật lư vào năm 1938 về
cơ cấu này. Fermi
dùng nơtron chậm (slow
neutrons) để bắn phá thori (thorium) và urani (uranium).
Và ông kết luận rằng ông đă tạo ra nhiều nguyên tố siêu urani mới (new
transuranic elements). Nói một cách nôm na, những nguyên tố này nặng
hơn urani với số nguyên tử (atomic number) lớn hơn 92 –số nguyên tử
của urani. Theo lư luận của GS
Fermi, uranium-238 với 92 protons với
khối lượng nguyên tử trung b́nh (average atomic mass) 238 (protons +
neutrons) có nhiều nhất trong thiên nhiên (99.3%); kế tiếp theo là
Uranium- 235 (0.7%). Những nguyên tố có số protons lớn hơn 92- một
nhóm nguyên tố siêu urani không ổn định ; và v́ thế có thể phân ră
thành những nguyên tố nhỏ. Fermi cũng cho rằng dựa theo lư thuyết, sự
bắn phá urani với nơtron chậm có thể đưa đến khả năng sinh ra nguyên
tố +93 dựa vào quá tŕnh gọi là phân ră beta (β-decay). Nơtron mới này
du nhập vào hạt nhân, biến thành proton, phóng ra electron và
antineutrino. Kết quả cho ra uranium +1, uranium +2 hay nguyên tố với
93 hay 94 protons.
Khi ở Columbia University, Fermi nhận
được tin từ Niels Bohr mới vừa đến New York vào ngày 16 tháng giêng,
1939 cho biết sự thành công của thực nghiệm của GS Otto Hahn về việc
bắn phá uranium với nơtron cho ra barium – một nguyên tố nhẹ hơn- và
sự cắt nghĩa của TS Lise Meitner cho rằng đây là phân hạch nguyên tử
(nuclear fission). Và bà Meitner cho rằng nguyên tố siêu urani mà
Fermi kết luận đưa đến giải Nobel không phải là nguyên tố siêu urani (transuranic
elements) mà là sản phẩm của phân hạch nguyên tử (fission products).
Sai lầm này đă đưa đến t́nh trạng “lúng túng, khó xử” rất sâu đậm cho
Fermi! Để giảm bớt phần nào t́nh trạng khó xử này, ông đă thêm lời chú
về hiệu ứng phân hạch nguyên tử của Hahn-Meitner này trong bài diễn
văn chấp nhận giải Nobel của ông.
4. Kết từ
Nhà
vi sinh vật Arne Tiselius, người lănh giải
Nobel hóa học năm 1948 đă từng nói “Thế giới đầy rẫy những người
đáng lănh giải Nobel mà không nhận được và sẽ không nhận được”
(The world is full of people who should get the Nobel Prize but
haven’t got it and won’t get it”. Câu nói này mới nghe có vẻ đương
nhiên; nhưng nó trở thành quan trọng nói về tính chất của giải Nobel
khi Tiselius lại c̣n là một thành viên của Hội Đồng Thẩm Định của
HLVKHTĐ từ năm 1946 cho đến khi ông mất vào năm 1971; trong suốt thời
gian đó có bốn năm (1960- 1964), ông c̣n
là giám đốc của Nobel Foundation.
Gọi là để
t́m hiểu thêm về những mâu thuẩn trong giải Nobel Prize in Physiology
or Medicine về MRI vào năm 2003, trong bài viết tới, người viết sẽ
xin mạo muội phân tích những diễn tiến đưa đến phát minh khoa học “rất
lớn” này.
October
1, 2021
(University of Minnesota & Ecosolar International)
........
5. Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2012-09012021.htm
[2]
R.
Damadian, Science 171, 1151 (1971)
[3]
"Scan and Deliver".
Wall Street Journal. 2002-06-14.
Retrieved 2007-08-04
[4]
6.
P. C. Lauterbur, Nature 243, 190 (1973).
[54]
P.
Mansfield, J. Phys. C 10, 55 (1977).
[6] Carr,
Herman Yaggi (1952) Free Procession Technique in Nuclear Magnetic
Resonance (PhD Thesis) Cambridge, MA.
Harvard University.
[7] Carr,
Herman Yaggi (July 2004) Field Gradient in Early MRI Physics Today, 57
(7), 83.
[8] R.
Damadian, “Apparaatus and Method for Detecting Cancer in Time”
, US patent 3789832, filed March 1972, issued Feb. 5, 1974.
[9]
https://en.wikipedia.org/wiki/Young_Earth_creationism
Young Earth
creationism (YEC) is a form of
creationism which holds as a central
tenet that the Earth and its lifeforms were created in their
present forms by supernatural acts of a
deity between approximately 6,000 and 10,000 years ago.
[10] [A]
https://en.wikipedia.org/wiki/Raymond_Damadian#cite_note-nytimescontro-27
[11]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Godfre-%20Hounsfield.htm
[12]
"Woodbury,
N.Y., Medical Inventor Continues Lone Quest against Nobel Committee".
New York Newsday.
2003-10-21.
Retrieved
2007-08-04
[13]
Gelernter, David
(2003-11-27).
"Conduct
Unbecoming".
Wall Street Journal.
Retrieved 2007-08-04.
[14]
https://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Lauterbur
https://en.wikipedia.org/wiki/Peter_Mansfield
[15]
https://en.wikipedia.org/wiki/Peter_Mansfield
[16]
https://en.wikipedia.org/wiki/Raymond_Damadian
[17]
https://en.wikipedia.org/wiki/Herman_Carr
[18]
https://www.nobelprize.org/
[19]
Lagerkvist, U; Norrby,E. The Periodic Table
of a Missed Nobel Prize, World Scientific Publishing Co:
Singapore/Hackensack, NJ/London, 2012, p. 114
[20]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-19-Tan-man-ve-Nobel.htm
[21]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-1-2014.htm
[22]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-6-2016.htm
[23]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-5-2016.htm
[24] [http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-9-2016.htm
|