|
|
Phần II : Dinh Dưỡng và Sức khỏe
Hàng
ngày trong cơ thể ta có đến hàng tỉ tế bào bị mất đi, nên cần được
tái tạo bằng sự bổ sung bởi những chất dinh dưỡng có trong thức ăn
từ bên ngoài và từ bên trong do sự tổng hợp của cơ thể.
Trong
thức ăn có chứa những chất cần thiết cho sự sống và qua những quá
trình phức tạp, cơ thể có thể sản xuất những chất hormones, những
chất đề kháng có nhiệm vụ cấu tạo, bảo vệ, duy trì, điều tiết cho
toàn thể tế bào.
Thực
phẩm được chia ra làm ba phần chủ yếu: mỗi phần có vai trò rõ ràng,
chính xác và cần thiết cho sự sống.
1) Yếu tố tổng hợp:
phần chính là chất đạm và vài chất khoáng như calcium,
magnésium, phosphore; potassium và sodium, những chất này giúp cho
sự tăng trưởng, tái tạo tế bào cũng như có vai trò bảo dưỡng cho cơ
thể.
2) Yếu tố năng lượng:
gồm bột đường (glucide), chất béo (lipide), những chất này có
nhiệm vụ giúp cho việc cấu tạo các tế bào, cho sự tiêu hóa và giữ
gìn cho cơ thể lúc nào cũng ở nhiệt độ cố định.
3) Yếu tố điều chỉnh:
nước và vitamine, những chất này có tác dụng một cách hiệu
quả cho các yếu tố tổng hợp và năng lượng.
NĂNG LƯỢNG
Cơ
chế ăn uống liên quan rất nhiều đến dinh dưỡng, để thỏa mãn nhu cầu
dinh dưỡng cho cơ thể, sự ăn uống hàng ngày là một phần quan trọng
của đời sống từ các loại thực phẩm, gia vị đến phương pháp và nghệ
thuật nấu nướng đòi hỏi chúng ta không những lựa chọn giá trị thành
phần của những nguyên liệu dùng cho sự nấu nướng mà còn phải chú
trọng đến chất lượng của mỗi thực phẩm nhất là hiện tại vấn đề ô
nhiễm môi trường càng ngày càng xấu đi, sức khỏe đòi hỏi, không
những phải có cơ chế ăn uống cân bằng mà sự lựa chọn chất lượng của
mỗi thực phẩm cũng là điều rất cần thiết không thể thiếu sót.
Hàng
ngày chúng ta cần hấp thụ một số năng lượng để đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ của cơ thể, tiêu thụ năng lượng được chia làm ba phần chính:
1)
Chuyển hóa cơ bản là năng lượng tiêu thụ cho:
-
Sự thư giãn, nghĩ ngơi
-
Sự vận hành cho hô hấp, cho các cơ quan, cho tế bào
Sự
chuyển hóa nầy chiếm vào khoảng 60-70% của tổng năng lượng cần thiết
cho cơ thể.
2)
Biến hóa thức ăn là năng lượng tiêu thụ cho:
-
Sự tiêu hóa
-
Hấp thụ
-
Tồn trữ
Sự
biến hóa nầy chiếm vào khoảng 10% của tổng năng lượng cần thiết cho
cơ thể.
3)
Tiêu thụ cho những hoạt động thể xác: như di chuyển, những hoạt
động hàng ngày và những hoạt động thể thao. Năng lượng dùng cho
những hoạt động trên chiếm vào khoảng 20-30% của tổng năng lượng.
Chúng
ta có thể tự điều chỉnh số năng lượng này để có được sự cân bằng về
số năng lượng hấp thụ và tiêu thụ.
Số
năng lượng cần thiết mỗi ngày cho cơ thể:
- Phái nam: 20-40 tuổi (nặng trung bình 70 kg): 2700 kcal
- Phái nữ: 20-40 tuổi (nặng trung bình 60 kg) : 2200 kcal
- Phái nam:
41-60 tuổi (nặng trung bình 70 kg): 2500 kcal
- Phái nữ:
41-60 tuổi (nặng trung bình 60 kg : 2000 kcal
Calorie viết tắt là “cal” từ
tiếng Latin “calor” nghĩa là “nhiệt” là một
đơn vị năng lượng cần thiết
để nâng cao nhiệt độ của 1 gr nước từ 14,5°C lên 15,5°C dưới áp xuất
bình thường (1kcal=1000 cal).
Hấp thụ
Thí dụ
nếu chúng ta ăn:
- 1 gr
chất bột đường thì cơ thể ta hấp thụ được 4 kcal
- 1 gr
chất đạm thì cơ thể ta hấp thụ được 4 kcal
- 1 gr
chất béo thì cơ thể ta hấp thụ được 9 kcal
Tiêu thụ
Thí dụ như chúng ta:
- Ngủ
hoặc thư giãn: 1 giờ chúng ta tiêu thụ 60 kcal
- Hoạt
động với tư thế ngồi ( xem tivi, đọc sách, kiểm máy vi tính: 1 giờ
chúng ta tiêu thụ 90 kcal
- Hoạt
động với tư thế đứng ( làm vệ sinh, hoạt động hàng ngày trong nhà):
1 giờ chúng ta tiêu thụ vào khoảng 120 kcal
- Làm
vườn, đi bộ 1 giờ chúng ta tiêu thụ 170 kcal
- Hoạt
động thể thao: 1 giờ chúng ta tiêu thụ hơn 300 kcal
Nếu
chúng ta hấp thụ nhiều năng lượng hơn là tiêu thụ thì số dư thừa sẽ
được tồn trữ trong các mô mỡ, hậu quả là trọng lượng cơ thể sẽ tăng
lên, trái lại nếu năng lượng hấp thụ ít hơn năng lượng tiêu thụ thì
trọng lượng cơ thể sẽ giảm xuống, nhưng nếu sự giảm trọng lượng nầy
kéo dài, cơ thể bắt đầu thiếu những chất dinh dưỡng cần thiết để cho
sự tái tạo các tế bào và hậu quả sẽ nguy hiểm đến tình trạng chung
cho sức khỏe. Vì vậy chúng ta nên tự kiểm soát hàng ngày số năng
lượng được hấp thụ và tiêu thụ để có được sự cân bằng và để có được
sức khỏe tốt.
Để
kiểm soát trọng lượng của cơ thể mỗi ngày, trên thị trường của nhiều
quốc gia có một loại cân ngoài trọng lượng cơ thể, còn cho chúng ta
biết số lượng chất béo tồn trữ trong các mô mỡ và chất béo bên ngoài
các cơ quan, và từ đó chúng ta có thể tự kiểm tra và so sánh kết quả
hàng ngày với số lượng tiêu chuẩn của mỗi người (tùy theo chiều cao,
tuổi và trọng lượng) và tùy theo kết quả ta có thể tự điều chỉnh chế
độ ăn uống hoặc làm những hoạt động thể thao để có được sự cân bằng
cho cơ thể.
Đối với những người lớn tuổi, phương pháp vận
động thể thao rất quan trọng đến kết quả về sự tiêu hao năng lượng
từ đường và chất béo trong cơ thể, có nhiều loại vận động: nhanh,
mạnh, trung bình và yếu:
Vận động thể thao liên quan mật thiết đến sự
vận hành của oxy, phổi và tim đóng vai trò thiết yếu cho sự cung cấp
oxy đến các cơ quan trong cơ thể, phổi cung cấp oxy mới cho tim, tim
có nhiệm vụ đưa oxy này đến các cơ quan và đem các chất thải như CO2
trở về phổi và được đào thải ra ngoài, nếu hoạt động với cường độ
mạnh và nhanh, chúng ta nhất là đối với những người lớn tuổi, cảm
thấy mệt và thở hỗn hển vì không đủ oxy, lúc này phổi tự động đóng
một số mạch máu từ phổi đến tim, nhưng tim lại tiếp tục hoạt động
như thường lệ, nhưng vì số lượng máu trong cơ thể không thay đổi và
không có sự bù đắp oxy, lượng đào thải C02 gia tăng, lượng CO2 trong
máu giảm và vì một số mạch máu ở phổi bị đóng, nên áp xuất trong tim
có thể tăng lên cao, những sự kiện này sẽ gây ra nhiều sự cố không
tốt cho sức khỏe như sự co thắt mạch máu não và cơ tim, đồng thời ức
chế sự di chuyển oxy đến các tế bào và ảnh hưởng rất nhiều đến sự
tiêu hao năng lượng từ chất đường và chất béo lúc
hoạt động thể dục mạnh và nhanh, sư tiêu hao này rất ít vào khoảng
15-20%, ngược lại hoạt động vừa phải và lâu có kết quả tốt hơn, sự
tiêu hao năng lượng có thể lên đến 80-90%.
Những hoạt động thể thao có ảnh hưởng tốt cho
sự đào thải đường và chất béo trong cơ thể:
- Đi bộ
nhanh, chạy chậm
- Bơi
lội chậm
- Đi xe
đạp chậm vân vân
Muốn
có được kết quả tốt, thí dụ như đi bộ nhanh, phải đi liên tục cùng
một tốc độ, thời gian tốt nhất
là 1 giờ, vì
20-30 phút đầu chỉ có những chất đường được chuyển hóa thành năng
lượng và chỉ sau 30
phút kế tiếp,
chất béo mới bắt đầu được tiêu thụ cho năng lượng. Sự hô hấp cũng
quan trọng trong lúc đi bộ, hít đều thật sâu bằng mũi và thở ra đều
bằng miệng. Tóm lại tùy theo sức khỏe của mỗi người,
vận động thế nào để có sự
thích hợp giữa cường độ thể dục với nhịp
đập của tim, có nghĩa là trạng thái chung của cơ thể trước và
sau hoạt động không thay đổi nhiều và không có sự thiếu oxy cho cơ
thể trong lúc vận động.
Gần
đây tháng 4/2011 hiệp hội y khoa Mỹ đưa tin về kết quả của nhiều
chuyên gia thuộc trung tâm y khoa Harvards Brigham Mỹ qua sự nghiên
cứu trên 34079 người phụ nữ trung niên trong 13 năm và kết quả cho
thấy sự khác biệt rất ấn tượng giữa những người không hoạt động,
trọng lượng bị lên đều và những người hoạt động như:
đi bộ nhanh, bơi lội chậm hoặc đạp xe chậm
vân vân vào khoảng 60 phút, trọng lượng của những người này
phần đông không thay đổi và khoảng 13% trong số người được nghiên
cứu trọng lượng giảm đến vài kg.
.
Sau đây là những thức ăn thường ngày với số
lượng calories, chất bột đường, chất đạm và chất béo tương ứng
Thức ăn động vật
|
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Thịt trừu xào |
238 |
1 |
21 |
17 |
|
Thịt bò con (thịt nạt) |
175 |
0 |
19 |
11 |
|
Thịt bò (thịt nạt) |
266 |
0 |
17 |
22 |
|
Thịt ba rọi xông khói
(bacon) |
270 |
0 |
17 |
22 |
|
Thịt gà có da |
216 |
0 |
17 |
16 |
|
Thịt gà không da |
115 |
0 |
22 |
3 |
|
Thịt chim cúc (caille) |
115 |
0,5 |
24 |
1,5 |
|
Thit vịt (rotie) |
196 |
0 |
23,5 |
11 |
|
Thịt ngựa |
142 |
0 |
23,9 |
5 |
|
Thịt sườn cừu con |
242 |
0 |
20 |
18 |
|
Thịt sườn bò |
199 |
0 |
23 |
11,9 |
|
Thịt sườn heo |
319 |
0 |
21,7 |
25,8 |
|
Thịt jambon |
170 |
1,5 |
18,5 |
10 |
|
Thịt jampon (ít mỡ) |
112 |
0,5 |
21 |
2,9 |
|
Thịt bò con (rotie) |
121 |
0 |
23,9 |
2,8 |
|
Thịt heo (rotie) |
202 |
0 |
21,6 |
12,8 |
|
Bánh mì thịt (bơ) |
356 |
36 |
10,3 |
18,8 |
|
Bánh mì kẹp nhân
(sandwich
Mac Donald 210g) |
493 |
39 |
26 |
24 |
|
Saucisse đồ lòng |
235 |
1 |
18 |
18 |
|
Bơ |
747 |
1 |
1 |
83 |
|
Dồi lợn trắng |
330 |
45 |
15 |
10 |
|
Fromage Boursin
(fromage+ tỏi+lá thơm) |
414 |
2 |
24 |
34 |
|
Fromage Camembert |
299 |
1,8 |
17,5 |
24,7 |
|
Crème chantilly |
316 |
3 |
2,3 |
32,7 |
|
Crème tươi |
282 |
4 |
3,5 |
2,8 |
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Fromage Gouda |
347 |
2 |
24 |
26,4 |
|
|
|
|
|
|
|
Fromage dê (chèvre) |
320 |
15 |
20 |
20 |
|
Fromage gruyère |
430 |
0,3 |
30,6 |
33,6 |
|
Dầu olive |
121 |
0 |
0 |
13,5 |
|
Dầu cây cải (colza)
|
122 |
0 |
0 |
13,6 |
|
Đồ lòng |
94 |
1 |
18 |
2 |
|
Saucisse heo khô |
546 |
0 |
24 |
50 |
|
Cật bò con |
133 |
0 |
22 |
4,8 |
|
Pizza (jampon fromage) |
254 |
36 |
9,5 |
8 |
|
Mayonnaise |
99 |
0,37 |
0,15 |
11 |
|
Gan bò con |
138 |
2,4 |
18,5 |
6 |
|
Foie gras (gan ngỗng) |
477 |
5 |
13 |
45 |
|
Cá hồi |
179 |
0 |
20 |
11 |
|
Lương |
230 |
0 |
24 |
15 |
|
Ốc gạo (bigorneau) |
135 |
1 |
26 |
5 |
|
Mực thẻ |
92 |
2,6 |
16,5 |
1,7 |
|
Cá chép |
110 |
0 |
18,5 |
4 |
|
Trứng cá Caviar |
330 |
7,5 |
30 |
20 |
|
Cá hét (Colin) |
91 |
0 |
17 |
2,5 |
|
Cua |
108 |
0,5 |
18,5 |
3,5 |
|
Tôm |
105 |
0,5 |
19 |
3 |
|
Cá tráp (Daurade) |
91 |
0 |
16 |
3 |
|
Ốc sên (escargot) |
75 |
2 |
15 |
0,8 |
|
Hào (huitre) |
73 |
4,5 |
9 |
2 |
|
Ốc vẹm (moule) |
76 |
2,5 |
12 |
2 |
|
Cá mòi (+dầu olive) |
191 |
0 |
22,6 |
10,5 |
|
Cá mòi hộp |
160 |
0 |
22 |
13 |
|
Cá mơn lá mít (sole) |
75 |
0 |
16,5 |
1 |
|
Cá thu (thon) |
122 |
0 |
19,8 |
1 |
|
Cá bơn sao (turbot) |
118 |
0 |
16 |
6 |
|
Trứng gà |
149 |
1 |
12,5 |
10 |
|
Tròng đỏ trứng gà |
358 |
1,8 |
16,8 |
30,9 |
| |
|
|
|
|
|
|
|
Ghi chú:
phần cá này được bổ túc với phần nguyên liệu và ẩm thực Nhật Bản
trong bài viết “Ẩm thực và
Dinh dưỡng”
Thức ăn thực vật
|
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Tỏi |
149 |
33 |
6,4 |
0,5 |
|
Hành lá |
30 |
4,4 |
3,3 |
0,7 |
|
Artichaut chín |
18 |
2 |
3 |
0 |
|
Cà tím chín |
18 |
3 |
1 |
0 |
|
Rau quế |
27 |
4,3 |
2,5 |
0,6 |
|
Salade batavia |
25 |
4 |
2 |
0 |
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Củ cải đỏ
|
42 |
9 |
2 |
0 |
|
Carotte |
40 |
8,5 |
1 |
0 |
|
Cần tây |
21 |
3,5 |
1,3 |
0 |
|
Bắp cải tươi |
27 |
5 |
1,4 |
0 |
|
Bông cải |
30 |
4,5 |
2,4 |
0 |
|
Dưa leo |
12 |
2 |
0,7 |
0 |
|
Bí ngô (citrouille) |
31 |
6 |
1,3 |
0 |
|
Cải Cresson |
21 |
2,9 |
1,7 |
0,3 |
|
Epinard |
27 |
4 |
2,3 |
0 |
|
Củ cải |
21 |
3,9 |
1 |
0 |
|
Củ hành |
43 |
9 |
1,4 |
0 |
|
Hành chuông (poivron) |
22 |
4 |
1 |
0 |
|
Cà chua |
21 |
3,7 |
1 |
0 |
|
Thơm |
48 |
11 |
1 |
0 |
|
Chuối |
89 |
20 |
1 |
1 |
|
Cérise |
68 |
15 |
1 |
0 |
|
Sung khô |
257 |
62 |
4,3 |
1 |
|
Chà là (datte) |
315 |
75 |
2 |
0,6 |
|
Mứt trái cây |
270 |
66 |
1 |
0 |
|
Ổi |
53 |
11 |
0,7 |
0,6 |
|
Xoài |
64 |
15 |
0,4 |
0 |
|
Melon |
37 |
8,4 |
0,8 |
0 |
|
Dừa (noix de coco) |
362 |
10 |
4 |
34 |
|
Cam |
50 |
11 |
1 |
0 |
|
Bưởi |
40 |
9 |
0,6 |
0 |
|
Đu đủ |
44 |
10 |
0,6 |
0 |
|
Táo (pomme) |
58 |
13,5 |
0 |
0,4 |
|
Mận khô (pruneau) |
295 |
70 |
2,3 |
0,6 |
|
Chanh |
31 |
7 |
0,5 |
0 |
|
Dâu tây |
37 |
7,8 |
0,7 |
0,7 |
|
Bột lúa mì |
384 |
85 |
8,9 |
0,5 |
|
Gạo chà trắng (chín) |
132 |
29 |
2,7 |
0 |
|
Gạo lứt (chín) |
109 |
22,5 |
2,5 |
1 |
|
Mì Ý (spagetti ) |
140 |
29 |
5 |
0,5 |
|
Rong biển |
239 |
42 |
12 |
3 |
|
Quả hạnh (Amande) |
575 |
4 |
20 |
54 |
|
Bánh biscuit |
457 |
75 |
5,5 |
15 |
|
Đậu phộng |
576 |
22 |
23 |
44 |
|
Café (1 li) |
4,3 |
0,74 |
0 |
0 |
|
Nấm (champignon) |
28 |
4,5 |
2 |
0,3 |
|
Hạt dẻ (marron) |
362 |
72 |
7,4 |
5 |
|
Chocolat au lait (chocolat sửa) |
550 |
5,5 |
6 |
34 |
|
Gừng |
347 |
70,8 |
9 |
5,9 |
|
Đậu đỏ |
328 |
58 |
22,8 |
1,5 |
|
Đậu trắng |
128 |
23 |
8 |
0,3 |
|
Bắp (hột) |
360 |
74 |
9,4 |
4,3 |
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Moutarde |
105 |
5,3 |
5,9 |
6,7 |
|
Quả phỉ (Noisette) |
566 |
15 |
14 |
50 |
|
Bánh mì |
255 |
55 |
7 |
0,8 |
|
Bánh mì complet |
240 |
50 |
8 |
0,8 |
|
Ớt bột |
314 |
54,7 |
12,3 |
16,8 |
|
Tiêu đen |
255 |
64,8 |
10,9 |
3,3 |
|
Tiêu trắng |
296 |
68,6 |
10,4 |
2 |
|
Khoai lang tây |
65 |
14 |
2 |
0 |
|
Tarte aux pommes |
308 |
45 |
2,6 |
13 |
|
Trà |
1 |
0 |
0 |
0 |
|
Đường trắng |
400 |
100 |
0 |
0 |
|
Đường vàng |
376 |
97,3 |
0 |
0 |
|
Yaourt trái cây |
115 |
19,6 |
3 |
2,7 |
|
Yaourt |
65 |
4,6 |
4 |
3,6 |
|
|
Nước ngọt, rượu
|
|
Thức ăn
(100g) |
Calories
(kcal) |
Bột đường
(g) |
Chất đạm
(g) |
Chất béo
(g) |
|
Bia (100ml) |
38 |
3 |
0 |
0 |
|
Bia hơi |
57 |
11 |
0 |
0 |
|
Champagne |
60 |
8,5 |
0 |
0 |
|
Gin |
255 |
0 |
0 |
0 |
|
Jus táo (de pomme) |
49 |
12 |
0 |
0 |
|
Jus tomate |
20 |
4,4 |
1 |
0 |
|
Rượu vang đỏ |
74 |
1,8 |
0 |
0 |
|
Vodka |
238 |
0 |
0 |
0 |
|
Whisky |
238 |
0,03 |
0 |
0 |
|
|
Trong
sự hấp thụ các loại thức ăn, ngoài sự tự kiểm soát số lượng dinh
dưỡng của những thực phẩm chúng ta còn phải đặc biệt chú ý đến sự an
toàn vệ sinh của mỗi thực phẩm, nên tìm hiểu nguồn gốc, phương pháp
sản xuất, chất lượng và thành phần của mỗi sản phẩm để có thể tránh
được những chứng bệnh liên quan đến dịch tả, ngộ độc và những hóa
chất được thêm vào trong quá trình chế biến của các thực phẩm có ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe.
Về
vấn đề an toàn thực phẩm, năm 1993 các nước phát triển đã đề nghị và
đưa ra những quy định về sự tự kiểm soát những bất trắc nguy hiểm
của các thực phẩm và phải đợi đến năm 1998 chánh phủ các nước mới
quyết định bắt buộc các xí nghiệp, các nhà kinh doanh muốn sản phẩm
của mình được phép bán ra thị trường, họ phải tự kiểm soát theo
phương pháp HACCP ( hazardous
analysis of critical control point) và theo tiêu chuẩn quốc tế soạn
thảo bởi OMS và FAO, phương pháp
nầy là nguồn gốc cơ bản của tất cả sự thảo luận cho sự an toàn thực
phẩm, phương pháp nầy dựa trên sự xác định trong suốt quá trình sản
xuất sản phẩm: những điểm nguy kịch, những giai đoạn có khả năng gây
nguy hiểm cho thức ăn như sự nhiễm trùng trong giai đoạn sản xuất
hoặc trong giai đoạn tồn trữ trong phòng đông lạnh (phải đề xuất thủ
tục kiểm soát như nhiệt độ, độ ẩm, pH và
vi khuẩn vv) vì nếu một trong giai đoạn nầy không tuân theo
tiêu chuẩn, hậu quả sẽ làm toàn sản phẩm bị hư hại, phương pháp nầy
cũng bao gồm các thực phẩm, các món ăn chế biến từ xí nghiệp đến tay
người tiêu dùng (thời gian và chuyên chở v.v….). Trong trường hợp
các xí nghiệp không tự kiểm soát, không tôn trọng kỷ luật trên và để
giá trị của sản phẩm ra ngoài phạm vi an toàn thì xí nghiệp sẽ bị
trừng phạt rất nghiêm khắc và giấy phép kinh doanh có thể bị thu hồi
vĩnh viễn.
Gần
đây rất nhiều xí nghiệp, kinh doanh của các nước phát triển bắt đầu
sản xuất nhiều sản phẩm sinh thái ra thị trường với nhản hiệu
“Bio” ( Pháp) hoặc “organic”
(Anh).
Vì
muốn có lợi nhuận cao, muốn tăng cao số lượng sản phẩm nông nghiệp
trên cùng một diện tích đất sản xuất hoặc giảm thời gian trồng trọt,
hoặc muốn nâng cao trọng lượng sản phẩm trong quá trình chăn nuôi
gia súc nên các xí nghiệp nầy có khuynh hướng dùng rất nhiều loại
thức ăn tổng hợp như bột động vật cho gia súc và phân bón hóa học và
rất nhiều thuốc trừ sâu cho các loại rau cải và cây ăn trái nên các
cơ quan, các bộ, các nhà nghiên cứu có trách nhiệm về an toàn thực
phẩm thường hay khuyến cáo các người tiêu dùng nên cẩn thận khi tiêu
thụ những thực phẩm nầy, và các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng
khuyến khích việc sản xuất sản phẩm “bio”.
Thật
ra sản phẩm “bio” được bắt đầu từ năm 1920 nhưng phải đợi đến năm
1972 nông sản “bio” mới được cộng đồng thế giới biết đến với sự tham
gia tích cực của các hiệp hội bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng,
hiệp hội nầy có tên là IFOAM (Internationnal
Fédération of Organic Agriculture Movements), hiệp hội nầy đưa ra
vài tiêu chuẩn (norme) bắt buộc người kinh doanh muốn các loại sản
phẩm được cho là “bio” phải tôn trọng những điều kiện trong qui
trình chế biến sản xuất. Thí dụ như ở Pháp nếu một sản phẩm sản xuất
theo đúng tiêu chuẩn và được công nhận là sản phẩm sinh thái “bio”
sẽ có quyền được nhãn hiệu “ label AB”
(Agricole Biologique) và các nước khác ở Âu Châu cũng có nhãn
hiệu sinh thái với logo hình chiếc lá màu xanh với nhiều ngôi sao
tượng trưng cho thị trường chung của các nước Âu Châu
THỰC PHẨM “BIO”
Thực vật
Hiện
tại nhiều người trên thế giới bắt đầu chú trọng đến những thực phẩm
“bio”, sản phẩm “bio” là sản phẩm thiên nhiên có được từ thời của tổ
tiên chúng ta, nhưng dần dần những sản phẩm nông nghiệp được công
nghệ hóa và hiện tại các nhà nông thường hay dùng những hóa chất
tổng hợp như phân bón thuốc trừ sâu vân vân. Để có được sản phẩm
“bio” trước tiên đất trồng trọt phải đươc xử lí một cách tự nhiên,
người sản xuất bắt buộc phải tôn trọng những quy định như:
- Dùng phân bón hữu cơ thay cho phân bón hóa học, chẳng hạn như phân
thú vật, phân từ lá cây, phân ủ, nước phân chuồng vân vân.
- Dùng
phương pháp trồng nhiều loại cây khác nhau, thay đổi theo mùa, nếu
không đất sẽ bị cằn cỗi
- Dùng kỹ thuật phân bón xanh tức là phải trồng cây xanh rồi phá
hủy cây và làm phân hủy cây, lá dưới đất, phương pháp nầy được áp
dụng để nâng cao chức năng lý, hóa và sinh học của đất.
- Trong
quá trình thay đổi các loại thực vật khác nhau nhà nông cần nên
trồng các loại đậu vì loại cây nầy lấy azote từ không khí tự nuôi
dưỡng và làm giàu lượng azote cho đất, ngoài ra nhà nông còn nên
trồng các loại cỏ linh lăng và cỏ ba lá để cũng cố mục đích tăng
thêm azote cho đất.
- Lúc cày
bừa đất không nên cày quá sâu vì có thể làm lỏng chất hữu cơ trên
mặt đất.
Một thức ăn thực vật “bio” là thức ăn có nguồn gốc:
-
Không dùng phân bón hóa học
-
Không dùng thuốc trừ sâu tổng hợp
-
Không dùng thuốc diệt cỏ
-
Không có nguồn gốc từ OGM (organismes
génétiquement modifiés)
Nếu
đất trồng cây trước đó đã xử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ
sâu và muốn chuyển đổi qua trồng cây “bio” thì phải đợi ít nhất là 3
năm để các chất có nguồn gốc hóa học tổng hợp được hoàn toàn tiêu
hủy.
Độngvật
- Thú
vật phải được nuôi bằng thức ăn “bio” ít nhất là 90%, có nghĩa là
không được nuôi bằng thức ăn bột động vật.
- Thú
vật phải được nuôi thả ngoài trời và phải thích hợp với môi trường
của mỗi động vật.
-
Trong chuồng tùy theo diện tích không được chứa quá nhiều thú vật.
Diện tích, số lượng
sản phẩm “bio”
Năm
2006 diện tích đất dùng cho các sản phẩm bio toàn thế giới là
34418000 mẩu, sau đây là 10 quốc gia có diện tích đất trồng cho sản
phẩm bio quan trọng nhất:
1) Thế giới
|
|
Quốc gia |
Diện tích“bio”
(mẩu) |
|
Australie |
12294000 |
|
Chine |
2300000 |
|
Argentine |
2220489 |
|
USA |
1620351 |
|
Italie |
1148162 |
|
Uraguay |
930965 |
|
Espagne |
926390 |
|
Brésil |
880000 |
|
Allemagne |
825539 |
|
Angleterre |
604571 |
|
|
Úc
là quốc gia có diện tích trồng lớn nhất thế giới (39%) nhưng số nhà
kinh doanh về sản phẩm nầy lại rất thấp (0,4%).
Trung
Quốc là nước sản xuất sản phẩm “bio” thứ hai sau Úc và trước
Argentine.
Diện
tích trồng trọt của Tàu cho sản phẩm “bio” vào khoảng 9% của diện
tích toàn thế giới và 52% diện tích toàn Châu Á.
Về phương diện cơ sở kinh doanh sản phẩm nông nghiệp
“bio” ba nước đứng đầu về diện tích trồng sản phẩm “bio” như Úc,Tàu
và Argentine nhưng số cơ sở kinh doanh còn rất thấp so với các nước
ở Châu Âu:
|
|
Quốc gia |
Cơ sở kinh doanh |
|
Úc |
1832 |
|
Tàu |
1560 |
|
Argentine |
1824 |
|
Pháp |
11402 |
|
Ý |
36639 |
|
|
Về
phương diện diện tích trồng trên diện tích toàn thể của mỗi nước thì
ba nước như Liechtenstein, Ấo và Thụy Sỉ đứng đầu thế giới sau đây
vài thí dụ về diện tích trồng sản phẩm “bio”/ diện tích của mỗi nước:
|
|
Quốc gia |
Diện tích trồng/
diện tích toàn nước
% |
|
Liechtenstein |
26,4 |
|
Áo |
13,5 |
|
Thụy Sĩ |
11,3 |
|
Pháp |
2,03 |
|
Úc |
2,71 |
|
Tàu |
0.61 |
|
Argentine |
1.58 |
|
|
2) Âu Châu
|
|
Quốc gia |
Diện tích trồng“bio”
(mẩu) |
|
Italie |
1148162 |
|
Espagne |
926390 |
|
Allemagne |
825539 |
|
Angleterre |
604571 |
|
France |
534000 |
|
Autriche |
345000 |
|
République Chèque |
260000 |
|
Grecque |
249300 |
|
Suède |
206600 |
|
Portugal |
206300 |
|
|
Đức
chiếm một phần quan trọng nhất trên thị trường Âu Châu về sản lượng
“Bio”, năm 2006 số tiền tiêu dùng cho sản phẩm nầy lên đến 14,3 tỉ
euros, đứng đầu là Đức: 4,6 tỉ kế tiếp là Anh: 2,8 tỉ euros thứ ba
là Ý: 1,9 tỉ euros và thứ tư là Pháp: 1,7 tỉ euros. Nhưng nếu đề cập
đến số tiền tiêu thụ sản phẩm “bio” thì Thụy Sĩ đứng đầu với số tiền:
102 euros/người, kế đến là Đan Mạch: 64 euros/người, Áo: 64 euros/người,
Đức: 56 euros/người và người Bỉ ít tiêu thụ nhất chỉ với 23 euros/người.
Năm
2008 thị trường chung Châu Âu đưa ra một khẩu hiệu
“Bio tốt cho sức khỏe và môi trường”,
sự vận động tích cực nầy nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng
những lợi ích của những sản phẩm “bio”; đồng thời EU còn đưa lên
mạng với những thông tin về sự an toàn thức ăn và những sản phẩm
“bio” bằng 22 ngôn ngữ khác nhau để khuyến khích sự sản xuất nông
phẩm “bio”.
Ngoài
ra ngày 01/07/2010 nhãn hiệu thương mại EU bắt đầu có hiệu lực cho
toàn thể thị trường Châu Âu.
3) Á Châu
|
|
Quốc gia |
Diện tích“bio”
(mẩu) |
|
Chine |
2300000 |
|
Inde |
528431 |
|
Indonesia |
41431 |
|
Syrie |
30493 |
|
Pakistan |
25081 |
|
Vietnam |
21867 |
|
Thailand |
21761 |
|
Azerbajan |
20779 |
|
Sri Lanka |
17808 |
|
Arabia Saudite |
13730 |
|
|
Trung
quốc là một trong những quốc gia đứng đầu về số lượng “bio” nhưng
trong quá khứ và ngay cả hiện tại nhiều người tiêu dùng trong nước
và thế giới vẫn còn dè dặt về vấn đề an toàn thực phẩm của nước nầy
nên số lượng tiêu dùng thực phẩm “bio” trong nước vẫn còn rất thấp
và chính phủ Tàu đang cố gắng thiết lập nhiều tiêu chuẩn quốc gia
cho những sản phẩm nầy để tạo niềm tin trong nước và cho thị trường
quốc tế.
Năm
2007 ONU/FAO (food agriculture
Organisation of the United Nations) khuyến khích thế giới nên
đầu tư nhiều vào lĩnh vực nông nghiệp “bio” và kết luận rằng:
-
Nông nghiệp “bio” có thể tham gia cho sự an toàn thực phẩm
-
Làm giảm bớt sự thay đổi khí hậu nhờ sự tăng trưởng hấp thụ carbon
của đất
-
Tăng cường sự an toàn cho sự tiêu dùng nước
-
Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự thay đổi mạnh về thực phẩm “bio”
Nói
tóm lại vì các nước phát triển và đang phát triển, vì sự cạnh tranh
quyết liệt về thương mại nên phần đông nhiều nước chỉ chú trọng đến
sự sản xuất với lợi nhuận cao, hơn nửa trong quá trình sản xuất, các
xí nghiệp nầy thường hay bỏ qua những hậu quả của sự làm ô nhiễm cho
môi trường có thể ảnh hưởng đến sự an toàn thực phẩm gây ra hậu quả
nghiêm trọng cho sức khỏe.
CHẤT ĐẠM
Chất
đạm (protide) là phần quan trọng nhất trong dinh dưỡng, có trong các
thức ăn hàng ngày như thịt, cá, sửa và các loại thức ăn chế biến từ
sửa, trứng và các loại thức ăn thực vật như ngũ cốc.
Chất
đạm sau quá trình thủy hóa (hydrolyse) trong hệ tiêu hóa, chất đạm
bị tách ra từ đơn vị, mỗi đơn vị là một acide aminé, thẩm
thấu vào màng ruột và được đưa vào bộ tuần hoàn máu, tùy theo nhu
cầu của mỗi cơ quan trong cơ thể, các acides aminés này có thể được
phối hợp với các acides aminés khác để đáp ứng nhu cầu cho cơ thể.
Chất
đạm là biểu tượng cho sự sống, nhiệm vụ của chất đạm là cấu tạo, bảo
trì, phục hồi những tế bào trong cơ thể, chất đạm tham gia trong
nhiều quá trình khác nhau, vận chuyển oxy cho sự hô hấp, tham gia
trong hệ miễn dịch, cấu thành những chất kháng sinh, thiết lập
nucléoprotéines (hóa hợp giữa phân tử chất đạm và acide nucléique :
acide nucléique là một macromolécule cần thiết cho sự hình thành
chất đạm), liên quan đến gien ADN (acide
desoxyribonucléique) và ARN
(acide ribonucléique).
Chất
đạm là một phân tử macro sinh học gồm có một hoặc nhiều dây chuyền
acides aminés dính liền với nhau bằng những kết nối (liaison)
peptidiques, acide aminé là đơn vị cấu trúc cơ bản của chất đạm.
Thông thường chất đạm chứa hơn 100 chất acides aminés.
Nếu
một chất chứa 2 chất acides aminés được gọi là dipeptides, nếu chứa
3 acides aminés được gọi là tripeptides v. v. .., oligopeptide là
chất chứa từ 2-20 acides aminés nếu chứa hơn 50 acides aminés thì
được gọi là polypeptides.
Có
hai nhóm chất đạm: chất đạm thiết yếu và chất đạm không thiết yếu,
hai loại chất đạm này gồm có vào khoảng 20 chất acides aminés, có 8
chất thiết yếu và 12 chất không thiết yếu, trong 12 chất này có hai
chất được gọi là bán thiết yếu. Danh từ thiết yếu có nghĩa là cơ thể
chúng ta không thể tự tạo được mà phải được hấp thụ từ thức ăn bên
ngoài, ngược lại không thiết yếu có nghĩa là cơ thể chúng ta có thể
tự tạo được, vì vậy những người ăn chay trường cần phải hấp thụ một
lượng lớn các loại rau cải, ngũ cốc để có được sự cân bằng về chất
đạm.
|
|
Acides aminés
Thiết yếu |
Acides aminés
Không thiết yếu |
Acides aminés
bán thiết yếu |
|
Isoleucine |
Alanine |
Arginine |
|
leucine |
Aspartique |
Histidine |
|
Lysine |
Cystéine |
|
|
Méthionine |
Glutamine |
|
|
Phénylalanine |
Glutamique |
|
|
Thréonine |
Glycine |
|
|
Tryptophane |
Ornithine |
|
|
Valine |
Proline |
|
|
|
Sérine |
|
|
|
Tyrosine |
|
|
|
Thiết
yếu, không thiết yếu hoặc bán thiết yếu, tất cả các amino acides đều
quan trọng cho sự tồn tại của hầu hết tất cả các cơ quan trong cơ
thể. Dưới đây là những tính chất đặc thù của 20 acides aminés.
ASPARTIQUE
Acide
aspartique là một acide aminé không thiết yếu có hai nhóm acide COOH
là một acide mạnh nên có thể được tổng hợp dễ dàng với một chất
acide aminé khác hoặc với một chất hóa học hữu cơnào đó để trở thành
một chất muối và có thể dùng như một phụ chất (supplément) để bổ
sung cho sự thiếu hụt, pHi=2,77 (pH: potentiel hydrogene: nếu pH nhỏ
hơn 7 là acide, lớn hơn 7 là basique và bằng 7 là trung tính).
Thí
dụ như chất aspartique có thể phản ứng với một acide aminé khác như
phénylalanine (pHi= 5,84) để cho một chất được gọi là
aspartame, một chất đường
tổng hợp với độ ngọt lớn hơn 200 lần độ ngọt của đường đơn có
nguồn gốc từ mía, củ cải ngọt vân vân mà chúng ta dùng hàng ngày,
nên trong công nghệ thực phẩm chế biến người ta hay dùng chất này để
thay thế đường đơn, chất aspartame này không cho một chút năng
lượng nào cho cơ thể.
Chất
aspartame được cho phép xử dụng từ năm 1974, nhưng lúc đó nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng có hại cho sức khỏe, sau đó phải đợi đến năm
1983 Mỹ mới cho phép dùng trong cả thức ăn và uống. Còn Pháp phải
đợi đến năm 1988 mới được công nhận xử dụng với số code là E951 và
đến năm 2002 toàn thể thị trường Âu-Châu mới xác nhận là chất
aspartame không có hại cho sức khỏe.
Khi
mua các thức ăn chế biến nên cẩn thận đọc kỹ thành phần của mỗi món
đồ ăn, không nên dùng quá độ vì aspartame là một chất hóa học, lượng
aspartame dùng hàng ngày và có thể chấp nhận được, gọi là DJA
(dose journalière acceptable) do FAO (tổ chức thực phẩm và nông sản)
và do OMS (tổ chức thế giới về sức khỏe) được đề xuất là 40 mg/kg
(trọng lượng của mỗi người)/ngày. Ở Âu-Châu sự tiêu thụ thực
tế của hầu hết của người dân là vào khoảng 2,8-7,5 mg/kg/ngày
còn những người bị tiểu đường thì số lượng cao hơn vào khoảng
7,8-10,1 mg/kg/ngày và theo báo cáo của hội đồng Âu-Châu thì số
lượng aspartame được tiêu thụ cao nhất cho những người trưởng
thành là 21,3 mg/kg/ngày. Chính phủ Canada cho rằng
chất này không nguy hại cho những người bị tiểu đường.
Thí
dụ thứ hai là chất aspartique có thể phản ứng với chất acide aminé
khác là arginine một chất base mạnh nhất để cho một chất muối được
gọi là aspartate-arginine,
chất này thường được dùng cho những người vừa khỏi bệnh, giúp người
bệnh được phục hồi nhanh chóng, giúp cho tinh thần được sáng suốt,
kích thích cho sự ăn uống.
Ngoài
ra chất Aspartique còn có nhiệm vụ:
-
Làm giảm mệt nhất là cho sự mệt mãn (fatigue chronique).
-
Làm tăng sức mạnh về lực.
-
Tẩy độc các cơ quan.
- Làm giảm đau co thắt cơ bắp.
- Là tiền chất (précurseur) của chất
asparagine cũng là một
acide aminé không thiết yếu có độ pHi=5,41, chất aspartique khi được
tổng hợp từ asparagine phát sinh năng lượng và được dùng trong quá
trình chuyển hóa của hệ thần kinh trung ương. Asparagine cần thiết
cho hệ thần kinh, xúc tiến cho sự thư giãn, giảm tâm trạng u buồn,
làm cho hứng khởi, giảm sự lo âu.
Chất azote, chất dẫn xuất từ
aspartique có vai trò trong sự cấu tạo của ribonucléotides, một tiền
chất của ADN.
GLUTAMIQUE
Acide
glutamique là một acide aminé không thiết yếu cũng có hai nhóm COOH
là một acide mạnh có thể phối hơp với một chất base nào đó để trở
thành một chất muối để có thể hấp thụ dễ dàng, pHi=3,22.
Vai trò của acide glutamique
gồm có hai phần chính:
1) Cho
sự ăn uống
Thí
dụ như nếu acide glutamique phối hợp với một chất base mạnh như
soude (NaOH) sẽ cho ra chất
mono-glutamate de sodium (chỉ có một nhóm COOH của acide
glutamique phản ứng với Na của soude nên được gọi là mono)
chất dinh dưỡng này được các nước Á Châu tiêu dùng rất nhiều trong
sự nấu nướng, chất dinh dưỡng này do một xí nghiệp Nhật Bản
Ajinomoto (tên của chất muối này cũng được gọi là Ajinomoto), tiếng
Việt gọi là bột ngọt. Chất này giúp cho gia vị của thức ăn được ngon
và đậm đà hơn.
Ghi chú: xí nghiệp
Ajinomoto này lớn nhất thế giới về sản xuất các loại dinh dưỡng cho
người và thú vật trong đó có hầu hết tất cả chất acides aminés.
Bột
ngọt thêm vào những thức ăn được phép tiêu thụ ở thị trường Âu-Châu
có số code là E620, bột ngọt được mệnh danh là « triệu chứng của
nhà hàng Tàu » phần đông các nhà hàng Á-Châu thường hay dùng bột
ngọt thêm vào các thức ăn, vì sau khi ăn những món ăn có nhiều bột
ngọt ta có cảm giác bị nhứt mỏi ở hai bên vai đó là do ảnh hưởng của
acide glutamique vào hệ thần kinh.
2) Ảnh
hưởng đến hệ thần kinh
GABA
(acide gamma amino butyrique)
là một chất được tổng hợp từ acide glutamique, là một
neurotransmetteur có rất nhiều trong não, liên quan đến trí nhớ,
GABA tạo ra môi trường thuận lợi cho sự bình tỉnh, thoải mái, an
thần ngược lại nếu thiếu sẻ sinh ra khó ngủ, bồn chồn, lo âu.
Ảnh
hưởng của amino acides vào hệ thần kinh rất phức tạp, vì trong não
có hàng trăm tỉ tế bào (neuron) và mỗi tế bào não có thể đóng vai
trò «đưa tin» (neuro transmetteur) và «nhận tin» (neuro
récepteur) sự truyền tin từ tế bào nầy sang một tế bào khác
xuyên qua một vùng tiếp xúc rất nhỏ (vài nano m được gọi là
synapse) bởi một quá trình sinh học trong đó các acides aminés
như glutamique đóng vai trò quan trọng với sự hỗ trợ của calcium,
những tín hiệu này có thể được biểu hiện bằng những cảm giác như sự
nóng giận, buồn nản, bồi hồi, rung động vân vân, vì vậy nếu quá
trình này không được vận hành hoàn hảo thì hệ thần kinh của ta sẽ bị
rối loạn và làm cho ta mất tự chủ, không kiềm chế được những động
tác, như sự co rút cơ bắp.
Acide
glutamique giúp cho sự cân bằng tâm thần, cho sự tăng trưởng cơ thể,
chống nghiện rượu, giúp cho trí óc được minh mẩn, ký ức tốt, chống
lại sự mệt mỏi trí tuệ, giúp cho sự đốt cháy chất béo dễ dàng hơn,
giúp cho sự cân bằng acid-base trong bao tử.
CYSTÉINE
Cystéine
là một chất acide aminé không thiết yếu có độ pHi=5,07, cystéine rất
quan trọng cho việc sản xuất
hormones, là một tiền chất của cystine và taurine
(acide
2-aminoéthanesulfonique là một dẫn xuất của amino acide soufré),
cystéine tham gia vào sự tổng hợp những acide béo bởi sự thiêu đốt
chất mỡ.
Cystéine
có những đặc tính chống oxy hóa và tẩy độc, nó kích thích hệ miễn
dịch và phục hồi ADN, nó
rất cần thiết cho sự hình thành của da và móng tay chân, nó giúp cho
mau bình phục những vết thương và da bị bỏng, cystéine còn đề phòng
được sự rụng tóc.
Cystéine
là một chất tẩy độc rất hiệu quả (hầu hết tất cả các loại kim loại
độc), cystéine phản ứng trên những chất chống oxy hóa và hệ miễn
dịch, nó giúp đỡ đề phòng cho sự mất đàn hồi của động mạch
(athérosclérose) và chứng viêm khớp (arthrite) nhờ sự cung cấp chất
lưu huỳnh (soufre), cystéine cũng làm nâng cao sự đồng hóa
(assimilation) chất kẽm.
Nếu
thiếu cystéine sẽ gây ra những hậu quả như:
-
Chậm trễ tăng trưởng, tánh tình lãnh đạm, hững hờ
-
Ảnh hưởng xấu đến màu tóc, da bị mụn nhọt
-
Làm hư hại gan
- Cơ
bắp trở nên mềm
THRÉONINE
Là
một acide aminé thiết yếu, vì cơ thể của chúng ta không thể tự tạo
được, có độ pHi=5,6, thréonine tập trung nhiều trong tim, cơ bắp và
hệ thần kinh trung ương, giúp cho cơ thể được
thư giãn và giúp cho sự điều
hòa và làm giảm hiệu ứng của caféine, cải tiến sức khỏe cho bệnh
lảng trí (alzheimer), cao
huyết áp, cải tiến sự vận hành tim, hệ thần kinh trung ương, cơ bắp,
bộ tiêu hóa, hệ miễn dịch, làm giảm mỡ trong gan, cải tiến sự hấp
thụ thức ăn, bảo đảm sự tăng trưởng của xương, men răng
.
SÉRINE
Là
một acide aminé không thiết yếu, có độ pHi=5,68.
Cơ
thể có thể dùng sérine cho sự cấu tạo màng tế bào, tổng hợp các tế
bào cơ bắp, thần kinh, créatine, cho sự hình thành ARN, ADN, giúp
cho sự sản xuất chất đề kháng, cho hệ miễn dịch trong máu và trong
chất lỏng của toàn cơ thể (immunoglobulines),
Sérine cũng quan trọng cho sự sản xuất năng lượng của tế bào để giúp
cho trí nhớ và cho sự vận hành thần kinh, giúp cho sự đào thải chất
béo, tăng trưởng cơ bắp, thêm lực cho cơ thể.
GLUTAMINE
Là
một acide aminé không thiết yếu, hình thành bởi sự thay thế nhóm
hydroxyle của acide glutamique bằng nhóm amine, pHi=5,65. Nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng glutamine đóng vai trò quan trọng trong việc tu
bổ, duy trì màng ruột, giúp làm tăng
chất flore trong ruột (khi bị tiêu chảy cơ thể
bị mất rất nhiều chất flore và cần phải được bù đắp),
giúp cho người bệnh mau chóng hồi phục sau khi mổ, glutamine giúp
cho cơ bắp không bị co rút, giúp cho việc đào tạo tế bào cơ bắp bị
hư hại, glutamine còn là một yếu tố quan trọng cho sự chuyển hóa
azote.
TYROSINE
Tyrosine
là một acide aminé aromatique không thiết yếu có độ pHi=5,7,
tyrosine tham gia vào sự tổng hợp catécholamines là những hợp chất
hửu cơ, đóng vai trò như những hormones và những neurotransmetteurs
trong hệ não.
Tyrosine
là một tiền chất của dopa (có tên là
3,4-dihydroxyphénylalanine, một chất trung gian trong sự tổng hợp
của catécholamine) và dopamine
yếu tố của sự ghi nhớ
(mémorisation), là tiền chất của catécholamines như adréaline và
noradrénaline, là những hormones của sự thức tĩnh (éveil) và không
ham muốn ăn uống (effet coupe faim), tyrosine cũng là tiền chất của
những hormones thyroidiennes như thyroxine và thyronine có nghĩa là
tyrosine được dùng bởi tuyến giáp
(glande thyroide) để cơ thể sản xuất một hormone quan trọng là
thyroxine chất này quản lý rất nhiều chức năng trong sự chuyển hóa
và tăng trưởng.
Tyrosine
cũng có hiệu quả cho sự kích thích trên hệ não trung ương, stress và
sự làm việc quá độ về tinh thần có thể kéo theo sự giảm số lượng
tyrosine trong não và hậu quả là làm giảm khả năng chú ý và tập
trung.
N-acétyl-L-tyrosine
một chất ổn định của tyrosine cũng có hiệu quả đặc biệt cho sự trầm
uất.
Sau
đây là những tính chất đặc biệt của tyrosine :
- Giúp cho
cơ thể có được cảm giác thoải mái
- Làm tăng
cao sự nhanh nhẹn và linh hoạt của trí tuệ
- Đề phòng
sự trầm uất
- Kích thích
tuyến tiền tụy
- Giúp cho
sắc tố của tóc và da
- Làm dễ
dàng cho sự tăng trưởng của những mô và sự chuyển hóa của mỡ
- Giúp sự
tẩy trùng cho miệng và học lợi (gencive)
-
Kích thích tuyến giáp (glande thyroide) để có thể làm giảm cân cho
những người béo phì, nâng cao khả năng chịu đựng (résistance) cho
những người bi stress
Ngoài
ra tyrosine cũng làm giảm những triệu chứng mệt mãn, làm cho gầy hơn
bằng cách tăng cao sự chuyển hóa cơ sở (métabolisme basal) và có thể
tham gia vào sự cai sửa (sevrage) của những người bị nghiện thuốc
phiện
ALANINE
Alanine
là một acide aminé không thiết yếu cơ thể có thể tổng hợp được từ
gan, pHi= 6,11.
Alanine
cần cho sự chuyển hóa của glucose, tryptophane và béta-alanine (một
thành phần cấu tạo của vitamine B5 (acide pantothénique).
Theo nghiên cứu của Imperial college London
alanine có thể làm giảm lượng
cholestérol trong máu.
Alanine làm giảm độ acide hữu cơtrong
cơ thể, tăng cường sức mạnh cho hệ miễn dịch, làm cho cơ bắp được
cứng chắc, làm tăng lực cho hệ thần kinh trung tâm, cung cấp năng
lượng cho hầu hết các cơ quan.
VALINE-ISOLEUCINE-LEUCINE
Ba
acides aminés này có những tính chất tương đối giống nhau và thường
được dùng chung cho những người cần bổ sung chất đạm để
mau chóng hồi phục sức khỏe.
Là 3 acides aminés thiết yếu chia nhánh (ramifié) tiếng Anh là
branched chain amino acides nên được gọi tắt là BCAA, có độ
pHi rất gần nhau (pHi val=5,96, pHi leu=5,98, pHi ileu=6,02. Hàng
ngày cơ thể của chúng ta cần được hấp thụ 3 chất nầy để tránh sự rối
loạn về tinh thần cũng như về thể xác, nó kích thích việc tổng hợp
các chất đạm, giúp cho sự duy trì và phục hồi những cơ bắp bị tổn
hại vì làm thể dục quá độ (cơ bắp được cấu thành khoảng 30-35% chất
đạm nếu thiếu cơ thể bị giảm sự tăng trưởng cho cơ bắp).
Giúp
cho tinh thần được sáng sủa, tránh cảm xúc quá khích, bình thường
hóa lượng nitơ trong cơ bắp, giảm độ đường trong máu, tăng cường sự
bền bỉ sức lực, hồi phục nhanh cho xương, gan, làm tăng sự chuyển
hóa cơ bắp.
PROLINE
Là một acide aminé thiết yếu có độ
pHi= 6,3, proline dùng trong sự tổng hợp chất đạm như acide
glutamique, hydroxyproline (cấu trúc cơ bản của collagène), cũng là
một précurseur của collagène với sự hiện diện của vitamine C,
collagène có nhiều trong các mạch máu, gan, sụn, đặc biệt là trong
cơ tim, collagène còn giúp cho sự
đàn hồi giữa các đốt xương sống, proline quan trọng cho
sự hồi phục của da (da nhăn hoặc bị ảnh hưởng lâu dài dưới ánh sáng
mặt trời), làm chậm lại qui trình
lão hóa.
HYDROXYPROLINE
Là một acide aminé không thiết yếu cơ
thể có thể tổng hợp được, có nhiều trong collagène, pHi=5,82 và cũng
có thể hình thành bởi oxy hóa của acide proline, collagène là một
chất đạm có nhiều trong thức ăn động vật đặc biệt trong xương, da và
trong cá da trơn. OHproline là một acide aminé quan trọng cho sự
cấu tạo,
bảo trì và bảo
vệ da và tế bào xương, thông thường chất
hydroxyproline trong cơ thể của người trưởng thành bị đào thải qua
đường tiểu vào khoảng 10-40 mg/ngày, nếu số lượng nầy tăng
cao thì hoạt tính của tế bào phá hủy xương bắt đầu
(ostéolyse) chúng ta nên đề phòng đến chế độ ăn uống để có được
sự cân bằng về sự hấp thụ chất đạm này.
Trong công
nghệ mỹ phẩm chất OHproline thường được thêm vào vì có tác dụng
chống lại các vết nhăn, làm cho da mặt được tốt đẹp hơn.
TRYPTOPHANE
Tryptophane
là một acide aminé thiết yếu, có độ pHi=5,88, là một tiền chất của
sérotonine, tryptophane có hiệu quả
chống lại sự trầm uất (dépressif) và mất ngủ,
giúp cho tinh thần được thư giãn, có thể dùng như một loại thuốc an
thần, giúp lấy lại sự vui tươi, tham gia vào sự điều chỉnh cho chức
năng về ăn uống.
Sérotonine còn được gọi là 5-hydroxy-tryptophane (5-HT) là một
neurotransmetteur được tổng hợp bởi tế bào não từ tryptophane, chất
này đóng vai trò neurotransmetteur trong hệ não và cho hệ tiêu hóa,
trong sự điều chỉnh thân nhiệt, cho chế độ ăn uống, cho hoạt động
tình dục, cho sự đau đớn, buồn phiền. Là một chất truyền luồng thần
kinh giữa những tế bào não và giữa một tế bào não với một tế bào cơ.
Lượng
tryptophane trong máu tùy theo lượng tryptophane trong thức ăn của
mỗi cá nhân, nếu thiếu lượng tryptophane trong thức ăn có nghĩa là
có sự giảm lượng sérotonine trong não, nếu thiếu sérotonine sẽ gây
ra những biến chứng như biểu hiện bằng những thái độ xung động, hung
hăng, khiêu khích.
PHÉNYLALANINE
Là
một acide aminé thiết yếu có độ pHi=5,84 quan trọng cho sự cấu tạo
các tế bào, hormones và xương, trong cơ thể phénylalanine có thể
được tổng hợp và biến thành tyrosine, cũng như tyrosine,
phénylalanine được dùng bởi tế bào não để sản xuất những truyền tin
hóa học của não mà người ta gọi là
neurotransmetteurs có ba tin hóa học là dopamine,
noradrénaline và adrénaline, ba chất này liên quan đến sự cảnh
giác, thức tỉnh, hăng hái, và giúp giảm cân cho những người béo phì,
phénylalanine cũng liên quan đến sự tiết chất cholécystokinine,
một chất đem đến cho não những tín hiệu của sự chán ngấy. Một
nhóm nghiên cứu của trường đại học Cornell (New-york) cho rằng
phénylalanine làm giảm sự thèm ăn có thể hơn 20%. Ngoài ra
phénylalanine còn giúp cho trí nhớ được sáng suốt, chống lại sự ưu
tư, trầm uất và suy sụp tinh thần, làm giảm và có thể
triệt tiêu bệnh Parkingson,
viêm khớp, nhức mỏi, tâm thần phân tập (schizophrénie) làm
giảm triệu chứng bần thần về thể xác và tinh thần cho phái nữ 6-7
ngày trước khi có kinh.
Phénylalanine
có thể dùng trực tiếp trong thức ăn dưới dạng aspartame (xem phần
acide aspartique có độ ngọt gấp 200 lần đường saccharose), là chất
thêm gia vô hại và cần thiết cho cơ thể, nhưng chất này cũng là một
chất hóa học nếu dùng quá độ sẽ không tốt và có thể nguy hiểm,
vì sau khi chất aspartame được hấp thụ chất này bị phân hóa trong
ruột và biến thành phénylalanine và méthanol, sau đó thành
formaldehyde và cuối cùng trở thành acide formique
một hợp chất có hại cho tế bào não (neurotoxique).
GLYCINE
Glycine
là một acide aminé không cần thiết pHi=5,97 và là chất đơn giản nhất
trong tất cả các acides aminé, còn được gọi là glycocolle, là tiền
chất (précurseur) của chất porphirine, créatine và
glutathion, glutathion là một tripeptide hình thành bởi 3
acides aminés khác là glutamique, cystéine và glycine, một trong
những chất được nghiên cứu nhiều nhất cho sự
chống lão hóa và làm giảm lượng gốc tự
do (radicaux libres), một chất giải độc hiệu nghiệm cho
các tế bào trong cơ thể, glutathion còn bảo vệ, che chở chống lại
những chất độc như rượu, chất độc xâm nhập bởi môi trường bị ô
nhiễm, cũng có thể tái tạo vitamine C,
glycine làm tăng độ hormone tăng trưởng
trong huyết thanh, ảnh hưởng tốt cho cơ bắp bằng cách
giúp đỡ làm giảm mô mỡ của cơ bắp.
Các
nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng nếu cho 30gr glycine vào bao tử của
người vừa mới bị mổ thì lượng hormone tăng trưởng của bệnh nhân sẽ
tăng lên gấp 10 lần.
HISTIDINE
Histidine
là một acide aminé thiết yếu cho người ít tuổi vì lúc còn bé cơ thể
không tổng hợp được nhưng lúc lớn lên vào khoảng 6-7 tuổi thì cơ thể
có thể tổng hợp được nên trở thành amino acide không thiết yếu, có
độ pHi=7,59, nên histidine còn đươc gọi là một amino acide bán
thiết yếu, Histidine là một tiền chất (précurseur) của
histamine một amino acide dùng để
triệt tiêu những bệnh dị ứng.
Tạo
điều kiện dễ dàng cho sự vận hành các cơ quan dính liếu tới sự liên
hệ tình dục, làm tăng dung lượng hồng huyết cầu và bạch huyết cầu
trong máu, giúp cho sự tiêu hóa chất đạm, làm giảm đau cho những
người bị nhiều acid trong bao tử, giúp cho mau hồi phục những người
bị loét bao tử nhờ vào đặc tính kiềm của chất này.
LYSINE
Lysine
là một acide aminé thiết yếu, có độ pHi= 9,74 là một chất base mạnh
nhờ hai nhóm NH2, lysine cũng như arginine, glutamine và ornithine
có nhiệm vụ kích thích sự tiết
hormone tăng trưởng quan trọng cho sự cấu tạo tế bào cơ
bắp và giúp đào thải mỡ dự trữ, làm giảm khối lượng mỡ và tăng khối
lượng gầy, nhưng nếu kết hợp hai chất lysine với arginine thì kết
quả sẽ tốt hơn,.trong trường hợp bị stress nặng thì lượng lysine sẽ
bị thiêu hủy và có thể gây ra sự yếu kém cho hệ miễn dịch, tình
trạng thiếu máu và chậm tăng trưởng ngoài ra lysine còn có thể giúp
làm giảm cholestérol, đào
tạo collagène, kháng sinh và tăng sự hấp thụ calcium. Lysine có
nhiều trong sửa nhưng nếu đun sôi thì lysine sẽ bị tiêu hủy.
ORNITHINE-ARGININE
Arginine
cũng như histidine là một acide aminé bán thiết yếu, có độ
pHi=10,76 cần thiết cho sự sống, cho sự tồn tại của cơ thể, chất đạm
phải giữ được cân bằng sau những quá trình:
tiêu hóa, hấp
thụ và sau cùng chất đạm được phân hủy và được đào thải dưới dạng
urée. (urée la một hợp chất hữu cơCO(NH2)2, thành hình bởi ion NH4+,
rất độc cho cơ thể và cần được đào thải, chất này được biến đổi
thành urée bởi gan có nguồn gốc từ những chất đạm của những thức ăn)
nếu urée không được đào thải điều độ, sự vận hành của thận sẽ bị
thay đổi và nồng độ urée sẽ tăng trong máu và hậu quả sẽ nghiêm
trọng cho những hoạt động của thận, arginine
đóng vai trò quan trọng cho sự đào thải urée này.
Cũng
như histidine, arginine là một acide aminé bán thiết yếu, vì cơ thể
có thể tổng hợp bình thường theo nhu cầu, ngoài ra cơ thể cần sự bổ
sung từ bên ngoài nếu bị nhiễm trùng nặng, sau khi mổ hoặc bị chấn
thương tâm thần.
Phần
đông các sinh vật có thể tạo arginine (bằng phản ứng sinh tổng hợp
hoặc phản ứng đồng hóa) và hủy hoại arginine ( bằng phản ứng dị hóa:
oxy hóa và cho ra năng lượng).
Arginine
có thể được thủy phân (hydrolyse) và cho chất citruline và
NH3 và sau đó citruline cũng bị phân hóa thành ornithine và
CO2 và NH3.
Arginine
có thể giúp cho cơ thể sản xuất chất oxyde nitrique, là chất
đưa tin hóa học (messager chimique) chất này có thể làm
giãn nở mạch máu, nếu độ oxyde nitrique yếu sẽ có ảnh hưởng xấu
đến sự tuần hoàn máu, arginine cần thiết cho sự cường dương. giúp
cho cơ bắp điều khiển sư chảy dồn máu trong dương vật và cải tiến sự
liên hệ tình dục, arginine có thể làm tăng số lượng tinh
trùng.
Người
ta quan sát và nhận thấy rằng nếu dùng arginine 5gr/ngày có thể làm
tăng cao sự vận hành tình dục cho những người có số lượng ít oxyde
nitrique.
Trong
một nghiên cứu trên 24 người đàn bà mãn kinh, và so sánh hiệu quả
của nhóm người được bổ sung bằng 6 gr arginine và 6 gr yohimbine
(một loại vỏ cây ở Phi-Châu có chứa những chất alcaloides, một phân
tử hữu cơhétérocyclique azotées, một chất kích thích đường tình dục)
với nhóm người chỉ dùng yohimbine. Kết quả cho thấy rằng biên độ của
xung năng thần kinh rất lớn nơi âm hộ của nhóm người dùng arginine
và yohimbine.
Arginine
tác động cho sự sản xuất créatine (créatine là một chất dẫn xuất của
amino acide tự nhiên có hầu hết trong học sợi cơ (fibre musculaire)
và não, nó giữ vai trò cung cấp năng
lượng cho tế bào cơ, cho sự co giãn cơ bắp), phát triển
cơ bắp, bù đấp sự tổn hại những tế bào của những người làm thể dục
quá độ, arginine làm tăng sự tiết insuline, hormone tăng trưởng, cấu
tạo collagène và kích thích hệ miễn dịch, là tiền chất của acide
gamma amino butyrique (GABA) một neurotransmetteur cho não.
Cũng
như arginine, ornithine kích hoạt sự tiết hormone tăng trưởng, một
đưa tin hóa học có nhiệm vụ làm dễ dàng cho sự tăng trưởng cơ bắp.
Aspartate
arginine (tổng hợp giữa arginine và acide aspartique) giúp cho
người bệnh mau chóng bình phục,
sau khi xuất viện hoặc giúp cho người bệnh có được sự ham muốn về
việc ăn uống.
Nhiều
nghiên cứu cho rằng người luyện tập thể dục, nếu dùng ornithine thì
số lượng hormone tăng trưởng lên đến 4 lần.
Triệu
chứng thiếu arginine: vết thương lâu lành, rụng tóc, mụn nhọt trên
da.
Arginine
có trong nhiều thức ăn: vài loại ngũ cốc như: gạo lứt, yến mạch
(avoine), mạch ba góc (sarrasin), cũng có trong thịt đỏ, cá, thức ăn
từ sửa, quả hồ đào (noix).
BỘT ĐƯỜNG
Bột
đường (glucide) và chất béo (lipide) là hai nguồn năng lượng có
nhiệm vụ đào tạo những tế bào, cho sự tiêu hóa và giữ gìn cơ thể lúc
nào cũng ở một nhiệt độ nhất định.
Bột
đường là một phân tử hóa học hữu cơ hydrate de carbone,
glucide cung cấp năng lượng cho các cơ quan và cơ bắp, glucide cũng
như chất đạm và chất béo là một trong những thành phần thiết yếu,
chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể, là một phân tử trung gian
sinh học chính của sự tồn trữ và tiêu thụ năng lượng, có 3
nhóm glucide: glucide đơn, glucide phức tạp và chất
xơ.
1)
Glucide đơn: chứa một hoặc 2
phân tử đường như glucose, fructose, saccharose và lactose, chất
glucide này được hấp thụ trực tiếp vào cơ thể mà không qua quá trình
tiêu hóa, những glucide này có thể tìm thấy trong mía, mật, củ cải
ngọt, trái cây, rau cải vân vân.
2)
Glucide phức tạp: chứa 3 hoặc
nhiều hơn phân tử đường như amidon, glycogène và cellulose, chất
glucide này được phân hóa qua đường tiêu hóa và trở thành đường đơn
và sau đó được hấp thụ vào cơ thể những glucide này có thể tìm thấy
trong ngũ cốc, khoai lang tây, khoai lang ngọt, bắp và những loại
hạt.
3)
Chất xơ: là một hỗn hợp
phức tạp của nhiều glucide, là những thành phần cấu tạo của các loại
thực phẩm thực vật khó tiêu, cản trở sự tiêu hóa, những chất xơ cho
rất ít năng lượng nhưng rất tốt cho sự vận hành của ruột.
Chất xơ được tìm thấy ít nhiều tùy theo loại thức ăn trong ngũ cốc
(gạo lứt chứa chất xơ gấp 3,5 lần nếu so sánh với gạo chà trắng),
các loại đậu, hạt, rau cải, trái cây và quả hồ đào.
Những
chất glucide phức tạp và chất xơ rất tốt cho sức khỏe vì có thể đề
phòng và tránh các bệnh như ung thư tủy xương sống và bệnh tăng
cholestérol, ngược lại nên dùng ít đường đơn (còn được gọi là năng
lượng rỗng) vì không chứa hoặc chứa rất ít thành phần dinh dưỡng.
Đường
đơn cũng được gọi là « đường nhanh », và đường phức tạp hoặc chất xơ
còn được gọi là « đường chậm » đường chậm hoặc đường nhanh là đường
có trong thức ăn, sau khoảng 2 giờ, đường nầy được hấp thụ vào máu
tùy theo sự tiêu hóa và hấp thụ đường vào máu, đường đơn thì đươc
hấp thụ nhanh trái lại đường phức tạp và chất xơ thì đươc hấp thụ
chậm hơn. Năm 1988 tổ chức thế giới về sức khỏe
OMS (organisation mondial de la
santé) đề xuất một hệ số để so sánh các thức ăn chứa chất
đường và sau hai giờ tiêu hóa, đường được hấp thụ vào máu, hệ số nầy
được gọi là « index glycémique »
Hệ số nầy đặc biệt giúp cho những người bị bệnh tiểu đường vì tùy
theo sự hấp thụ đường nhanh hay chậm, người bệnh có thể biết được số
lượng đường trong máu một cách chính xác hơn, sau đây một vài kết
quả về thức ăn và index glycémique tương ứng, để có thể so sánh các
loại thức ăn chứa đường, index glycémique của đường thuần túy
được định là 100, hệ số càng nhỏ sự hấp thụ càng chậm ngược lại
hệ số càng cao sự hấp thụ càng nhanh.
|
|
Đường nhanh
lớn hơn 70 |
Đường trung bình
55-69 |
Đường chậm
nhỏ hơn 55 |
|
Thưc ăn |
Index
glycémique |
Thưc ăn |
Index
glycémique |
Thức ăn |
Index
glycémique |
|
Bánh mì |
95 |
Thơm |
66 |
Mì sợi |
40-50 |
|
Carotte |
90 |
Mì hột (semoule) |
65 |
Sửa |
30 |
|
Gạo trắng |
87 |
Khoai lang tây sống |
66 |
Bưởi |
25 |
|
Khoai lang tây chín |
87 |
Củ cải đường
(betterave) |
65 |
Trái anh đào |
23 |
|
Bánh mì với bột
chưa xay (complet) |
77 |
Khoai lang tây chiên
(chip) |
55 |
Đậu lăng |
22 |
|
|
Cơ
thể của chúng ta cần chất đường khoảng 5gr/kg/ngày, trung bình 1/3
dưới dạng đường đơn và 2/3 dưới dạng đường phức tạp, số lượng đường
trong máu không quá 1,1 gr/litre.
Sự
điều tiết đường trong máu rất quan trọng, nếu thiếu đường trong
máu có thể gây trở ngại cho sự vận hành bình thường của não và
có thể gây ra sự hủy hoại của tế bào não (neurones). Ngoài ra
glucide còn có nhiệm vụ trong việc tổng hợp acide nucléique (yếu tố
căn bản của chất đạm), glucide tham gia vào sự cấu tạo màng ngoài tế
bào, được biến đổi thành chất béo bởi những tế bào trong mô mỡ
(adipocyte), đường có thể được tồn trữ trong gan.
Nếu
có quá nhiều chất glucide và lipide trong máu có thể gây ra
sự lên cân, béo phì và có thể phát động đến bệnh tiểu đường,
bệnh tiểu đường xảy ra khi cơ thể không thể dùng insuline để điều
tiết lượng đường trong máu (glycémie), chất glucide được hấp thụ
khó khăn bởi những tế bào và làm cho lượng glucide trong máu ở trên
mức bình thường, bệnh tiểu đường này thường thấy ở những người trên
40 tuổi nên cũng còn được gọi là « tiểu đường người trưởng thành ».
CHẤT BÉO
Trong
hóa học chất béo (lipide) có từ tiếng Hy-Lạp là lipos có nghĩa là
mỡ, acide béo tự nhiên cấu tạo bởi một số lớn nguyên tử carbon từ
4-28 (thường thì số chẵn) acide béo bảo
hòa (saturé) là acide có những nguyên tử carbon hoàn toàn
bảo hòa với nguyên tử hydrogène, vậy tùy theo số lượng hydrogène
trong mỗi phân tử để có thể quyết định đó là chất béo bảo hòa hay
bất bảo hòa, nếu thiếu một vài nguyên tử hydrogène thì được gọi là
đơn bất bảo hòa
(monoinsaturé) giữa hai nguyên tử carbon chỉ có một gạch nối kép
(double liaison) như:
H3C-(CH2)n-HC=CH-(CH2)p-COOH
và nếu thiếu từ
4 trở lên thì được gọi là đa bất bảo
hòa (polyinsaturé) giữa hai nguyên tử carbon có từ 2 hoặc
nhiều gạch nối kép (double liaison). Ba acides béo kết hợp với
glycérol để tạo thành chất hóa học là
triglycéride, trong cơ thể chúng ta phần đông acide béo
được tìm thấy dưới dạng triglycéride trong các mô mỡ. Trong nhóm
chất béo bất bảo hòa được chia ra thành nhiều nhóm tùy theo vị trí
và số gạch nối kép (double liaison) như nhóm oméga 9 chỉ có
một double liaison, acide đại diện cho nhóm này là acide oléique
có rất nhiều trong dầu olive, kế đến là nhóm oméga 6, đại
diện nhóm này là acide linoléique có hai double liaison, sau
cùng là nhóm oméga 3, đại diện nhóm này là acide alpha
linolénique có ba double liaison. Ngoài ra chúng ta thường thấy
một acide béo khác có tên là acide béo hydrogénée cũng còn
được gọi là acide béo trans,
acide béo trans có thể là bảo hòa hoặc bất bảo hòa, trong quá
trình hydro hóa, nguyên tử hydro được thêm vào các loại dầu đa bất
bảo hòa, nguyên tử hydro từ vị trí cis (hai nguyên tử
hydrogène ở cùng một bên) trở thành vị trí trans (hai nguyên
tử hydrogène ở vị trí đối diện), với sự thay đổi vị trí nầy dầu đã
bất bảo hòa từ thể lỏng trở thành thể mềm hoặc cứng,
tùy theo thành phần bất bảo hòa trong dầu bị đổi thành bảo hòa ít
hay nhiều.
Phần đông chúng ta cho rằng acide béo không tốt cho sức khỏe
nhất là những bệnh về tim và mạch máu não nhưng acide béo cũng rất
cần thiết cho sự duy trì cơ thể được mạnh khỏe, nó góp phần cho sự
cấu tạo màng tế bào, tổng hợp hormones, làm tăng vị đậm đà cho các
món ăn, ngoài ra acide béo có nhiệm vụ cung cấp năng lượng cho cơ
thể (9 kilocalories/gr lipide) cao gấp 2 lần nếu so sánh với chất
bột đường và chất đạm, chất béo là nguồn năng lượng quan trọng cho
các chức năng của cơ thể, ngoại trừ tế bào thần kinh não mà đường
glucose là nguồn năng lượng chính.
Acide
béo được tồn trữ trong các mô mỡ dưới dạng triglycéride, khi chúng
ta làm thể dục dài hạn thì cơ thể làm phân hủy chất béo nầy để cho
năng lượng, acide béo cũng có thể dùng để tổng hợp các chất béo khác
như phospholipide có nhiệm vụ làm cho các màng tế bào được
trơn và có tính đàn hồi.
Ngoài
ra còn có vai trò khác như acide béo dưới dạng triglycéride
được tồn trữ trong lưng gù của con lạc đà, acide béo nầy được
tiêu hủy và cho ra nước nên lạc đà chịu đựng tốt ở sa mạc.
Chất
béo dùng như một phương tiện trung gian chuyên chở các vitamine hòa
tan trong chất béo (liposolubles) như vitamine A,D,E và K
và giúp ruột hấp thụ các chất béo này. Chất béo đa bất bảo hòa đóng
vai trò quan trọng cho sự cấu tạo những màng tế bào nhất là chất
acide linoléique một loại acide đa bất bảo hòa (polysaturé)
có 18 nguyên tử carbon và thuộc nhóm oméga 6 chất béo tham gia vào
nhiều phản ứng sinh học trong cơ thể, cần thiết cho trẻ em, cho sự
tăng trưởng nhờ vào sự nhân giống tế bào (multiplication
cellulaire), bảo đảm những hoạt động thiết yếu cho sự cấu tạo tế bào
não.
Về
phương diện cung cấp năng lượng cho cơ thể để duy trì sự sống, số
lượng tốt nhất theo tỉ lệ sau:
Bột
đường (glucide): 50-55%
Chất
đạm (protide): 11-15%
Chất
béo (lipide): 30-35%
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
acide béo bảo hòa và acide béo trans có ảnh hưởng
không tốt cho sức khỏe nhất là những bệnh liên quan đến tim
mạch, sau đây là tỉ lệ được các nhà nghiên cứu khuyên nên dùng hàng
ngày để có được sự cân bằng về acide béo:
50% acide béo đơn bất bảo hòa dưới dạng omega 9
25% acide béo đa bất bảo hòa dưới dạng oméga 3 và
6
25% acide béo bảo hòa
Thông thường người ta cho rằng những
thức ăn động vật có nhiều acide béo bảo hòa hơn là thức ăn thực vật,
sau đây là kết quả cung cấp bởi AHA (Américan Heart Association):
|
|
|
Bảo hòa
g/100gr |
Đơn bất bảo hòa
g/100gr |
Đa bất bảo hòa
g/100gr |
Oméga3
g/100gr |
Oméga 6
g/100gr |
|
Mỡ động vật |
|
|
|
|
|
|
Mỡ heo |
40,8 |
43,6 |
9,6 |
|
|
|
Bơ (beurre) |
54 |
19,8 |
2,6 |
|
|
|
Dầu thực vật |
|
|
|
|
|
|
Dầu dừa |
85,2 |
6,6 |
1,7 |
|
|
|
Dầu cọ (palme) |
45,3 |
41,6 |
8,3 |
|
|
|
Dầu mầm lúa mì
(germe de blé) |
18,8 |
15,9 |
60,7 |
8 |
53 |
|
Dầu đậu nành |
14,5 |
23,2 |
56,5 |
5 |
50 |
|
Dầu olive |
14 |
69,7 |
11,2 |
0 |
7,5 |
|
Dầu bắp |
12,7 |
24,7 |
57,8 |
0 |
0 |
|
Dầu hướng dương |
11,9 |
20,2 |
63 |
0 |
62 |
|
Dầu carthame |
10,2 |
12,6 |
72,1 |
0,1-6 |
63-72 |
|
Dầu cây cải
(colza, canola) |
5,3 |
64,3 |
21-28 |
6--10 |
21-23 |
|
Dầu mè |
16 |
42 |
46 |
|
|
|
Dầu hạt nho
(pépin de raisin) |
9,6 |
16,1 |
69 |
|
|
|
|
Ghi chú: dầu
dừa và dầu cọ có nguồn gốc từ thực vật nhưng chứa rất
nhiều chất béo bảo hòa.
Dầu
dừa rất thông dụng ở Việt Nam, với số lượng chất béo bảo hòa rất
cao nên có ảnh hưởng xấu đến tim mạch và cholestérol. Mỹ và Canada
khuyên không nên dùng nhiều dầu dừa, nhưng nước dừa, sửa dừa và dầu
dừa có nhiều chất khoáng, chất đạm và vitamines cũng rất hữu ích cho
cơ thể.
Nước
dừa có thể dùng như một chất lỏng dinh dưỡng đầy đủ, nước dừa chứa
nhiều chất khoáng điện phân giống như huyết tương (électrolytes
sanguins), chất đạm và vitamine B3,B5,B6 và B9. Trong thế chiến thứ
hai ở Phi luật Tân người ta dùng nước dừa thay thế huyết tương.
Trong dầu dừa 50% chất béo bảo hòa là acide laurique, 20% là
acide mytique và 10% là acide palmytique.
Ghi chú: sửa mẹ phần lớn chứa acide laurique
-
Acide béo bảo hòa: có trong
thịt mỡ động vật, tròng đỏ trứng, fromage, sửa, cá, các thức ăn chế
biến từ sửa, dầu dừa, dầu cọ.
Theo
lời khuyên của các nhà dinh dưỡng, không nên hấp thụ nhiều chất béo
bảo hòa vì có thể làm tăng lượng cholestèrol trong máu và theo lời
khuyên về số lượng và tỉ lệ dùng chất béo, tốt nhất là chúng ta nên
thay thế 25% chất béo bảo hòa (xem bảng phân chia lượng chất béo bảo
hòa và đa bảo hòa ở trên) bằng chất béo đơn bất bảo hòa.
Theo
các nhà khoa học của đại học Southampton nước Anh cho rằng nếu người
đàn bà mang thai hấp thụ nhiều chất béo bảo hòa có thể ảnh hưởng đến
đứa trẻ, gan của đứa trẻ sẽ bị nhiễm mỡ khi trưởng thành do mỡ tích
tụ ở gan gây ra. Một chế độ ăn uống nhiều chất béo bảo hòa lúc còn
nhỏ và ở giai đoạn phát triển càng khiến vấn đề trên thêm nghiêm
trọng.
-
Acide béo đơn bất bảo hòa :
có trong dầu olive, dầu mè, dầu cây cải (colza), trái bơ và các loại
hạt.
-
Acide béo đa bất bảo hòa: có
trong hầu hết các dầu ăn, nhiều trong cá, phần đông đều cho rằng mỡ
động vật có ảnh hưởng xấu đến các bệnh tim và mạch máu não, ngược
lại trong các thức ăn chứa nhiều chất béo đa bất bảo hòa và đơn bất
bảo hòa có thể làm giảm một cách đáng kể lượng cholestérol trong máu
và bảo đảm sự cân bằng giữa cholestérol xấu và tốt.
-
Acide béo trans: là một loại
dầu nhân tạo có rất ít trong trạng thái thiên nhiên và được dùng rất
nhiều trong hầu hết các thức ăn chế biến, vì dầu này ở trạng
thái mềm hoặc cứng nên tiện lợi trong sự chuyên chở, xử dụng và có
thể tồn trữ được lâu nên được dùng nhiều bởi các nhà kinh doanh chế
biến thực phẩm. Nhưng vì tính chất ban đầu của dầu được thay đổi
từ đa bất bảo hòa thành bảo hòa (ít hay nhiều tùy theo số lượng
hydrogène được thêm vào dầu đa bất bảo hòa) nên có ảnh hưởng không
tốt cho cơ thể:
- Làm giảm
cholestérol tốt và tăng cholestèrol xấu.
- Tăng số
bệnh tim.
- Làm giảm
khả năng hoạt động của gan.
- Tăng số bệnh ung thư.
- Làm giảm số lượng sửa ở đàn bà.
- Tăng viêm và phát động các chứng bệnh như
dị ứng và suyễn (asthme).
Nhiều nước như Mỹ, Canada, Đan
Mạch rất khắc khe trong việc cho phép xử dụng acide béo trans, năm
2007 xứ Canada cấm không cho phép xử
dụng số lượng acide béo trans hơn 2%,
một nhóm nghiên cứu Pháp kết luận rằng bệnh ung thư vú ở người đàn
bà tăng gấp đôi vì trong máu có chứa một lượng lớn về acide béo
trans, và nếu đứa bé bú sửa mẹ có thể hấp thụ chất béo nầy vào cơ
thể và sức khỏe của đứa bé sẽ bị ảnh hưởng, có một nghiên cứu khác
của Pháp (INSEM) cho rằng acide béo
« trans » có thể làm tăng chất cholestérol xấu và có thể gây ra bệnh
tim mạch.
Vì
vậy khi dùng những thức ăn chế biến như: bơ thực vật (margarine cứng
hay mềm là tùy theo độ acide béo trans nhiều hay ít), pizza, chip
(khoai tây chiên), các loại biscuits, bánh mặn ngọt, các loại ăn từ
chocolat, những món ăn chế biến vân vân, hãy đọc kỹ thành phần chứa
trong những thức ăn này, nếu thành phần chất béo của thức ăn chế
biến được kê biên rõ ràng: một phần được hydrogénée hoặc
dầu ăn thực vật hydrogénée có nghĩa là món ăn có chứa chất
béo « trans », nên cẩn thận trước khi dùng. Một thí dụ điển hình
về mì ăn liền, vì kém thông tin mà nhiều người Á Châu và Việt Nam
hay dùng vì tiện lợi và ngon, nhưng phần đông mì này được chế biến
bằng dầu « trans » để chiên mì, hiện nay Nhật Bản đã ý thức được hậu
quả không tốt của dầu « trans » nên đã thay đổi hoàn toàn phương
pháp chế biến các loại mì ăn liền, không dùng dầu « trans » và thay
thế phương pháp nấu chín mì bằng nước nóng và sau đó được sấy khô,
vì vậy không nên dùng thường xuyên vì có thể gây ra những chứng bệnh
nguy hại đến sức khỏe.
Ở
Mỹ và Canada trong công nghệ thực phẩm chế biến, người ta thay thế
chất béo dùng trong công nghệ cà rem bằng một chất béo khác làm
từ trứng và sửa, chất béo này cho ít năng lượng chỉ có 2
calories/gr thay vì 9 calories/gr. Chất này được tiêu hóa như các
chất đạm bình thường nhưng không chịu được ở nhiệt độ cao nên không
thể dùng để chiên, ngoài ra Mỹ còn chế thêm một chất béo khác từ 8
chất béo và một phân tử đường có thể chịu được ở nhiệt độ cao mà
không cho năng lượng nhưng làm giảm sự hấp thụ vitamine E.
-
Cholestérol
Cholestérol
là một chất béo trong máu có trong hầu hết các mô của cơ thể con
người, nhiều người cho rằng cholestérol có ảnh hưởng xấu cho sức
khỏe nhất là về bệnh mạch máu não, nhưng thật ra nó cũng cần thiết
cho sự sống, cholestérol không phải là bệnh, nhưng nếu số lượng vượt
trên một giới hạn nào đó sẽ nguy hiểm cho sức khỏe, cholestérol
là một stéroide được vận chuyển trong huyết tương.
Không
có sự thiếu thốn cholestérol vì phần lớn nó được tổng hợp trong cơ
thể hầu hết cholestérol được tổng hợp từ gan (70-80%)
còn lại nếu cần cơ thể có thể hấp thụ từ những thức ăn bên ngoài.
Cholestérol
là thành phần cơ bản của các mô tế bào, là tiền chất của những
hormones stéroides, tham gia vào việc tổng hợp mật, giúp cho sự tiêu
hóa, là một tiền chất của vitamine D, là yếu tố quan trọng của
myéline, chất này bao bọc và che chở cho những dây thần kinh
trong não.
Cholestérol
hiện diện với nồng độ cao ở các mô như gan, tủy cột sống, não và
màng sơ vữa động mạch, cholestérol cần thiết cho sự cấu tạo những
hormones tình dục, (corticostéroides), nó tham gia vào nhiều quá
trình sinh học, là một thành phần chất béo trong máu.
Cholestérol
là chất béo không hòa tan trong máu nên nó được kết hợp với một chất
khác được gọi là lipoprotéine (kết hợp giữa chất đạm và chất
béo) chất này có nhiệm vụ vận chuyển cholestérol vào máu. Có 3 loại
cholestérol tùy theo mật độ cao hay thấp: HDL (high density
lipoprotein), LDL (low density lipoprotéin) va VLDL
(very low density lipoprotein):
-
HDL được cho là cholestérol tốt
vì nó có nhiệm vụ thu thập những cholestérol dư thừa trong máu và
mang về gan từ đó cholestérol sẽ bị phân hóa và được tiêu hủy, cò
mục đích làm giảm lượng LDL và tránh bị bệnh athérosclérose
(mất sự đàn hồi của các động mạch).
-
LDL được cho là cholestérol xấu: cholestérol này được vận
chuyển từ gan đến các tế bào, nhưng nếu lượng cholestérol này quá
nhiều và những tế bào này không thể để thấm thấu được hết thì lượng
cholestérol dư thừa sẽ đóng vào các vạch thành của những mạch máu và
lâu ngày sẽ làm cho các mạch máu nhỏ lại nên phát sinh nhiều chứng
bệnh cho não và tim.
-
VLDL có nhiệm vụ và chức năng
giống như LDL, tương ứng với triglycéride, lượng này tăng khi
chúng ta hấp thụ nhiều rượu, chất béo và đường.
Bình
thường thì lượng HDL và LDL ở trạng thái quân bình nhưng nếu lượng
LDL không được đào thải hết thì lượng cholestérol total sẽ bắt đầu
vượt giới hạn và sinh ra những chứng bệnh như sơ vữa mạch máu ở tim
và não, để giảm lượng cholestérol cần phải nâng cao chất béo HDL và
giảm lượng LDL, để có được sự cân bằng giữa hai chất béo này thì
chúng ta phải thay đổi cơ chế ăn uống bằng cách giảm tiêu thụ chất
béo như bơ, crème, sửa bò, fromage, thịt mỡ, dầu chiên và tiêu thụ
nhiều chất béo thực vật như các loại dầu ăn: olive, dầu hướng dương,
dầu bắp, dầu đậu nành, dầu cải (colza), dầu cá vì những thức ăn này
chứa nhiều acide béo đơn và đa bất bảo hòa. Nên dùng nhiều rau cải
có nhiều chất xơ, nên dùng đường gián tiếp có trong các loại ngũ cốc
như bánh mì, gạo, bột thực phẩm, khoai lang tây, đậu lăng và nên
tránh các loại đường đơn như bánh, kẹo, mứt, sodas.
Người
Esquimaux ít bị bệnh về cholestérol vì thức ăn chính của họ
là cá.
Trong
ruợu vang có chất tanin, có thể làm giảm mỡ tồn động
trong mạch máu, mỗi ngày một li rượu vang cũng có thể giúp
cho cơ thể bài trừ một số lượng cholestérol xấu.
Trong
đậu nành có chất lécithine có đặc tính giúp cho
cholestérol hòa hợp trong HDL để chống lại lượng cholestérol dư thừa
và hơn nữa có thể chống lại chất béo tồn đọng trên vách thành các
mạch máu.
Khi
khám nghiệm lượng cholestérol, thông thường chúng ta có những kết
quả cholestérol total, lượng HDL và lượng LDL để biết tình trạng
cholestérol trong máu:
Cholestérol total phải thấp hơn 2,5 g/l
(1,5-2,5).
Cholestérol HDL phải lớn hơn 0,4 g/l
(0,4-0,8).
Cholestérol LDL phải nhỏ hơn 1,5 g/l.
Cholestérol VLDL triglycéride: phải nhỏ
hơn 1,6 g/l (0,4-1,6).
Sau đây là kết quả cho chúng ta biết
về vài thức ăn tiêu biểu hàng ngày và số lượng chất béo tương ứng:
|
|
Thức ăn |
Lượng cholestérol
mg/100gr thức ăn |
|
Trứng |
250-300mg/1 trứng |
|
Não ,đồ lòng |
2000mg |
|
Lưởi |
140mg |
|
Gan |
300-400mg |
|
Thịt giăm bông ít mỡ |
30mg |
|
Thịt giăm bông
|
60mg-100mg |
|
Xúc xích |
100mg |
|
Pa-tê gan |
200-300mg |
|
Gan ngỗng (foie gras) |
400mg |
|
Thịt gia cầm |
100mg |
|
Cá |
60-100mg |
|
Tôm cua |
150mg |
|
|
Kết quả cho bởi: les hypercholestérolémie của E.Bruckert và D.Thomas
DẦU
ĂN
Dầu
ăn chứa nhiều acide béo tùy theo mỗi loại dầu, acide béo này có thể
là bảo hòa, đơn bất bảo hòa hoặc đa bất bảo hòa. Dầu dừa và dầu cọ
đặc biệt có rất nhiều acide béo bảo hòa và có thể chịu được ở nhiệt
độ cao cũng như mỡ động vật. Gần đây có những nghiên cứu cho rằng
dầu chứa nhiều acide béo đơn bất bảo
hòa tốt hơn acide béo đa bất bảo hòa nên
dầu olive
được cho rằng rất tốt cho sức khỏe.
Dầu
ăn là một chất béo nhờn không hòa tan trong nước, dầu ăn thường là
dầu thực vật: dầu đậu nành, dầu phọng, dầu hướng dương, dầu cải
(colza), dầu bắp, dầu olive, dầu cọ (palme), dầu quả hồ đào (noix),
dầu quả phi (noisette), dầu hạt nho (pépin de raisin), dầu quả hạnh
(amande).
Mỹ,
Canada phần đông sản xuất và dùng nhiều dầu cải (colza), dầu bắp và
dầu đậu nành, còn Âu-Châu sản xuất nhiều dầu cải, dầu hướng dương,
dầu bắp ngoài ra dầu olive có nguồn gốc từ nam Âu-Châu và bắc
Phi-Châu và Á-Châu sản xuất nhiều dầu dừa, dầu phọng, dầu mè.
Phương
pháp tinh chiết dầu từ các loại thực vật thông thường là: rửa, bóc
vỏ, xay ra thành bột sau đó qua quá trình ép cơ khí, có hai phương
pháp ép ở nhiệt độ lạnh và nóng:
a) Phương pháp ép lạnh
Phương
pháp nầy được hoạt động ở nhiệt độ cao nhất là 60°C, sau đó dầu được
để đóng lặng và lọc, kế tiếp cho vô chai màu xậm để tránh dầu bị oxy
hóa do ảnh hưởng của mặt trời, nếu dầu được chiết lần đầu tiên được
gọi là dầu « extra vierge » chứa ít hơn 1% độ acide, dầu
chiết ở nhiệt độ thấp có năng xuất ít hơn là dầu chiết ở nhiệt độ
cao, vì ở nhiệt độ thấp 1/3 dầu còn lại trong chất bã, ngược lại
năng xuất ở nhiệt độ cao chỉ mất 1-5% dầu còn lại trong chất bã.
b) Phương pháp ép nóng
Phương
pháp nầy được hoạt động với nhiệt độ vào khoảng 80-120°C, dầu ép ra
được gọi là dầu thô không tinh lọc và cũng được gọi là dầu tự nhiên,
sau đó bã dầu được thêm các loại dung môi để tiếp tục chiết xuất ra.
Dầu được ép ra không thể dùng trực tiếp mà phải qua nhiều giai đoạn
như: tẩy, tinh chế hoặc trung hòa, tẩy màu, phân đoạn, tẩy mùi và
chống oxy hóa:
- Tẩy:
là giai đoạn lấy ra những acide béo tự do, lượng nhỏ chất đạm,
phospholipides và các chất khác có ảnh hưởng đến sự ổn định, cho ra
khói khi dùng để chiên.
- Trung
hòa: là giai đoạn dầu được trung hòa bằng một chất base,
thường là soude được thêm vào dầu đã được tẩy, để biến chất béo tự
do thành xà phòng và được phân tách bằng phương pháp ly tâm.
- Tẩy
màu : Giai đoạn nầy có mục đích lấy ra những sắc tố trong
dầu thô.
-
Hydrogénération: xem phần chất béo trans.
- Phân
đoạn (fractionnement): thông thường dầu được dùng ở nhiệt độ
bình thường nhưng nếu muốn giữ gìn được lâu thì dầu phải để trong tủ
lạnh và ở nhiệt độ này một phần dầu sẽ kết tinh và giai đoạn này có
mục đích lấy ra phần kết tinh.
- Tẩy
mùi: có mục đích tiêu hủy những chất hôi và biến dầu có mùi vị
trung tính, hơn nửa qua giai đoạn nầy dầu sẽ được bảo tồn lâu hơn.
- Xử lý
chống oxy hóa :
Khi
dầu được tiếp xúc với không khí thì dầu bị oxy hóa nhiều hay ít tùy
theo thời gian tiếp xúc lâu hay ngắn ở nhiệt độ cao hay thấp, oxy
trong không khí phản ứng với chất béo ở vị trí kết nối kép (doubles
liaisons) của chất béo.
Với
phương pháp ép dầu ở nhiệt độ cao và sau giai đoạn tinh lọc một phần
vitamine E sẽ bị mất vì vậy sau khi được tinh lọc, người ta cho thêm
vitamine E vào dầu để bảo tồn được lâu hơn, vitamine E là chất chống
oxy hóa (antioxydant) rất hiệu nghiệm.
Dầu
có thể bị phân hóa nhanh khi để ngoài ánh sáng mặt trời và ở nhiệt
độ cao, nếu muốn bảo tồn dầu được dùng lâu thì nên để dầu ở nhiệt độ
thấp (trong tủ lạnh dầu có thể bị kết tinh nhưng dầu sẻ không bị ảnh
hưởng) Trong thị trường có hai loại dầu chính: dầu ép lạnh và dầu
tinh lọc.
Dầu
tinh lọc chứa ít vitamine E hơn nên sau giai đoạn này, dầu thường
hay được thêm chất chống oxy hóa như vitamine E hoặc các chất hóa
học khác mục đích để bảo tồn được lâu, lúc mua nên cẩn thận đọc kỹ
các thành phần của dầu: bảo hòa, đơn bất bảo hòa, đa bất bảo hòa,
oméga 3, 6, 9 và xem ngày đóng chai vì thời gian lưu trữ có ảnh
hưởng đến thành phần tốt của dầu, trung binh dầu giữ được 1 tháng
sau ngày mở nút chai.(thời gian 1 tháng có nghĩa tương đối vì sau 1
tháng chất antioxydant trong dầu là vitamine E và các chất phụ gia
khác có thể bị mất (nhiều hay ít) và không còn đủ để trung hòa những
gốc tự do (radicaux libres) phát sinh do bị oxy hóa, thì dầu sẽ bắt
đầu bị phân hủy và không còn dùng được). Dầu ép lạnh chứa nhiều
vitamine E hơn là dầu ép nóng nhưng dầu ép lạnh lại chứa những chất
như acide béo tự do, sắc tố (pigment) có thể bị oxy hóa dễ dàng hơn.
Dầu
ăn không chứa chất đạm, đường, thành phần lớn của dầu là chất béo,
vitamine A, D, E và dầu cho năng lượng nhiều hơn là chất đạm và
đường.
Dầu
bồ đào, dầu carthame, dầu bắp, dầu đậu nành bằng phương pháp ép lạnh
không chịu được ở nhiệt độ cao nhưng chứa nhiều chất béo đa bất bảo
hòa, chỉ nên dùng những dầu ăn nầy với salade, rau cải. Nếu dầu này
dùng để chiên thì phần lớn những kết nối kép (double liaison) của
dầu đơn và đa bất bảo hòa sẽ bị hủy và dầu bất bảo hòa thành dầu bảo
hòa vì vậy những người bị cholestérol cao nên dùng đồ
ăn hấp hơn là chiên.
Nếu
dầu được nung lên ở nhiệt độ quá cao, khi bốc khói thì lúc này dầu
sẽ bi phân hóa và cho ra những chất độc cho đường hô hấp và đường
tiêu hóa.
- Nhiệt độ
chiên không quá 195°C.
- Sau mỗi
lần chiên nên lọc dầu.
- Giữ dầu
trong tối và mát.
- Không
nên dùng dầu quá 5-7 lần.
- Không
nên dùng nồi chảo bằng đồng, đồng thanh, đồng thau vì có thể làm
phân hóa dầu bởi oxy hóa nên dùng nồi chảo bằng thép hoặc inox.
- Khi dầu
lên khói thì không nên dùng lại.
- Không
nên thêm dầu mới vào dầu đã dùng.
VITAMINE
Vitamine:
vita (tiếng latin): sự sống, amine (tiếng Anh): chất
đạm, là một chất hóa học hữu cơvai trò chánh của vitamine
được xem như một chất dung môi cho những phản ứng trong cơ thể, nhờ
chất dung môi này mà phản ứng được vận hành trong điều kiện bình
thường và được nhanh hơn mà không cần nhiều năng lượng, thiếu dung
môi cũng như thiếu vitamine sẽ làm cho cơ thể bị hại và khiến ta dễ
bi nhiễm bệnh, vitamine cần thiết cho sự chuyển hóa của các cơ quan
trong cơ thể, lượng vitamine cần thiết mỗi ngày cho cơ thể từ
microgramme đến vài miligramme, vitamine không cung cấp năng lượng
nhưng rất cần thiết cho cơ thể vì cơ thể không thể tự tổng hợp
được, vitamine tác động nhiều vào các phản ứng hóa học, tham gia
vào việc cấu tạo vài loại màng tế bào, giúp đỡ cho sự sản xuất năng
lượng, chống lại sự nhiễm trùng, tác động vào việc cấu tạo những
neuromédiateurs, giúp cho sư phục hồi những mô tế bào bị hư hại.
Vitamine
là một phân tử hữu cơ, một coenzyme chứa một hoặc nhiều
gốc tự do cần thiết cho sự tổng hợp enzymes và
hormones.
Gốc tự do (radicaux libres) có hai nhiệm
vụ tương phản:
a) Với
một lượng giới hạn, giúp cho cơ thể chúng ta có hoạt động tốt cho hệ
miễn dịch, làm lành vết thương và sản xuất một số hormones.
b) Nếu
số lượng quá nhiều thì gây ra nhiều sự nguy hiểm cho cơ thể, nó làm
hủy hoại màng tế bào, làm tăng sự lão hóa, làm tăng chất béo trên
vành của những mạch máu gây nguy cơ cho bệnh tim và não.
Enzymes
là những chất đạm được thấy hầu hết trong tất cả các tế bào
của cơ thể, có nhiệm vụ giúp đỡ các phản ứng hóa học được nhanh hơn
mà không cần nhiều năng lượng. Vài thí dụ:
- Trong
trường hợp tiêu hóa thức ăn, enzyme giúp cho sự hoạt động phân hủy
thức ăn và biến thành chất dinh dưỡng cho cơ thể sau nhiều giai đoạn
tiêu hóa trong ruột.
- Amylase
là một enzyme có trong nước miếng có nhiệm vụ phân hóa đường phức
tạp như amidon có trong các ngũ cốc và biến thành đường đơn như
glucose để cung cấp năng lượng cho cơ thể. Không có enzyme đồng
nghĩa với không có sự sống, mỗi enzyme có môt nhiệm vụ duy nhất và
tác động vào một phản ứng duy nhất.
Hormone là một phân
tử tạo ra bởi tuyến hoặc mô và được vận chuyển bởi máu, hormone tác
động trên một cơ quan hoặc trên một mô khác, thí dụ như tuyến tụy
sản xuất insuline có nhiệm vụ điều chỉnh lượng đường trong tất cả
các cơ quan trong cơ thể. Hormone là một chất đưa tin hóa học,
thường được kết hợp với hệ não có nhiệm vụ làm hoạt động cho hàng
tỉ tế bào của cơ thể.
Gốc tự do có liên hệ đến
phản ứng oxy hóa, hiện tượng oxy hóa là một phản ứng hóa học khi một
chất tiếp xúc với oxy, làm cho một số électrons bị di chuyển
qua một chất khác và phát sinh ra những phân tử không bền, phân tử
này được gọi là gốc tự do và một khi được hình thành
gốc tự do này lại có phản ứng tương tự đến những phân tử khác
và gây ra phản ứng dây chuyền bất ổn, nếu chất này không được
trung hòa bởi những chất chống oxy
hóa (antioxydant) thì gốc tự do sẽ tấn công và phá
hủy những vật chất sinh lý của cơ thể ta như vitamines,
enzymes, chất khoáng, màng tế bào. Ba trường hợp có thể xảy
ra khi trong cơ thể ta không có đủ cân bằng giữa gốc tự do và những
chất chống oxy hóa:
- Trong
thức ăn không có đủ chất chống oxy hóa.
- Hệ
thống bảo vệ enzymes không hiệu quả.
- Sự sản
xuất gốc tự do trong cơ thể quá nhiều.
Hậu
quả của sự mất cân bằng này rất nguy hiểm và phát sinh ra nhiều
chứng bệnh như ung thư, hiện tượng lão hóa sẽ gia tăng, những màng
tế bào bị phá hủy và làm cho động mạch bị cứng, dày thêm có thể nguy
hại cho tim, làm hư hại collagène và làm mất tính đàn hồi của động
mạch .Chúng ta có thể so sánh với chất sắt thô để ngoài trời bị oxy
hóa và được bao phủ bởi một lớp rỉ sét, với thời gian sắt sẻ bị tiêu
hủy hoàn toàn vì không được bảo vệ.
Nguồn
gốc của sự phát sinh gốc tự do: môi trường ô nhiễm, tia cực tím ,
rượu, hút thuốc lá, stress, thuốc trừ sâu, rầy, thịt của động vật có
ngưồn thức ăn bằng hormones, nhiễm trùng, thuốc tây, phụ gia thức
ăn, chất bảo tồn thức ăn vân vân.
Chất
chống oxy hóa là biểu tượng cho sự tồn tại lâu dài, chống lại sự lão
hóa, trước đây người ta chì biết rằng vitamine C và vitamine E là
hai chất chống oxy hóa nhưng gần đây theo kết quả của nhiều nghiên
cứu cho rằng ngoài vitamine E và C còn có rất nhiều chất chống lại
oxy hóa khác có rất nhiều trong thức ăn. Đại khái
có ba loại antioxydants:
- Vitamine: Vitamine C, vitamine E
và béta carotène
- Nguyên tố vi lượng (les
oligo-éléments): Sélénium, Cuivre, Manganese và Zinc
- Nhiều chất micro nutriments có
nguồn gốc từ thực vật chẳng hạn như polyphénols
-
Vitamine C có trong cam quít và
những loại trái cây. Có rất nhiều trong trái ổi,trát kiwi.
-
Vitamine E có trong hầu hết các
loại dầu ăn.
-
Caroténoides có trong các loại
trái cây màu vàng, đỏ, đặc biệt béta-carotène có trong cà
rốt, quả mơ và xoài.
- Lycopène là một phần của
nhóm caroténoides, là một chất màu đỏ hòa tan trong chất béo, chúng
ta tìm thấy chất này trong những trái cây như cà chua màu đỏ (nếu cà
chua màu vàng hoặc màu cam thì không có hoặc rất ít lycopène), dưa
hấu và trong càc trái cây có màu đỏ khác như bưởi (pamplemousse), ổi
(goyave), đu đủ, màng hạt trái gấc. Lycopène là một trong những chất
carotéonides chống oxy hóa mạnh nhất (gấp đôi béta carotène) làm
triệt tiêu nội tế bào của nguyên tử oxy (nguồn gốc của gốc tự do),
gốc tự do phần lớn được hình thành trong phần mỡ của tế bào
Tổ
chức nghiên cứu thế giới về ung thư FMRC (Fond mondial de recherche
contre le cancer) khuyên chúng ta nên hấp thụ thường xuyên lycopène
có chứa trong nhiều loại trái cây và rau cải vì chất này có hiệu quả
chống lại ung thư tuyến tiền liệt (prostate), làm giảm bệnh về tim
mạch của những người bị tiểu đường, bệnh loãng xương (ostéoporose),
ung thư thực quản (œsophage), ung thư ruột kết (colon) và ung thư
miệng, ngoài ra lycopène còn có hiệu quả ngăn cản sự tăng trưởng của
những tế bào ung thư có nguồn gốc từ những màng nhầy ( muqueuse) của
tử cung và vú, lycopène che chở chống lại ung thư rất tốt cho toàn
thể hệ thống hô hấp, lycopène là một thành phần chánh của huyết
tương
Ngược
lại với những thành phần khác trong trái cây và rau cải, thì dụ như
vitamine C lúc đun nóng lượng vitamine C sẻ bị giảm ít hay nhiều tùy
theo thời gian đun nóng, nhưng nếu đun nóng lượng lycopène
biodisponible (hiệu quả sinh học của một chất) sẻ tăng lên gấp 4
lần, chẳng hạn như cà chua: jus, soupe, sốt cà, ketchup có nhiếu
lycopène hơn là cà chua tươi.
-
Sélénium và kẽm có trong cá
thịt và các loại ngũ cốc.
-
Polyphénols (flavonoides,
tanins, anthocyanes và acide phénolique) có trong café, trà xanh,
rượu vang và tất cả các loại rau cải, trái cây.
-
Xanthones : trong trái măng cụt
Trái gấc
Dưới
đây là kết quả của công trình nghiên cứu về trái gấc của giáo
sư Nguyễn văn Chuyển (Nihon Joshi-dai Tokyo) và các đồng nghiệp :
Hiromitsu Aoki và Noriko Kuze của phòng thí nghiệm về màu thực phẩm
ở Osaka Nhật Bản và hai nhà nghiên cứu khác là Nguyễn thị
Minh Kiều
và Kazue Tomisaka cùng bộ về Thực phẩm và Dinh dưỡng của đại học
Nihon Joshi-dai Tokyo Nhật Bàn
|
|
Trái cây |
Lượng lycopène µg/g |
|
Ót đỏ |
171 |
|
Cà chua |
31 |
|
Dưa hấu |
41 |
|
Ổi |
54 |
|
Bưởi hồng |
33,6 |
|
Các loại trái cây và rau cải khác |
15 |
|
Màng hạt trái gấc |
380 |
|
|
 Ghi chú :
lượng lycopène trong màng hạt trái gấc được đo bằng phương pháp HPLC
(high
performance liquid chromatographie)
Trái
gấc cũng như các loại trái cây màu đỏ khác có chứa nhiều lycopène,
thịt của trái gấc chứa ít lượng lycopène, ngược lại màng của hạt
trái gấc chứa rất nhiều lycopène, người Việt-Nam thường dùng màng
hạt trái gấc để nấu « xôi gấc » có màu đỏ tươi.
Trái cà chua
Trái
cà chua có màu vàng, cam, hoặc đỏ, cà chua chứa rất nhiều chất
chống oxy hóa như hợp chất caroténoides nhiều nhất là lycopène,
ngoài ra còn chứa những hợp chất phénoliques (acide phénols,
flavones, anthocyanes va tanins) cũng góp phần vào sự chống oxy hóa,
vỏ cà chua chứa nhiều hợp chất phénoliques, vitamine C và lycopène
hơn thịt và hạt cà chua, cà chua có thể giúp ta đề phòng những bệnh
về tim mạch (cardiovasculaire), vài bệnh ung thư như ung thư tuyến
tụy (cancer pancréas) nhất là ung thư tuyến tiền liệt (cancer
prostate), ngoài ra cà chua còn làm giảm oxy hóa của những chất béo
trong máu và giúp ta tránh đươc những bệnh về viêm động mạch vành
(maladie coronarienne), hạt cà chua có thề giúp duy trì sự lưu thông
máu bằng cách phòng chống các hiện tượng bất thường có thề xuất hiện
trong thành mạch máu. Nhiều nghiên cứu cho rằng nếu hấp thụ cà chua
hoặc những thực phẩm chế biến từ cà chua có thể làm giảm sự kết tụ
của tiểu cầu (agrégation plaquettaire) trong máu vì sự kết tụ này sẽ
gây ra sự tắt nghẽn tuần hoàn máu và sẽ nguy hiểm cho tim mạch. Nếu
ta dùng trên 6mg lycopène mỗi ngày sẽ giúp ta đề phòng
và tránh đươc những bệnh nguy hiểm trên, sau đây là lượng lycopène
có trong các loại thức ăn chế biến từ cà chua
|
|
Thức ăn |
Dung lượng |
Lycopène
mg |
|
Bột nhào cà chua đóng hộp |
½ ly (125ml/139g) |
39,8 |
|
Cà chua nghiền |
½ ly (125ml/132g) |
28,8 |
|
Sốt cà chua đóng hộp |
½ ly (125ml/129g) |
19,6 |
|
Canh cà chua đóng hộp |
½ ly (125ml/133g) |
14,5 |
|
Cà chua khô |
½ ly (125ml/29g) |
11,6 |
|
Jus cà chua |
½ ly (125ml/128g) |
11,6 |
|
Cà chua đóng hộp |
½ ly (125ml/127g) |
3,4 |
|
Cà chua tươi |
1 (123g) |
3,2 |
|
Ketchup |
15ml/15g |
2,6 |
|
|
Cà
chua còn chứa nhiều vitamines và chất khoáng: vitamine B3, B6,
vitamine C, vitamine A, Vitamine E, vitamine K, potassium, manganèse
và đồng (cuivre).
Trái lựu
Theo
truyền thống y học xưa trái lựu chỉ dùng để trị các chứng bệnh như
nhứt đầu, đau bụng và tiêu chảy, trái lại giới khoa học hiện tại chú
ý đặc biệt về những hợp chất chống oxy hóa rất cao của
trái lựu, những chất chống oxy hóa có thể làm giảm sự phát triển của
những tế bào ung thư, qua nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng nếu dùng
hàng ngày trái lựu hoặc các loại trái cây rau cải có chứa chất chống
oxy hóa sẽ tránh được nhiều chứng bệnh nguy hiểm nhu bệnh về tim
mạch, ung thư. Những thành phần chính của những chất chống oxy hóa
có trong trái lựu là flavonoides đặc biệt là anthocyanines, tanines
và acide ellagique, tanines có trong vỏ của trái lựu còn
anthocyanines có trong màu đỏ của hạt lựu. Chất tanines và ellagique
có thể ngăn chận việc sản xuất chất hormone oestrogen là tác nhân
chính cho sự phát triển các tế bào ung thư. Lượng chống oxy hóa
trong trái lựu cao hơn gấp nhiều lần trà xanh và rượu vang đỏ, ngoài
ra nếu dùng khoảng 40g jus trái lựu mỗi ngày có thể làm giảm
lượng cholestérol total và LDL trong máu. Hợp chất flavonoides trong
trái lựu còn có thể bảo vệ chất béo trong máu chống lại sự oxy hóa.
Trái
lựu còn chứa nhiều chất khoáng như potassium, đồng (cuivre),
vitamine B5, B6 và nhiều acides hữu cơnhư acide citrique có lợi
cho sự hấp thụ calcium.
Trái đu đủ
Trái
đu đủ có màu vàng hoặc đỏ, chứa 18 chất caroténoides, chất chống
oxy hóa rất mạnh, có tác dụng ngăn ngừa viêm phổi, ngoái ra đu
đủ còn chứa vitamine C, vitamine E giúp tăng cường hệ miễn dịch,
kháng viêm, chống thoái hóa khớp, giúp giải phóng paraoxonase, ức
chế quá trình oxy hóa tạo ra cholestérol xấu LDL, acide folique
trong đu đủ làm chuyển hóa homocystéine (phá hủy thành mạch) thành
cystéine hoặc méthionine là những chất amino acides có ích cho cơ
thể, trong đu đủ còn có hai chất quan trọng là papain và chytopapain
giúp tiêu hóa chất đạm động vật rất tốt, đu đủ còn có chất lycopène
có nhiều tác dụng như những trái cây màu đỏ khác.
Phụ
nữ có thai không nên ăn đu đủ còn xanh vì có thể sẩy thai, sinh non,
người bệnh tim cũng vậy không nên ăn đu đủ xanh vì có chứa chất
cacpain làm giảm nhịp đập của tim
Trái măng cụt
Được
mệnh danh là hoàng hậu của các loại trái cây vì màu sắc, hình dáng
và mùi vị thanh tao của trái măng cụt, ngoài ra vỏ măng cụt có chứa
40
chất xanthones khác nhau, một chất chống oxy hóa
rất mạnh cũng như lycopène. Ngoài ra còn chứa chất
polysaccharides, những chất hóa học và những chất khoáng khác, măng
cụt có những đặc tính sau :
- Chống viêm
(inflammatoire).
- Chống oxy
hóa (mạnh gấp 200 lần trà xanh).
- Giảm
cholestérol.
- Giúp hệ
miễn dịch.
- Chống lại
khối u (tumeurs).
Xanthone
còn có nhiệm vụ ngăn cản sự tăng trưởng của những tế bào ung thư gan
và tuyến tụy (pancréas).
Những
rau cải như cà chua, màng hạt trái gấc, cải xoong (cresson), cải
bắp, rau pi na (épinard), chồi cải bắp (brocoli), củ cải ngọt đỏ
(betterave rouge), hành tây đỏ, vàng có rất nhiều chất chống oxy
hóa.
Trái sầu riêng
Trái
sầu riêng được cho là vua của các loại trái cây vì có thể trái sầu
riêng có đầy đủ các loại vitamine, chất khoáng, chất béo và nhiều
chất đạm, sau đây là số lượng tượng trưng của trái sầu riêng
|
|
Thành phần |
Trái sầu riêng/100g |
|
Chất bột đường |
27,09 g |
|
Chất béo |
5,33 g |
|
Chất đạm |
1,47 g |
|
Nước |
65 g |
|
Vitamine C |
19,7 mg |
|
Potassium |
436 mg |
|
|
Chất khoáng :
Calcium, sắt, kẽm, đồng, phosphore, potassium, sodium, và manganèse.
Chất bột đường: hệ số « index
glycémique » là 24, có nghĩa là sự tiêu hóa và hấp thụ rất chậm (xem
phần bột đường trang 11).
Chất đạm: sầu
riêng chứa nhiều chất đạm nhất trong các loại trái cây, đặc biệt là
có chứa chất đạm tryptophane, một chất có tiếng như một loại
thuốc an thần, một loại thuốc ngủ vì cơ thể có thể chuyển hóa
tryptophane thành chất sérotonine và méladonine (chất này có thể xem
như một chất chống oxy hóa tham gia vào sự tẩy độc cho các cơ quan).
Chất tryptophane được biết nhiều vì có thể chống lại sự lo âu, buồn
phiền, trầm uất và mất ngủ, làm nâng cao chất sérotonine trong não,
cho cơ bắp được tráng kiện.
Ngoài ra mùi
đặc biệt của sầu riêng có thể là do có chứa chất hydrogène
sulfide (H2S), trái sầu riêng có nhiều chất béo nhưng không
có chứa cholestérol.
Có một nhóm người sống trong vòng 2
tháng chỉ với trái sầu riêng vì có thể cung cấp đầy đủ năng lượng,
vitamine và chất khoáng.
Ngoài ra trái sầu riêng có chứa một
chất rất dễ bị lên men, nên tránh dùng
trái này trước hoặc sau khi uống rượu trong lúc ăn vì rượu sẽ hóa
hợp với chất này, phản ứng rất nhanh và làm cho sự tiêu hóa bị rối
loạn. Theo truyền thuyết Á-Châu trái sầu riêng có đặc tính nâng cao
sự liên hệ tình dục, và cũng theo truyền thuyết thì sau khi ăn trái
sầu riêng nên ăn trái măng cụt vì sầu riêng thì dương “nóng” và măng
cụt thì âm “mát” âm, dương được hòa hợp thì sẽ tốt hơn.
Tóm lại chất chống oxy hóa có
rất nhiều trong thức ăn, nếu chúng ta biết cách cân bằng các loại
thức ăn thì không ngại bị thiếu chất chống oxy hóa.
Có
13 loại vitamine cần thiết và được cung cấp từ thức ăn, vitamine
không cho năng lượng như chất đạm, chất béo và đường; vitamine chia
làm 2 nhóm: một nhóm hòa tan trong nước và nhóm khác hòa tan trong
chất béo.
Nhóm
hòa tan trong chất béo cùng với chất béo có thể được tồn trữ trong
cơ thể và được dùng khi cần, trái lại nhóm hòa tan trong nước nếu
hấp thụ dư thì sẽ không tồn trữ được mà được bài tiết ra ngoài bằng
đường tiểu và mồ hôi.
Trong nhóm vitamine
hòa tan trong nước ta tìm thấy:
-
Vitamine C (acide ascorbique).
-
Vitamine B: vitamine B1 (thiamine), B2 (riboflavine), B3
(niacine), B5 (pantothénique hoặc panthenol), B6 (pyridoxine), B8
(Biotine), B9 (acide folique), B12 (cobalamine).
Những
vitamine này vì không tồn trữ được trong cơ thể nên phải được hấp
thụ hàng ngày, những vitamine này liên hệ đến nhiều phản ứng sinh
học trong quá trình tái tạo các tế bào da, máu và hệ thần kinh.
Vitamine C tham gia vào sự hình thành collagène góp phần cho khả
năng chịu đựng, dẻo dai cho da, sụn, xương, răng và mạch máu.
Vitamine C còn có nhiệm vụ làm tăng sự hấp thụ của sắt, còn vitamine
B có vai trò quan trong trong sự chuyển hóa chất béo, chất đạm và
đường, làm dễ dàng cho sự điều hợp chất đạm vào các mô tế bào tủy
xương sống , hệ thần kinh, cho sự cấu tạo hồng huyết cầu, bảo đảm
cho sự tiêu hóa.
Những
vitamine nầy hòa tan trong nước vì vậy nếu dư thừa sẽ được đào thải
qua đường tiểu.
Trong
nhóm vitamine hòa tan trong chất béo ta tìm thấy: A,D,E, và K,
những vitamine này có thể tồn trữ trong mỡ và gan và tự đào thải rất
chậm qua thận, vì vậy những vitamines này sẽ trở nên độc có hại cho
cơ thể nếu hấp thụ quá nhiều nhất là vitamine A và D.
VITAMINE
B
Hầu
hết nhóm vitamine B (B1, B2, B3, B5, B6, B8,B9, B12) đều hữu íchcho
sức khỏe:
- Làm
tăng sự chuyển hóa.
- Giúp
cho da, cơ bắp được tốt.
- Cải
tiến chức năng của hệ miễn dịch và não.
- Tăng
trưởng tế bào chống lại sự thiếu máu.
- Giảm
sự lo âu, buồn phiền.
-
Phòng ngừa những bệnh về tim mạch.
Vitamine B1
Vitamine
B1 giúp cho sự biến đổi chất bột đường thành năng lượng cần thiết
cho những hoạt động tốt của hệ não và cơ bắp và làm tiêu hủy dễ
dàng acide pyruvique một chất độc cho hệ não, bảo đảm năng động
của trí tuệ.
Thiếu
vitamine B1 sẽ gây ra chứng bệnh tê phù (béribéri), mệt, mất
ngủ, gây ra sự yếu ớt cho cơ bắp và nâng cao nhịp đập của tim,
vitamine B1 có trong các loại thịt nhất là thịt heo, men bia, gan,
trứng, sửa, các loại ngũ cốc, khoai lang tây và rau cải xanh. Nếu
mỗi ngày chúng ta ăn bánh mì, rau cải xanh và uống sửa thì không
ngại thiếu vitamine B1.
Vitamine B2
Vitamine B2 (riboflavine) là một vitamine hòa tan trong nước nên
không thể tồn trữ được trong cơ thể nên cần phải được cung cấp hàng
ngày, vitamine được hấp thụ qua đường ruột non (intestin grêle) và
được vận chuyển trong máu đến các mô trong cơ thể, tuy nhiên
vitamine B2 được tìm thấy một lượng ít ở gan, tim và thận, vitamine
này được đào thải qua đường tiểu, mồ hôi, phẩn.
Vitamine
B2 tham gia vào sự cấu tạo hồng huyết cầu và duy trì các mô đặc biệt
là các mô của da và mắt, rất cần thiết cho sự vận hành tốt cho các
vitamine B (như B6, B9 và acide nicotinique) và sự hấp thụ chất sắt,
đóng vai trò quan trọng trong việc biến đổi chất béo, bột đường và
chất đạm thành năng lượng, có tác động vào chuyển hóa của sự phục
hồi cơ bắp, nếu thiếu vitamine B2 sẽ gây ra mệt mỏi và cơ bắp bị
chứng chuột rút, ngoài ra riboflavine là một chất chống oxy hóa và
khi phối hợp với glutathion réductase, hợp chất này sẽ bảo vệ tất cả
tế bào chống lại sự tàn phá của những gốc tự do.
Vitamine
B2 có trong sửa, fromage, cá, gan, thịt, trái cây, rau cải xanh.
Vitamine B3
Vitamine
B3 còn được gọi là vitamine PP ( pellagra préventive)
vì nếu thiếu vitamine B3 sẽ gây ra chứng bệnh pellagre bệnh
này có thể xảy ra cho những người nghèo thiếu chất đạm động vật, có
thể biểu hiện bằng danh hiệu 4D: viêm da (dermite),
tiêu chảy (diarrhée), sa sút trí tuệ (démence) va chết
(décès), vitamine B3 giúp cho sự vận hành của hệ não và hệ
tiêu hóa, cho sự cấu tạo tế bào máu và da, nếu thiếu sẽ phát sinh ra
những triệu chứng như mệt, nhứt đầu, da bị khô, ăn không ngon, lỡ
loét, rối loạn tình cảm. Vitamine B3 có trong thịt, cá, men, bánh
mì, quả hồ đào, những hạt, đậu, khoai lang tây, trái cây khô, cà
chua. Ngoài ra sửa, rau cải xanh, trà, café cũng cho vitamine B3.
Vitamine B5
Có từ
tiếng Hy-Lạp. pantothen có nghĩa là « khắp nơi » có hầu hết
trong các thức ăn, đặc biệt trong mầm ngũ cốc nguyên vẹn (germe
céréale complet), có nhiều nhất trong sửa chúa (gelée royal).
Vitamine B5 giúp cho sự tăng trưởng và cho sự bền bỉ của da, tóc và
chất nhầy, có tác động hiệu lực trên hệ não và tuyến phần trên của
thận, được xem là vitamine anti stress, nó cần thiết cho sự
chuyển hóa chất đạm , chất béo, và bột đường, giúp cho sự tổng hợp
của một số hormones. Vì vitamine B5 có rất nhiều trong thức ăn nên
sự thiếu thốn vitamine nầy rất hiếm, cũng như vitamine B3 nếu thiếu
có thể gây ra chứng bệnh pellagre, gây ra sự tiêu chảy. Vitamine B5
có nhiều trong thịt, gan, trứng, men, đậu, ngũ cốc chưa xay.
Vitamine B6
Vitamine B6 rất
hữu ích trong sự chuyển hóa bột đường, chất béo, trong sự bảo vệ
những tế bào não, nếu thiếu vitamine B6 sẽ có những triệu chứng như
thương tổn trên bề mặt của da, gây ra sự mệt mỏi và sự suy sụp
tinh thần, sự trầm uất, vitamine B6 có trong ngũ cốc, gan, thịt,
tròng đỏ trứng gà, sửa và một vài loại rau cải.
Trong
ngũ cốc, gạo lức rất tốt cho cơ thể vì có chứa nhiều loại
vitamine B như B1, B2, B3, B5, B6 và vitamine E (chống oxy hóa)
ngoài ra có chứa nhiều chất xơ, chất khoáng như calcium, magnésium,
kẽm, sodium và chất đạm.
Theo
giáo sư Hiroshi Kayahara đại học Shinshu Nagano Nhật Bản, khi ngâm
gạo lức trong nước sạch 22 giờ thì các chất bổ dưỡng tăng lên rất
nhiều, lúc nầy gạo lứt ở trạng thái mầm và mầm gạo lứt chứa nhiều
chất xơ, chất khoáng hơn gạo lứt chưa ngâm. Gạo lứt nẩy mầm có chứa
lượng lysine chất giúp cho tăng trưởng chiều cao gấp 3 lần và có
chứa chất gamma aminobutyrique chất chống độc cho thận gấp 10 lần.Từ
năm 2000 khoa y cổ truyền của Nhật Bản và khoa y học phương đông của
Mỹ khuyến khích dùng gạo lứt nẩy mầm.
Ngoài
ra các nhà khoa học Nhật Bản còn khuyên nên uống trà gạo lứt. Gạo
lứt sạch mua về không vo mà bỏ vào chảo rang để nhỏ lửa đến khi vàng
sậm. Lấy một muỗng canh nấu với 1 lít nước đun sôi để lửa nhỏ khoảng
5 phút là có được món trà thơm, tốt cho những phụ nữ mãn kinh, bị
lạnh chân, khó ngủ hoặc bị tiêu chảy. Tuy nhiên không tốt cho những
người bị sốt, nổi mụn.
Vitamine B8
Biotine
cũng được gọi là vitamine H hoặc B8, hòa tan trong nước. Tham gia
vào những hoạt động thiết yếu cho sự chuyển hóa các chất đạm, chất
béo và chất đường, tái tạo móng tay chân, da và tóc, tham gia vào sự
tổng hợp vitamine B9 và B12. Biotine cũng có vai trò quan trọng
trong việc duy trì lượng đường trong máu, được dùng nhiều trong công
nghệ mỹ phẩm cho sức khỏe của da và tóc, lượng biotine cần thiết cho
cơ thể là khoảng 20-30 µgr/ngày. Vitamine B8 có thể dùng để chống
lại bệnh khó ngủ. Rượu có thể làm giảm nồng độ biotine trong máu.
Một trong những triệu chứng thiếu B8 là lượng cholestérol trong máu
rất cao.
Thông
thường trong thức ăn có đủ biotine, hơn nửa vi khuẩn ruột có thể sản
xuất số lượng lớn có thể cung cấp đầy đủ cho cơ thể.
Những
triệu chứng thiếu biotine: rụng tóc, phọt ra máu, mụn nhọt ở da,
buồn phiền, trầm uất, suy sụp tâm thần, ảo tưởng. Vitamine B8 có
trong trái cây, ngũ cốc, thịt, trứng, sửa.
Vitamine B9
Vai trò quan
trong chính là cho sự cấu tạo chất đạm, giúp cho việc tổng hợp ADN,
cần thiết cho người đàn bà mang thai, cho sự tăng trưởng và phát
triển của bào thai, tham gia vào việc chuyển hóa một vài chất đạm,
giúp cho sự tái tạo tế bào, sự cấu tạo hồng huyết cầu, cho sự vận
hành của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, làm lành nhanh chóng vết
thương, đặc biệt cho sự tăng trưởng nhanh của đứa trẻ. Cùng với
vitamine B6, B12 vitamine B9 tham gia vào sự phòng ngừa sự hình
thành của chất homocystéine trong máu, nếu chất này cao sẽ có
nguy hiểm cho tim mạch. Ngoài ra vitamine B9 còn giúp cho sự tăng
trưởng và tái tạo tế bào và được dùng để tránh bệnh thiếu máu.
Nếu
thiếu vitamine B9 sẻ gây ra nhiều chứng bệnh: làm rối loạn tâm thần
(lo âu, trầm uất, nóng nải, mất tự chủ), làm rối loạn hệ tiêu hóa
sinh ra sự tiêu chảy, nôn mửa, làm giảm sư ham muốn ăn uống và hậu
quả là sự giảm cân
Vitamine
B9 được tìm thấy trong gan, thịt, trứng, các loại ngũ cốc và rau cải
xanh, đậu nành, trái bơ, chuối, cây thìa là bẹ (fenouil), mầm
lúa mì (germe de blé), quả hồ đào (noix), men bia, cam, bắp cải.
Vitamine B12
Là một vitamine
hòa tan trong nước bảo đảm cho sự sản xuất những neuromédiateurs,
vitamine B12 là cofacteur của enzymes tham gia vào sự chuyển hóa của
những acide nucléique và cho sự tổng hợp của chất méthionine,
vitamine B12 rất cần thiết cho sự duy trì cho toàn thể hệ não, cần
thiết cho sự cấu tạo của tất cả tế bào của cơ thể, nếu thiếu sẻ có
hại cho tế bào đặc biệt cho những tế bào được tái tạo nhanh như hồng
huyết cầu và gây ra bệnh thiếu máu, số hồng huyết cầu bị giảm và
kích thước tăng, sự thiếu vitamine B12 phần lớn là do sự hấp thụ
không được tốt, thường thì vitamine B12 được hấp thụ trong ruột non
nhưng trước đó vitamine này phải được phối hợp với một chất được gọi
là « facteur intrinsèque » sự phối hợp xảy ra trong bao tử,
phân tử này được tiết ra bởi cùng tế bào tiết acide chlorhydrique,
sự hoạt động của tế bào bao tử giảm theo tuổi, sự thiếu vitamine
thường xảy ra cho người lớn tuổi, vì tiết ra ít acide chlorhydrique
và ít facteur intrinsèque, một trường hợp khác có thể cản trở sự hấp
thụ vitamine B12 là ở những người bị bệnh trầm trọng về đường ruột.
Những
triệu chứng cho ta biết thiếu vitamine B12: mệt, da xanh xao vàng
vọt, tim đập nhanh, chảy máu răng, ăn không ngon, nôn mửa, rối loạn
đường tiêu hóa, mất trí nhớ, suy sụp trí tuệ.
Chúng
ta không ngại thiếu vitamine B12 vì có nhiều trong thức ăn: thịt,
cá, trứng, thức ăn biển (hào, tôm, cua..) các thức ăn từ sửa,
fromage.
|
|
Thức ăn |
Vitamine B12
µgr/100 gr thức ăn |
|
Sò đỡm (palourde) |
99 µgr |
|
Gan bò (nấu chin) |
71-83 µgr |
|
Hào (huitre) |
16-28 µgr |
|
Cua |
7-12 µgr |
|
Tôm |
2 µgr |
|
Trứng |
3 µgr |
|
Thịt bò con (veau) |
2 µgr |
|
|
VITAMINE
C
Vitamine
C còn được gọi là acide ascorbique và ascorbate (dạng muối của acide
ascorbique) như ascorbate de sodium hoặc ascorbate de calcium, rất
quan trọng cho sự tổng hợp collagène và hồng huyết cầu, ngoài ra
vitamine C còn tham gia trong hệ miễn dịch, và giúp cho sự bảo vệ
những vitamine hòa tan trong chất béo như vitamine A và vitamine E,
vitamine C còn giúp cho acide béo khỏi bị oxy hóa, giúp cho việc
điều trị bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt, vitamine C bảo vệ tế bào
chống lại gốc tự do (radicaux libres) nguyên nhân của sự oxy hóa các
tế bào, giúp cho sự hấp thụ chất sắt vào cơ thể được dễ dàng hơn.
Vitamine
C có thể chống lại sự mệt mỏi, chống lại những bệnh cảm cúm và những
bệnh truyền nhiễm, là một yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp
cytokine (cytokine là một chất glycoprotéine: đường và chất đạm
được tổng hợp bởi những tế bào của hệ miễn dịch), giúp cho người bị
nghiện thuốc phiện nhờ tính chất chống độc của vitamine này,
vitamine C cũng có thể làm giảm stress, sự lo âu, buồn phiền, giúp
cho vết thương được mau bình phục.
Vitamine
C có nhiều trong các loại:
-
Rau cải: chồi cải bắp (brocoli), ớt tây đỏ, xanh, vàng, củ cải đường
đỏ (betterave)
-
Trái cây: cam, chanh, quít, bưởi, kiwi, thơm, đu đủ, ổi, xoài, dâu
tây
Sau
đây là vài thức ăn và số lượng vitamine:
|
|
Thức ăn |
Vitamine C
(mg/100 gr thức ăn) |
|
Ổi (goyave) |
250-300 |
|
Quả lý đen (cassis) |
200 |
|
Củ cải |
139 |
|
Ớt tây (poivron) |
126 |
|
Kiwi |
94 |
|
Chanh |
80 |
|
Dâu tây |
64 |
|
Bông cải |
60 |
|
Epinard |
50 |
|
Cam |
50 |
|
Dưa tây (melon) |
25 |
|
|
Nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng vitamine C nếu dùng quá nhiều sẽ không bị
ảnh hưởng đến sức khỏe vì nó được đào thải qua đường tiểu, nhưng gần
đây nhiều nghiên cứu của AHA (Américain Heart Association ở San
Diego) chứng tỏ rằng nếu dùng quá liều sẽ gây cho vành mạch máu từ
tim đến mắt và não dày thêm ra và có nguy cơ đến tim mạch, nếu trên
2000mg/ngày thì sẽ gây ra rối loạn đường ruột vì vậy nên Académie
des sciennes Américain quyết định lượng Vitamine C không được quá
2000mg/ngày.
VITAMINE
A
Vitamine
A cũng được gọi là rétinol
vì nó có trong võng mạc
(rétine). Vitamine A chỉ được thấy trong các thức ăn động vật
nhứt là trong gan, vitamine A được hấp thụ vào cơ thể cùng một lúc
với chất béo có trong thức ăn qua ruột non, vitamine A được dự trữ
phần lớn trong gan kế tiếp là trong võng mạc và da.
Vitamine
A còn có trong một vài loại thức ăn thức vật có chứa carotène
(provitamine A) và cơ thể có thể biến đổi thành vitamine A, nó cần
thiết cho thị lực và sự tăng trưởng của phế quản, ruột và
da.Vitamine A tham gia cho sự tăng trưởng của xương, trong sự tổng
hợp của vài chất hormones và trong cơ chế miễn dịch. Nếu thiếu
vitamine A có thể nguy hiểm đến thị lực, nếu nặng có thể đến mù mắt,
hiện tượng nầy thường xảy ra ở trẻ em của nhiều nước đang phát
triển. Vitamine A là một chất chống lại sự khô mắt rất hiệu quả.
Vitamine
A là một chất kích thích cho sự miễn dịch, thiếu vitamine A sẽ làm
giảm hệ miễn dịch đối với một số vi trùng và vi khuẩn, không có
vitamine A tế bào không thể tăng trưởng nên làm giảm sự hiệu quả của
hệ miễn dịch, vitamine A cần thiết cho sự tổng hợp một vài
glycoprotéines chất này giúp sự tiết chất nhầy được dễ dàng.
Vitamine
A, béta-carotène và caroténoide có tác dụng chống bệnh ung thư.
Nói
tóm lại là vitamine A là một vitamine chống mệt, chống sự nhiễm
trùng, giúp đỡ cho thị lực, làm tăng trưởng biểu mô (épithélium)
và chống ung thư.
Vitamine
A có trong gan, dầu cá, bơ, sửa, trứng và trong thực vật như rau lá
xanh, trái cây, đậu.
|
|
Thức ăn |
Vitamine A
µgr/100 gr thức ăn |
|
Dầu gan cá tuyết (morue) |
30000 |
|
Gan trừu con (nấu chín) |
23500 |
|
Bơ (beurre) |
708 |
|
Gan ngỗng (foie gras) |
950 |
|
Paté gan heo |
370 |
|
Tròng đỏ trứng gà |
570 |
|
Cá thu |
370 |
|
Trứng cá caviar |
570 |
|
Fromage |
298 |
|
|
VITAMINE
D
Vitamine
D còn được gọi là vitamine mặt trời
vì da có chứa một tiền chất, dưới ảnh hưởng của tia cực tím
(ultraviolet) của mặt trời tiền chất này biến thành vitamine D,
vitamine D giúp cho sự hấp thụ calcium và phosphore được nhiều hơn,
Vitamine D có trong sửa, trứng, gan và mỡ cá, vitamine D cung cấp
bởi thức ăn và hòa tan được trong mỡ sau khi được hấp thụ một phần ở
ruột non nó được đưa vào bộ phận tuần hoàn của một vài cơ quan và
được tồn trữ trong gan, máu, cơ bắp, mô mỡ, thận. Sau khi được
chuyển hóa vitamine D lại được đưa vào bộ tuần hoàn: ruột, xương,
thận, cơ bắp. Mùa hè có nhiều mặt trời vitamine D được tồn trữ nhiều
và được đem ra dùng cho mùa đông ít ánh sáng mặt trời hơn. Vitamine
D cần thiết cho sức khỏe, làm cho toàn thể xương được tráng kiện ở
người lớn tuổi vitamine D giúp tránh bị gảy xương nhất là ở háng và
xương sống.
Có
hai loại vitamine D:
-
D2 (ergocalciférol) có nguồn gốc từ thực vật có hầu hết trong
tất cả thức ăn.
-
D3 (cholécalciférol) được tổng hợp ở da do ảnh hưởng của mặt
trời, vitamine D cũng có trong thức ăn động vật như dầu cá, bơ, ngũ
cốc, trứng, có ít trong sửa.
Vitamine
D đóng vai trò quan trọng cho sự chuyển hóa phosphocalcique: giúp
cho sự hấp thụ calcium và phosphore ở ruột, giúp cho calcium dính
vào xương có nghĩa là giúp cho sự tăng trưởng và tái tạo của xương.
Vì
vitamine D hòa tan trong mỡ và được tồn trữ trong cơ thể, nhưng nếu
lượng vitamine D nhiều sẽ gây ra sự vôi hóa (calcification) ở các mô
mềm (thận, vành mạch máu), bệnh tăng calci trong máu (hypercalcémie)
mỗi ngày không nên dùng quá 25 µgr vitamine D. Mỗi ngày tiếp xúc với
mặt trời khoảng 15 phút là có thể đủ số lượng vitamine D.
VITAMINE
E
Vitamine E cũng được gọi là tocophénol, trong nhóm hòa
tan trong chất béo, vitamine E được biết đến nhiều vì là
chất chống oxy hóa rất hiệu nghiệm,
làm giảm sự lão hóa của da và bảo đảm sự ổn định cấu trúc của tế
bào. Vitamine E có khả năng thu lấy électron đơn của gốc tự do
(radicaux libre) và làm cho nó được ổn định bằng cách trung hòa
những gốc tự do này.
Mỗi
ngày cơ thể chúng ta sản xuất liên tục nhiều gốc tự do, những chất
này có thể gây tổn thương cho những thành phần tế bào của chất đạm,
chất béo và ADN.
Vitamine
E giúp cho sự giảm đau cho những người bị bệnh viêm khớp
(arithrite
rhumatoide), phòng bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh Alzheimer,
Parkinson, bệnh đục thể kính (cataracte).
Vitamine
E có tác dụng cho sự bảo vệ những tế bào trong cơ thể, quan trọng
cho sự sinh đẻ và tham gia vào sự tổng hợp hồng huyết cầu.
Vitamine
E có trong hầu hết các dầu ăn: có nhiều trong dầu hướng dương
(tournesol) mầm lúa mì, có trong dầu olive, dầu phọng, dầu mè, dầu
đậu nành ngoài ra vitamine E cũng có trong thức ăn thực vật: trong
rau cải xanh, nhiều trong xoài, khoai lang ngọt.
VITAMINE
K
Vitamine
K là vitamine hòa tan trong chất béo, còn được gọi là
vitamine đông máu, Vitamine
K có tác động quan trọng trên sự đông máu và khoáng hóa của xương,
vitamine K rất dễ bị hủy bởi oxy hóa và nhứt là dưới ảnh hưởng của
mặt trời, vitamine K phòng ngừa chứng bệnh loãng xương và tim mạch,
có hai loại vitamine K:
- K1
(Phytoménadione) có nhiều trong rau cải xanh (brocoli, cải bắp
đỏ và xanh, épinard) và trong đậu nành.
- K2 (Ménaquinone)
được sản xuất trong ruột kết (colon) hoặc có trong các thức ăn lên
men như fromage, miso, natto vân vân (miso và natto là thức ăn của
Nhật Bản có nguồn gốc từ đậu nành lên men), ngoài ra cũng còn có
trong gan, trứng, sửa, và dầu cá.
Vitamine
K1 tác động trực tiếp vào quá trình đông máu, còn vitamine K2 có
hiệu lực đến sự hóa vôi của những mô mềm (dính liếu đến bệnh tim
mạch và loãng xương).
Nếu
thiếu vitamine K có thể gây ra bệnh xuất huyết, chảy máu, thường ít
xảy ra cho người trưởng thành, nếu có thì ở những ngươi bị bệnh nặng
về gan. Rất hữu ích cho trẻ con, vì cơ thể trẻ con chưa sản xuất
được vitamine K.
CHẤT KHOÁNG
Chất
khoáng là một chất vô cơ cần thiết cho cơ thề, trong thức ăn ngoài
nước và chất hữu cơ còn có chất khoáng, chất khoáng được chia làm 2
nhóm: macrominéraux
và microminéraux (còn được gọi là oligo élément),
chất khoáng cũng như vitamine không cho năng lượng.
Chất
khoáng macrominéraux: cần thiết với một lượng lớn như calcium,
phosphore, magnésium, sodium, và potasium, có nhiệm vụ
trong việc cấu tạo tế bào mới, cải tạo mô, trong sự chế biến những
enzymes cần thiết cho sự tiêu hóa, chế biến hormones, về phương diện
chức năng, chất khoáng giúp cho sự tiêu dùng tốt về thức ăn và năng
lượng, có nhiệm vụ bảo vệ và điều tiết những vận hành tốt cho cơ
thể.
Chất
khoáng oligominéraux cần thiết với một lượng rất nhỏ như: sắt
(fer), kẽm (zinc), iode và sélénium, có nhiệm vụ như chất xúc
tác trong nhiều phản ứng sinh học.
Những
chất khoáng nầy có nhiều trong thức ăn có thể cung cấp đầy đủ (ngoại
trừ chất sắt và calcium) cho nhu cầu của cơ thể
Số
lượng tiêu thụ hàng ngày của chất muối khoáng tùy theo tuổi, phái
nam hay nữ, và cũng tùy theo trạng thái sinh lý của mỗi người: đang
thời kỳ tăng trưởng, mang thai hoặc mãn kinh (ménopause), tình trạng
sức khỏe, thói quen về rượu, thuốc lá, café, ngoài ra có những yếu
tố khác như sự di truyền, môi trường ô nhiễm và nhất là trong tình
trạng stress.
CALCIUM
Calcium
là một trong 22 chất khoáng cần thiết cho sự phát triển đốt sống (vertèbres)
cũng như răng và xương calcium đóng vai trò quan trọng cho sự
truyền luồng thần kinh
(transmission
l'influx nerveux) và sự đông máu. Calcium chiếm 1,6% sức
nặng của cơ thể, calcium là thành phần cấu tạo chánh của xương của
những người từ trẻ đến tuổi trưởng thành, vậy trong thời kỳ này
calcium phải được hấp thụ đầy đủ, người trẻ cần 1,3-1,8 lần so với
người trưởng thành, ngoài ra từ tuổi trưởng thành chúng ta cũng phải
bổ sung với những thức ăn chứa nhiều calcium để giữ cân bằng và duy
trì giá trị toàn bộ xương trong cơ thể. Ở một điều kiện hoặc ở một
số tuổi nào đó chúng ta cần chú ý thận trọng trong việc bổ sung
calcium nhất là cho sự tăng trưởng, cho những người đàn bà mang
thai, cho những người ăn chay trường, cho những người có sự rối loạn
đường tiêu hóa, cho sự tu dưỡng xương.
Phần lớn khoảng
99% calcium tập trung vào xương
và răng, còn lại 1% cho cơ bắp, não,
máu. Tuy nhỏ nhưng calcium nầy đóng vai trò vô cùng quan
trọng cho sụ vận hành của tất cả tế bào trong cơ thể như tế bào cơ
(tim và những cơ khác) và tế bào não, cho sự hoạt động của thận, cho
cơ chế đông máu, cũng như rất nhiều quá trình enzymatique
(dùng enzyme như một chất xúc tác trong nhiều phản ứng sinh học).
Nhiệm
vụ chính của calcium
- Cấu tạo, tăng trưởng, duy trì và bảo dưỡng
cho xương và răng
- Truyền luồng thần kinh
(transmission l'influx nerveux)
- Đàn hồi
cơ bắp, giúp cho cơ bắp được thư giãn, kiểm soát nhịp đập của tim
- Tiết
hormones
- Làm đông
máu
- Điều
chỉnh huyết áp
- Làm giảm
triệu chứng trước khi có kinh của đàn bà
- Làm giảm
nguy cơ cho bệnh ung thư ruột tả (duodenum)
- Đề phòng
sự gảy xương
- Trung
hòa pH trong cơ thể gây ra bởi stress và những thức ăn như chất đạm,
thịt, sửa
- Đóng vai
trò như dung môi trong nhiều phản ứng enzymatiques
Nguồn gốc của
calcium
Có
hai nguồn gốc: calcium có trong thức ăn và chất khoáng phụ gia
(supplément)
1) Calcium trong thức ăn
- Sửa chua 100 mg/125cl, yaout 200mg/100g
- Fromage được ép và chín chứa rất nhiều
calcium 1000-1300mg/100g
- Rau cải tươi 40mg/100g
- Trái cây tươi 20-30mg/100g
- Trứng và một vài loại cá, tôm, cua, ốc
trung bình chứa 55mg/100g
- Rong biển chứa nhiều nhất calcium
400-3000mg/100g
Ngoài ra còn có trong sửa đậu nành,
cá đóng hộp (còn xương), ngũ cốc, đậu
2) Calcium trong thuốc phụ gia
Calcium có nguồn gốc từ carbonate de
calcium (CaCO3), chất này có rất nhiều trong thiên nhiên (đá vôi, đá
hoa cương, vỏ sò), muốn được hấp thụ calcium phải được hòa tan và
phải được ion hóa. Nếu ta đốt nóng carbonate de calcium lên vào
khoảng 900-1000°C thì carbonate de calcium biến thành oxyde de
calcium CaO và nếu CaO tiếp xúc với nước oxyde de calcium trở thành
dung dịch hydroxyde de calcium (OH)2Ca (có pH rất cao nên có thể
phản ứng dễ dàng với các loại acide hữu cơ). Trong các loại thuốc
phụ gia (supplément) các nhà bào chế thường hay dùng acide citrique,
acide malique để phối hợp với hydroxyde de calcium để cho hai chất
muối malate de calcium va
citrate de calcium ngoài ra các
nhà bào chế còn dùng acide ascorbique (vitamine C) với hydroxyde de
calcium để cho một chất muối ascorbate
de calcium và nếu phối hợp với acide glucoheptonique thì cho
glucoheptonate de calcium, sự
hấp thụ calcium của những hợp chất trên nhiều hơn (35%) nếu so sánh
với calcium có nguồn gốc dùng trực tiếp từ carbonate de calcium
(25%).
Hấp
thụ calcium
Sự hấp thụ calcium tùy thuộc vào
nhiều yếu tố khác như phosphore, magnésium, silicium, vitamine A,
C, D, chất đạm, acide hữu cơ. Nhưng tỉ lệ
calcium/phosphore=1,2-1,6 và tỉ lệ calcium/magnésium=2 thì mới tốt
cho sự hấp thụ calcium (sửa có nhiều calcium nhưng lượng phosphore
cũng rất nhiều nên sự hấp thụ không được tốt, nếu muốn lượng calcium
trong sửa được hấp thụ nhiều thì phải dùng cùng lúc những thức ăn
khác chứa nhiều calcium và ít phosphore để có được tỉ lệ trên).
Sự hấp thụ calcium rất phức tạp, tùy
theo thức ăn hàng ngày, trung bình từ 200mg đến 2500mg/ngày số lượng
cần thiết calcium cho cơ thể vào khoảng từ 500-1200 mg, trung bình
cần khoảng 600mg cho những người trưởng thành, còn người trẻ đang
thời kỳ phát triển cần 1200 mg, người lớn tuổi cần khoảng 900 mg,
người đàn bà mang thai hoặc có con nhỏ cần 1000-1200mg nhưng thực tế
sự hấp thụ không đủ.
Theo kết quả nghiên cứu của đại học
Hiroshima do ông Arai Yoshi và ông Sakai Kentaro thì sự hấp thụ
calcium chỉ vào khoảng 71% cho những người có tuổi từ 15-19, và theo
ông Kojima Itaru của đại học Gumma thì sự hấp thụ calcium ở ruột tá
chỉ có khoảng 15-20% vì vậy để có được số lượng calcium cần thiết
600mg/ngày thì phải ý thức được cơ chế ăn uống.
Theo kết quả của 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm thứ nhất thực hiện trên 4
người bằng cách đo số lượng calcium và so sánh với cơ chế ăn uống
khác nhau của mỗi người, và ông Kojima Itaru kết luận rằng 2 người
có số lượng calcium lớn vào khoảng 96-98% là họ thường hay ăn cá
hơn là thịt vì cá có chứa vitamine D (vitamine D giúp cho
calcium được hấp thụ nhiều hơn) ngoài ra họ con hay ăn quả mơ khô
Nhật, quả mơ khô có chứa chất acide citrique một loại
acide hữu cơ cũng giúp cho sự hấp thụ calcium nhiều hơn, và còn 2
người khác thì thích ăn thịt và không ăn cùng lúc những thức ăn có
chứa chất acide hữu cơ nên số lượng calcium ít hơn 77-79%
Thí nghiệm thứ hai được thực hiện
trên 8 người chia ra làm 2 nhóm, nhóm thứ nhất dùng những thức ăn
chứa calcium và magnésium còn nhóm thứ hai dùng những thức ăn ngoài
calcium, magnésium còn thêm những thức
ăn có chứa vitamine D và acide hữu cơ, theo kết quả thì họ
nhận thấy rằng số lượng calcium và magnésium được hấp thụ của nhóm
thứ hai nhiều hơn trung bình từ 4-6% nếu so sánh với nhóm thứ nhất.
Dưới đây là những thức ăn chứa nhiều
calcium , vitamine D, acide hữu cơ (acide citrique, acide malique,
acide acétique) và lactose:
- Thức ăn giàu calcium: sửa, fromage,
cá con phơi khô, tôm con phơi khô, yaourt.
- Thức ăn giàu vitamine D: nấm đông
cô, cá hồi, lương, nấm mèo.
- Thức ăn giàu acide hữu cơ như acide
citrique, acide malique có nhiều trong chanh, bưởi, trái mơ Nhật
- Thức ăn giàu acide hữu cơ như acide
acétique: giấm.
- Thức ăn giàu acide hữu cơ như acide
lactique: sửa, yaourt, fromage.
Những
yếu tố có thể ngăn trở sự hấp thụ calcium:
- Bổ sung quá nhiều chất đạm động
vật, sửa có thể làm hao tổn calcium.
- Dùng những thức ăn chứa nhiều
phosphore có thể làm mất cân bằng tỉ lệ calcium/phosphore.
- Stress.
-
Nhiều caféine.
-
Nhiều sodium.
-
Cho những người bị bệnh bao tử, ruột.
-
Nếu không hoạt động thể dục hàng ngày hay bất động có thể sinh ra sự
rò rỉ calcium từ xương qua máu, ngược lại nếu cử động thường xuyên
(đi bộ nhanh, bơi lội vân vân) có thể giúp đỡ sự hấp thụ calcium
nhiều hơn. Đối với những người trưởng thành nếu ăn uống bình thường
thì lượng calcium được hấp thụ và lượng calcium bị mất có thể được
cân bằng, nhưng lúc lớn tuổi calcium mất đi nhiều hơn nên cần được
sự chú ý đặc biệt về chế độ ăn uống hoặc bổ xung thêm calcium dưới
dạng thuốc bổ.
Trong
thời gian người đàn bà mang thai và sau khi sinh con, số lượng
calcium cần hấp thụ phải được nhiều hơn nếu muốn cho sự tăng trưởng
của đứa trẻ được tốt, hơn nửa nằm trên giường một thời gian lâu sẽ
làm giảm mất một số lượng đáng kể calcium và phosphore trong đường
tiểu. Nên biết rằng số lượng calcium trong sửa mẹ ít hơn sửa bò
nhưng sự hấp thụ calcium của sửa mẹ rất cao so với sửa bò (hấp thụ
calcium sửa mẹ khoảng 50% còn sửa bò chỉ vào khoảng 15%).
Hai
acides hữu cơ có thể ngăn cản sự đồng hóa (assimilation) của
calcium :
-
Acide oxalique có trong rau chút
chít (oseille) và rau bi na (épinard), cây đại bàng (rhubarbe), quả
hồ đào (noix), quả phi (noisette), đậu đỏ, cacao, chocolats
-
Acide phytique có trong bánh mì
làm từ bột lúa mì chưa xay (pain complet).
Nhiều
giả thuyết cho rằng người Nhật Bản ở đảo Okinawa sống lâu, có được
tuổi thọ trung bình rất cao vì những thức ăn ở đảo này rất tốt: ít
chất béo như cá, những thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành, ngũ cốc,
trái cây, rau cải, rong biển (người Nhật tiêu thụ rất nhiều
rong biển), hơn nửa người dân của đảo nầy thích ăn
trái khổ qua còn được gọi là mướp đắng (tiếng Pháp gọi là
concombre amer), trong trái khổ qua có chứa rất nhiều chất vitamine
và chất đạm nhất là arginine và lysine vân vân, nước uống dùng hàng
ngày của dân Okinawa cũng chứa nhiều calcium từ sò (calcium de
corail) rất tốt cho sức khỏe.
Ngoài
ra calcium có nhiều trong sửa và các thức ăn khác như: quả hạnh
(amande), cây mùi tây (persil), figues (sung), cải xoong (cresson),
cacao, tròng đỏ trứng gà, hạt mè và một vài loại cá.
Hậu quả của sự
thiếu calcium
1) Ảnh hưởng đến tế bào trong
cơ thể:
Sau
đây là ý kiến của giáo sư bác sỉ Karaki Hireaki đại học Tokyo
bộ nông nghiệp:
Calcium
sau khi qua miệng, rồi xuống đến ruột tá nơi này calcium được hấp
thụ vào máu một phần lớn calcium được tồn trữ trong xương, xương
chứa khoảng 25% calcium, khi cần thiết calcium trở về máu và vào các
tế bào, hoạt động của calcium có thể tóm tắc lại như sau: khi
calcium vào trong tế bào, nó sẽ kết hợp với oxy, lúc đó tế bào ở vị
trí mở « on » và sau khi calcium đi ra thì tế bào ở vị trí đóng
«off» đó là một đơn vị calcium đi vào và một đơn vị calcium đi ra,
thời gian cho sự hoạt động là vào khoảng 1 giây. Nhờ có calcium mà
tế bào lúc nào cũng ở vị trí mở (bởi ảnh hưởng của sự « đóng mở »
liên tục)
Calcium
có nhiệm vụ làm hoạt động hơn 60 tỉ tế bào não trong cơ thể chúng
ta. Tất cả các hoạt động, như ăn uống, đi bộ cũng nhờ calcium,
Ảnh
hưởng của calcium đến tế bào cơ bắp: lúc calcium đi vào bên trong tế
bào calcium phối hợp với oxy, tế bào ở vị trí mở «on» cơ bắp co lại,
và lúc calcium phân cách với oxy, lúc đó tế bào ở vị trí đóng «off»
thì cơ bắp tự động giãn ra. Nhờ những tháo tác được lập lại liên tục
nầy của calcium nên tim, mach máu và những cơ quan khác có được
trạng thái bình thường, ngoài ra calcium còn đi vào các tế bào của
hệ miễn dịch và có nhiệm vụ giúp chúng ta bảo vệ, chống lại sự tấn
công của những vi trùng, vi khuẩn từ bên ngoài.
Nếu
thiếu calcium trong máu hoặc ngoài tế bào, tế bào này sẻ bị nguy
hiểm vì bởi sự thiếu thốn nầy, vì lối vào của tế bào lúc nào cũng
được mở rộng trong khi đó lối ra của tế bào không thay đổi nên cửa
ra có thể bị nghẽn và gây ra nhiều hậu quả xấu:
- Làm
cản trở sự vận hành của tế bào: co rút, phập phòng.
- Ảnh
hưởng rất xấu cho hệ cơ bắp, mạch máu và tim.
- Làm
rối loạn và mất cân bằng của sự tiết hormone.
- Có
thể dẫn đến sự mất trí nhớ, làm giảm lực đề kháng.
Để
giải quyết sự ứ động của calcium bên trong tế bào nầy thì hạt thể (mitochondries)
được kích hoạt, nó tổng hợp adénosine dưới dạng ATP (Adénosine
TriphosPhate) và dùng như một nguồn năng lực để hấp thụ
calcium nầy, nếu trường hợp nầy kéo dài thì những thể hạt
(mitochondries) bị yếu dần, hoạt động của tế bào bắt đầu chậm lại và
sự lão hóa sẽ nhanh lên và nếu thời gian nầy kéo dài 5-10 năm
vấn đề quan trọng về huyết áp, tim mạch sẽ bắt đầu.
Một
thí nghiệm về sự lão hóa do thiếu calcium cũng do bác sỉ giáo sư
Karaki Hireaki thực hiện:
Thí
nghiệm nầy thực hiện trên 5 người đàn bà trên truyền hình quốc gia
được 100 khán già tham giả trực tiếp, 5 người đàn bà này có tên
tượng trưng là A,B,C,D và E, kết quả của khán giả phần đông cho
rằng: B: 40 tuổi, D và E: 34 tuổi, A và C: 29 tuổi.
Nhưng
thực tế tất cả 5 người đều đồng tuổi là 31 tuổi, sau khi đo kết quả
calcium trong xương của mỗi người: B:76%, D,E: 88% và A,C: 97%. do
đó giáo sư Hireaki kết luận rằng sự lão hóa rất nghiêm trọng của cơ
thể do sự thiếu hụt calcium.
2) Ảnh hưởng đến hoạt động của não
Calcium
rất quan trọng cho sự hoạt động của não, tốc độ đi vào và đi ra khỏi
tế bào não của calcium là rất nhanh ( 0,001 giây) nhanh gấp 1000 lần
nếu ta so sánh với các tế bào khác trong cơ thể.
Thí
nghiệm do giáo sư bác sỉ Fujita Takuo đại học Kobe bộ y học,
thí nghiệm nầy được thực hiện trên 30 người, lượng calcium của những
người này được biết qua bởi kết quả của mật độ xương của mỗi
người. Hơn 60% không có đủ calcium, trong số những người này được
chia ra làm 2 nhóm mỗi nhóm 10 người, nhóm 1 với lượng calcium đầy
đủ còn nhóm 2 không đủ calcium, vì calcium là một yếu tố cần thiết
cho sự truyền tin não, người ta đo tầng sóng cực tím thì nhận thấy
sự khác biệt là nhóm 1 có tầng sóng cực tím không bị phân tán, và
những người này rất vô tư, bình thản trái lại nhóm 2 tầng sóng cực
tím bị phân tán và những người này thiếu tập trung, rất nhạy cảm,
nóng nảy.
Nguồn gốc của sự bồn chồn nóng nảy
Khi
thiếu calcium trong máu, vị trí « tất mở » của tế bào lúc nào cũng ở
vị trí mở «on » thần kinh rất nhạy cảm, sự truyền tin bị rối loạn,
bên nhận tin cũng bị ở trong trạng thái lẩn lộn (confusion)
và sự nóng nảy, mất tự chủ bắt đầu.
Khả năng trí nhớ bị yếu kém
Trí
nhớ được thực hiện trong một phần của não có tên là «hippocampe»
(xem sự truyền tin này ở phần chất đạm của acide glutamique), cũng
như sự lão hóa khi calcium đi vào và bị tồn động bên trong tế bào,
nếu thời gian kéo dài hoạt động của thể hạt (mitochondrie) giảm dần
và có thể ngưng hoàn toàn, lúc đó những tế bào não sẽ bị chết. Mỗi
ngày có hàng trăm ngàn tế bào não bị chết nếu không được thay thế,
não sẻ bị hư hại. Bệnh Alzheimer là một chứng bệnh do thiếu hụt
calcium lâu dài gây tổn hại cho tế bào não.
3) Sỏi thận
Thí
nghiệm do giáo sư bác sỉ Karaki Hireaki đại học Tokyo thực hiện:
Sỏi
thận (chất không hòa tan trong nước) phần lớn do sự phối hợp giữa
acide oxalique và calcium cho ra một chất muối là
oxalate de calcium (khoảng 80%)
còn lại là phosphate và carbonate
de calcium. Nhiều người cho rằng sỏi thận gây ra bởi
sự hấp thụ quá nhiều calcium nhưng thực tế lại trái ngược, sau nhiều
nghiên cứu ông Karaki Hireki cho rằng nguyên nhân gây ra sỏi thận là
do thiếu calcium, thực ra nếu số lượng calcium dư thừa ở ruột tá
(duodenum) calcium sẽ hóa hợp với acide oxalique và sẽ được đào
thải, ngược lại nếu thiếu calcium acide oxalique sẽ xuống đến thận
và phối hợp với calcium để cấu thành oxalate de calcium, vì không
hòa tan được trong nước nên lâu ngảy oxalate de calcium lớn dần và
thành sỏi thận.
Để
xác định kết quả trên có một thí nghiệm khác được thực hiện trên
những người đàn bà từ 27-44 tuổi, theo kết quả này thì những người
hấp thụ calcium đầy đủ, bệnh sỏi thận giảm hơn 27%
4) Loãng xương (ostéoporose)
Xương
có thể xem như kho tồn trữ calcium cung ứng cho những sự tiêu dùng
ưu tiên của những tế bào.
Xương
được hấp thụ ở ruột tá, nó tham gia vào việc đông máu và cho hệ não,
sự cân bằng của calcium tùy thuộc vào vài chất hormones, sự đồng hóa
calcium sẽ bị cản trở nếu thức ăn giàu acide nhưng muốn sự hấp thụ
tốt thì thức ăn phải có được độ acide-base cân bằng, nếu không có sự
cân bằng thì sẽ gây đến sự nguy cơ bị mất calcium nhiều hơn là hấp
thụ.
Số
lượng xương đạt đến mức cao nhất là vào khoảng tuổi 30, sau đó số
lượng dự trữ calcium sẻ bị thất thoát từ từ nhất là đối với những
người đàn bà sau mãn kinh (ménopause), nếu không được bổ
sung xương sẽ bị lún (tassement) và có thể trở nên giòn, mất tính
chất đàn hồi.
Trên
lý thuyết số lượng calcium được cung cấp có thể duy trì cho sự
chuyển hóa của xương, nhưng những lời khuyên về việc bổ sung calcium
chỉ nói về vấn đề hấp thụ bằng những thức ăn giàu calcium mà không
nói đến sự thất thoát calcium qua đường tiểu do cơ chế ăn uống tùy
sở thích. Nhiều người sống ở những nước phát triển thường được bổ
sung quá nhiều chất đạm và muối (chlorure de sodium) mà không
ý thức được cơ chế bổ sung này sẽ làm mất calcium rất nhiều, hậu quả
là calcium tự động được lấy từ xương để thỏa mãn nhu cầu của tất cả
tế bào nếu trường hợp nầy được kéo dài xương sẽ bị thoái hóa.
Ghi
chú: ta có thể so sánh sự tồn trữ calcium như một thùng chứa
nước mà thùng bị thủng đáy, dầu cung cấp rất nhiều nhưng thùng nước
vẩn không bao giờ đầy.
Phương
pháp tốt nhất là nâng cao sự ăn uống với những thức ăn giàu calcium
và đề phòng sự đào thải calcium qua đường tiểu.
5) Vai trò của những thức ăn giàu chất
kiềm (alcanalisant)
Cơ
chế ăn uống acide hay basique ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc của
xương, mỗi lần có sự quá độ về acide thì cơ thề sẽ tiết calcium ra
để trung hòa số lượng acide dư thừa. Nếu lúc nào cũng được cung cấp
đầy đủ những thức ăn có chất kiềm nhất là những thức ăn chứa nhiều
potassium thì cơ thế của chúng ta có thể đề phòng được sự thất thoát
calcium của xương.
Một
thí dụ về cơ chế ăn uống: không nên ăn trứng, cá, thit cùng với bánh
mì trắng, mì Ý (pates), gạo trắng vì những chất nầy không chứa chất
kiềm mà nên ăn cùng với rau cải và trái cây có nhiệm vụ trung hòa
acide dư thừa của những thức ăn giàu acide như thịt cá.
Chúng
ta có thể kết luận rằng cơ chế ăn uống phải được cân bằng về độ
acide-base để có thể làm chậm lại sự loãng xương. Thể thao cũng là
một phần quan trọng cho việc bảo vệ xương, phải tiêu hủy những gì dư
thừa và bảo vệ những gì cần thiết cho cơ thể.
MAGNÉSIUM
Magnésium
là một yếu tố hóa học, vai trò quan trọng của magnésium là giữ gìn
sự cân bằng cho cơ bắp và não, làm thư giãn cơ thể, thường
magnésium được phối hợp với calcium và
phosphore nhất là trong xương (xem tỉ lệ calcium và magnésium
trên trang 27) nó tham gia vào sự
điều tiết nhịp đập của tim,
trong sự vận hành cơ bắp và trong sự truyền luồng thần
kinh, phần lớn magnésium được tìm thấy trong xương, răng và gan, có
trong mỗi tế bào của cơ thể, tham gia vào nhiều phản ứng chuyển hóa
của cơ thể.
Cơ
thể chúng ta có vào khoảng 25g magnésium, 60% được chứa trong xương
có nhiệm vụ duy trì cấu trúc của xương, 25% dùng cho cơ bắp, làm cho
cơ bắp được thư giãn, phần magnésium còn lại cho não, và những cơ
quan như: tim, gan và thận.
Nhiệm
vụ quan trọng của magnésium là chống
lại sự mệt mỏi, lo lắng, stress, làm giảm lượng cholestérol.
Đối với đàn bà có mang, magnésium có nhiệm vụ làm giảm những sự cố
như sẩy thai hoặc sinh con sớm, giúp đỡ chống lại sự hao tổn
magnésium cho những người uống rượu, bệnh tiểu đường, bị tiêu chảy
hoặc những người đàn bà uống thuốc ngừa thai.
Người
ta cho rằng magnésium là chất đốt (carburant) cho não, vì
magnésium tham gia tích cực cho sự truyền tin giữa những tế
bào não, mỗi ngày chúng ta hoạt động, suy nghĩ nên sinh ra mệt,yếu
về tinh thần lẩn thề xác những sự kiện nầy khiến cho sự tiêu thụ
magnésium tăng cao nên có thể bị thiếu magnésium, thiếu magnésium sẽ
làm cho ta bị bồn chồn, lo lắng, trầm uất, cơ bắp bị co rút, rối
loạn tim mạch, huyết áp cao và bị loãng xương, phải được bù đắp bằng
cơ chế cân bằng về ăn uống.
Lượng
magnésium cần thiết cho cơ thể vào khoảng 350-420 mg/ngày, cũng như
calcium lượng magnésium cần cho sự bù đắp sẻ cao hơn cho người đàn
bà có thai hoặc cho những người làm thể dục quá độ.
Magnésium
có trong quả phi (noisette), quả hạnh (amande), cacao, trái cây khô,
trong nước uống, đồ ăn biển, cá, muối ngoài ra rau pi na (épinard)
và ngũ cốc có nhiều magnésium nhưng vì épinard có chứa acide
oxaliques và trong ngũ cốc chưa xay (complet) có chứa
polysaccharides và acide phytiques nên những chất nầy có thể cản trở
sự hấp thụ của magnésium. Nước khoáng Hépar và Contrex chứa nhiều
magnésium.
PHOSPHORE
Phosphore
là một yếu tố hóa học, là một chất khoáng thường được hóa hợp với
calcium và magnésium cần thiết cho cấu trúc của xương, có nhiệm vụ
làm cho răng, xương trong cơ thể được tốt, tham gia vào sự vận hành
tốt của não, của cơ bắp cũng như cho sự cấu tạo của tế bào, tham gia
vào hầu hết tất cả những phản ứng hóa học, vào sự hấp thụ, biến đổi
của một vài chất dinh dưỡng, vai trò chính của phosphore là sự
chuyển hóa của calcium.
Phosphore
là một thành phần của những hợp chất sinh học (acide nucléiques của
ADN và phospholipides của những màng tế bào) tham gia vào sự cung
cấp năng lượng cho cơ thể.
Thiếu
phosphore sẽ gây ra sự thiếu nhạy cảm, làm yếu cơ bắp và làm cho hơi
thở không được điều hòa.
Phosphore có
đầy đủ trong hầu hết tất cả thức ăn trừ đường và dầu ăn, lượng
phosphore cần thiết cho cơ thể là khoảng 750 mg/ngày số lượng nầy có
thể nhiều hơn cho những người đang trong thời kỳ phát triển hoặc cho
đàn bà mang thai. Nhưng nếu hấp thụ quá nhiều lượng phosphore và
tỉ
lệ
calcium/phosphore
bị giảm sẽ gây ra ảnh hưởng không tốt
trên sự khoáng hóa xương, tỉ lệ nầy phải từ 1,2-1,6 vì
vậy nên cẩn thận không nên dùng trên 2500mg phosphore/ngày.
Phosphore
có nhiều trong thức ăn như: sủa bột, fromage, hạt điều (noix
d'acajou), quả hồ đào (noix), quả phi (noisette), thịt, cá, mầm đậu
nành, chocolat, trái cây khô, yaourt.
SODIUM
Sodium
(Na) là một chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, một chất khoáng có
nhiều trong cơ thể, nhứt là trong huyết tương 3,2 gr/litre, xương
chứa 40% sodium khoảng 40g, ngoài ra còn có trong bạch huyết cầu và
trong chất lỏng trong các cơ quan, gần bằng số lượng trong huyết
tương, tham gia vào sự vận hành tốt cho cơ bắp, cần thiết cho sự
truyền luồng thần kinh, đóng vai trò cho sự truyền tin tế bào
(communication cellulaire), giúp vào sự điều tiết huyết áp động
mạch, sodium điều chỉnh sự khát nước
có nghĩa là chất này có khả năng điều chỉnh sự tồn trữ chất nước
trong các cơ quan, nhưng nếu dùng quá
nhiều sodium sẽ có ảnh hưởng xấu cho những người bị cao huyết áp
vì đặc tính của sodium là giữ nước và kết quả là làm cho
lượng máu nhiều hơn, mạch máu bị căng ra hậu quả là làm cho huyết áp
cao hơn.
Sodium được
kiểm soát bởi nhiều hormones và được đào thải bởi đường tiểu hoặc
phân.
Thông
thường cơ thề chúng ta cần ít nhất 2 gr/ngày, chánh phủ Canada
khuyên nên dùng khoảng 1,5 g/ngày và nhiều nhất là 2,3 g/ngày, nhưng
thực tế số lượng sodium có thể lên đến 9-10 gr/ngày, nhiều nghiên
cứu cho rằng không nên dùng quá 2,5 gr/ngày vì sẽ nguy hiểm cho tim,
mạch máu não và thận. Khi làm thể dục quá độ, hoặc khi khí
hậu quá nóng sẽ có ảnh hưởng đến sự hao tổn và dẫn đến sự thiếu hụt
sodium, hiện tượng nầy sẽ gây ra sự bất tỉnh, co rút cơ bắp, mất ngủ
và bị mất nước.
Sodium
có nhiều trong muối ăn dưới dạng clhorure de sodium, ngoài ra còn có
trong thức ăn như đồ ăn biển, trong các thức ăn công nghiệp như xúc
xích, đồ ăn hộp, fromage, các món ăn khai vị (khoai lang tây
chiên,...) ngoài ra có nhiều trong nước uống hàng ngày.
Phần
lớn sodium được đào thải qua đường tiểu, rất ít qua mồ hôi và nước
mắt.
POTASSIUM
Potassium
là một chất khoáng thiết yếu bảo đảm nhiều chức năng quan trọng cho
cơ thể, giúp cho sự đề phòng và giảm bệnh cao huyết áp, đề phòng
bệnh sỏi thận, và những tai nạn mạch máu não, tác động trong sự vận
hành não, cơ bắp (co rút cơ bắp). Potassium phối hợp và tác động
chặc chẻ với sodium để duy trì cân bằng độ acide cho cơ thể,
thiết yếu cho sự co giãn cơ bắp, cơ tim, tham gia vào sự vận hành
tốt cho thận, góp phần vào những phản ứng enzymatique, cho sự tổng
hợp nhiều chất đạm, cho sự chuyển hóa nhiều chất đường.
Thông
thường người ta có khuynh hướng dùng quá nhiều sodium và tỉ lệ
potassium/sodium bị mất cân
bằng, sự mất cân bằng nầy phát sinh những bệnh cao huyết áp động
mạch, làm mất calcium sinh ra sự rối
loạn tim và não, bệnh loãng xương và sỏi thận. Để tránh sự
mất cân bằng potassium/sodium, không dùng quá 2,5 gr sodium/ngày,
nên dùng những thức ăn có chứa nhiều potassium và lượng hấp thụ
potassium phải cao hơn gấp 4 lần sodium, nhưng nếu số lượng
potassium quá cao có thể dẫn đến nguy hiểm cho tim.
Potassium
có nhiều trong các thức ăn: đậu trắng (haricot blanche), đậu lăng
(lentille), trái cây khô: sung (figue), quả chà là (datte), hạt đào
lạc (pistache), quả hồ đào (noix), quả hạnh (amande), khoai lang
tây, rau cải xanh (nếu nấu chín sẻ mất khoảng 50-70%), trái cây
tươi: chuối, cam quít (agrume), quả lý đen (cassis) ngoài ra có
trong chocolat, thịt, cá.
SẮT
( fer)
Chất
sắt là một trong những chất muối khoáng cần thiết cho những vận hành
tốt của cơ thể, là một thành phần chính trong hàng tỉ tế bào hồng
huyết cầu, chất sắt hóa hợp với chất
đạm huyết cầu tố (hémoglobine)
bảo đảm cho sự vận chuyển oxy đến tất cả những tế bào trong cơ thể.
Chất sắt còn giữ vai trò thiết yếu trong nhiều hoạt động sinh học,
tốt cho sự vận hành của hệ miễn dịch.
Sắt
có dưới hai dạng:
- Sắt
héménique là loại sắt có trong máu của thịt, nhất là trong hồng
huyết cầu, sắt héménique được hấp thụ nhiều hơn chất sắt non
héménique khoảng 25%.
- Sắt
non héménique là loại sắt có trong thực vật (trà, café, tròng đỏ
trứng gà, nhưng thức ăn chế biến từ sửa nhưng lượng hấp thụ rất ít
khoảng 5%.
Số
lượng cần thiết cho người trưởng thành là khoảng 14mg/ngày nếu ăn
uống cân bằng thì số lượng này đủ để cung cấp cho cơ thể, nhưng đối
với người đàn bà có kinh (chất sắt có thế bị mất 15-25 mg/ngày hoặc
đối với người mang thai số lương cần thiết có thể lên đến 30-50 mg/ngày.
Vitamine
C có vai trò kích thích sự hấp thụ của chất sắt.
Có
trong những thức ăn: dồi lợn đen (boudin noir) 22 mg/100gr, thit bồ
câu: 20mg/100gr, gan: 15 mg/100gr, cacao: 12,5 mg/100gr, cật: 9
mg/100gr, mầm lúa mì: 4,8 mg/100gr, thịt trừu, thịt bò: 2-3,5
mg/100gr, rau pina (épinard) có tiếng là chứa nhiều chất sắt nhưng
thực tế chỉ có 2,5 mg/100gr.
Thiếu
chất sắt sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu kéo theo sự giảm khả năng
hoạt động về thể xác và trí tuệ, giảm sức đề kháng, thiếu chất sắt ở
người đàn bà mang thai, hài nhi có thể bị nguy hiểm.
KẼM
(zinc)
Kẽm
là một oligoélément tham gia vào rất nhiều phản ứng enzymatique (hơn
200 enzymes) và đóng vai trò quan trọng sự chuyển hóa chất đạm, chất
béo và chất đường, là một chất chống
oxy hóa có nhiệm vụ đề phòng những hậu quả gây ra bởi những
gốc tự do (radicaux libres), chất kẽm có chức năng như chất kháng
sinh tétracycline cho sự chửa trị bệnh mụn trứng cá, chất kẽm
còn có vai trò quan trọng trong hầu hết tất cả giai đoạn sản xuất
chất đạm và tái tạo tế bào, làm lành vết thương, cho sự tăng trưởng
(trẻ em thiếu chất kẽm sẽ bị chậm trễ sự tăng trưởng), bảo vệ sự
miễn dịch, tốt cho thị lực.
Gan
có vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa kẽm trong cơ thể, 30% kẽm
được tìm thấy trong xương và 60% kẽm được tìm thấy trong cơ bắp.
Chất
kẽm có trong động vật sẽ được hấp thụ tốt hơn, mỗi ngày trung bình
chúng ta cần khoảng 15 mg chất kẽm có trong những thức ăn như: hào
(huitre): 16 mg/100gr, gan bò, gan heo: 9 mg/100gr, mầm lúa mì:
7mg/100gr, bánh mì có nguồn gốc lúa mì chưa xay: 5 mg/100gr, thịt
bò: 4 mg/100gr, tròng đỏ trứng gà: 4 mg/100gr, cá da trơn: 2,5
mg/100gr.
IODE
Iode
lá một thành phần cần thiết của thực phẩm, là một oligoélément cần
thiết cho sự cấu tạo những hormones
thyroide và cho sự vận hành tốt của tuyến này, những hormones
này rất quan trọng từ giai đoạn hài nhi đến tuổi dậy thì và suốt quá
trình của đời sống. Khi cơ thể hấp thụ ít chất iode nếu kéo dài sự
thiếu thốn này, tuyến giáp sẽ lớn dần và bướu sẽ hình thành. Iode
được hấp thụ trong bao tử và ở phần ruột tá (duodénum) iode được tồn
trữ trong tuyến giáp (thyroide)
và được bài tiết qua đường tiểu. Số lượng iode cần thiết cho người
trưởng thành là khoảng 150 µg, tuy nhỏ nhưng rất quan trọng vì cơ
thể chúng ta không thể tồn trữ iode được lâu.
Nếu
thiếu iode sẽ gây ra sự cương máu ở những tuyến (biểu hiện bởi
bướu), kéo theo sư chậm trễ cho tăng trưởng và gây ra sự biến loạn
trí tuệ, sinh ra mệt mỏi, quên, tâm trạng u buồn. Những người sống
trên núi thường hay bị thiếu iode vì không có phương tiện để hấp thụ
iode từ muối biển sự kiện nầy ảnh hưởng đến hình thể con người hoặc
dị hình hay lùn và có thể ảnh hưởng đến hài nhi.
Những
người thiếu iode là những người bị nghiện thuốc lá, người ăn chay
trường, người tập thể dục quá độ và nhất là đàn bà có thai.
Nếu
dùng quá độ lượng iode sẽ gây ra tính nóng nảy, dễ cáu, mất ngủ
Có
trong những thức ăn: nhiều nhất là muối biển, rong biển, đồ ăn biển,
cũng có trong bánh mì, sửa, đậu nành.
SÉLÉNIUM
Sélénium
là một yếu tố hóa học, là một oligo élément và là một tiền chất của
glutathion chất chống oxy hóa rất hửu nghiệm.
- Ảnh
hưởng đến tim mạch: bên Tàu có chứng bệnh gọi là « bệnh Keshan »
là những bệnh nhân ở vùng có tên Keshan, đất ở vùng nầy chứa rất ít
sélénium nên gây ra những bệnh về cơ tim có thể dẫn đến tử vong.
- Điều
chỉnh cao máu: thiếu sélénium có thể dẫn đến bệnh cao máu, số bệnh
nhân ở những vùng ít sélénium có thể cao hơn 3-4 lần.
-
Sélénium giúp cơ thể sản xuất chất glutathion péroxydase, enzyme này
phối hợp với vitamine E bảo vệ chống lại oxy hóa gây ra bởi những
gốc tự do, chống lại sự lão hóa của
những tế bào, ảnh hưởng tốt cho hệ miễn dịch.
- Đề
phòng ung thư: ở Mỹ kết quả của nghiên cứu dịch tể học phát hiện
rằng những bệnh ung thư vú, ung thư ruột già, ung thư phổi, thường
xảy ra ở những vùng thiếu sélénium.
- Thiếu
sélénium sẻ làm giảm một lượng quan trọng glutathion péroxydase và
làm tăng lượng péroxyde trong tất cả tế bào (độc hại cho tế bào) ảnh
hưởng đến thể thủy tinh (cristallin) của mắt và có thể gây ra
bệnh đục thể kính (cataracte), sélénium tham gia vào quá
trình của thị giác bằng cách nâng cao tính nhạy của ánh sáng.
- Tê liệt
cơ bắp: năm 1965 giáo sư Lamand chứng tỏ rằng nếu thiếu sélénium
trong thức ăn của bò con, lâu ngày bò mất ăn, cơ bắp không được phát
triển tốt, sinh ra cử động khó khăn, ảnh hưởng đến cơ hô hấp và bò
có thể tử vong. Ỏ người nếu thiếu sélénium sẽ gây ra những bệnh như
rụng tóc, móng tay chân, viêm da và cơ bắp bị tê liệt.
Người
trưởng thành cần khoảng 55 µg/ngày, đàn bà mang thai: 60 µg/ngày,
sélénium có trong thức ăn thực vật và động vật, toàn cơ thể chứa
khoảng từ 12-15 mg, phải được hấp thụ từ thức ăn vì cơ thể không
tổng hợp được
Tôm
hùm: 100 µg/100gr, hào (huitre): 77-154 µg/100gr, cá thu, cật, gan
bò con:
60-80 µg/100gr,
sò điệp (coquille saint jacque), tôm: 50 µg/100gr, trứng: 20
µg/100gr, rau cải: 1-2 µg/100gr.
Vài
thí dụ đáng chú ý:
-
Quả hồ đào (Noix) Brésil chứa rất nhiều sélénium: một hạt noix
Brésil (5 gr/hạt) chứa 95µg sélénium
-
Gạo chưa xay chứa sélénium cao gấp 15 lần gạo đã xay.
NƯỚC
Nước
là một thành phần cấu tạo chánh của cơ thể, nước chiếm vào khoảng
65% trọng lượng của cơ thể. Nước cần thiết cho sự sống của những tế
bào và giúp cho sự tuần hoàn máu
Củng
như oxy cơ thể ta không có nước dự trữ, mỗi ngày cơ thể chúng ta đào
thải trung bình 2,5 lít nước qua đường tiểu, hô hấp, mồ hôi và những
hoạt động hàng ngày và phải bổ sung bằng phương thức ăn uống, trung
bình trong thức ăn chứa vào khoảng 1 lit nước/ngày và cần phải uống
thêm 1,5 lít nước để có được số lượng cân bằng với số lượng bị đào
thải, hơn nửa cơ thể ta không cho phép bị mất quá 3% nước mỗi ngày.
Uống
nước đầy đủ hàng ngày có thể ngừa được bệnh sỏi thận và tránh viêm
đường tiểu, trái lại nếu thiếu nước sẽ gây ra nhiều tai hại có thể
dẫn đến tử vong nhất là cho những người nhỏ tuổi, già và những người
bệnh. Nước tham gia vào sự vận hành tốt cho cơ thể, đối với những
người lớn tuổi mặc dù không cảm thấy khát nước nhưng cần phai uống
nhiều nước để có được sự cân bằng.
Trong
trường hợp chúng ta làm thể dục, khí hậu oi bức hoặc bị bệnh, lượng
nước hấp thụ cho cơ thể phải được cung cấp nhiều hơn, những người
làm thể dục nên uống nước nhiều lần trước khi, trong khi và sau khi
thực hành để cơ thể đào thải dễ dàng những chất bã sinh ra, chất bã
nầy là hậu quả của sự sản xuất năng lượng của cơ thể.
|
|
Hoạt động
|
Mất nước |
Mất chất muối |
|
Bình thường |
0,3 lit |
2 gr/24 gio |
|
Thể dục nhẹ |
1 lit |
4 gr/24 gio |
|
Thể dục mạnh ở nhiệt độ cao |
>2 lit |
>6-7 gr/24 gio |
|
|
Đối
với những chứng bệnh như nóng lạnh, tiêu chảy, ói mửa,cơ thể bị mất
nước rất nhiều cần được bổ sung, nên uống nước nhiều lần mỗi lần một
lượng nhỏ.
Ở
những nước phát triển nước uống có hai loại chánh là nước khoáng và
nước dùng hàng ngày (nước robinet) trái lại ở những nước đang phát
triển vì việc xử lí nước chưa được hoàn hảo nên cần phải đun sôi để
nguội hoặc lọc trước khi dùng, nhất là đối với những đứa trẻ mới
sinh dưới 6 tháng không nên dùng nước máy (nước robinet) vì nồng độ
nitrate cao nếu trên 15 mg/lit sẻ cho kết quả độc hại cho đứa bé,
hơn nửa số lượng chất khoáng phải ít hơn 500 mg/lit vì thận của đứa
bé sẽ bị quá tải và không tốt cho sức khỏe, vì vậy phải cẩn thận
chọn lựa nước khoáng vô vi khuẩn và ít nitrate cho đứa bé dưới 6
tháng.
Ngoài
ra nước là một dung môi có thể làm loãng độc tố sau đó sẽ được đào
thải ra ngoài, pHi của nước trung bình pHi=7 nên nước có thể trung
hòa một phần acid dư thừa trong bao tử trong những trường hợp như bị
stress, ăn nhiều thịt, uống nhiều sửa vân vân.
Nên
dùng lượng nước theo đúng phương pháp để có được sự điều chỉnh
bình thường nhiệt độ cho cơ thể, tham gia vào sự vận hành tốt cho
não, cho tế bào, cho cơ bắp và thận.
Mất
nước có thể làm cho ta mất tập trung, nước giúp cho sự tiêu hóa,
nước tham gia vào sự vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các bộ phận
của cơ thể.
Nguyễn Hoàng Anh
Exryu 63 Kyodai
Paris 8/2011
Xem thêm :
Phần 1: Ẩm
thực và dinh dưỡng
Phần III:
Phương pháp sản xuất những chất dinh dưỡng từ chất đạm: acides
aminés.
|
* Vài
hàng về anh Nguyễn Hoàng Anh.
Anh Nguyễn Hoàng Anh qua Nhật năm 1963. Sau khi xong
chương trình học tiếng Nhật anh vào Đại học Kyoto. Theo anh
Anh cho biết sempai của anh lúc đó là anh Nguyễn Trung Chí và
anh Nguyễn Đại Ca. Anh theo học môn hóa học cơ khí (kikai
kagaku). Sau khi tốt nghiệp anh ở lại cao hoc thêm một năm.
Năm 1969 anh qua Pháp. Tại đây anh làm việc cho viện nghiên
cứu đại học Marie-Curie Paris. Sau đó anh làm việc cho một xí
nghiệp cách Paris 125 km, xí nghiệp này chuyên sản xuất những
chất amino acides có thể gọi là xí nghiệp hóa dược, anh chịu
trách nhiệm về bộ môn phương pháp và sản xuất (méthode et
production). Hiện giờ anh đã nghỉ hưu và đang sinh sống ở
Paris.
|
|
|
|