|
A series of articles on
“Microelectronics and Silicon Valley” –Part 9
Robert Noyce
Trần
Trí Năng
(University of Minnesota & Ecosolar International)
“Bob Noyce took me under his wing. I was young, in my twenties. He
was in his early fifties. He tried to give me the lay of the land,
give me a perspective that I could only
partially understand”.
Steve Jobs (co-founder of Apple Computer)
Trong những số trước, chúng tôi đă giới thiệu tổng quát về Robert
Noyce [ 1-3 ]- người đă cộng sáng lập hăng
Intel và đă đứng sau sự phát minh microprocessor của Ted Hoff. Trong
số này, chúng tôi chỉ chú trọng vào hai đóng góp quan trọng của Noyce
trong kỹ nghệ vi mạch: integrated circuit
và tunnel diode. Trong lănh vực vật ly ,
John Bardeen là người đă lănh hai giải Nobel [4], th́ ngược lại Noyce
đă hai lần mất cơ hội được giải Nobel về physics: Nobel 2000 với Jack
Kilby về IC (v́ ông mất trước đó) và Nobel 1973 với Leo Esaki về
tunnel diode (v́ ông không phát biểu hiện tượng này vào năm 1958 v́
khám phá này không được ban quản ly quan tâm trong việc chế tạo sản
phẩm).
Từ khóa Integrated circuit, tunnel diode, Nobel Prize,
microprocessor, Intel, Jack Kilby, Leo Esaki.
1. Câu
chuyện bên lề thay lời tựa
“…Theo nắng tôi về thăm con
phố
Cây xanh mát rượi mịn da trời
Bờ cao sóng vỗ thời gian vỡ
Bám víu chần trần năm tháng vơi…
Văng vẵng
đâu đây dăm tiếng cười
Câu chào dáng dấp tuổi đôi mươi
Trời cao hoa nắng ngàn cánh nở
Sáng cả mộng đời, rực sáng mơi…”
Từ Hawaii Kai Mall, mất khoảng 10 phút lái xe
đến Koko Head. Đây là một phần của Koko Head Reginonal Park bao gồm cả
vịnh Hanauma nổi tiếng , Halona Blowhole và
Sandy Beach . Đây là di tích của một đường rầy cũ
bị bỏ lại từ Thế chiến thứ hai, lúc đó được dùng để di chuyển
nhân viên quân sự và đưa tải quân nhu. Dốc gồm có 1106 bước dẫn tới
đỉnh [H́nh 1, bên trái].V́ tôi hơi “nhát gan”, nên những đoạn đường
nào dễ, có phần “chắc ăn” th́ tôi bước theo các nấc gỗ trên đường
rầy; c̣n những đoạn nào hơi nguy hiểm th́ tôi đi ṿng theo dốc núi. Cứ
lên xuống những nấc thang này mỗi tuần
một vài lần chắc cơ thể sẽ khỏe hẳn ra! Koko
Head trail này hầu như thích họp cho tất cả mọi người ở những
t́nh trạng sức khỏe khác nhau ngay cả trẻ con, người già và người bị
khuyết tật. V́ thế, vào những ngày cuối tuần như hôm nay, ở đây rộn
rịp như ngày hội. Mọi
người vui vẻ, cười nói chuyện tṛ như quen biết nhau tự thuở nào.
Người đi nhanh, người bước chậm, không ai
hối ai. Cứ từ từ lượng sức ḿnh mà đi… Anh đi.
Tôi đi. Chúng ta cùng
đi.
“…Từng bước
theo từng bước
Không ai bảo ai; người người lần lượt
Hồn trải rộng thênh thang
Đi giữa hàng cây. Không gian ngút ngàn
Vài cụm mây trắng phau
Lảng đăng giữa bầu trời màu xanh sắc đậm
Lân tinh với muôn ngàn tia nắng ấm.
Gió thổi lồng lồng
Bờ tóc bồng bềnh tô thắm
Đôi mắt đen tṛn to, sâu thẳm
Ấp ủ nét đoan trang hiền hậu
Người tṛ chuyện người với nét mặt vui tươi
Rộn ră tiếng cười.
Ngày vui màu xanh
Ngày tươi mộng đời
Em bé nhỏ
Theo chú cho con
Nô đùa, vui chơi…”
Hai vợ chồng trẻ ; một người vai mang ba lô
, một người mang em bé khoảng 2 tuổi. Tóc đỏ.
Mắt xanh. Em nh́n mọi
người đi ngang qua. Thăm ḍ. Quan sát. Rồi
nở nụ cười tŕu mến.
“…Tiếng cười em bé bên hàng cây
Gió thổi mơn man giọt nắng gầy
Rộn ră dư âm cùng năm tháng
Tháng này năm hết! Má hây hây…”
Cứ 10 đến 15 nấc thang, tôi đứng lại nghỉ.
Mặt trời đă lên cao. Mồ
hôi bắt đầu chảy nhễ nhại. Càng lên cao gió càng mát và những
đám mây càng bay gần hơn. Những vạt nắng tung
tăng trên vùng cỏ gợn sóng. Những ngọn cỏ dài, nhỏ
và sắc như “cật nứa”! Đong đưa , đều
nhịp theo tiếng gió ru. Đi được một hồi lâu, tôi
t́m một tảng đá ngồi ngủ trưa. Tôi có cái “thói quen tư bản”
này từ nhiều năm rồi! Bất cứ nơi nào tôi đi và dù bận thế nào đi
nữa , tôi cũng t́m cách ngủ trưa chừng 5-10
phút. Tôi ngủ dễ dàng.
Giấc ngủ thật nhẹ nhàng. Không mộng mị.
Giữa trời biển bao la.
Giữa ḷng người hoan ca.
“…Tung tăng
Theo triền đồi
Tung tăng
Trong điệu mới
Người người vui
Vồn vă tiếng cười.
Tung tăng
Theo thời gian
Tung tăng
Điệu nhẹ nhàng
Hương thời gian
Mơn man.
Màu thời gian
Vô vàng…”

H́nh 1.
1106 nấc thang lên tới đỉnh của Koko Head (bên
trái, ref.5).
Những nấc thang từ trên cao nh́n xuống (bên phải, h́nh do tác giả chụp).
Từ trên cao nh́n xuống, người ta có thể nh́n thấy
thành phố nằm dưới chân đồi [H́nh 1, bên phải]. Những mái nhà
năm sang sát nhau, như c̣n đang ngủ mê bên bờ biển xanh thắm đậm.
Biển ấp ủ ngàn đời. Biển thênh thang độ
lượng . Biển lênh láng
t́nh thương.
“…Nh́n màu biển xanh thẳm phía
dưới, tôi cảm nhận được sư yên lặng và huyền diệu của thiên nhiên ngàn
đời.
Bầu trời xanh. Cây cỏ xanh. Vũ trụ
nhịp nhàng ḍng luân chuyển theo ḍng thời
gian vô biên.
Con đường rầy nghiêng nghiêng nắng đổ trải xa dài tới đỉnh núi.
Người đi. Người về.
Câu chuyện không đầu không đuôi. Nhưng ḷng
cảm thấy vui vui…”
Mặc dù không gian và thời gian qua khác
nhau; khung cảnh này làm tôi cồn càn lên nỗi nhớ đến đường lên Tu Viện
Nguyên Thiều (B́nh Định) ngày nao thuở c̣n học trung học.
“… Ngồi nơi đây nơi Tu Viện
Nguyên Thiều
Những mái lá xác xơ nơi thung lũng
Những bóng đen suốt một đời nghèo túng
Nợ chất đầy đầu chị ở đợ nuôi em…”

H́nh 2: Thành phố dưới chân núi
(bên trái)
và h́nh giống con khủng long nh́n từ xa (bên phải). H́nh do tác giả
chụp.
Bao năm bôn ba trong cuộc sống.
Bao thăng trầm. Nhưng rồi cuộc đời như ṿng
tṛn ; một ngày nào đó cũng sẽ trở về bến
cũ…
“…Vẫn biết đời ḿnh là những chuyến xe
Ga tạm lại qua, bến đỗ xa gần
Bao khuôn mặt gặp qua. Bao kỷ niệm
Hành tŕnh nằng nặng trĩu tâm thân…”.
2. Hai lần mất cơ hội lănh giải Nobel về physics
Robert Norton Noyce được sinh ra ở Burlington, Iowa vào
ngày 12, tháng 12 năm 1927 và mất vào ngày 3 tháng 6 tại Austin,
Texas. Là con của một mục sư, ông lớn lên
ở Grinnell, Iowa , tốt nghiệp bậc đại học ở Grinnell College và nhận
Ph.D. từ MIT. Sau một thời gian ngắn làm việc ở Philco về transistors,
ông theo Shockley về làm việc ở Shockley
Semiconductor. Ngoài việc cộng sáng lập ra Fairchild
Semiconductor , Intel và giúp đỡ việc bành
trướng công nghệ điện tử tại vùng Silicon Valley [H́nh 3], Noyce đă
đóng góp trong nền khoa học và kỹ thuật với hai phát minh lớn: phát
minh vi mạch tích hợp (integrated circuits) đồng thời với Jack Kirby
của Texas Instruments và tunnel diodes cùng lúc với Leo Esaki ,
Japan. Ông đă mất đi hai cơ hội để nhân giải Nobel về vật ly: lần thứ
nhất về tunnel diode (Esaki nhận giải này năm nào 1973; tài liệu
về phát minh của Noyce được công bố nhiều
năm sau Esaki) và về vi mạch tích hợp IC (Jack Kirby nhận giải Nobel
năm 2000; lúc đó Noyce đă qua đời).

H́nh 3: The Fairchild Eight và
việc bành trướng công nghệ điện tử tại vùng Silicon Valley [6].
2-1 Từ
planar technology sang integrated circuits
Chỉ hai tháng sau khi hăng Fairchil được thành lập, Hoerni đă t́m ra
một giải pháp để giải quyết những yếu điểm của mesa technology như là
độ tin cậy thấp (low reliability) , hiện tượng đánh thủng điện áp sớm
(premature breakdown voltage) và biến đổi nơi đặc tính ṛ rĩ (leakage
characteristics): Hoerni đề nghị là thay v́ khắc ṃn (etching away)
lớp oxít ở công đoạn cuối cùng trong lúc chế tạo transistors, nên
giữ lớp oxít này lại để bảo vệ cho vùng tiếp hợp [1].

H́nh 4: Schematic cross section
of an early mesa transistor made by
Fairchild Semiconductor [figure on the left] and schematic cross
section of a planar transistor (figure on the right, Stanford
University Archives)[1].
Vào tháng 12 năm 1957, Hoerni viết những y nghĩ của ông trong quyển sổ
tay thí nghiệm với nhan đề “Method of
protecting exposed p-n junctions at the surface of silicon
transistors by oxide masking techniques” . Câu đầu tiên của Hoerni
là : “This general idea underlying this
invention is the building up of an oxide layer prior to diffusion of
dopant atoms at the places on the surface of the transistor at
which p-n junctions are expected to emerge from the body of the
semiconductor. The oxide layer so obtained is an integrant (sic)
part of the device and will protect the otherwise exposed
junctions from contamination and possible electrical leakage due to
subsequent handling, cleaning , [and] canning of the device [7]”. Lợi
điểm khác của phương pháp Hoerni là những đường dây dẫn
điện có thể kết nối hữu hiệu và tất cả mọi
công đoạn chế tạo có thể thực hiện trên cùng một phía của tấm nến
silíc . Đây là lợi điểm rất quan trọng trong việc
chế tạo IC sau này.
Vào thời điểm Hoerni đề nghị y tưởng này,
Fairchild không có khả năng để thực hiện. Thêm vào đó,
lúc đó tất cả mọi năng lực và thời gian của Fairchild đều dồn
vào việc sản xuất mesa transistors- mục tiêu đầu tiên của hăng . Và
sau khi kỹ thuật về khuếch tán (diffusion
từ Bell Labs.), oxide masking (từ Bell Labs) và photolithography được
thiết lập, Hoerni trở lại thực hiện y tưởng ban đầu của ḿnh. Với sự
giúp đỡ kỹ thuật của Jay Last, vào tháng
ba năm 1959; Hoerni chế tạo thành công prototype planar transistors và
tránh được những yếu điểm của mesa transistors và c̣n làm cho linh
kiện điện tử nhẹ, nhỏ hơn và giá thành sẽ rẻ hơn [H́nh 4] . So với
mesa transistors, transistors mới này c̣n có
những lợi thế về đặc tính điện như lợi suất cao hơn (higher gains),
ḍng điện ṛ rĩ (leakage currents) thấp hơn, khoảng chừng vài
nanoampere. Hoerni phát biểu kết quả t́m được tại
Hội Nghi về Electron Devices tại Washington, D.C. vào tháng 10
nắm 1960 [8]. Cơ quan thẩm định bằng sáng chế của Mỹ cấp Hoerni và
Fairchild bằng sáng chế về quy tŕnh planar technology vào ngày 20
tháng ba, 1962 [US patent 3,025,589]. Quy tŕnh
chế tạo transistor dựa vào planar technology có thể tóm tắt ở H́nh 5.

H́nh 5: The planar process. Vùng
với các đường gạch nghiêng về hướng phải là silicon oxide; vùng với
đường gạch nghiêng về hướng trái là vùng tiếp hợp bằng
kim thuộc; P and N chỉ định vùng kết tinh
silíc loại P và loại N [8].
Quy tŕnh được bắt đầu bằng cách bao phủ tấm nền đơn tinh thể loại N
bằng một lớp silicon oxide mỏng dùng phương pháp nhiệt của Atalla [1]
và tạo vias xuyên qua lớp oxide dùng phương pháp photolithography (công
đoạn a &b). Tiếp theo đó, tinh thể loại P được tạo trong tấm nền loại
N bằng cách khuếch tán các chất thuộc cột III trong bản hóa trị như
boron dùng phương pháp khuếch tán của Bell Labs [1]- công đoạn (c).
Các công đoạn (d)- (g) được tạo thành bằng
cách lập lại các phương pháp khuếch tán và photolithography ở các công
đoạn (a)- (c).
Đồng thời với sự thành lập hăng Fairchild Semiconductor, cũng có một
hăng nhỏ tên là Texas Instruments (TI) được tạo dựng lên ở Austin,
Texas, để sản xuất germanium transistors. Vào năm 1958, Jack Kilby
của TI là người đầu tiên t́m ra phương
pháp kết nối nhiều transistors và các linh kiện điện tử (như phần tụ
điện, điện trở) với nhau trên cùng một tấm nền (lúc đầu là germanium,
sau này chuyển sang silicon) dùng phương pháp hàn (soldering) từng bộ
phận một với nhau Kilby và TI nhận được bằng sáng chế về quy tŕnh chế
tạo này vào ngày 23 tháng 1 , năm 1964 [US 3,138,743]
Ở
Fairchild, Vào ngày 23 tháng 1 năm 1959,
với sự thúc dục của luật sư phụ trách về bằng sáng chế và với mô h́nh
về planar technology của Hoerni, Noyce viết vào trong sổ tay thí
nghiệm của ông nhan đề “Method of isolating multiple devices” đề
nghi tất cả transistors được nối kết với nhau theo quy tŕnh chế tạo
nguyên khối (monolithic approach) và những linh kiện điện tử được giữ
cách nhau bằng lớp silicon oxide. Giải pháp này
giải quyết được những yếu điểm trong phát minh của Kilby.
Bob Noyce t́m cách kết nối bằng cách tích
hợp các linh kiện điện tử và mạch liên kết với nhau và cách biệt
những bộ phận này bằng lớp silicon oxide. Noyce cũng đề nghị đặt trên
lớp silicon oxide các mạch tiếp nối bằng
nhôm (aluminum interconnections) giữa hai thành phần điện tử và để
cách điện với tấm nền silíc nằm phía dưới.. Tựa đề của bằng sáng
chế của Noyce là “Semiconductor Device-
and- Lead Structure” Noyce filed ngày 30 tháng 7, 1959, và được cấp
bằng sáng chế vào ngày 25, tháng tư, năm 1961 [ US 2,951,877].
Noyce và Kilby là hai người đă đề nghị và thực hiên
vi mạch tích hợp (intergrated circuits), mở
đầu cho sự lớn mạnh của kỹ nghệ điện tử sau này. Kilby nhận giải Nobel
về vật ly về công tŕnh này vào năm 2000
(lúc ấy Noyce đă qua đời rồi , và Hội đồng khoa học Thụy Điển chỉ có
thể phát giải thưởng này cho những người c̣n sống!).
2-2 Tunnel
diode
Trong một buổi nói chuyện tại MIT Club ở New York, vào tháng 12, năm
1976, Bob Noyce cho biết rằng ông ghi trong sổ tay của ông khái niệm
về Tunnel Diode vào năm 1956, nhưng không tiếp tục nghiện cứu v́ hăng
ông làm không quan tâm đến việc chế tạo sản phẩm dựa vào hiện tương
này. Leo Esaki lănh giải Nobel về tunnel diode
vào năm 1973 về phát minh của ông vào cuối thập niên 50’s. Đây
là hiện tượng negative resistance với ḍng điện giảm khi điển áp tăng
lên cao do tunneling effect [H́nh 6]. So
với thời gian đóng ngắt mạch (switching
time) khoảng milliseconds của transistors ở thời điểm lúc đó,
switching time của tunnel diodes vào khoảng picoseconds là một thành
quả rất đáng kể. Yếu điểm của tunnel diodes là v́
đây là linh kiện điện tử hai cực (two termical device) không thể dễ
dàng dùng trong việc khuếch đại (amplification) như transistor- một
linh kiện điện tử ba cực. Mặc dù vậy tunnel
diode chứng tỏ sư thành công hiện tương quantum mechanics
trên phương diện thực nghiệm.
Esaki 49 tuổi lúc lănh giải Nobel vào 1973
[H́nh 7, ref. 9] . Dĩ nhiên the Nobel Committee và Esaki không biết ǵ
về việc nghiên cứu về tunnel diodes của
Noyce. Esaki phát minh tunnel diode lúc làm việc tại hăng Tokyo
Tsushin Kogyo (Sony bây giờ).
Nobel committee ghi nhận phát minh của
Esaki vào 1957, cùng khoảng thời gian Noyce có ư tưởng tương tự.
Điểm không rơ ở đây là Noyce có làm thí nghiệm nào để chế tạo tunnel
diodes không hay chỉ dự đoán thôi?- h́nh
như không có dữ liệu nào trong sổ tay thí nghiệm của ông để xác nhận
điều này. Bài báo đầu tiên của Esaki về tunnel diode có tên “New
phenomenon in narrow germanium p-n junction” gửi đi vào 1 tháng 11 năm
1957 và được đăng ở Physical Review vào đầu năm 1958 [10]. Sony chế
tạo tunnel diodes vào năm 1958 , theo sau
bởi General Electric và nhiều hăng khác vào 1960.
Sự tương tự giữa hai phát minh liên quan đến tunnel diode được D.K.Yu
tóm tắc ở H́nh 8.

H́nh 6: Cơ cấu vận hành của
tunnel diode (h́nh bên phải).
H́nh bên trái là cơ cấu vận hành của diode thông thường dùng để so
sánh.

H́nh 7 :
Leo Esaki [11]

H́nh 8: Bản tóm tắc tài liệu
liên quan đến tunnel diodes của Esaki và Noyce [11]
2-3 Những h́nh ảnh khác

H́nh 9 [12]
Figure on the left: Noyce
grinned outside his Intel cubicle
(Stanford University Libraries).
Figure on the right: Noyce and his co-inventor Jack Kilby shared the
first Charles Stark Draper Award .

H́nh 10.
Figure on the left: Noyce and
Applle Computer co-founder Steve Jobs at a dinner for
governor Jerry Brown [12]
Figure on the right: The plaque
at 844 E. Charleston Rd., Palo Alto, the first site of Fairchild
Semiconductor [3]

Fig. 11: The late Dr. Robert Noyce, co-founder of Intel, is flying
through the air on a statue at Advanced Micro Devices. Jerry Sanders
honored Noyce for investing money early
in AMD with this caricature (TAP TIMES Archive, [13]).
3. Lời kết
Chúng tôi xin mượn hai đoạn trong quyển sách của Leslie Berlin “The
Man Behind the Microchip” [12] để kết thúc bài viết này:
“…Before the Internet and the World Wide Web and cell phones and
personal digital assistants and laptop computers and desktop computers
and pocket calculators and ATMs and cruise control and digital
cameras and motion detectors and video games—before all these, and the
electronic heart of all these, is a tiny device called an integrated
circuit. The inventor of the first practical integrated circuit, in
1959, was Robert Noyce. It was one of 17 patents awarded to him.”
Leslie Berlin
“…In 1968, Noyce and his Fairchild co-founder Gordon Moore launched
their own new venture, a tiny memory company they called Intel.
Noyce’s leadership of Intel- six years as president, five as board
chair , and nine as a director—helped create a company that was
roughly twice as profitable as its competitors and that today stands
as the largest producer of semiconductor chips in the world.”
Leslie Berlin
4. Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-8-Fairchild-Semiconductor.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-7-The-Fairchild-Semiconductor.htm
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-6-The-Fairchild-Eight.htm
[4]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Silicon-Valley-2-Bell-Labs.htm
[5]
http://en.wikipedia.org/wiki/Koko_Head
[6]
Business Week, August, 25, 1997.
[7] Jean A. Hoerni, Fairchild Semiconductor Corp., Lab. notebook, p.3
(1 December 1957)
[8] Jean Hoerni, Planar Silicon Transistors and Diodes, unpublished
paper presented at 1960 Electron Devices Meeting, October 1960,
Collection of Christopher Le1cuyer and David Brock: “Makers of the
Microchip”, the MIT Press.
[9] Yahoo
Image*)
[10] Leo
Esaki: Phys. Review, 109 (2), 603, 1958.
[11] Dong-Kyuk Ju & K. Night, 2013
[12] Leslie Berlin,
“The
Man Behind the Microchip”. , Oxford University
Press , 2005
[13]
Thomas P. Rigoli, Test, Assembly &
packaging Times, April 2013
*)Tên
là Reona Esaki, thường được biết với tên Leo Esaki.
Sinh tại
Osaka vào
12 tháng 3, 1925.
Tốt nghiệp UNiv. of
Tokyo, BS
1947 và PhD 1959.
Di dân sang Mỹ vào năm 1960 và làm việc tại T.J. Watson, IBM từ đó. Ngoài
tunnel diodes, ông c̣n khởi xướng ra supperlattices cùng với Raphael
Tsu lúc hai người làm việc ở IBM. Vào cuối thập niên 90’s, ông
trở về Nhật, làm hiệu trưởng ở nhiều trường như University of
Tsukuba, Shibaura Institute of Technology và Yokohama College of
Pharmacy.
|