|
A series of articles on
“Nobel Prizes in Science & Technology” - Part 6
Michael Francis Tompsett và
Imaging CCD
Trần Trí Năng
(University of Minnesota & Ecosolar International)
“You’re not
going to change [who wins] the Nobel, but it
would be nice to at least share the credit. The citation for the
award, he says, should be altered to eliminate any mention of
imaging.”
(M.F. Tompsett [1])
CCD và giải
Nobel Vật Ly năm 2009 [2]

Giải Nobel Vật
Lư năm 2009 trao cho Charles K Kao
"for
groundbreaking achievements concerning the transmission of light in
fibres for optical communication.” và Willard S. Boyle and George
E.Smith "for
the invention of an
imaging semiconductor circuit-
the CCD sensor.”
(Royal Swedish
Academy of Sciences)
Sau cùng Hàn
Lâm Viên Hoàng Gia về Khoa Học của Thụy Điển (HLVKHTĐ)
đă phải thêm chữ “Motivation”
vào trong câu tuyên dương công trạng (citation) lúc đầu của họ.
Với sự phản đối và
chỉ trích của nhiều người trong cộng đồng khoa học nhất là Gordon và
Tompsett [3-7], HLVKHTĐ sau này đă sửa đổi câu tuyên dương như sau:
'The
motivation for the invention of
an imaging semiconductor circuit-- the CCD sensor”
để phản ảnh một phần nào trung thực hơn!
Câu tuyên dương này yếu hơn câu tuyên
dương ban đầu khi họ phát giải Nobel cho Boyle và Smith khá
nhiều . Khách quan mà nói, phần chính trong
bản tuyên dương “for the invention
of an imaging semiconductor circuit-
the CCD sensor” nằm ngay trong bằng sáng chế US4085456A của
Tompsett (trích dẫn ở phần cuối của bài viết này).
1. “Tản mạn” bên lề
H́nh 1. Lúc c̣n đi học ở
đây vào khoảng giữa đến gần cuối thập niên 70’s, thỉnh thoảng tôi
cũng có ghé lại tiệm Kinryu Ramen nằm ngay ở một góc của cổng vào
Sennichimae Shopping Street. Ngoại trừ giờ khách hàng phải mua thẻ từ
máy tự động, tiệm không khác năm xưa bao nhiêu.
H́nh
2 .Cứ đi thẳng theo hướng của tấm bảng “Dotonbori” là chúng tôi có
thể đến căn pḥng thuê trong ṿng 5 phút đi bộ. Đây cũng là con đường
chúng tôi đi lại mỗi ngày từ Namba đến những thành phố khác. Nằm phía
bên phải là tiệm ăn đầu tiên của nhà hàng nổi tiếng Kani Doraku. Giờ
th́ tiệm này có chi nhành khắp nơi; ngay cả khu Dotonbori này, cũng
có một tiệm khác dọc theo con kênh Dotonbori.
Chúng tôi
đến ga Shin- Osaka lúc 11:40 tối, chỉ đủ thời giờ để “chạy bắt” kịp
chuyến tàu cuối cùng trên đường “Midosuzisen” đi về Namba. Đă quá nửa
đêm khi chúng tôi đến đó. Đứng sắp hàng gần hơn 10 phút chờ đợi để
lấy taxi về căn pḥng thuê. Nhưng khi đến phiên ḿnh th́ bị hai “bác”
taxi ở hai xe khác nhau từ chối khi tôi đưa địa chỉ pḥng trọ, một
phần có lẽ v́ khuya rồi một phần v́ chúng tôi không biết “địa danh nào
nổi tiếng gần đó” để các bác t́m cho dễ. Thế là sáu người chúng tôi
đành “cồng kềnh” mang “khăn gói” xách valise đi t́m nhà trọ , dựa theo
bản đồ. (mà theo người nhân viên làm việc chỗ cho thuê pḥng cho biết
sáng nay là chỉ mất 15 phút đi bộ từ ga Namba mà thôi!). Con đường
nhiều khúc rẻ. Có chỗ sáng, chỗ tối. Người cũng bắt đầu thưa dần. Càng
đi càng thấy xa “vời vợi”, môt phần v́ mệt, một phần v́ biết ḿnh đang
đi lạc. Hết cách, tôi bèn hỏi đường một cô gái Nhật đang đứng đợi đèn
xanh bên đường. Cô này, h́nh như mới đi làm ca đêm về, có vẻ vội vă
muốn về nhà. Lúc đầu cô ta chỉ trả lời “qua loa” cho xong chuyện,
nhưng sau vài phút “quan sát” , cô trở nên thân thiện và rất nhiệt
t́nh giúp khi biết chúng tôi đă “lặn lội hàng ngàn dặm” từ Mỹ xa xôi
đến thăm thành phố Osaka “yêu quí” của cô. Cô cũng không rành đường và
GPS của cô cũng không chỉ rơ cho lắm; nên thỉnh thoảng vừa đi, cô vừa
hỏi những người bán hàng ở các quầy hàng dọc đường. Chủ, khách đều
tận t́nh giúp đỡ! Sau hơn một giờ “vất vă”, cuối cùng chúng tôi cũng
đến được pḥng trọ. Lúc đó gần 2:00 giờ sáng! Cô chào từ giả chúng
tôi. Nhà tôi và các con tôi rất “cảm kích” về cử chỉ này của cô nhưng
không khỏi lo cho sự an toàn của cô. Tôi thở dài “nhẹ nhơm”. Dù có
nhiều thay đổi trong bao năm qua qua nhiều thế hệ, xă hội , tính hiếu
khách của người Nhật vẫn không thay đổi.!

H́nh 3 . Mặt trước của căn
pḥng chùng tôi thuê.
H́nh 4 . Chúng tôi cũng
thường ghé lại cửa tiệm này để mua sửa, trà, sushi, sashimi và những
vật liệu cần thiết. V́ tiệm nằm ngay ở một góc đường và giá cả phải
chăng, nên lúc nào khách hàng cũng đông.
Sáng hôm
sau tôi dậy sớm. Như thường lệ, tôi đi bộ theo con phố, qua những con
đường dẫn đến khu phố chính Dotonbori (khu phố này c̣n có thêm cái tên
Kuidaore- ăn cho đến khi ngă lăn ra!). Tôi cũng khám phá ra là địa
danh nổi tiếng Kokuritsu Bunraku Gekijoo (National Puppet Theater) nằm
ngay góc ở góc đường đối diện với căn pḥng chúng tôi đang ở. (Nếu
giá tôi biết điều này tối qua, th́ đâu phải vất vả đi bộ hơn cả tiếng
đồng hồ t́m chỗ trọ?! ). Gió thổi nhè nhẹ. Bầu trời cao xanh. Không
khí trong lành. Tôi đi ngang qua chiếc cầu bắt ngang qua Kênh
Dotonbori. Đứng nh́n một hồi lâu mấy chú vịt bơi lội. Thanh âm nhẹ
nhàng. tĩnh lặng. Tôi nhớ lại chiếc cầu ở Kaorigaoka, nhớ ḍng sông
Shukugawa hiền ḥa uốn khúc theo hàng anh đào nở rộ vào tháng tư. Tôi
nhớ lại những ngày đầu tiên đến Osaka vào đầu năm 1975, không lâu
trước ngày miền Nam sụp đổ. Những ngày tháng khó khăn t́m sống. Những
tấm ḷng rộng răi bao dung. T́nh người thương yêu. Nắng đổ ngập cánh
đồng. Với hy vọng làm sức sống. Với thương yêu làm niềm tin để đi lên.
Osaka những
tháng ngày đầu tiên
Bốn giờ sáng đạp xe đi bỏ báo
Từng chén cơm, dù thiêu hay nhăo
Ngấu nghiến ăn ngon, hy vọng tuôn trào.
(Osaka,
75)
Ta về đón
nắng chiều phố chợ
Gió mát nơn nà vén áo em
Tháng tám trời trong mây điểm trắng
Màu luyến thương hay màu của sắc hương?
(Nishinomiya 77)
`Namba là
“ngả rẽ của ḷng” với bao đường tàu nối kết; với bao người hẹn ḥ
trước cửa hàng bách hóa Takashimaya. Khu Dotonbori lúc nào cũng đông
như ngày hội, nhất là vào buổi tối. Tiếng nhạc. Tiếng ca. Tiếng
Pachinko. Tiếng rao hàng vang lên inh ỏi. Người đi theo người. Không
lấn chen . Già, non, lớn, bé. Đó đây vài tiếng cười vồn vả vui
tươi. Làn sóng người cứ thế băng qua đường sang khu phố
Shinsaibashi-Suji. Trong số đám đông này, cũng có nhiều người làm việc
tất bật. Quần quật trong cuộc sống hôm nay. Chạy đôn chạy đáo. Ngày
qua ngày ai hay?!
Osaka cho ta nhiều
kỷ niệm
Kỷ niệm yêu thương, kỷ niệm học đường
Mỗi kỷ niệm thắm đời ta một vẻ
Để chiếu nay. Ḷng chợt thấy vấn vương.
(Namba 2016)
2. Mike Tompsett mới chính
là người phát minh ra imaging CCD
[1-3&4]
Magnetic bubble memory do
Bell Labs phát minh . Với kỹ
thuật này, thông tin được tồn trữ dưới dạng tuyến tính với
nhiều magnetic pixels rất nhỏ gọi là
magnetic bubbles (bong bóng từ) trên một tấm băng ni-lôn . Ḍng điện
chạy qua tấm băng ni-lôn sẽ đẩy những bong bóng từ dọc theo hướng mà
những tín hiệu có thể đọc và viết liên tục.
Phương hướng để thực hiện điều này là
thiết lập một hàng giếng điện thế (a line of potential wells) dùng
silíc bằng cách tạo thành những bộ tụ điện với silíc , silicon oxide
và điện cực bằng kim loại. Điện tích sẽ tích tụ
trong những chiếc giếng điện thế này và điện tích sẽ di chuyển
từ một giếng sang giếng bên cạnh bằng điện thế áp đặt cho đến khi
điện tích đến mép cạnh của con chip để gửi ra hệ thống read out bên
ngoài. Cả hai Boyle và Smith không có cộng tác và hoạt động ǵ về
silicon target vidicon, một kỹ thuật được xem như tiền
thân của imaging CCD và là làm nền tảng để chế tạo dữ
kiện điện tử này.
Thêm vào đó bằng sáng chế quan trọng
của
Boyle
và Smith có tựa đề là “ Charge
coupled memory with storage sites”
US 3654499 A
(đính kèm dưới đây)
mà HLVKHTĐ căn cứ để trao giải Nobel chỉ nói về memory CCD và
không đề cập ǵ đến imaging CCD. Trong khi đó bằng sáng chế “Charge
transfer imaging devices”
US
4085456 A (đính kèm) của
Tompsett
th́ cắt nghĩa rơ ràng về imaging CCD. Điều mới lạ là Mike Tompsett đă
t́m cách thực hiện area imaging device dựa
vào khái niệm linear CCD registers..
3. CCD
imager là chính do Tompsett phát minh và
triễn khai ra.
Trong patent US 4085456A với Tompsett là
tên người phát minh độc nhất, Tompsett
dùng khái niệm frame transfer trong việc thực hiện việc chuyển tải
điện tích trong imaging devices. Ư tưởng này đă giải
quyết vấn đề trong việc dùng imaging CCD
nhất là area imager: CCD tiếp tục cảm biến ánh sáng và thu nhặt
điện tích ngay cả trong lúc tín hiệu từ các hàng pixels được đọc ra
(read out) dùng phương pháp chuyển tải điện tích (charge transfer).
Tompsett t́m ra phương án để chuyển tải điện tích nhanh hơn bằng cách
chuyển tải điện tích thu nhận được đến một
vùng CCD dấu kín (hidden CCD). Tín hiệu từ
pixels của vùng CCD dấu kín được đọc ra , trong khi CCD tiếp
tục phơi sáng để tiếp nhận và thu thập điện tích từ những quang tử mới.
Điện tích được chuyển di từ trên đi xuống
dọc theo từng cột từ hàng này sang hàng kế tiếp cho đến khi được dọc
ra từ shift registers nằm ở phía dưới của con chip. Với phương thức
và cấu trúc này, có nghĩa là CCD sẽ phơi
sáng, rồi đóng lại với màn chắn sáng , chuyển di điện tích , rồi mở
màn chắn sáng để phô bày con chip ra ánh sáng trở lại. Có nghĩa
là cứ hai frame có một frame dùng để
chuyển di điện tích và v́ thế thời gian đọc tín hiệu sẽ dài hơn . Để
giải quyết vấn đề này, Tompsett tăng gấp đôi kích cỡ của bộ cảm biến
quang (image sensor). Có nghĩa là một
khung (frame) của bộ cảm biến quang sẽ
phơi sáng , rồi khung phơi sáng kế tiếp sẽ dùng trong khi điện tích
di chuyển .. Chẳng những ông có bằng sáng chế đầu tiên về image CCD mà
c̣n đăng báo, phát biểu ở hội nghi khoa
học và nhất là thực hiện thành công image CCD. Ngay cả Boyle (một
trong hai người lănh giải Nobel) cũng công nhận điều này! V́ thế, nếu
theo kết quả thí nghiệm của Tompsett và dựa theo bằng sáng chế, và
những bài báo cáo khoa học của Tompsett th́ Tompsett mới đúng ra là
người xứng đáng để lănh giăi Nobel v́ ông
chính là người đầu tiên đă triển khai và phát minh và chế tạo thành
công CCD imager.

H́nh 5.
First Light. Với bác sĩ
Margaret Tompsett (phu nhân của Tompsett )
làm người mẫu cho h́nh chụp từ CCD imager đầu tiên
do Tompsett chế tạo (tài liệu từ Mike Tompsett [1]).
H́nh 6.
Boyle và Smith trong photo-op với CCD dầu tiên do nhóm Tompsett chế
tạo [5]
Tompsett chế tạo thành công CCD đầu tiên
vào năm 1970, và triển khai CCD imagers và
CCD cameras dùng trên thị trường [H́nh 6]. Tấm h́nh màu của bác sĩ
Margaret được đăng trong tạp chí Electronics vào
tháng giêng năm 1973 (H́nh 5).
4. Vài nét về những nhân vật liên quan đến
phát minh CCD imager

H́nh 6.
Những ngày của “roses and wine”ở Bell Labs.
Từ trái sang phải: Eugene I. Gordon, Michael F. Tompsett, Willard S.
Boyle, và George E. Smith (tài liệu từ Samuel K. Moore và Neil Savage)
Willard S. Boyle
Sinh ở Nova Scotia,
Canada vào
August 19, 1924 và mất vào May 7, 2011 cũng ở Nova Scotia. Ông tốt
nghiệp BSc, MSc và PhD tất cả từ McGill
University về physics. TS. Boyle đến làm việc ở
Bell Labs vào năm 1953.

H́nh 7.
TS Willard S. Boyle (bên trái) và TS George E. Smith (bên phải) [2-4]
George E. Smith
Sinh tại White Plains, New York.
BSc từ University of Pennsylvania, 1955 và PhD , 1959 từ University of
Chicago. TS Smith đến làm việc ở Bell Labs vào năm
1959.
Michael Tompset
Sinh ở Anh.
BS
về engineering và PhD về physics từ
Cambridge University.
Có
nhiều kinh nghiệm và sở thích về imaging devices.
Sau nhiều năm làm công tác nghiên cứu về
những linh kiện điện tử liên quan đến bộ cảm quang như night-vision
và thermal imaging devices ở Anh. Tompsett qua Mỹ
làm việc ở Bell Labs vào năm 1969 với mục đích triển khai
solid-state cameras
Eugene Gordon
Sinh ở New York
City vào 14 tháng 9, năm 1930 và mất 15 tháng 9,
2014 tại
Scotch Plains, New Jersey.
BS năm 1952 từ City College of New York và
PhD vào năm 1957 từ MIT. Ông đến làm việc ở Bell
Labs trong cùng năm.

H́nh 8.
TS Michael F. Tompsett (bên trái) và TS.
Eugene Gordon (bên phải) [6-8]
5. Lời kết
Để kết thúc bài viết này,
người viết xin mạo muội ghi ra đây vài điểm để quư độc giả suy ngẫm
và thảo luận về bảng tuyên dương đính chính lại sau khi phát biểu cho
đại chúng của HLVKHTĐ với từ “motivation” thêm vào :
'The
motivation for the invention of
an imaging semiconductor circuit-- the CCD sensor”
(i) Boyle và Smith đưa ra khái niệm về CCD dựa vào ba phát minh vào
thập niên 60’s : shift registers của hăng Burroughs, picture phone của
Bell Labs và semiconductor bubble memory (Bell Labs).
Khái niệm CCD này chỉ dùng cho bộ nhớ (memory) và
cả hai Boyle & Smith không đề cập ǵ đến imaging CCD.
Thế nên từ “imaging semiconductor” trong bản tuyên
dương trên liệu có hợp ly hay không?
(ii) Không biết Boyle (giám đốc điều hành) đă
góp phần được bao nhiêu trong việc khám phá memory CCD? V́ ở nhiều
nhiều pḥng nghiên cứu ở nhiều hăng kể cả Bell Labs lúc bấy giờ, tên
của người boss thường được để trong những bài báo cáo và ngay cả trên
bằng sáng chế.
(iii) Với kinh nghiệm và kiến thức về imaging qua nhiều năm làm việc
trước khi đến Bell Labs, Tompsett đă dưa ra khái niệm imaging CCD và
chế tạo thành công một linh kiện điện tử CCD hoạt động và chính là
người đă góp phần đáng kể vào “..the
invention of an imaging semiconductor circuit- the CCD sensor” đề
cập trong bảng tuyên dương. Tại sao tên ông lại
không có trong danh sách những người giải Nobel này?
(iv) V́ một khi quyết định rồi, kết quả không thể thay đổi (tại sao?
v́ để tránh phiền phức hay khỏi bị mất mặt?),
liệu HLVKHTĐ có nên thảo luận và điều chỉnh lại về thành phần,
cơ cấu , tŕnh đô chuyên môn của giám khảo và phương pháp tuyển chọn
người lănh giải Nobel để phản ảnh trung thực hơn cho những giải thưởng
trong tương lai không?
(v) Sau nhiều năm, Tompsett và Gordon tiếp tục giữ im lặng
về những sự kiện xảy ra trong nội bộ của
nhóm ở Bell Labs; trong khi đó Boyle và Smith quảng bá rộng răi hơn
công tŕnh nghiên cứu CCD của họ và càng ngày càng nhiều người tin
tưởng hơn họ chính là hai người đă phát minh ra CCD imager, nhất là
khoảng thập niên 80’s, khi một số hăng ở Nhật bắt đầu tung ra thị
trường sản phẩm CCD imagers.
6. Tài liệu tham khảo
[1
http://www.gutenberg.us/articles/Michael_Francis_Tompsett
[2]
http://www.wired.com/2009/10/ccd-inventors-awarded-nobel-prize-40-years-on/
[3
http://nobelprize.org/mediapla...
http://spectrum.ieee.org/tech-talk/semiconductors/devices/nobel-controversy-who-deserves-credit-for-inventing-the-ccd
[4]
http://www.tech-faq.com/charge-coupled-device.shtml
Charge coupled memory with storage sites
(Smith)
US 3654499 A
Abstract
The specification
describes a variety of charge coupled memory devices most of which are
"read-only" memories in which the charge capacity of selected sites is
permanently or semipermanently fixed. If charge is accumulated in
these sites to the equilibrium amount and then shifted to an output
site, the signal will reflect the programmed capacity of the sites.
Charge transfer imaging devices (Tompsett)
US 4085456 A
Abstract
Line imaging and
area imaging devices are described which employ the concept of storage
and transfer of charge carriers in a semiconductor medium by the
application of appropriate potentials to electrodes disposed above the
medium. The devices are characterized by two
arrays of electrodes, one functioning as an optical sensing array and
the other as a storage and readout array. Charge carriers are
collected in the medium under the metal electrodes of the sensing
array in proportion to incident light. This information is rapidly
transferred to the storage and readout array by sequentially biasing
series of electrodes of the two arrays. The information may then be
read out of the array without smearing while the sensing array
continues to integrate. The structure includes means for preventing
cross-coupling and maintaining transfer efficiency for small area
electrodes.
(Mùa tựu trường 2016)
NT
|