|

A series of articles on
“Microelectronics and Silicon Valley” –Part 7
Fairchild Semiconductor
Trần
Trí Năng
(University of Minnesota & Ecosolar International)
“It was the most
interesting year of my life.
We went into an empty building in October 1957 and by next summer we
had developed a product that scooped the industry.”
Jay
Last
Fairchild
Semiconductor được thành lập vào ngày 18 tháng 9 năm 1957 bởi
“California Group” với sự tài trợ của Sherman Fairchild, một nhà phát
minh và cũng là một kỹ nghệ gia. “California Group” gồm có Faichild
Eight cộng thêm Arthur Rock và Afred Boyle của Hayden Stone investment
firm. Fairchild sản xuất sản phẩm thương mại silicon mesa
transistors đầu tiên và phát minh planar technology (đồng thời với
Texas Instruments) , một trong những mấu chốt căn bản để tạo ra mạch
tích hợp (integrated circuits).
Trong bài này chúng
tôi xin tŕnh bày quá tŕnh thành lập hăng Fairchild Semiconductor và
ảnh hưởng của hăng này trong việc sinh sôi nẩy nở của hơn 400 hăng ở
vùng Silicon Valley. Nên ghi chú ở đây là Arthur Rock và Eugene
Kleiner sau này là hai nhà venture capitalist nổi tiếng đă đầu tư vào
rất nhiều hăng về kỹ thuật và công nghệ sinh học kể cả Amazon,
AOL.
Google. LSI Logic, Netscape, Sun Microsystems, Intel, Apple và Tandem
Computers.
Từ khóa:
Fairchild , Arthur Rock, Afred Coyle, mesa technology, planar
technology, double- diffused silicon transistors, MOS transistors ,
Silicon Valley, California Group.
1. Câu
chuyện bên lề thay lời tựa
Ko Olina cách thành phố Waikiki khoảng 17 miles và được biết là băi
biển rất đẹp vào lúc mặt trời lặn. Lúc chúng tôi rời nhà, trời hơi âm
u với vài đám mây xám chầm chậm trôi về hướng núi (mauka/hướng bắc
theo cách nói của người bản xứ). Từ Honolulu, chúng tôi lái xe trên H1
Freeway đi về hướng phi trường. Đường hôm nay không bị kẹt xe nên
khoảng 25 phút sau chúng tôi đến Ko Olina Resort. Nơi đây c̣n nổi
tiếng có bốn lagoons với nước màu xanh biếc . Những lagoons này do
Herbert Horita và Takeshi Sekiguchi, hai nhà kinh doanh người Mỹ gốc
Nhật thiết kế và xây lên vào thập niên 80’s.(H́nh 1, bên trái). Dọc
theo lagoons là một băi cát mịn dài gần 1.5 miles. Nước trong và cạn
nên du khách có thể lội bộ ra xa (H́nh 1, bên phải). Có nhiều hoạt
động ở đây từ snorkeling, sunset cruises, sailing và ngay cả deep
sea fishing.
Trời bắt đầu mưa. Cơn mưa cuối ngày làm ướt biển với những ṿng xoắn
tung tăng. Một số người t́m cách chạy vào mấy cái lều trốn mưa. Chỉ
c̣n tôi và vài người khác ở lại. “Thế nào rồi cũng ướt; ướt thêm một
chút nữa có mất mát ǵ đâu!”, tôi tư nhủ thầm. Người đi trong mưa th́
tôi cũng tắm dưới mưa, cái thú của thời thơ ấu mà tôi tưởng chừng đă
quên đi từ lâu… Một cảm giác thật nhẹ nhàng và dễ chịu. Mát thịt da,
mát cả ḷng người. Băi biển lúc này im lặng. Tôi chạy theo những đàn
cá trắng sáng , đùa chơi với những người bạn mới quen này. Khoảng
chừng 10 phút sau, cơn mưa lại tạnh. Mưa ở đây giống như mưa rào lúc
tôi c̣n ở quê nhà. Mặt trời lại lên chói lọi. Màu biển, màu trời và
màu nắng êm. Tôi lên ngồi trên chiếc ghế đá bên cạnh Ko Olina Beach
Club của khách sạn Mariott để t́m vài phút giây yên lặng. Ḷng chợt
lắng nghe ḷng. Chiều nắng vỡ bên song. Tôi lắng nghe giọng hát theo
điệu nhạc từ đàn ukulele thật thánh thót , réo rắt lên bỗng xuống trầm
nghe thật du dương và rung cảm ḷng người. Người ca sĩ với nước da
ngâm ngâm đậm nét của người bản xứ, đang say mê trong điệu hát.

H́nh 1: Một trong bốn lagoons ở Ko
Olina (bên trái) và băi biển Ko Olina (bên phải) [1].
Nước trong đến nỗi người ta có thể nh́n thấu đáy.
Tôi và nhà tôi đi trên con đường xi-măng, một bên
là băi cỏ xanh mướt và một bên là băi biển với những con sóng trắng
tung tăng vỗ vào bờ dưới bầu trời xanh thẳm đẹp như một bức tranh.
Chúng tôi đi chầm chậm, vừa đi vừa nói chuyện, ôn lại những kỷ niệm xa
xưa như “muốn nhặt lại năm tháng đời ḿnh”.
“…Em về thuở ấy xanh màu áo
Thắm đậm trời cao gót ngọc ngà
Thèn thẹn hàng cây thôi ngưng gió
Ngại ngùng giọt nắng vỡ trên môi…”
Ở đây có nhiều màu xanh, từ xanh nhạt , xanh lơ,
xanh đâm đến màu xanh lá cây già, xanh lá cây non làm ḷng người cảm
thây lâng lâng, thư thái. Xanh cuộc đời. Xanh cả màu trời. Xanh những
mộng đời: lúc ngập ứ, lúc vơi.
“…Koolina hàng cây xanh màu lá
Gió bên đường rộn ră bước chân qua
Vài cụm mây đùa với ngọn cỏ non hiền ḥa
Vai thon nhỏ thướt tha trong chiều nắng vỡ…”
Ngày bắt đầu dần tàn và chuyển ḿnh sang đêm. Mặt
trời lặn từ từ về phía chân trời tỏa một vùng đỏ ối với một dăi màu
vàng trải rộng. Từ xa nh́n giống như một con đường rực sáng nối liền
chân trời với băi biển, thắm đậm với màu đỏ chói, màu nâu trên mặt
biển ḥa lẫn với màu nâu trên băi cát , tỏa những ánh sáng màu vàng
nhạt lân tinh trên bọt sóng. Bóng dừa in h́nh như những bóng đen đi
lang thang trên băi biển. Cơn gió về thổi mạnh làm tàu lá dừa đu đưa
như những mái tóc của những cô thôn nữ bồng bềnh trong gió (H́nh 2).

H́nh 2: Hoàng hôn trên băi biển Ko
Olina
(h́nh do tác giả chụp; thời gian trên tấm h́nh là Minnesota time,
Hawai’i time bốn giờ sớm hơn)
“…Tôi nói ǵ với gió biển, cho cánh bồ câu
trắng tung bay chiều nay
Tôi nói ǵ với cụm mây trôi, cho màu xanh nước mặn khằn thấm bao ngày.
Hàng dừa ngă ḿnh , uốn éo đu đưa theo cơn gió mới
Ḥa nhịp với điệu nhạc từ chiếc đàn ukele nhẹ nhàng thánh thót
Khi bổng lúc trầm vang lên đánh thức khách về thăm c̣n đang ngủ mê
say…”
Vài cậu bé đua nhau chạy t́m vỏ ṣ như đi “t́m
kho tàng”. Thỉnh thoảng cất tiếng lên cao réo gọi những người bạn khi
t́m được một vỏ ṣ trắng to, phá tan bầu không khí yên tĩnh cuối ngày.
“…Đàn bé con đua nhau chạy nhảy
Nói cười làm rộn một ngày qua
Trời cao nắng đổ hồng đôi má
Tóc ướt. Vai trần. Thoăn thoắt xa…”
Chiều càng lúc càng sâu. Âm điệu sóng biển vỗ th́
thầm như muốn trao đổi niềm tâm sự ngàn đời.
“…Thời gian trôi qua cùng sóng biển cuốn theo
bao kỷ niệm
C̣n lại đây bước chân trần nghe hiu hắt gió chiều buông
Thời gian mang lại đây tiếng nhạc u buồn
Héo hắt qua hàng dừa xanh nặng trái theo gió chiều vấn vương.
Thời gian trôi qua bước chân ta ngang dọc lê
khắp nẻo đường
Tiếng xe cộ, tiếng cười, qua bao thành phố biển
Có những chiều một ḿnh thầm yên trong quán vắng
Nh́n từng giọt cà phê nhịp nhàng rơi tí tách điệu thâm u .
Thời gian trôi qua, rừng thông reo trong đám
sa mù
Bọt sóng trắng rực sáng một ngày u ám
Thời gian qua cho ta sống những chuỗi ngày thanh đạm
Sống chỉ một lần. Một đời. Sống trọn một kiếp người thôi …”
2. The
Fairchild Eight và sự thành lập hăng Fairchild Semiconductor
”The Fairchild Eight” gồm có những nhân vật sau
đây : Julius Blank, Victor Grinich, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Jay
Last, Gordon Moore, Robert Noyce, và Sheldon Roberts [H́nh 3 ].
Hoerni, sinh ở Thụy Sĩ, một nhà vật lư với hai bằng PhD và làm
nghiên cứu ở Caltech; Jay Last (MIT), nhà vật lư chuyên về
photo-optics từ Corning Glass; Sheldon Roberts, chuyên gia luyện kim (
metallurgist) từ Down Chemical ; Victor Grinich (Ph.D, Stanford), kỹ
sư điện từ Stanford Reseach Institute ; Julius Blank, kỹ sư cơ khí từ
City College of New York; Robert Noyce (MIT), nhà vật lư từ Philco và
Gordon Moore, chuyên gia hóa học vật lư từ Johns Hopkins Applied
Physics Laboratory [2,3].

H́nh 3
: “The Fairchild Eight” nh́n từ trái sang phải: Gordon Moore, C.
Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Robert Noyce,
Victor Grinich, Julius Blank, Jean Hoerni và Jay Last. ( Fairchild
Semiconductor Corp. và Magnum Photos)
Một trong những lư do chính “the Fairchild
Eight” quyết định rời hăng Shockley Semiconductor là v́ Shockley không
chịu làm về việc sản xuất double- diffused junction transistors như
quyết định ban đầu khi thành lập hăng và như ông đă hứa với ông
Beckman, người đầu tư vào hăng Shockley Semiconductor. Thay v́ thế,
Shockley cùng vài nhân viên chú tâm nghiên cứu một “đề án bí mật” nhằm
vào việc sản xuất Shockley diodes; chỉ c̣n lại năm nhân viên trong số
đó có Noyce và Moore lo nghiên cứu về junction transistors cho Beckman
Instruments. Đây là một sai lầm như được kiểm nghiệm sau này v́ so với
transistors, chế tạo loại p-n-p-n diodes này phức tạp hơn nhiều và
không thích họp với việc sản xuất hàng loạt. Lư do thực sự của quyết
định này th́ không rơ nhưng theo một số người liên quan cho rằng
Shockley muốn làm đề án mới chỉ do ông sáng tạo ra (v́ thực sự
Shockley chưa bao giờ chế tạo một junction transistor nào cả) và ông
nghĩ diodes này có nhiều ứng dụng trong điện thoại và có thể nhận
nhiều hợp đồng R&D từ các cơ quan quân sự.
Mục đích chính của nhóm “Fairchild Eight” là thực
hiện mục tiêu ban đầu của Shockley: sản xuất silicon junction
transistors. T́m được nguồn tài chánh phần lớn là do công sức của
Coyle, Rock và ở vào góc độ khác do Kleiner. Trước tiên Kleiner gặp
ba mẹ ông để tŕnh bày về dự định của nhóm và ba mẹ ông có quen biết
từ trước với Hayden Stone- một investment firm ở New York. Cơ quan đầu
tư này đồng ư xúc tiến trong việc giúp đỡ Kleiner và đề cử Arthur
Rock, một MBA trẻ tốt nghiệp ở Harvard và Alfred Coyle [H́nh 4 &5 ] lo
công tác t́m nguồn tài chánh. Cả Rock và Coyle đều quan tâm đến đề án
của nhóm và tin rằng nhóm người này sẽ thành công. Coyle (boss của
Rock) và Rock bay đến California để gặp nhóm “phản loạn/rebels” này.
Sau một hồi nói chuyện, Rock và Coyle đă có thể thuyết phục những
người trong nhóm [H́nh 4] này nên mở một hăng riêng thay v́ đi t́m
việc riêng từng cá nhân một.
Rock và Coyle đi gặp 35 hăng có triển vọng trong việc hổ trợ tài chánh
nhưng tất cả đều từ chối. Cuối cùng, vào tháng 8, năm 1957, Rock và
Coyle t́nh cờ gặp được Sherman Fairchild- người sáng lập ra hăng
Fairchild Aircraft và Fairchild Camera [H́nh 5]. Fairchild là một
“tinker” với hàng chục bằng sáng chế trong nhiều lănh vực khác nhau.
Fairchild gửi Rock đến gặp Richard Hodgson, người phụ tá của ông.
Hodgson chấp thuận đề án của nhóm và hoàn thành thủ tục giấy tờ cần
thiết trong vài tuần. Hăng có tên mới là Fairchild Semiconductor với
tiền vốn gồm 1,325 cổ phần (shares). Mỗi thành viên của “the Fairchild
Eight” mỗi người nhận 100 cổ phần ; 225 dành cho Hayden, Stone & Co và
300 cổ phần để dành dự trữ. Fairchild cho mượn $1.38 triệu. Để bảo đảm
cho số tiền nợ này, những người trong nhóm trao quyền bầu phiếu
(voting rights) và quyền mua những cổ phần của họ cho cho Fairchild
với một giá nhất định 3 triệu đô la. Nên nhớ đây là một số tiền lớn ở
thời điểm này. Cũng theo hợp đồng th́ nếu nhóm thất bại sau hai năm,
hăng Fairchild sẽ mất tất cả số tiền đầu tư. C̣n nếu ngược lại, hăng
thành công, ông Fairchild có quyến mua lại với giá $300,000 mỗi phần..


H́nh 4 : The Fairchild Eight [4]
và Arthur Rock [5]
Nhóm gồm có tám người cộng thêm Rock và Coyle,
tất cả là 10 người và đặt tên là “the California
Group” và mười người này trở nên thành phần cốt lơi của hăng
mới [H́nh 4 & 5]. Trong buổi họp của nhóm tại Clift Hotel ở
California, Coyle lấy ra 10 tờ $1 đô la mới và để trên bàn. “Mỗi chúng
ta phải kư tên
ḿnh trên những tờ giấy bạc này/Each of us should sign every bill”
Coyle nói. Những tờ một đồng với chữ kư của mọi người [H́nh 6 ] này
được xem là hợp đồng giữa những người trong nhóm.

H́nh 5 : Afred Coyle (h́nh bên trái, [6]) và Sherman Fiarchild (h́nh
bên phải; báo Times số ngày 25 tháng 7, năm 1960)

Hinh 6
: Tờ một đồng đô-la dùng làm hợp đồng cam kết giữa những người trong
nhóm “the California Group” [3].
3. Ṭa nhà đầu tiên của hăng Fairchild Semiconductor
Ngày 18 tháng 9, 1957 là ngày hăng Fiarchild
Semiconductor thành lập và theo một số người liên hệ trong ngành cũng
là ngày sinh nhật của Silicon Valley. Giữa
tháng 10, họ mở hăng tại 844 East Charleston Road, Mountain View, nằm
ở phía bắc khoảng vài miles từ hăng Shockley Semiconductor. Ṭa nhà
này rộng khoảng 14.000 square feet [H́nh 7]

H́nh
7: Ṭa nhà đầu tiên của Fairchild Semiconductor tại 844 East
Charleston Road, Mountain View,
nằm ở phía bắc khoảng vài miles từ hăng Shockley Semiconductor.
Ṭa nhà này được chọn là historical landmark của tiểu bang California
[Fairchild Semiconductor Archives]
Hăng thực sự không có
“real boss”. Noyce lo phần quản lư
và khuyến khích mọi người họp tác –
một phương cách quản lư
hoàn toàn trái ngược với Shockley và trở thành mô h́nh cho kỹ nghệ sau
này. Không chức vị, không chỗ
đậu xe dành riêng cho cán bộ quản lư và không có cán bộ quản lư trung
gian. Vào thời điểm thành lập, Noyce và
Last lo
phần step-and –repeat camera; Hoerni lo quy tŕnh khuếch tán
(diffusion process) và lư thuyết về chất bán dẫn. Moore cũng lo phần
khuếch tán cộng thêm việc chế tạo màng mỏng kim loại bằng phương pháp
hơi bốc nhiệt (metal
evaporation). V́ Moore biết thuật thổi thủy tinh (glass blowing), ông
ta chế
tạo hầu hết các dụng cụ thủy tinh dùng trong quy tŕnh khuếch tán.
Roberts lo phần thành trưởng đơn tinh thể silít (single crystalline
silicon) có đường kính nằm trong khoảng từ 3/8- ¾ inc. thường
có dạng thỏi (ingots).; Grinich
lo phần kiểm định; Kleiner lo công tác lắp ráp các thiết bị liên quan
v́ ông này có tay nghề giỏi về cơ khí [2].
Tất cả tám người trong nhóm tương đối khá
gần nhau; họ thường gặp gỡ nhau ngoài giờ làm việc.
Noyce đảm nhiệm tổng quát về nghiên cứu
c̣n Moore
th́ lo phần sản xuất. Thuật microlithography được triễn khai từ
photoresist và etching technology dùng trong printed circuit boards (một
phần đến từ Bell Labs). Nhóm thiết kế ḷ nung nóng (hot zone
furnaces) dùng vào việc đưa impurities (dopants) vào tấm nền silic.
4.
Sản phẩm đầu tiên của Fairchild là double-diffused silicon mesa
transistor
Fairchild được thành
lập đúng lúc “in the right place at the right time”.
Lúc đó ngay sau
khi đại chiến thứ hai vừa chấm dứt; số người đến từ các tiểu bang khác
nhiếu và v́ thế dân số California gia tăng rất nhanh. Hơn thế nữa, đây
cũng là thời điểm Liên Xô (Soviet Union) phóng vệ tinh Sputnik đầu
tiên; sự kiện này đă gây rất nhiều xôn xao trong dư luận và chính
quyền Mỹ và Mỹ bắt đầu cuộc chạy đua không gian (space race) với Liên
Xô. Và chính phủ Mỹ cần
nhiều linh kiện bán dẫn transistors. Mục đích chung của
nhóm là
sản xuất sản phẩm đầu tiên, a double diffused silicon mesa transistor,
dùng kỹ thuật ở Bell Labs và những kinh nghiêm the Fairchild Eight đạt
được trong thời gian làm việc ở Shockley Semiconductor. Như đă tŕnh
bày trong những số trước, để chính phủ Mỹ khỏi phải tiếp tục việc phân
chia Bell Labs, hăng này đă đồng y chia xẻ những kỹ thuật họ khai phát
được với những hăng khác tại Mỹ. Lợi dụng cơ hội này, Shockley
có ky hợp đồng với Bell Labs nên một số người thuộc nhóm “ Fairchild
Eight” có cơ hội tham gia the” Diffusion Conference” ở Bell Labs và
thu thập được những tài liệu liên quan trong việc sản xuất double-
diffused silicon transistors. Linh kiện
điện tử này có cấu trúc n-p-n hay p-n-p và dựa vào kỹ thuật do
Tannenbaun và Thomas làm ra trong pḥng thí nghiệm ở Bell Labs [7].
Tannenbaun et al. đă tạo n-p-n transistors bằng cách khuếch tán một
chất kim thuộc vào base và emitter layers trên bề mặt của tấm nền
silic. Và những transistors cách nhau bằng epoxy resin. Cấu trúc này
có tên là mesa structure [Hinh 8]. Với cấu trúc mesa, emitter và base
contacts nằm ở trên mặt , và collector contact nằm ở phía dưới của tấm
nền. Theo Bell Labs, aluminium (as an acceptor) được dùng làm ohmic
contact với lớp p-type silicon và tạo nên n-p-n transistor; trong khi
đó gold- antimony alloy được dùng làm contact với emitter . Antimony
ḥa tan trong silicon và đóng vai tṛ như donor để tạo nên lớp
n-type. Phương pháp dùng hai loại kim loại khác nhau trong việc tạo
contact gây nên sự phức tạp và không thuận lợi trong việc chế tạo; nên
Fairchild cố t́m một kim loại khác có thể dùng cho tất cả các contacts
của transistors. Fairchild dùng aluminium sau khi nung nóng ở nhiệt độ
cao hơn silicon aluminum eutectic temperature và thấp hơn điểm nóng
chảy (melting point) của chất này . Cho đến ngày hôm nay, aluminium
vẫn là chất kim loại chính dùng trong những tuyến nối kết
(interconnect) của các mạch tích hợp. Giải pháp aluminium rất thích
họp với n-p-n transistors nhưng không tạo được điểm tiếp xúc tốt với
lớp base có lượng doping thấp như trong cấu trúc p-n-p transistor.
Đây cũng là lư do sản phẩm đầu tiên của Fairchild là n-p-n silicon
transistors [8]. Hàng đầu
tiên Fairchild gửi đến IBM là 100 transistors 2N 696 và 2N 697 vào
năm 1958, chưa đầy một năm sau khi hăng thành lập. Một thành công rất
đáng kể vào thời điểm đó!

H́nh 8 : Mesa
structure (h́nh bên trái, [8]) và một tấm bảng đặt tại ṭa nhà
đầu tiên của Fairchild
ghi nhận công tŕnh về planar technology của Hoerni và intergrated
circuits của Noyce (h́nh bên phải, Fairchild Semiconductor Archives).
Ngoài việc sản xuất sản phẩm double diffused
transistors, Fairchild cũng đă có những phát minh lớn góp phần quan
trong trong việc phát triễn công nghệ vi mạch sau này : planar
technology, integrated circuit (cùng thời với Texas Instruments) và
MOS transistors (triễn khai từ oxide gowth process của Bell Labs).
Những đề tài này sẽ được thảo luận trong số tháng tới.,
5. Có hơn
400 hăng phát sinh từ Fairchild Semiconductor
Sự thành công của Fairchild đă mở đầu cho việc
sinh sôi nẩy nở của hơn 400 hăng ở vùng Silicon Valley trong số đó có
Intel (Robert Noyce và Gordon Moore) và AMD/Advanced Micro Devices (với
Jerry Sanders) [Hinh 9] . Một tấm bảng đặt tại ṭa nhà đầu tiên của
Fairchild Semiconductor ghi nhận công tŕnh về planar technology của
Hoerni và intergrated circuits của Noyce [H́nh 8, bên phải].

H́nh 9: Một số hăng tượng trưng
trong số hơn 400 hăng đă bắt nguồn từ Fairchild Semiconductor [4]
6. Kết luận
Đối với một số người trong cộng đồng vi mạch,
ngày Fairchild Semiconductor được thành lập (18 tháng 9, 1957) cũng là
ngày sinh nhật của công nghệ vi mạch ở Silicon Valley. Những phát minh
như planar technology, intergrated circuit (đồng thời với Texas
Instruments) và MOS transistors (cùng với Bell Labs) đóng vài tṛ quan
trọng trong công nghệ vi mạch sau này. Có hơn 400 hăng đă bắt nguồn
một cách trực tiếp hay gián tiếp từ những “ founding fathers/Fairchild
Eight”. Để kết
thúc bài viết, chúng tôi xin trích dẫn một vài kiến của những người
liên hệ với Fairchild :
“We
had these brilliant ideas but rather than making the stuff ourselves,
we’d just as soon get it out to someone else . . . so, bit by bit, it
moved out into the Valley and it helped the Valley mature,” Murray Mr
Siegel.
“It
was the most interesting year of my life.We went into an empty
building in October 1957 and by next summer we had developed a product
that scooped the industry.” Jay Last.
“The people we hired for the most part had no experience at all of
semiconductor work, and they came from the canning industry in the
Santa Clara Valley – it was not known as Silicon Valley at that time.”
Bob Skurko
“Although it went through its ups and downs, there was an
extraordinary feeling of camaraderie. People were trying to do great
things at Fairchild.” M. Laws.
“Sept.
18, 1957 was the birth date of Silicon Valley, of the electronics
industry and of the entire digital age." Joel Shurkin
Tài liệu tham khảo
[1]
Yahoo Image
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-5-William-Shockley.htm
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-6-The-Fairchild-Eight.htm
[4] Business Week, Agust 25, 1997.
[5] https://search.yahoo.com/search?ei=utf-8&fr=ytff1-&p=arthur%20rock&type=
[6] https://search.yahoo.com/search?ei=utf-8&fr=ytff1-&p=afred%20coyle&type=
[7] M. Tannenbaum and D. E. Thomas, “Diffused
emitter and base
silicon transistors,” Bell Syst. Tech J.,
vol. 35, no. 1, pp. 1–15,
Jan. 1956.
[8] Gordon E. Moore: The role of Fairchild in
Silicon Technology in the Early Days of “Silicon Valley”, Proceedings
of the IEEE, Vol. 86, no.1, January 1998, p. 53-62.
|