A series of articles on
“Microelectronics and Silicon Valley” –Part 8
Những đóng góp kỹ
thuật then chốt của Fairchild
Semiconductor
Trần Trí Năng
(University of Minnesota & Ecosolar International)
“We had these
brilliant ideas but rather than making the stuff ourselves, we’d
just as soon get it out to someone else . . . so,
bit by bit, it moved out into the Valley and it helped the Valley
mature”
(Murray Mr Siege)
Từ khóa:
mesa technology,
planar technology, integrated circuits, MOS transistors, Robert
Noyce, Jean Hoerni, Jack Kilby, Intel, Texas Instruments, Sputnik,
Liên Xô.
Robert Noyce và
Gordon Moore rời Fairchild Semiconductor vào năm 1968 để mở hăng
Intel, sau này trở thành chipmakers lớn nhất thế giới. Bốn người
trong nhóm “The Fairchild Eight” [1] Jean Hoerni, Eugene Kleiner,
Jay Last và Sheldon Roberts rời Fairchild năm 1961 lập ra hăng
Amelco. Kế tiếp theo , Victor Grinich
rời Fairchild vào năm 1968 về dạy ở Stanford và Berkeley và Julius
Blank quyết định đi làm chuyên gia tư vấn vào năm 1969. Thêm vào đó,
một số hăng khác cũng được thành lập do một số nhân viên từ
Fairchild , trong số đó có AMD, National Semiconductor, LSI Logic,
Altera và Xilinx. Về lănh vực tài chánh, venture capital được thành
lập bởi nhân viên cũ của Faichild kể cả Kleiner và Perkins đă
đóng vai tṛ quan trọng ở Sequoia Capital, một cơ quan lớn về lănh
vực hổ trợ tài chánh trong vùng (nên nhớ là trước đó không có
venture capital ở vùng West Coast!). Sự phát triển dây chuyền bắt
đầu từ Fairchild làm nền tảng cho sự thành h́nh của Silicon Valley
sau này : Noyce là mentor của Steve Jobs;
Steve lại trở thành advisor cho Google founders (Sergey Brin và
Larry Page). Về phương diện kỹ thuật, bốn đóng
góp then chốt của Fairchild trong công nghệ vi mạch là: silicon
mesa transistors, planar technology , integrated circuits và MOS
transistors. Năm 1979, hăng Schlumberger mua Fairchild
Semiconductor ; rồi sau đó bán lại cho
National Semiconductor vào năm 1987. Fairchild trở thành một hăng
độc lập trở lại vào năm 1997, đặc căn cứ
ở miền vùng bờ biển phía đông (East Coast) và có tên trong danh
sách Sở Giao Dịch Chứng Khoán Nữu Ước (New York Stock Exchange) từ
năm 1999.
1. Câu
chuyện bên lề thay lời tựa
“…And now, the end is near;
And so I face the final curtain.
My friend, I’ll say it clear,
I’ll state my case, of which I’m certain.
I’ve lived a life that’s full.
I’ve traveled each and every highway.
But more, much more than this,
I did it my way…”
(Một đoạn trong bài hát “My Way”
của Frank Sinatra)
Sau khi xong một vài công việc của tôi [2] ở
University of Hawai’i, Manoa xong, sẵn c̣n th́ giờ nên tôi và nhà
tôi đi dạo t́m một quán cà phê trong campus để ngồi tán dóc. Mỗi
ngày chúng tôi lái ngang qua đây, nhưng
hôm nay là lần đầu tiên đặt chân đến campus. So
với những campus của các trường đại học khác ở nội địa th́ campus
này thuộc cỡ trung b́nh. Có điều là so
với sinh viên da trắng, sinh viên vóc dáng Á Châu và ở các đảo lân
cận như Samoa. Guam, v..v..ở
đây h́nh như nhiều hơn. Đi được một đoạn đường chúng tôi vẫn không
t́m được quán cà phê; nhưng thay vào đó chúng
tôi t́nh cờ khám phá ra một khu vực với cây cối cắt xén rất đẹp và
có vẻ “rất Nhật”. Ṭ ṃ, chúng tôi thử ghé lại
xem th́ được biết đây là East West Center, một trung tâm
nổi tiếng của đại học. Tên chính thức của trung tâm này là The
Center for Cultural and Technical Interchange Between East and West
.Trung tâm do Quốc Hội Mỹ thiết lập vào năm 1960 với mục đích là
trao đổi giáo dục, văn hóa giữa các nước trong vùng Thái B́nh Dương,
Chấu Á và Mỹ. Trung tâm này trong vài năm đầu gồm có tất cả 6 ṭa
nhà: Edmondson Hall (bốn tầng với lớp học và pḥng thí nghiệm),
Kennedy Center (dùng cho các hội nghị lớn, ḥa nhạc với 800 chỗ ngồi),
Hale Kuahine (cư xá nữ, bốn tầng), Lincoln Hall (4 tầng , cư xá dành
cho học giả và cán bộ giảng huấn), Jefferson Hall ( bốn tầng gồm có
pḥng hội nghị, cafeteria và văn pḥng của ban quản ly) và Hale
Manoa (13 tầng, cư xá nam cho 480 sinh viên- từ 1990 cư xá này dành
cho cả nam lẫn nữ, H́nh 2). Cả hai cư xá và vài ṭa
nhà khác do kiến trúc sư Ieoh Ming Pei
hay thường gọi tắc là I.M.Pei thiết kế. Nên ghi chú ở đây là I.M.
Pei là một kiến trúc sư người Mỹ gốc Tàu nổi
tiếng đă lănh giải Pritzker Prize (tương đương với Nobel Prize về
ngành kiến trúc); ông cũng đă thiết kế nhiều ṭa nhà trên thế giới
trong số đó có J.F. Kennedy Library, National Gallery of Art , và
Louvre Pyramid (Pháp) và Miho Museum (Nhật) . Ngoài chính phủ liên
bang và tiểu bang Hawai’i , c̣n có hơn 22 hăng Nhật và một số quốc
gia trong khu vực hổ trợ tài chánh cho các hoạt động của trung tâm
này. Nằm sau Jefferson Hall [H́nh 1] là một khu vườn Nhật có
tên “Seien” (Serene Garden, H́nh 1 & 2).
Chúng tôi đi dọc theo con suối Manoa.
Con suối này có ba tầng thiết kế giống như ḍng sông bắt nguồn từ
trong núi; chảy xuyên qua vùng đồng bằng và
chảy chậm lại khi ra gần đến biển. Theo triết ly và truyền thống của
người Nhật, ba tầng này biểu hiện cuộc
đời của con người: bắt đầu chảy nhanh với nhiều ṿng xoắn tượng
trưng cho những thăng trầm lúc c̣n trẻ; trở thành điều ḥa, chín
chắn lúc trưởng thành ; rồi chậm lại , trở nên trầm lặng hơn lúc
tuổi càng về già. Mặt nước yên tĩnh của con suối đôi lúc bị giao
động với đàn cá “koi” (Japanese carp) đủ màu; một biểu tượng của sự
kiên tŕ và dũng cảm v́ theo truyền thuyết, những con cá này phải
đấu tranh cố bơi ngược ḍng nước chảy để trở về nguồn. Đi khoảng
vài trăm mét, chúng tôi thấy một ngôi nhà trà đạo với tấm bản đề tên
Chashitsu Jakuan (Cottage of Tranquility). Ngôi
nhà “ chanoyu” này nhỏ , xinh xắn làm tôi nhớ lại những tea
house có cái tên En ở Gion , nằm cạnh Chionin Temple ở Kyoto. Đối
với người Nhật, chữ En có nhiều nghĩa: En có nghĩa là “duyên”/số,
“viên”/măn , “yến”/tiệc, “viện”/ trợ và “diễn”/ xuất. Riêng hai chữ
“duyên” và “viên” có tính cách tôn giáo, nhất về thiền học : Chữ
duyên có nghĩa là cơ duyên , c̣n chữ “En” nghĩa là “tṛn/marui”, có
nghĩa là không có bắt đầu và cũng không có chấm dứt; không có khiếm
khuyết mà cũng không có sự đứt đoạn. Một kết
nối liên tục như ḍng đời sinh tử, tử sinh.
Lúc chúng tôi đến Chashitsu Jakuan, một số
sinh viên thực tập đang chuẩn bị pha trà cho
quan khách. Chúng tôi quan sát cử chỉ và các di động của
người chủ (host) trong bộ áo kimono sặc sỡ và
quan khách (guests) ăn mặt rất “casual”. Như những “chanoyu” khác
tôi có dịp tham dự trước đây lúc c̣n đi học ờ Fukuoka và Osaka,
trước tiên khách đi vào pḥng trà qua một cánh cửa nhỏ và thấp nên
buộc phải cúi đầu; rôi người chủ lần lượt cúi đầu chào từng người
khách một khi họ bước vào. Không khí trong pḥng trong sáng và thanh
tịnh. Buổi lễ bắt đầu với người chủ lau
sạch và chuẩn bị các dụng cụ cần thiết. Cử chỉ và
các điệu bộ di động của cô rất chậm răi, khoan thai và thoải mái;
h́nh như cô đang chánh niệm, tỉnh thức theo dơi từng cử động của
ḿnh. Bên cạnh cô là hộp đựng dụng cụ làm trà (chabako), hộp trà (chaki),
b́nh nấu nước nóng bằng sắt (kama) được
đặt trên chiếc ḷ (furo). B́nh có nắp
chứa nước sạch (mizusashi), đồ dụng cụ gọi là chasen kusenaoshi làm
bằng ceramic dùng để giữ đồ khuấy trà (chasen), một cây quạt (sensu)
và một tấm vải bằng lụa màu tím (fukusa) được xếp lại thành h́nh
tam giác. Sau thủ tục làm sạch các dụng cụ, cô
ta chuẩn bị pha trà bằng cách múc ba muỗng trà xanh (matcha green
tea) với cái muỗng xúc trà có tay cầm dài (chashaku) và đổ vào cái
bát (chawan) cho mỗi vị khách. Cô thêm nước nóng vào
chawan bằng cái muỗng tay dài bằng tre (hishaku)
và khuấy với đồ khuấy được chẻ ra thành cộng từ một miếng tre (chasen)
đến khi thành một lớp trà xanh mỏng hiện lên trong chawan. Người
chủ mang từng bát trà đến người khách
bằng cách vừa quỳ vừa xê dịch bằng hai đầu gối; chủ khách cúi đầu
chào nhau. Mỗi động tác diễn ra rất chậm- h́nh như mỗi người cố
theo dơi từng động tác của ḿnh. Người
khách đầu tiên nhận chén trà, quay chén
trà ba lần theo chiều kim đồng hồ , rồi bắt đầu uống. Sau đó, người
khách lau vành bát trà, và quay ngược
lại ba lần để đưa tách trà về vị trí ban đầu, rồi chuyển sang người
khách bên cạnh. Những vận động này cứ tiếp tục
cho đến người khách cuối cùng. Sau khi
tất cả người khách uống xong, người chủ rửa chawan, chasen
và chashaku. Trong lúc này khách có cơ hội quan sát những dụng cụ
dùng trà ; một sồ được truyền lại qua
nhiều đời, nên khá hiếm và quy.

H́nh 1:
Jefferson Conference Hall (h́nh bên trái) khu vườn Nhật (h́nh bên
phải). H́nh do tác giả chụp.

H́nh 2 : Hale
Manoa Dormitory, do I.M.Pei thiết kế [3] (h́nh bên phải)
và nhà uống trà, tháp chín từng và đàn cá “koi” trong khu vườn
Nhật (h́nh bên phải , do tác giả chụp) .

H́nh 3: Thai Pavilion , quà tặng của quốc vương Bhumibol và hoàng
hậu Bhumibol Adulyadej của Thái vào năm 1964 (h́nh bên trái)
và Center for Korean Studies, xây năm 1979 (h́nh bên phải).
H́nh do tác giả chụp.
Khoảng 20 phút sau khi “chiêm
ngưỡng” lễ trà đạo, chúng tôi tiếp tục cuộc “khám phá ngẫu nhiên”
này . Giữa đất trời lộng lộng, gió mát trong lành, tôi cảm nhận được
một nguồn tự do mênh mông; vừa đi tôi vừa nhớ lại những ngày
“gasshuku” ở một ngôi chùa trên núi Koyasan , thuộc huyện Wakayama ở
Nhật. Ngày nào cũng dậy sớm, ăn chay, hành thiền và leo núi! Có
mệt nhưng vui và ḷng lúc nào cũng thật thanh thản ,nhẹ nhàng. Một
cảm giác trong sáng và thanh tịnh. Những cát bụi trong đời h́nh như
lắng đọng…
“…Giữa đất trời trải rộng thênh thang muôn
nơi, ru nhịp đời mênh mang trong tôi;
người người trở về trong cánh rừng nhỏ thầm kín ngàn đời.
Koyasan sáng nay thông reo ngút ngàn ,
cụm mây trắng nhẹ nhàng lướt bay trong bầu trời xanh sâu thẳm; mọi
vật bao trùm với ngàn tia nắng nồng nàn sưởi ấm tâm thân.
Người cúi đầu chào người nhẹ bước thong dong, nghe hơi thở nhịp
nhàng theo từng điệu thở;
Chim trao nhau lời hát, cánh hoa là tứ
đại sắc thắm tươi cười, ḥa nhịp đều cùng tiếng chuông chùa ngân xa,
khi bổng lúc trầm.
An hưởng phút giây, tránh những tạp niệm phóng
tâm và quên đi những mẫu chuyện quá khư tương lai qua ḍng
năm tháng …”
Chúng tôi đi “chầm
chậm” dọc theo con suối Manoa chảy ngoằn ngoèo ôm kín bờ đá rêu
phong xanh màu năm tháng. Theo từng hơi khí hít
vào thở ra. Đếm bước chân giẩm theo vạt
nắng hiền ḥa.
“…Hít vào hơi thở mênh mang
Thở ra âm điệu nhịp nhàng
Lá rơi xanh nền thảm cỏ
Chim non lời gọi âm vang…”
Tôi lắng nghe tiếng thời
gian ngân vang. Lúc dồn dập, lúc dịu
dàng. Âm điệu nhịp nhàng một ngày mới đến.
Vài cô câu sinh viên ngă đầu bên gốc cây ḥ hẹn.
Tâm sự một thời, một giờ, một phút trôi qua.
Và cuối cùng chúng tôi nghỉ chân ở Thai
Pavilion và Center for Korean Studies (H́nh 3).
“…Tâm hồn ta thanh thản
Như con suối hôm nay
Để ngàn tia nắng vỡ
Len vào hồn ta say…”
2. Bốn đóng
góp then chốt của Fairchild vào công nghệ vi mạch
Từ giữa thập niên 50’s và thập niên 60’s,
Fairchild Semiconductor đă góp phần quan trọng trong việc tạo dựng
công nghệ vi mạch sau này. Hăng đă tung
ra thị trường đầu tiên silicon mesa
transistor , planar transistors, vi mạch tích hợp IC. Hăng này cũng
đă nghiên cứu thành công những dữ liệu căn bản trong việc sản
xuất metal-oxide-semiconductor (MOS)
transistors:
2-1
. Sản phẩm đầu tiên của Fairchild là
double-diffused silicon mesa transistor
Fairchild được
thành lập đúng lúc “in the right place at the right time”/ thiên
thời, địa lợi, nhân ḥa.
Ngay sau khi đại chiến thứ hai vừa chấm
dứt; nhiều người đến California từ các tiểu bang khác để t́m công ăn
việc làm (một golden rush lần thứ hai!) và
v́ thế dân số California gia tăng rất nhanh. Hơn thế nữa, đây cũng
là thời điểm Liên Xô (Soviet Union) phóng vệ tinh Sputnik đầu tiên;
sự kiện này đă gây rất nhiều xôn xao trong dư luận và áp đặt nhiều
áp lực trên chính quyền Mỹ. Kết quả là Mỹ bắt đầu cuộc chạy đua
không gian (space race) với Liên Xô. Để nắm được ưu thế trong cuộc
chạy đua này, chính phủ
Mỹ cần
rất nhiều linh kiện bán dẫn transistors. Mục đích chung của
nhóm là
sản xuất sản phẩm đầu tiên- a double diffused silicon mesa
transistor- càng nhanh càng tốt dùng kỹ thuật học được ở Bell Labs
và những kinh nghiêm the Fairchild Eight đạt được trong thời gian
làm việc ở Shockley Semiconductor. Như đă tŕnh bày trong những số
trước, để chính phủ Mỹ khỏi phải phân chia Bell Labs thành nhiều
hăng nhỏ biệt lập, Bell Labs đă đồng y chia xẻ những kỹ thuật họ
khai phát được với những hăng khác tại Mỹ. Lợi dụng cơ hội này, Shockley
kư hợp đồng với Bell Labs nên một số người thuộc nhóm “ Fairchild
Eight” có cơ hội tham gia the” Diffusion Conference” ở Bell Labs
ngay sau khi kỹ thuật khuếch tán này được khám phá và triển khai tại
Bell Labs và thu thập được những tài liệu liên quan đến việc sản
xuất double- diffused silicon transistors.
Linh kiện điện tử này có cấu trúc n-p-n
hay p-n-p và dựa vào kỹ thuật do Tannenbaun và Thomas làm ra
trong pḥng thí nghiệm ở Bell Labs [4]. Tannenbaun và đồng nghiệp đă
tạo n-p-n transistors bằng cách khuếch
tán một chất kim thuộc vào vùng base và vùng emitter nằm trên
bề mặt của tấm nền silic. Và những transistors
được giữ cách nhau bằng nhựa epoxy. Cấu trúc này có tên là
mesa structure [Hinh 4]. Với cấu trúc mesa, vùng tiếp xúc emitter và
base nằm trên bề mặt , c̣n vùng tiếp
xúc collector nằm ở phần dưới của tấm nền silic. Theo Bell Labs,
nhôm/aluminum (đóng vai tṛ như acceptor) được dùng làm ohmic
contact với lớp loại p (p-type) silicon và tạo nên n-p-n transistor;
trong khi đó gold- antimony alloy được dùng làm contact với emitter
. Antimony hỗn hợp với silicon và đóng
vai tṛ như donor để tạo nên lớp loại n (n-type). Phương pháp dùng
hai loại kim loại khác nhau trong việc tạo điểm tiếp xúc gây nên
phức tạp và không thuận lợi trong việc chế tạo hàng loạt; nên
Fairchild cố t́m một kim loại khác có
thể dùng cho tất cả các điểm tiếp xúc với transistors.
Fairchild dùng aluminum. Sau khi nung
nóng aluminum ở nhiệt độ cao hơn silicon
aluminum eutectic temperature và thấp hơn điểm nóng chảy (melting
point) của chất này, aluminum contacts được h́nh thành . Cho đến
ngày hôm nay, aluminum vẫn là chất kim loại chính dùng
trong những tuyến nối kết (interconnect)
của các mạch tích hợp. Giải pháp aluminum
rất thích hợp với n-p-n transistors nhưng không tạo được điểm tiếp
xúc tốt với lớp base nơi lượng doping thấp như trong cấu trúc
p-n-p transistor. Đây cũng là ly do sản phẩm đầu
tiên của Fairchild là n-p-n silicon transistors [5]. Vào năm
1958, lần đầu tiên Fairchild sản xuất 100 transistors (model 2N696
và 2N697) tương đối lớn nhưng có ḍng điện 150 mA đủ để khởi động bộ
nhớ lơi từ (drive magnetic core memories) trong onboard computer mà
Government Systems Division của IBM chế tạo để dùng
trong hệ thống dẫn hướng và chế ngự
(guidance- and- control system) của B-70 bomber. Sau đó, Fairchild
sản xuất transistors nhỏ hơn với tốc độ đóng ngắt mạch (switching
speeds) cao hơn ở ḍng điện nhỏ và tuổi thọ (lifetime) gia tăng hơn
bằng cách khuếch tán kim thuộc vàng vào
phía sau của tấm nền silíc để tạo những trung tâm tái kết họp chất
tải hữu hiệu (effective carrier recombination centers). Những
transistors này sau đó được dùng nhiều trong
những ứng dụng thuộc về mạch logic (logic applications). Doanh
thu kỷ lục ($500,000) vào năm đầu tiên
đến từ sản phẩm duy nhất này. Đây là
một thành công rất đáng
kể vào thời điểm 50’s!
2-2 Planar
technology/planar transistors
Về mesa transistors, vùng
tiếp hợp emitter- base để lộ ra ở phía trên bề mặt giữa hai điểm
tiếp xúc kim loại, trong khi đó vùng tiếp hợp base-collector th́
nằm giao nhau ở bề hông của linh kiện điện tử dạng mesa (Fig.4,
bên trái). Khi có điện trường, vùng tiếp
hợp emitter-base trên bề mặt rất mẫn cảm với sự ô nhiễm của môi
trường chung quanh, gây nên sư giảm thiểu độ lợi suất (gain) rất
nhanh và như trong trường hợp của vùng tiếp hợp với emitter, đánh
thủng điện áp (breakdown voltage) và đặc tính ṛ rĩ (leakage
characteristics) có thể thay đổi. Một vấn đề nữa mà Fairchild
nhận thấy là một số transistors nằm trong hộp bịt kín với khí nitơ
khô có đặc tính ở vùng tiếp hợp với emitter (emitter junction
characteristics) không ổn định. Và đánh thủng điện áp đôi khi có
thể giảm hàng chục volts và trở thành
không ổn định, gây ra vấn đề với độ tin cậy (reliability) của những
linh kiện bán dẫn này. Sự kiện này gây
ra bởi các hạt nhỏ (particles) trong lúc gói b́ v́ những hạt nhỏ này
thu hút điện trường nhiều hơn , gây ra sự đánh thủng điện áp sớm
(premature breakdown).
Một giải pháp cho những vấn đề trên là để
lại lớp oxít – hay tạo nên một lớp oxít
mới để bảo vệ vùng tiếp hợp.
H́nh 4: Schematic cross section
of an early mesa transistor made by
Fairchild Semiconductor [figure on the left [5] ]
and schematic cross section of a planar transistors (figure on
the right, Stanford University Archives and [6])
Chỉ hai tháng sau
khi hăng Fairchil được thành lập, Hoerni đề nghị là thay v́ khắc
ṃn (etching away) lớp oxít ở công đoạn cuối cùng trong lúc chế
tạo transistors, nên giữ lớp oxít này lại để bảo vệ cho vùng tiếp
hợp. Vào tháng 12 năm 1957, Hoerni viết những ư nghĩ của ông trong
quyển sổ tay thí nghiệm với nhan đề
“Method of protecting exposed p-n junctions at the surface of
silicon transistors by oxide masking techniques” . Câu đầu tiên của
Hoerni là : “This general idea underlying
this invention is the building up of an oxide layer prior to
diffusion of dopant atoms at the places on the surface of the
transistor at which p-n junctions are expected to emerge from the
body of the semiconductor. The oxide layer so obtained is an
integrant (sic) part of the device and will protect the otherwise
exposed junctions from contamination and possible electrical
leakage due to subsequent handling, cleaning , [and] canning of the
device [7]” . Phần viết này được làm chứng và ky tên cùng ngày
bởi Robert Noyce. Lợi điểm khác của
phương pháp Hoerni là những đường dây dẫn điện có
thể kết nối hữu hiệu và tất cả mọi công đoạn chế tạo có thể thực
hiện trên cùng một phía của tấm nến silíc .
Đây là lợi điểm rất quan trọng trong việc chế tạo IC.
Vào thời điểm Hoerni đề
nghị y tưởng này, Fairchild không có khả năng để thực hiện.
Thêm vào đó, lúc đó tất cả mọi năng lực
và thời gian của Fairchild đều dồn vào việc sản xuất mesa
transistors- mục tiêu đầu tiên của hăng . Và sau khi kỹ
thuật về khuếch tán (diffusion từ Bell
Labs.), oxide masking (từ Bell Labs) và photolithography được thiết
lập, Hoerni trở lại thực hiện y tưởng ban đầu của ḿnh. Với sự
giúp đỡ kỹ thuật của Jay Last, vào
tháng ba năm 1959; Hoerni chế tạo thành công prototype planar
transistors và tránh được những yếu điểm của mesa transistors và c̣n
làm cho linh kiện điện tử nhẹ, nhỏ hơn và giá thành sẽ rẻ hơn. So
với mesa transistors, transistors mới này c̣n
có những lợi thế về đặc tính điện như lợi suất cao hơn
(higher gains), ḍng điện ṛ rĩ (leakage currents) thấp hơn, trong
phạm vi khoảng chừng vài nanoampere. Hoerni phát biểu kết quả này
tại Hội Nghi về Electron Devices tại
Washington, D.C. vào tháng 10 nắm 1960 [8]. Cơ quan thẩm định bằng
sáng chế của Mỹ cấp Hoerni và Fairchild
bằng sánh chế về quy tŕnh planar technology vào tháng ba, 1962 [H́nh
5].
Và 1960, Noyce và Moore quyết định chuyển
hướng sản xuất ở Fairchild từ mesa
technology sang planar technology.

H́nh 5: Fairchil nhận được bằng
sáng chế từ Cơ quan thẩm định bằng sáng chế Mỹ vào ngày 20 tháng 3
năm 1962.
2-3 Vi mạch
tích hợp (Integrated circuits)
Đồng thời với sự thành lập hăng Fairchild
Semiconductor, cũng có một hăng nhỏ tên là Texas Instruments (TI) được
tạo dựng lên ở Austin, Texas, để sản xuất germanium transistors.
Vào năm 1958, Jack Kilby của TI là người đầu tiên t́m ra phương
pháp để kết nối nhiều transistors và các linh kiện điện tử (như
phần tụ điện, điện trở) với nhau trên cùng một tấm nền (lúc đầu là
germanium, sau này silicon) dùng phương pháp hàn (soldering) từng bộ
phận một với nhau [H́nh 6] . Kilby và TI nhận được bằng sáng chế về
quy tŕnh chế tạo vào 23 tháng 1 , năm
1964 [H́nh 7]
Ở Fairchild, Vào ngày 23
tháng 1 năm 1959, với sự thúc dục của luật sư phụ trách về
bằng sáng chế và với mô h́nh về planar technology của Hoerni, Noyce
viết vào trong sổ tay thí nghiệm của ông nhan đề “Method of
isolating multiple devices” đề nghi tất cả transistors được nối kết
với nhau theo quy tŕnh chế tạo nguyên khối (monolithic approach)
và những linh kiện điện tử được giữ cách nhau bằng lớp silicon
oxide. Giải pháp này giải quyết được yếu
điểm trong phát minh của Kilby.
Bob Noyce t́m cách
kết nối bằng cách tích hợp các linh kiện điện tử và mạch liên kết
với nhau và cách biệt những bộ phận này bằng lớp silicon oxide.
Noyce cũng đề nghị đặt trên lớp silicon oxide
các mạch tiếp nối bằng nhôm (aluminum interconnections) giữa
hai thành phần điện tử và để cách điện với tấm nền silíc nằm phía
dưới.. Tựa đề của bằng sáng chế của
Noyce là “Semiconductor Device- and- Lead Structure” Noyce filed
ngày 30 tháng 7, 1959, và được cấp bằng sáng chế vào ngày 25,
tháng tư, năm 1961 [ H́nh 8].
Noyce và Kilby là hai người đă đề nghị và thực
hiên vi mạch tích hơp (intergrated
circuits), mở đầu cho sự lớn mạnh của kỹ nghệ điện tử sau này. Kilby
nhận giải Nobel về vật ly về công tŕnh này vào
năm 2000 (lúc ấy Noyce đă qua đời rồi , nên không nhận được giải).

H́nh 6:
Prototype liên quan đến mạch tiếp hợp do Jack Kilby chế tạo ở Texas
Instruments [9].

H̀nh 7: Bằng sáng chế cấp cho
Kilby và TI vào ngày 23 tháng 6, năm 1964.

H́nh 8: Bằng sánh
chề vi mạch tích hợp của Robert Noyce,
trong đó ông dùng planar technology của Hoerni.

Fig. 9.
Prototype về IC do Jay Last chế tạo [tài
liệu từ Fairchild Semiconductor]
Cũng nên ghi nhận ở đây là planar technology và
mạch tích hợp IC sẽ không thể thực hiện
được nếu không có phát minh của M.M. Atalla ở Bell Labs. Atalla
triễn khai và đề suất phương pháp nhiệt
vào năm 1963 để chế tạo lớp silicon oxide và giải quyết được vấn đề
mà Last và Hoerni gặp phải. H́nh 9 biểu
hiện prototype của IC đầu tiên ở Fairchild do Jay Last chế tạo.
Phải mất Last và nhóm của ông gần 2
năm mới có thể tung IC ra thị trường với planar processing.
2-4 MOS transistors
Với phương pháp dùng hệ thống nhiệt để tạo lớp
silicon oxide với chất lượng cao, Atalla và Dawoo Khang của Bell
Labs đă chế tạo thành công field effect transistors thật sự vào
năm 1960- sau ngay đó được biết với cái tên là MOS (metal –oxide
transistor) [10]. Fairchild triễn khai kỹ thuật
này trong việc sản xuất và đưa ra thị trường MOS transistors.
3. Lời kết
Fairchild
Semiconductor được thành lập vào ngày 18 tháng 9 năm 1957 với những
“accidental entrepreneurs” và dưới sự tài trợ của Sherman Fairchild,
một nhà phát minh và cũng là một kỹ nghệ gia. Bốn đóng góp then
chốt của Fairchild- silicon mesa transistors, planar technology,
mạch tích họp IC và MOS- đă đóng vai tṛ rất quan trong trong việc
phát triễn công nghệ vi mạch sau này từ kỹ thuật, kinh doanh đến
venture capital. Những đóng góp này đă ảnh hưởng trong việc sinh
sôi nẩy nở của hơn 400 hăng và manh nha
việc thiết lập hê thống venture capital ở vùng Silicon Valley.
“Fairchildren” Arthur Rock và Eugene Kleiner sau này là hai nhà
venture capitalist nổi tiếng đă đầu tư vào rất nhiều hăng về
kỹ thuật và công nghệ sinh học kể cả Amazon,
AOL.
Google. LSI Logic,
Netscape, Sun Microsystems, Intel, Apple và Tandem Computers.
4. Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-7-The-Fairchild-Semiconductor.htm
[2] Nang Tran, http://www.ecosolarcity.com/article.html
[3]
Yahoo Image
[4]M. Tannenbaum and D. E. Thomas, “Diffused emitter and base
silicon transistors,” Bell Syst. Tech J., vol. 35, no. 1, pp. 1–15,
[5] Gordon E. Moore, The role of Fairchild in Silicon Technology in
the Early Days of “Silicon Valley”, Proceedings of the IEEE, Vol.
86, no.1, January 1998, p. 53-62
[6] Michael Riordan , The Electrochemical Society Interface, Fall
2007)
[7] Jean A. Hoerni, Fairchild Semiconductor Corp., Lab. notebook,
p.3 (1 December 1957)
[8] Jean A. Hoerni, “Planar silicon transistors and diode”,
Fairchild Semiconductor report No. TP-14, p.9,
Farichild Collection, Stanford University Archives.
[9] Jack Kilby, IEEE Transaction on Electron
Devices, 23, 648 (July, 1976).
[10] Dawon Kahng, IEEE Transactions on Electron Devices, 23, 655
(July 1976).