|
Năm 2003,
giải Nobel về Sinh Lư Học hay Y Khoa (Nobel Prize in Physiology or
Medicine) được trao cho GS Paul Lauterbur và Sir Peter Mansfield về MRI
(Magnetic Resonance Imaging). Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển (Swedish
Academy of Sciences hay
gọi tắt ở đây là HLVKHTĐ) đă cẩn thận trong việc chọn từ bằng cách
không đề cập đến áp dụng của NMR (Nuclear Magetic Resonance) mà chỉ
dùng từ “medical imaging” trong bảng tuyên dương công trạng của hai
nhà khoa học này để biện minh cho quyết định của Hàn Lâm Viện. Nên
nhớ là MRI bắt nguồn từ nguyên lư vận hành của NMR, một kỹ thuật quan
trọng trong ngành hóa học và thịnh hành từ nhiều thập niên trước đó,
bắt đầu với Isidor Rabi, Felix Block và Edward Purcell. Sau này để
tránh sự có thể hiểu lầm về chất phóng xạ trong cộng đồng y khoa và
nhất là bệnh nhân, người ta đă bỏ đi từ “Nuclear” trong “Nuclear
Magnetic Resonance” và chỉ dùng từ “Magnetic Resonance” kèm với từ
“Imaging” tạo thành cụm từ “Magnetic Resonance Imaging” hay MRI để chỉ
máy quét dùng chụp h́nh các bộ phận trong cơ thể con người [1].
Theo nguyên tắc, giải Nobel có thể phát
cho đến 3 người. BS
Raymond Vahan Damadian hay GS Herman Carr lại không có tên trong danh
sách người nhận mặc dù những thành quả nghiên cứu của họ đă góp phần
nhiều vào sự thành công của MRI. Ngay trước khi Lauterbur và Mansfield
bắt đầu nghiên cứu về MRI, Damadian đă đeo
đuổi công tác nghiên cứu về việc tạo h́nh ảnh MRI dùng trong việc tầm
soát ung thư của các cơ quan trong cơ thể con người. Damadian đă khám
phá sự khác nhau của T1 và T2 giữa mô b́nh thường (normal tissues) và
mô ác tính (malignant tissues); sau đó tạo ra máy MRI và thành lập
hăng FONAR để theo đuổi và cổ động những hoạt đông liên quan đến MRI
[2-3]. Năm 1950s, Herman Carr [4-5] báo cáo về cuộn xoắn tạo građiên
(gradient coils) dùng để tạo h́nh 2D hay 3D. Thêm vào với sự khám phá
của Damadian về triển vọng dùng NMR để chẩn bệnh con người, Paul
Lauterbur và Mansfield nới rộng và phát triển phương pháp tạo ra h́nh
ảnh MRI hai chiều (2D) hay ba chiều (3D) dùng cuộn xoắn tạo građiên
do Herman Carr đề nghị và thực hiện trước đó. Trong khi Lauterbur và
Mansfield chú tâm nghiên cứu h́nh ảnh của thú vật và
tay chân con người, Damadian lắp đặt máy
MRI đầu tiên để quét (scan) trên toàn cơ thể con người và báo cáo h́nh
ảnh MRI đạt được. Để dễ theo dơi, trong bài
viết này chúng tôi chỉ chú trọng vào vai tṛ của Lauterbur và Damadian
trong việc phát triển MRI. Chúng tôi sẽ không thảo luận vai tṛ quan
trọng của Sir Peter Mansfield của University of Nottingham ở đây–
người, ngoài việc dùng cuộn xoắn tạo građiên, đă dùng phương pháp toán
học Fast Fourier Transform trong việc tái tạo h́nh, cho phép thời gian
quét giảm xuống c̣n vài giây để tạo h́nh ảnh thay v́ hàng giờ như
trong thí nghiệm của Lauterbur [6]. Phương pháp toán học này của
Mansfield trên nguyên tắc cũng giống như những phương thức tạo h́nh
của máy chụp cắt lớp vi tính (computed
tomography hay CT) hay những phương pháp tạo h́nh khác trong h́nh ảnh
y học. Trước những dữ kiện này, chúng ta hăy cùng
thảo luận xem người nào đă đóng vai tṛ chính yếu trong việc
phát triển máy chụp cộng hưởng từ MRI: Lauterbur hay Damadian hay cả
hai? Damadian cho rằng giải Nobel phải trao cho
ông rồi sau đó mới đến Lauterbur; trong khi đó Lauterbur cho rằng chỉ
có ông là người đáng được tuyên dương công trạng về phát minh MRI này.
Một nhóm chuyên gia có tên là “The Friends of Raymond Damadian” do
Damadian thành lập đă đăng một tờ quảng cáo toàn trang phản đối quyết
định của HLVKHTĐ trên báo New York Times (hai lần), The Washington
Post, The Los Angeles Times và nhiều tờ báo ở ngoại quốc với tiêu
đề ” The Shameful Wrong That Must Be
Righted”. Mục đích chính của những trang quảng
cáo này là làm cho những hội viên có quyền thẩm định trong HLVTĐ có
thể đổi ư và đề tên của Damadian trong danh sách những người lănh giải
[7-8]
Hành động
này cũng bị một số người lên án chỉ trích cho
rắng Damadian “háo danh” và không phải là “nhà khoa học chân chính”.
Điều này đưa ra những mâu thuẫn nực cười :
ít có ai trong chúng ta không háo danh? Mà hễ lên tiếng phản đối quyết
định của một cơ quan có nhiều thẩm quyến là bị chụp mũ là “không phải
là nhà nghiên cứu chân chính”! Trên thực tế, ít tai có đủ tài chánh để
trả tiền đăng một trang quảng cáo toàn trang trên những tờ báo lớn như
New York Times hay Washington Post mà biết chắc là kết quả chẳng đi
đến đâu! Lịch sử đă nhan nhản chứng minh rằng một khi HLVKHTĐ đă quyết
định rồi, họ sẽ không bao giờ thay đổi!
1. Những kỹ thuật có trước sự phát minh
MRI (Prior art)
Theo thiển
ư của người viết, Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển đă tuyên dương sự
đóng góp của Lauterbur và Mansfield trong
kỹ thuât máy chụp MRI dựa vào hai điểm chính: (i) Lauterbur và
Mansfield tạo h́nh 2D (và 3D sau này) bằng cách dùng cuộn xoắn tạo
građiên và (ii) Mansfield dùng phương pháp toán học (Fast Fourier
Transform hay FFT) để thu ngắn thời gian lấy h́nh MRI xuống c̣n vài
giây thay v́ hàng giờ như trong trường họp của Lauterbur. Để t́m hiểu
điều này, chúng ta hăy cùng theo dơi các
hoạt động trong cộng đồng khoa học trước khi Lauterbur và Mansfield
phát biểu h́nh MRI hai chiều.
1.1 Rabi, Block và Purcell khám phá cộng
hưởng từ hạt nhân (NMR)
Isidor
Isaac Rabi nhận giải Nobel vật lư năm 1944 về việc triển khai kỹ thuật
đo lường đặc tính từ học của hạt nhân, thiết lập cơ bản của hiện tượng
cộng hưởng hạt nhân (NMR)- môt khám phá
được thực hiện vào năm 1937.
Hiện tượng này dựa vào sự kiện rằng hạt
nhân của nguyên tử trong từ trường sẽ cộng hưởng khi một một từ trường
dao động thứ hai (secondary oscillating magnetic field) được áp đặt.
Hiện tượng
NMR này được phát hiện và cải thiện hoàn toàn độc lập bởi Felix Bloch
và Edward Purcell năm 1946.
Hai ông này nhận giải Nobel Vật lư vào năm 1952.
Hai ông đă
quan sát hiện tượng cho thấy hạt nhân từ (magnetic nuclei) của chẳng
hạn như 1H và 31P có thể hấp thụ RF energy khi
được đặt trong từ trường và khi RF là một tần số liên hệ đặc biệt đến
việc nhận định hạt nhân. Khi sự hấp thụ (absorption) xảy ra, hạt nhân
sẽ “cộng chấn (in resonance)”.
Những hạt nhân nguyên tử (atomic nuclei) khác nhau
trong phân tử cộng ứng với tần số RF khác nhau trong cùng một cường độ
của từ trường. Sự quan sát của những tần cố cộng hưởng của hạt
nhân từ trong phân tử cho phép các nhà
nghiên cứu khám phá những thông tin về hóa học và cấu trúc của phân tử.
1.2 Carr dùng cuộn xoắn tạo građiên
(gradient coils)
để tạo h́nh NMR hai chiều hay ba chiều
Mục đích
chính của cuộn xoắn tạo građiên (gradient coils) là cho phép thực hiện
sự mă hóa tín hiệu cộng hưởng từ, đưa đến sự biển đổi từ trường
theo vị trí không gian (magnetic field
gradient). Để dễ theo dơi, người viết dùng chữ “građiên” ở đây thay v́
thuật ngữ “thang từ” thông dụng để biểu hiện một dăy các từ trường có
cường độ thay đổi dọc theo một trục trong không gian
và v́ thế dùng để mă hóa tín hiệu phát ra ở mỗi vị trí. Biến
đổi này sẽ được thêm vào từ trường chính B0, nhằm tạo ra sự biến đổi
tuyến tính của từ trường theo một hướng
trong không gian (trục x, y hay z). Việc thực hiện građiên liên quan
đến: (i) biên độ tối đa (biến đổi từ trường mT/m) nhằm quyết định độ
phân giải không gian tối đa (chiều dày lát cắt và phạm vi nh́n); (ii)
độ tuyến tính cần phải giữ ở mức độ hoàn chỉnh tối đa trong vùng quét;
và (iii) tốc độ quét (slew rate) tương ứng với tốc độ chuyển đổi
(switching speed). Cuộn xoắn tạo građiên gồm ṿng dây (loops of wire)
hay những tấm dẫn điện mỏng (sheets) đặt trên một ống h́nh trụ
(cylindrical sheel) nằm ngay bên trong máy quét MRI. Khi ḍng điện
chạy qua những ṿng xoắn này, một từ trường thứ hai
( secondary magnetic field) được tạo ra. Từ
trường građiên (gradient field) này làm
sai lệch một ít từ từ trường chính ở một mức độ có thể đoán trước
được, làm tần số cộng hưởng của proton biến đổi theo vị trí.
Chức năng chính của građiên, v́ thế, là cho phép
mă hóa không gian của tín hiệu cộng hưởng từ MR.
H́nh 1 biểu
hiện toàn hệ thống građiên với những cuộn xoắn được áp đặt trên ống
h́nh trụ dọc theo phía ṇng bên trong của
máy quét. Lúc đầu, cuộn xoắn tạo građiên được cấu tạo với những đường
dây riêng biệt quấn quanh một ống h́nh trụ (cylindrical
formers ) làm bằng fiberglass và được phủ
bằng một lớp keo epoxy. Ngày nay, hầu hết những máy quét dùng chất
siêu dẫn xử dụng cuộn dây quấn theo dạng thức dấu tay “fingerprint” (H́nh
2a) ; cấu tạo này gồm có một số thanh kim
thuộc mỏng hay những tấm đồng lớn được khắc axít (etched) thành
những dạng thức phức tạp và sau đó được dán vào ống h́nh trụ [9].

H́nh 1.
Toàn hệ thống građiên biểu hiện những
cuộn xoắn được áp đặt trên ống h́nh trụ dọc theo phía ṇng bên trong
của máy quét. Những cuộn xoắn này được truyền động
bởi một bộ khuếch đại có công xuất mạnh và hơi nhiệt phát ra được làm
nguội bởi một máy làm lạnh bằng nước. Mày
này được đặt ở pḥng kế máy chụp MRI. Cuộn xoắn RF, nằm bên
trong ṿng xoắn tạo građiên cũng được biểu hiện trong h́nh này
[9].

H́nh 2.
(a) Cuộn xoắn tạo građiên (gradient coil) với những thanh kim loại
mỏng được áp đặt có dạng thức dấu tay (Siemens); và (b) Cuộn
xoắn tạo građiên dùng cho ba hướng chủ yếu :
x, y và z (Google Image).
Ba bộ
(sets) cuộn xoắn tạo građiên được dùng ở hầu hết các máy chụp MRI: x,
y và z građiên. Mỗi bộ cuộn xoắn được truyền động bởi một bộ khuếch
đại công xuất (power amplifier) và tạo nên trường građiên (gradient
field) biến đổi theo dạng tuyến tính dọc theo ba hướng x,y
và z (H́nh 2b). Những từ trường này được tạo nên bằng cách cho ḍng
điện chạy qua cuộn xoắn tạo građiên, làm
cho sức mạnh của từ trường biến đổi tùy thuộc vào vị trí trong thỏi
từ.
Từ trường
građiên (magnetic field gradient) có thể thêm vào từ trường xuyên qua
vật thể để quyết định tần số của tín hiệu
nguyên tử ở vị trí không gian (spatial location) trong cơ thể giúp
việc mă hóa (encoding) những thông tin liên quan đến vị trí (spatial
information) có thể khả thi. Liên quan đến từ trường građiên, chúng ta
phải đề cập đến Herman Yaggi Carr, người tiên phuông trong lănh vực
NMR spin hạt nhân (profiling of nuclear spins). Trong luận văn PhD ở
Harvard vào năm 1952 (advisor:Edward M.
Purcell), Carr dùng từ trường građiên để tạo biên dạng (profile) của
spin hạt nhân của mẫu thí nghiệm [4-5]. Thông tin về nguồn gốc của tín
hiệu trong không gian 3-D cũng có thể đạt được bằng
cách áp đặt thêm một từ trường građiên (aditional
magnetic field gradient) trong lúc quét. Những từ trường građiên thêm
vào này qua toàn mẫu thí nghiệm có thể dùng để quyết định tần số của
tín hiệu sản xuất bởi nguyên tử ở mỗi vị trí không gian trong cơ
thể để có thể mă hóa tín hiệu về vị trí
không gian (encoding of spatial information). H́nh ảnh 3D trong MRI có
thể quay dọc theo một hướng tùy tiện chọn
lựa và thao tác bởi bác sĩ để có thể quan sát những thay đổi nhỏ trong
cấu tạo bên trong cơ thể con người.
2 Đóng góp của Damadian trong nghiên
cứu và phát triển MRI
2.1 Thời
gian hồi giăn T1, T2
Trong trạng
thái b́nh thường, hướng của spins quay một cách ngẫu nhiên với tốc độ
giống nhau và có khuynh hướng tiêu hủy ảnh hưởng từ của nhau.
V́ vậy độ từ hóa thực (net magnetization) gần bằng
0. Dưới ảnh hưởng của một từ trường mạnh, các mômen từ sẽ đổi
hướng hoặc là spins song song (ở trạng thái năng lượng thấp, mũi tên
chỉ lên cùng hướng với
vectơ từ trường máy)
hoặc đối song song (ở trạng thái năng lượng cao, mũi tên chỉ xuống
ngược với vectơ từ
trường máy). Một số lượng nhỏ thặng dư “nhỏ bé” này là độ
từ hóa thực M0 (net magnetization)
có hướng vectơ (hướng tác động) cùng chiều
với chiều vectơ B0 (trục Z)
và sẽ nằm dọc theo từ trường B0.
Nguyên lư
cơ bản của sự vận hành của MRI là dùng một từ trường mạnh và một hệ
thống phát các tần số sóng radio hay sóng vô tuyến RF (cả hai sóng vô
tuyến và sóng radio đều thuộc về sóng điện từ) để điều khiển hoạt động
điện từ của hạt nhân nguyên tử hydrô và để tạo ra các lớp cắt mỏng của
mô cơ thể. Xung RF quay quanh trục z với tần số cộng hưởng, tạo nên từ
trường nằm B1 dọc theo mặt x,y,
thẳng góc với B0. Một khoảng thời gian
sau, vectơ dọc theo từ trường B0 lệch ra khỏi trục z
và tạo một góc lật (flip angle). Giá trị của góc
lật này tùy thuộc vào cường độ từ trường B1 và thời gian
phát xung. Nói một cách nôm na hơn,
từ trường B1 “cộng hưởng” quanh trục z với cùng tần số với
các proton.
Dưới ảnh
hưởng của từ trường máy, trục từ trường của các proton trong mô sẽ xếp
dọc theo từ trường. Xung tầng số vô tuyến
hay sóng radio dùng để đảo trục một số proton
ngược hướng với từ trường dẫn đến năng lượng cao. Sau khi sóng
radio tắt đi, các proton quay trở lại xếp theo trục ban đầu của từ
trường; hydrogen
protons hồi phục trở lại vị trí b́nh thường ban đầu trong từ trường và
phóng ra năng lượng tàn trữ dư (excess stored energy).
Năng lượng được phóng ra dưới dạng nhiệt, hay dưới
h́nh thức sóng radio.
Mức độ và năng lượng phóng thích khi các proton quay trở lại trục ban
đầu (hồi giăn T1 hay thời gian hồi giăn theo
trục dọc). Trong quá tŕnh hồi giăn dọc, vectơ từ
hóa dọc từ từ lớn dần, lúc đầu nhanh nhưng về sau chậm dần cho đến độ
lớn tối đa của nó là M0.
T1 được định nghĩa là thời gian cần thiết
để cho 63.2% vectơ hồi giăn theo chiều dọc. Thời gian T1 cũng
tùy thuộc vào tỉ số giữa nước tự do (free water) và nước hạn chế
(bound water); nước tự do càng nhiều th́ T1 càng dài v́ proton mất
nhiều th́ giờ hơn để định hướng lại trục quay của ḿnh. Từ hóa ngang (dọc
theo mặt x,y) mất nhanh ngay cả trước khi
từ hóa dọc theo trục z khôi phục hoàn toàn v́ sự dao động và va chạm
của protons. Thời gian xảy ra quá tŕnh hồi giăn ngang được gọi thời
gian hồi giăn ngang hay thời gian T2. T2 là
thời gian cần thiết để tín hiệu hồi giăn theo trục ngang c̣n 36.8% của
giá trị ban đầu. T1 và T2 tùy thuộc vào bộ phận trong cơ thể; thí dụ
như nước có T1 dài trong khi đó mỡ có T1 ngắn; nhưng đại khái th́ T1
nằm trong khoảng từ 100 ms đến 3 giây và lớn hơn T2 khoảng từ 2 đến 10
lần. Ngoài ra, thời gian T1 và T2
cũng phụ thuộc vào tỷ lệ giữa nước tự do
và nước hạn chế của các mô. Nước hạn chế và nước tự do là trạng thái
xảy ra khi các phân tử nước nằm gần hay xa các phân tử lớn. Ở đây,
nước tự do ít bị ảnh hưởng của từ trường hơn là nước hạn chế.
Cả hai loại nước đều
có mặt trong các mô cơ thể con người; trong
các tế bào, giữa các tế bào và trong các chất dịch và máu.
2.2 Đóng góp của
Damadian liên quan đến MRI
Sự góp phần
của Damadian trong việc nghiên cứu và triển khai MRI có thể tóm lược
như sau: (i) Damadian là người đầu tiên đă nghĩ đến phương thức dùng
cộng hưởng từ trong NMR để tầm soát tế bào ung thư; ông khám phá sự
khác nhau liên quan đến thời gian hồi giăn dọc T1 và thời gian hồi
giăn ngang T2 đối với tế bào ung thư và tế bào b́nh thường. (tế
bào ung thư chứa nhiều nước- v́ thế nhiều hydrogen hơn tế bào b́nh
thường). Ngay cả ngày hôm nay, 90% MRI scans để tạo h́nh ảnh đều dựa
vào T1 và T2. (ii) biểu hiện các mô lành (healthy tissues) có những
dấu hiệu khác nhau chứng tỏ rằng MR có thể dùng để phân biệt cơ bắp từ
xương đến u năo; (iii) xin và nhận bằng sáng chế đầu tiên về việc xử
dụng MRI trong y khoa; (iv) lắp đặt đầu tiên hệ MRI tạo toàn h́nh ảnh
của cơ thể; và (v) bắt đầu sản phẩm thương mại MRI scanner.
Sự nghiên
cứu về sodium và potassium trong tế bào sống (living cells) đă đưa
đến thí nghiệm đầu tiên của ông dùng NMR và đề nghị chụp MRI trong cơ
thể sinh vật và con người đầu tiên vào năm 1969.
Damadian đă khám phá ra khối u (tumors) và tuyến b́nh thường (normal
tissue)) có thể phân biệt ngay trong cơ thể (in vivo) qua NMR bởi thời
gian hồi giăn dọc T1 (spin-lattice relaxation) và thời gian hồi giăn
ngang T2 (spin-spin relaxation). Phương pháp đầu tiên ông dùng
là quét từng điểm một (point-to-point scan) trên toàn cơ thể để chẩn
đoán ung thư dùng sự khác nhau T1 và T2
giữa tế bào ung thư và tế bào b́nh thường.
Vào tháng hai năm 1976, ông có thể quét
(scan) bên trong lá gan của một con chuột sống dùng phương pháp FONAR
(Field fOcused Nuclear mAgnetic Resonance) của ông.
(H́nh 3).

H́nh 3.
H́nh MRI bên trong lá gan của một con chuột
sống. Kết quả nghiên cứu của BS Damadian đă được đăng
trong tạp chí khoa học Science [10]
Damadian
cũng là người đầu tiên thực hiện việc quét trên toàn cơ thể con người
vào năm 1977 để chẩn đoán ung thư. Mặc dù
h́nh ảnh MRI mà Damadian chụp có vẻ thô sơ so với h́nh MRI ngày hôm
nay; nhưng h́nh này vào năm 1976 này có nhiều chi tiết hơn h́nh CT đầu
tiên của Hournsfield chụp vài năm trước đó [11].
Ngày 5
tháng hai, 1974, Damadian nhận bằng sáng chế đầu tiên dùng NMR trong
việc chẩn đoán ung thư US 3789832. Bằng
sáng chế này có tên “Apparatus and Method for Detecting Cancer in
Tissue” xin vào ngày 17 tháng ba 1972. Bằng sáng chế này bao gồm ư
tưởng quét (scan) cơ thể con người để t́m mô ung
thư (cancerous tissue). Nhưng bằng sáng chế này không diễn tả
phương pháp tạo h́nh ảnh từ những scan này. Damadian lắp đặt máy MRI
đầu tiên để quét trên toàn cơ thể con người và báo cáo h́nh ảnh MRI
của cơ thể con người, dùng kỹ thuật “focused field”, một kỹ thuật khác
rất nhiều với kỹ thuật MRI hiện tại.
July 3,
1977, nhóm Ramadian thực hiện MRI body exam đầu
tiên trên cơ thể con người. Mất nhóm
Damadian gần 5 tiếng đồng hồ để tạo một h́nh ảnh lồng ngực (thorax)
của Larry MInkoff- một thành viên trong nhóm.
Những h́nh ảnh này có vẻ thô sơ so với h́nh ảnh
của MRI hiện đại. Mất Damadian và Larry
Minkoff, Michael Goldsmith bảy năm để đạt tới mốc điểm này.
Với tinh thần này, họ đặt tên máy này là
“Indomitable”.
Năm 1978,
Damadian lập ra hăng Fonar để chế tạo máy
MRI scanners; và sản xuất mày MRI đầu tiên vào năm 1980. MRI scanner (Indominable)
đầu tiên của ông hiện đang giữ/ bảo tồn tại the Smithsonian
Institution, Washington DC Tên của máy scanner này là “Indomitable”.
Nhưng kỹ thuật “focused field” không hữu hiệu bằng phương pháp dùng
ṿng xoắn građiên của Lauterbur và Maansfield. V́
thế máy “Indomitable” không bán được. Fonar sau cùng băi bỏ
“focused field” và chấp nhận kỹ thuật của Lauterbur và Mansfield.
Fonar bắt đầu đ̣i hỏi tiền bản quyền của bằng sáng chế của Damadian.
Fonar thắng kiện với GE phải bồi thường một số
tiền 129 triệu đô la. Fonar dùng số tiền
này trong việc nghiên cứu của hăng ông.
3. Đóng góp của Lauterbur liên quan đến
MRI
Vào thời
điểm nghiên cứu về MRI, Paul C. Lauterbur là giáo sư hóa học ở Stony
Brook University (hay The State University
of New York at Stony Brook), Long Island. Lúc đầu
ông làm việc ở vùng
Pittsburg, nghiên cứu NMR về silicon và
carbon-13 cho hăng Dow Corning.
Ông được chọn làm thành viên trong Hội đồng quản trị (Board of
Directors) của hăng NMR Specialties; nơi mà Damadian thực hiện những
đo đạt đầu tiên về NMR của các mô. Tháng 5, 1971, v́ là thành viên của
hội đồng quản trị, Lauterbur được báo cáo là hăng có dính
líu đến những hoạt động kinh doanh khả
nghi có thể đưa đến t́nh trạng phá sản. Để chứng tỏ rằng hăng đă hay
đổi cách làm việc, hăng cần một giám đốc tạm thời (interim president)
mới. V́ công việc liên quan đến trường ở Stony Brook không cần ông chú
tâm mùa hè năm đó, Lauterbur đồng ư đồng ư đảm nhiệm chức vụ mới này
và bắt đầu đi lại giữa Stony Brook và Pittsburg hầu như mỗi ngày.
Nhiều người cho rằng nếu Lauterbur không giữ chức vụ này, có lẽ lịch
sử MRI có thể sẽ được triển khai theo một
hướng khác!
Lauterbur
có biết về công việc nghiên cứu của Damadian và thí nghiệm về cuộn
xoắn tạo građiên của Herman Carr; nhưng không nghĩ tới mức độ những
công tác khoa học này có thể ảnh hưởng đến những nghiên cứu về h́nh
ảnh y học cho đến khi ông quan sát cùng thí nghiệm u bướu của con
chuột dùng NMR do Leon A Ryan lập lại vào mùa hè năm đó. Nhận thấy sự
khác nhau về thời gian hồi giăn giữa tế bào b́nh thường và tế bào ung
thư (điều này do Damadian khám phá ra!),
Lauterbur bắt đầu nghĩ đến phương cách ghi nhận chi tiết những điểm
khác nhau trong cơ thể con người. Khuya đêm 2 tháng 9, 1971, Lauterbur
đề nghị bước đầu tiên để thực hiện mục tiêu này khi ông nghĩ đến việc
xếp chồng một từ trường yếu hơn không đồng
nhất lên trên từ trường mạnh đi ngang qua cơ thể con người. Bước kế
tiếp (thứ hai)- dùng một loạt những građiên
chung với cách tái tạo h́nh bằng cách chiếu lên tấm màn phía sau (back
projection reconstruction) được thực hiện một năm sau đó. Theo Ros
Herman, Lauterbur đă viết trên sổ tay thí
nghiệm của ông về công tác nghiên cứu Damanian phát biểu trên tạp chí
Science và thành quả nghiên cứu này đă khích lệ ông (Lauterbur)!
Thí nghiệm
đầu tiên của Lauterbur được thực hiện trên
mao quản thủy tinh của nước (glass capillaries of water) , dùng máy
NMR A-60. Trong một bài báo trên tạp chí Nature vào năm 1973,
Lauterbur có phát biểu “áp dụng có triển vọng đáng kể có thể là sự
khảo sát tế bào ung thư trong cơ thể…”
Liến quan đến MRI, năm 1950s, Herman báo
cáo về sự tạo dựng h́nh ảnh MR 1D và 2D.
Thêm vào với sự khám phá của Damadian về triển
vọng dùng NMR, Paul Lauterbur triển khai kỹ thuật của Carr trong việc
phát triển phương pháp tạo ra h́nh MRI ở dạng 2D và 3D, dùng građiên.
Sir Peter Mansfield của University of Nottingham cũng độc lập triển
khai cuộn xoắn građiên và dùng một phương pháp toán học cho phép thời
gian quét giảm xuống c̣n vài giây thay v́ hàng giờ để tạo h́nh ảnh rơ
nét như trong trường họp trong thí nghiệm của Lauterbur.
Nhóm nghiên cứu của GS Peter Mansfield đă thực hiện h́nh ảnh MR trên
ngón tay của môt thành viên trong nhóm- Andrew Maudsley; trong khi đó
Lauterbur chụp h́nh ảnh MR của tế bào ung thư chuột.
4. Cộng đồng khoa học công nhận thành
quả nghiên cứu của Lauterbur và Damadian
4-1 Hai bước tiến quan trọng
Nói về lịch
sử của MRI, Mattson và Simon (1996) ghi nhận công trạng của Damadian
với khái niệm quét NMR trên toàn cơ thể con người cũng như sự khác
nhau về độ hồi giăn của các mô với tín hiệu NMR (tế bào b́nh thương vs
tế bào ung thư) đă góp phần vào sự thành công của MRI. Mattson và
Simon đă nhận định như sau:
“…Chính v́
sự đóng góp của BS Raymond Damadian và TS Paul Lauterbur, chụp cộng
hưởng từ MRI đă và đang trở thành một trong những công cụ chẩn đoán
đáng tin cậy nhất trong lănh vực y khoa. Hàng
triệu người trên thế giới đă và đang thụ hưởng cuộc sống có chất lượng
tốt và nhiều sinh mạng được cứu nhờ sự cống hiến này. Hệ quét
NMR là kết quả của hai bước tiến cần thiết của
hai người tiên phuông: BS Raymond Damadian , và TS Lauterbur. TS
Damadian cung cấp bước đầu tiên của bộ máy quét MRI, khám phá sự khác
nhau về NMR tín hiệu về mô để chẩn đoán bệnh lư trong cơ thể con người.
Trong khi đó, TS Lauterbur cung cấp bước kế tiếp
về cách nhận diện những khác nhau về tín hiệu này qua h́nh 2D và 3D và
áp dụng phương pháp toán học để cung cấp h́nh ảnh có chất lượng và tốc
độ tạo h́nh thực tế.” [12]
4-2 Tổng thống Ronald Reagan và
tổng thống George Bush công nhận đóng góp của Lauterbur và Damadian
trong sự thành công của máy chụp MRI
TS Damadian
đă nhận nhiều giải thưởng trong số dó có Lemelson MIT, Bower Award in
Business Leadership, Knights of Vartan. Nhưng nổi bật nhất là giải
thưởng từ Tổng thống Ronald Reagan và Tổng thống George H. W. Bush:
Tổng thống Reagan trao BS Damadian và TS
Lauterbur giải The National Medal of Technology trong một buổi lễ được
tổ chức tại The Executive offices, Nhà Bạch Ốc vào 15 tháng 7 năm 1988
"For their independent contributions in conceiving and developing the
application of magnetic resonance technology to medical uses including
whole-body scanning and diagnostic imaging” [13]
. Tổng thống Bush cũng đă vinh danh BS
Damadian vào The United States National
Inventors Hall of Fame, cùng với
Westinghouse, Deere, and Langmuir vào 10 tháng 2 năm 1989. "I
am pleased to send warm greetings to everyone present for the 1989
induction ceremony of the National Inventors Hall of Fame.”
[14]

H́nh 4.
Tổng thống Reagan trao cho BS
Damadian giải The National Medal of Technology trong một buổi lễ được
tổ chức tại The Executive offices, Nhà Bạch Ốc vào 15 tháng 7 năm
1988.
5. Kêt từ
Phải nói là
Damadian, Lauterbur và Mansfield đều đáng được vinh dự nhận giải
Nobel năm 2003 về Sinh Lư Học hay Y Khoa
(Nobel Prize in Physiology or Medicine). Damadian là người đầu tiên cổ
vũ dùng NMR trong áp dụng h́nh ảnh y khoa: Damadian đă khám phá sự
khác nhau liên quan đến thời gian hồi giăn dọc T1 và thời gian hồi
giăn ngang T2 đối với tế bào ung thư và tế bào b́nh thường; biểu hiện
sự khác nhau của các mô lành trong cơ thể và
v́ thế có thể MRI có thể dùng để phân biệt cơ bắp từ xương đến u năo.
Damadian cũng là người xin và nhận được bằng sáng
chế đầu tiên về việc xử dụng MRI trong y khoa; và bắt đầu sản phẩm
thương mại MRI scanner. Nhưng nếu không có sự đóng góp quan trọng của
Lauterbur và
Mansfield th́ chúng ta
cũng sẽ không có máy chụp MRI trong nhiều bệnh viện trên thế giới như
ngày hôm nay.
Người viết
xin mượn câu nói của TS Nicolaas Bloembergen, người đoạt giải Nobel
Vật Lư vào năm 1981 để kết thúc bài viết này:
“Bước
quan trọng thứ hai (second important step) của TS Lauterbur
là kết hợp kết quả Damadian đạt được và
phương pháp xử lư dữ liệu nhanh của kỹ thuật chụp cắt lát vi tính CT.
Kỹ thuật CT này do GS Hounsfield và GS Cormack triển khai và hai
người đă được trao giải Nobel về kỹ thuật này. Theo ư kiến của tôi,
góp phần của BS Raymond Damadian cũng quan trọng và đáng kể không kém
ǵ bước thứ hai của TS Lauterbur”
[ 1].
6.
Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part-13-Nobel-of-MRI.htm
[2]
R.
Damadian, Science 171, 1151 (1971)
[3]
"Scan and
Deliver". Wall Street Journal.
2002-06-14.
Retrieved 2007-08-04
[4] Carr,
Herman Yaggi (1952) Free Procession Technique in Nuclear Magnetic
Resonance (PhD Thesis) Cambridge, MA. Harvard University
[5] Carr,
Herman Yaggi (July 2004) Field Gradient in Early MRI Physics Today, 57
(7), 83.
[6]
P. Mansfield, J. Phys. C 10, 55
(1977).
[7]
"Woodbury,
N.Y., Medical Inventor Continues Lone Quest against Nobel Committee".
New York Newsday.
2003-10-21.
Retrieved
2007-08-04
[8]
Gelernter, David
(2003-11-27).
"Conduct
Unbecoming".
Wall Street Journal.
Retrieved
2007-08-04
[9]
http://mriquestions.com/gradient-coils.html
[10] R.
Damadian, L. Minkoff, M. Goldsmith, M.
Stanford and J. Koutcher. Focusing Nuclear
Magnetic Resonance (FONAR): Visualization of a tumor in a live animal,
Science,
December 24, 1976, 194, 1430-1432.
[11]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Godfre-%20Hounsfield.htm
[12] Mattson, J. and Simon, M.,
The Pioneers of NMR and Magnetic
Resonance in Medicine: The Story of MRI, Bar-Ilan University
Press, Jericho, New York, 1996.
[13]
https://nationalmedals.org/laureate/raymond-vahan-damadian/
[14]
http://www.fonar.com/nihf.htm
November
20, 2021
(University of Minnesota & Ecosolar International)
|