|
Phần I : Ẩm Thực và Dinh Dưỡng
V́ ẩm thực liên quan rất nhiều đến dinh
dưỡng và sức khỏe, phần đầu của bài viết này có ư muốn nêu lên nguồn
gốc, lịch sử, sự tiến hóa của những thực phẩm đặc thù của ba quốc
gia Nhật, Pháp và Việt Nam và phần kế tiếp đề cập đến sự khác nhau
về ẩm thực, nghệ thuật và kỹ thuật nấu nướng, các món ăn ngon với ư
muốn chuyển đến mọi người thích cách tŕnh bày đẹp, gia vị ngon của
các món ăn mới, lạ trên mọi miền của ba quốc gia mà không ít th́
nhiều liên quan đến chúng ta.
LỊCH SỬ & TIẾN HÓA
A) ẨM THỰC
NHẬt BẢN
Hiện tại nghệ thuật ăn uống, chất
dinh dưỡng có trong thức ăn của Nhật đă và đang được các nước trên
thế giới ưa chuộng v́ ngoài phẩm chất dinh dưỡng rất tốt cho sức
khỏe, cách tŕnh bày và bát đĩa “utsuwa” dùng cho các món ăn rất đa
dạng và rất phong phú giúp cho nghệ thuật ẩm thực của Nhật Bản thêm
phần trang trọng.
Lịch sử ăn uống của người Nhật đă
thay đổi rất nhiều sau hơn 2000 năm biến hóa, nhờ vào tinh thần cầu
tiến tích cực, đặc biệt, hiếm có của người Nhật nên hầu hết tất cả
các ẩm thực trên thế giới đều được người Nhật nghiên cứu và phát
triển đến ngày nay và theo sách Guide Rouge,
Nhật Bản được cho là một trong những quốc gia có nền ẩm thực
dồi dào và phong phú nhất thế giới
Chương nầy gồm có ba phần:
1) Lịch sử ẩm thực của Nhật
2) Thực phẩm và ẩm thực
3) Những nguyên liệu chánh dùng để
thực hiện các món ăn hàng ngày
1) Lịch sử
Thời đại Joomon
(10000-300 trước JC)
Là thời đại của các thức
ăn c̣n hoang dại, thiên nhiên, người Nhật
lúc đó thường hay ăn những thú rừng như: heo rừng, hưu nai, các loại
chim, các loại côn trùng, rau cỏ, trái cây.
Thời đại Yayoi
(300 trước JC- 300 sau JC)
Thời đại Yayoi là thời đại người
Nhật bắt đầu biết trồng lúa và dùng bát đĩa bằng cây, sau đó bởi ảnh
hưởng của Tàu và Đại Hàn người Nhật dùng bát đĩa bằng kim loại như
đồng và sắt, thức ăn củng giống như thời Joomon nhưng người Nhật bắt
đầu ăn mật và các gia vị như “sansho” (một loại tiêu Nhật Bản gồm có
lá và hạt được xay nhuyễn thường dùng để ăn với lương nướng).
Thời đại Asuka
(552-645)
Thời đại nầy người ta trồng lúa ḿ,
ngũ cốc, yến mạch vân vân, người Nhật bắt đầu biết cách phát triển
kỹ thuật chế biến những nguyên liệu trên, họ ăn “Hoshii” loại cơm
phơi khô, “Kayu” cháo va “Zosui” cháo yến mạch. Lúc nầy người Nhật
nhập vào các bát đĩa bằng sành, họ bắt đầu dùng những lọ bằng cây và
bằng thủy tinh, những thức uống như “Amazuke” và “Dakushu” hay
“Đoburotu” (rượu gạo không tinh chế), nước sốt như “shoyu” và các
loại đồ biển ướp muối “shiokara” như mực “ika no shiokara”, cầu gai
“uni no shiokara”, hào “kaki no shiokara” vân vân, rau, củ ướp muối
(tsukemono).
Thời đại Nara
(645-794)
Là các thức ăn giống như thời đại
“Sui” (581-611) và “Tang” (618-907) của Tàu, người Nhật bắt đầu dùng
những lọ bằng cây, người quư tộc dùng các loại sơn mài, bát đĩa bằng
đồng, và thủy tinh, đũa được làm bằng tre, bằng bạc như hiện tại.
Thời Nara đến thời Heian, người dân
không được ăn thịt nhưng được ăn những thức ăn chế biến từ sửa như
yaourt, bơ, fromage, tiếp theo xuất hiện những thức ăn như rau củ
phơi khô, đồ gia vị, “senbei” (một loại biscuit của Âu Châu).
Thời đại Heian
( 794-1192)
Năm 794 là năm kinh đô Nhật được di
chuyển về Kyoto, thức ăn vua chúa và các tầng lớp quư tộc được nấu
bởi những đầu bếp của triều đ́nh, những món ăn nầy chú trọng và liên
quan rất nhiều với những phong tục cổ truyền của Nhật, những thức ăn
nầy được tiếp tục đến ngày hôm nay, lúc đó người Nhật dùng vật gát
đũa, bao b́ đũa và mâm khay cho bát đĩa với các món ăn.
Thời đại Kamakura
(1192-1336)
Thời đại nầy các thức
ăn được phát triển nhiều nhất. Những thức
ăn và đời sống người Nhật được hợp lí hóa
và không bị ràng buộc dưới bất cứ h́nh thức nào và đó cũng là thời
đại của “Samurai”. Thức ăn “Shojin” (ăn
chay) bắt đầu lan rộng ra quần chúng với sự phát triển của giáo phái
“Zenshuu” (c̣n gọi là giáo phái Zen)
Thời đại Muromachi
( 1336-1573)
Đầu thời kỳ Muromachi là thời kỳ
bắt đầu sự đơn giản và trật tự của xă hội Samurai, nhưng với sự liên
quan đến xă hội “kuge” giai cấp quư tộc bị chi phối và chịu ảnh
hưởng lớn trong cung đ́nh với chủ nghĩa về h́nh thức, trong những lễ
hội của triều đ́nh các món ăn được điều chỉnh và được thiết lập,
những bửa ăn “Kaiseki” được bắt đầu với những nghi lễ truyền thống
trong cung đ́nh, những phát triển về ẩm thực nầy đă làm thay đổi đời
sống hàng ngày của xă hội Samurai từ đơn giản đến h́nh thức phức tạp.
Thời đại nầy ẩm thực Nhật Bản bắt
đầu thay đổi nhiều bởi ảnh hưởng của các nước Đông nam Ấ từ thức ăn
cho tới bánh ngọt v́ nguyên liệu phần đông được nhập cảng từ các
nước nầy qua sự trung gian của 2 nước Tây-ban-Nha và Bồ-Đào-Nha.
Nhiều thức phẩm từ các nước Đông-Nam-Á như: bí, khoai
lang tây, bắp, tomate, ớt đỏ, paprika vân
vân.
Vài món ăn như “Shippoku” là thức
ăn của Tàu theo phong cách Nhật (shippoku là món ăn hàng ngày của
Tàu, những món ăn cao sang gồm 9 món chánh và 16 món phụ, danh tiếng
nhất là vùng Nagasaki), thức ăn “Fucha” là thức ăn chay của Nhật
theo phong cách Tàu, thức ăn “tempura”(thực phẩm chiên) danh từ nầy
bắt nguồn từ tiếng Tây-Ban-Nha “temporas”, bánh ngọt “Kasutera” danh
từ nầy cũng từ tiếng Tây-ban-Nha “pao de castella”.
Về các loại thức uống như cognac, whisky cũng
được nhập vào nước Nhật, dao, muỗng, nĩa cũng bắt đầu có từ thời đại
nầy.
Thời đại Edo
(1603-1868)
Thời đại hoàn tất của ẩm thực Nhật
Bản, trong lúc bế quan tỏa cảng (năm 1639 nước Nhật hoàn toàn không
quan hệ với tất cả các quốc gia khác) lúc nầy nước Nhật đă tạo cho
ḿnh những món ăn thuần túy Nhật Bản. Nghệ thuật nấu ăn “Honzen” món
ăn thuần túy Nhật được sinh ra trong giới lănh chúa, công hầu của
thời đại phong kiến, nghệ thuật nấu ăn “Kaiseki” được lan rộng ra
khắp quần chúng.
Danh từ “Kaiseki” được ra đời thời
Muromachi là những món ăn nhẹ trước những buổi lễ trà đạo, và được
thay đổi vào thời đại Edo với những món ăn chánh từ những món khai
vị cho tới những món ăn tráng miệng và danh từ nầy c̣n có nghĩa là
yến tiệc. Sự phát âm của chữ “Kaiseki” của hai
thời đại giống nhau nhưng chữ viết bằng hán tự và ư nghĩa lại khác
nhau. Vào thời đại Muromachi “kaiseki” bắt đầu bằng chữ
“khoái” và “kaiseki” của thời đại Edo bắt đầu bằng chữ “hợp”.
Thời đại Meiji
(1868-1912)
Đầu năm 1872 nước Nhật xóa bỏ việc
cấm ăn thịt và bắt đầu có những món ăn giống như Mỹ và Âu-Châu, thời
Edo có những quán ăn bán những thức ăn làm sẵn cho mọi tầng lớp dân
chúng, đến thời Meiji những sách vở về nghệ thuật nấu ăn và các
trường dạy học nấu ăn cho các bà nội trợ cũng bắt đầu được thành lập.
Người Nhật bắt đầu làm những món ăn tại gia như thịt lăn bột, thịt
ḅ chiên, croquette (một loại khoai lang tây xay nhiễn chiên hoặc
trộn với thit heo xay), trứng gà chiên, cơm rang thập cẩm, trong
thời đại nầy có hai chiến tranh xảy ra ở Nhật là chiến tranh
Tàu-Nhật (1894-1895) và chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) ảnh hưởng
rất nhiều đến dinh dưỡng của người Nhật.
Thời đại Showa
(1926-1989)
Sau thế chiến thứ hai người Nhật
bắt đầu ăn bánh ḿ, bởi ảnh hưởng chính trị và sự thặng dư về lúa ḿ
của Mỹ, có thể cho rằng thời đại nầy không ít th́ nhiều ẩm thực Nhật
Bản chịu ảnh hưởng của ẩm thực Châu Âu. Sau sự
tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của nhiều xí nghiệp thực phẩm
và hậu quả làm thay đổi rất nhiều cho đời sống và ẩm thực của người
dân, sự thay đổi nầy kéo dài đến năm 1991 (thời gian kinh tế Nhật bị
sụp đổ). Trước đó phần đông người đàn bà Nhật ở nhà lo về
việc nội trợ, sau năm 1991 người Nhật để rất ít thời gian cho vấn đề
ăn uống và bắt đầu tiêu thụ nhiều đồ ăn chế biến hoặc đồ đông lạnh,
công nghệ thực phẩm chế biến phát triển rất nhanh, chúng ta thấy
dưới những tầng hầm của hầu hết các siêu thị đều dành riêng cho
nhiều loại thực phẩm rất đa dạng và đầy đủ có thể làm thỏa măn cho
mọi tầng lớp dân chúng.
Cơ chế ăn uống nầy kéo dài đến
ngày hôm nay, phần đông giới trẻ tiêu thụ quá nhiều calories và chất
béo nên phát sinh nhiều bệnh như tiểu đường, cao máu, ung thư vân
vân, để khuyến khích mọi người lưu ư đến sức khỏe, sách vở và truyền
h́nh thường hay tổ chức những buổi nói chuyện về nghệ thuật ăn uống
và tŕnh bày những món ăn ít chất béo ít calories và khuyến khích ăn
nhiều rau cải, ngũ cốc và trái cây.
2) Thực phẩm và ẩm thực
Nhật Bản la một quần đảo dài trên 3300 km, gồm có 4 đảo
chính: Hokkaido, Honshuu, Shikoku và Kyuushuu về phía nam c̣n có
quần đảo Ryuukyuu gồm có rất nhiều đảo nhỏ trong đó có đảo Okinawa (Nhật
Bản có tất cả là 6852 đảo và 4 đảo chính chiêm 95% diện tích toàn
quốc). Với sự khác biệt rất nhiều về thời tiết từ bắc đến nam, miền
Hokkaido mùa đông dài, lạnh và có nhiều tuyết, mùa hè nóng, miền
Honshuu th́ khí hậu có 4 mùa rỏ rệt nhưng về mùa hè khí hậu rất nóng
và độ ẩm rất cao, Shikoku và Kyuushuu khí hậu nóng hơn và cũng rất
ẩm c̣n đảo Okinawa th́ khí hậu giống như các vùng ở miền nhiệt đới.
Ẩm thực Nhất Bản rất phong phú và đa dạng, sau đây là thực phẩm và
thức ăn của vài vùng chính tiêu biểu cho
toàn lănh thổ của xứ này
Hokkaido
- Sản
phẩm từ biển: Cá hồi, cầu gai, cua, mực, cá hồi sông (truite),
mực tuộc, cá thu, cá tuyết, cá trích, bào
ngư, tôm, cá bơn sao, cá bơn lá mít
- Sản phảm nông nghiệp: khoai
lang tây, củ hanh tây, bắp, các loại đậu,
đậu nành, bi, mạ, mạch ba góc (sarrasin), melon, đậu Hà Lan, sửa, bơ,
fromage
- Ramen: một loại ḿ làm từ bột lúa ḿ trộn với míso (đạu hủ lên
men)
- Soba: một loại ḿ làm từ lúa mạch ba góc
-
Thịt: thịt ḅ, thịt heo, sư tử biển (otarie), tuần lộc (caribou)
và vùng Hokkaido danh tiếng về thịt cừu, thịt cừu rôtie được gọi là
Jingitsukan
- Rượu: nhiều loại rượu làm từ trái
cây và nho
- Unikarage: một món ăn chế biến từ con
cầu gai và sứa
- Ika shiokara: một loại mực trộn
chung với đồ ḷng của cá loại cá được ướp
với muối
- Toba: cá hồi phơi khô
- Ishikari nabe: một loại lẩu cá hồi với
rau cải và míso
-
Unidon: cơm với trứng cầu gai
- Ikuradon: cơm với trứng cá hồi
- Trái cây: vùng Hokkaido rất danh tiếng
về melon nhất là tỉnh Yabari và Furano, vùng Yabari trước đó là nơi
khai thác than đá, sau này v́ quá bị ô nhiễm và lợi nhuận thấp nên
nơi này trở thành nơi sản xuất melon có tiếng toàn xứ Nhật, ngoài ra
c̣n có các loại trái cây khác như trái anh đào (cerise) và dưa hấu
đen
- Bia: có một loại
bia tên là Sapporo (thủ đô của Hokkaido)
Tokyo
Tokyo là thủ đô của Nhật nên hầu hết các sản phẩm đặc
biệt của toàn quốc được mang về đây, thực phẩm rất đa dạng và phong
phú:
- Sushi, sashimi đủ loại phần lớn cung
cấp bởi chợ cá lớn nhất Nhật Bản Tsukiji
- Các loại thức ăn
Âu Mỹ (pizza, hambaagu, spagetti vân vân
- Nikujaga: món ăn
pha chế từ thịt ḅ và khoai lang tây
- Karaage: món ăn
từ thịt gà ướp tỏi, gia vị lăn bột, trứng gà chiên
- Yakitori: thịt gà xỏ xâu ướp gia
vi, nướng
- Umebushi: trái mơ khô ướp với rượu và
muối
- Wasabi: một loại mù tạt xanh người Nhật
dùng ăn với cá sống
- Edoamamiso: bột nhào đậu trộn với đậu
nành, muối, và gạo nẩy mầm
- Betara zuke: rau cải ướp muối (củ cải,
muối gạo nẩy mầm, đường rượu mirin (rượu sake có đường)
- Kabayaki: món ăn
lương nướng ướp gia vị ngọt với sake
- Oden c̣n được gọi là Kanto daki: một
loại ragout có nhiều loại củ: như khoai môn, củ cải, đậu hủ, trứng
gà, chả cá và nước sốt làm từ cá ngừ bụng sọc
- Tempura: rau củ đủ loại và tôm bọc bột
chiên
- Soba , udon
dủ loại
Kyoto
Kyoto là thủ đô của Nhật Bản năm 794 và
được UNESCO công nhận là tài sản văn hóa nhân loại, thành phố Kyoto
có nhiều đặc sản như những món ăn truyền thống Nhật: đậu hủ, bánh
ngọt, rau củ ướp muối (tsukemono).
- Ohagi: một loại bánh ngọt Wagashi ( tất
cả bánh ngọt làm từ gao (cơm) và đậu đỏ), phản nghĩa của Wagashi là
Yogashi bánh có nguồn gốc Âu-Mỹ bánh ngọt Ohashi giống như Botamochi
hai loại bánh ngọt này khác nhau về độ lớn của bột nhàu (pâte) đậu
đỏ
- Imoyokan: làm từ khoai
lang, đường và bột agar-agar (một loại
rau câu dùng để làm đông thức ăn
- Takikimi: Gà, cơm, nước tương, rể cây
ngưu bàng, cà rốt, konyakku, muối, đậu hủ, nấm hương, rươu sake ngọt
(mirin)
- Oyako-don: cơm, thịt gà, củ hành, ớt
xanh, trứng, tương, đường, rượu sake mirin
- Dashimaki: Trứng, nước súp rong biển (kombu),
katsuo bushi (lát mỏng cá ngừ bụng sọc), nước tương, muối, dầu ăn,
rượu sake mirin (món trứng này chúng ta thường thấy trong các loại
“bento” một loại cơm phần được bán ở mọi nơi nhất là ở các nhà ga)
- Kinpira gobo: Rể cây ngưu bàng (racine
de bardane), cà rốt, dầu mè, tiêu, mè rang, nước tương, đường, rượu
sake mirin
- Butajiru: Cà rốt, rể cây ngưu bàng, củ
cải, thịt heo, konnyaku, nấm hương, củ hành, nước súp rong biển,
míso
- Súp míso: Đậu hủ, rong biển (wakame)
nước súp rong biển, míso củ hành, đậu hủ, khoai môn.
Osaka
Về phương diện ẩm thực thành phố Osaka có
tiếng là nhà bếp của thiên hoàng (tenka no daidokoro) từ thời Edo
(1603-1868) hai món ăn tượng trưng cho
thành phố này là: Takoyaki và Okonomiyaki. Takoyaki là món ăn từ con
mực tuộc và katsuo bushi (lát mỏng của cá ngừ bụng sọc) c̣n món
Okonomiyaki gồm có bột ḿ, thịt heo hoặc thịt ḅ, mực, tôm, bắp cải,
katsuo bushi, các loại nước sốt như ketchup, mayonnaise, aonori
ngoài ra thành phố này c̣n có nhiều món lẩu mà thành phần chính là
đậu hủ.
- Udon suki: thịt gà, cá, rau cải, udon,
giấm, nước tương, nước súp từ rong biển
- Hako zushi: một loại sushi cơm, giấm,
tôm, cá
- Kitsune udon: Udon, đậu hủ nướng, súp (từ
rong biển và katsuo khô, nước tương, rượu sake ngọt
- Shabu shabu: thịt ḅ lát mỏng, rong biển,
giấm, nước tương
- Sukiyaki: Thịt ḅ, cải bẹ trắng, hành
tây, củ hành, búng tàu nước tương, rượu sake,trứng
gà
- Cá nóc (fugu): mặc dầu món ăn này có thể
nguy hiểm đến tính mạng nhưng v́ gia vị của cá nóc rất đặc biệt và
rất ngon, ăn sashimi và phần c̣n lại dùng làm món súp rất “ngọt”
- Harihari nabe: là món lẩu mà phần chính
là thịt của cá ông (baleine) ăn với lá
mizuna một loại rau đặc biệt của vùng Osaka có vị hơi cay
Kagoshima
- Thực phẩm nông nghiệp và đồ ăn chế biến:
đường nâu (từ mía), củ cải (daikon), khoai lang, trà xanh, rượu mạnh
(shoochuu), giấm gạo lức (kurozu), cam, bưởi, cam Tankan (có nguồn
gốc từ tỉnh Quảng Dông Tàu), yamagawa-zuke một loại củ cải phơi khô
ướp muối, vùng Kagoshima nổi tiếng nhất la có một loại củ cải khổng
lồ trung b́nh nặng 10kg và có thể nặng đến 20-30kg có chiều dài hơn
1m.
- Hải sản tươi và thực phẩm chế biến:
katsuo-bushi (cá ngừ bụng sọc phơi khô hoặc được thái từng lát mỏng),
kibinago một loại cá trích (hareng) tṛn, lương, nhiều loại cá khô,
cá bơn limande đuôi vàng
- Katsuo tataki: món
ăn sashimi chế biến từ cá ngừ bụng sọc (bonite) củ hành, dầu
mè, gừng, nước tương
- Satsuma age: một loại chả cá chiên gồm
nhiều loại cá tươi (Satsuma là tên của một tỉnh của vùng kyuushuu)
- Tonkotsu: món ăn
súp chế biến từ rượu mạnh, míso, thịt heo, củ cải, đường
- Cơm gà: thịt gà, cơm, nấm hương,
omelette, củ hành, gừng, nước sốt gà
Okinawa
Okinawa là một ḥn đảo
lớn ở phía cực nam của Nhật, có khí hậu của miền nhiệt đới nên có
nhiều loại sản phẩm nông nghiệp giống như Việt Nam.
- Goya champuru: trái khổ qua xào với
trứng, đậu hủ (champuru là tiếng Okinawa nghĩa là trộn nhiều thực
phẩm để pha chế một món ăn)
- Kubu irichi: một món
ăn mà thành phần chính là kombu xào với
thịt heo, nấm hương và konnyaku (một loại rau câu Nhật)
- Okinawa soba: một loại súp đặc biệt của
Okinawa gồm có nhiều thực phẩm khác nhau: soba (lúa ḿ), rong biển,
cá ngừ bụng sọc phơi khô lát mỏng, thịt heo, lát chả cá, hành chuông
xanh, gừng (ướp rượu, đường, muối)
- Tobichi soba: một loại súp soba
pha chế với chân heo hầm
- Zenzai: một loại chè đậu đỏ của vùng này
ăn với gạo nếp
3) Nguyên liệu
Rong biển
Trên thế giới có đến hơn 20000 loại
rong biển nhưng chỉ có hơn 50 loại có thể ăn được, rong biển chứa ít
calories nhưng chứa rất nhiều chất bổ dưỡng, chất bột đường, chất xơ,
chất đạm (30-40%) như soja, vitamines B12 cần thiết cho sự tổng hợp
hệ thần kinh và sự tuần hoàn máu, đặc biệt rong biển nâu có chứa
viatmine C và E, rong biển đỏ chứa provitamine A và rong biển xanh
chứa vitamine C, phần đông rong biển chứa nhiều chất đạm, vitamine,
iode, calcium và các chất khoáng khác như magnésium, potassium,
phosphore, sắt, kẽm, đồng và sélénium. Rong biển cũng c̣n được gọi
là “nouveau steack” v́ có nhiều đặc điểm sau:
- Chất
sắt: một cách tổng quát, thức ăn
thực vật không chứa nhiều chất sắt bằng cá và thịt, rong biển chứa
chất sắt 10 lần hơn đậu lentille.
- Chất
béo oméga 3: ngoài nước và chlorophyle rong biển c̣n chứa
một vài chất béo vào khoảng 1%-5% /MS (thực phẩm khô) đặc biệt chất
béo nầy hầu hết là oméga 3 rất tốt cho tim
mạch.
- Chất
đạm: rong biển chứa nhiều chất đạm nhất là rong
biển đỏ chứa nhiều chất xơ có thể làm giảm sự hấp thụ của chất đạm.
- Iode:
theo trung tâm nghiên cứu và định giá trị
của rong biển (Ceva) nếu hấp thụ vài mg/ngày có thể cung cấp đầy đủ
lượng iode cần thiết cho sự hoạt động tốt của hormones thyroidiennes
(chứng nhiễm độc nội tiết tuyến giáp) và sự điều tiết trọng lượng cơ
thể.
Rong biển cung cấp năng lượng,
nhiều calcium rất tốt cho những người đàn bà có thai hoặc cho con bú,
cho người lớn tuổi và trẻ con, ngoài ra c̣n đề pḥng được bệnh cao
huyết áp, bệnh táo bón, khối u.
Có 5 loại rong biển chính được dùng
hàng ngày:
- Salade biển: một loại rong biển có
màu xanh như lá salade có thể làm gỏi.
- Kombu: một loại rong biển màu nâu
và dầy dung để nấu canh, chứa nhiều calcium, sắt và
potassium.
- Đậu que biển: giống như ḿ Ư (tagliatelles)
màu nâu xanh dùng tươi hoặc nấu với cá và ngũ
cốc, chứa nhiều iode và có vị ngọt, ăn tươi hoặc làm gỏi với cá và
ngũ cốc.
- Wakame: là loại rong biển có màu
xanh dưới dạng khô, khi để vào nước có thể phồng lên đến 4-5 lần có
thể ăn sống hoặc chín, làm tăng mùi thơm cho canh soupe.
- Dulse: một loại rong biển màu đỏ
hoặc màu tím đỏ có vị nhẹ có mùi iode thường được dùng cho đồ biển
tươi sống và có thể nấu ăn với cá và
trứng.
Cá và các loại hải
sản
Có khoảng 20000 loại cá, phần đông
sống trong biển, phần khác sống trong nước ngọt như suối, sông và hồ,
có vài loại cá sống ở biển và sinh sản ở nước ngọt như cá hồi và có
loại sống ở nước ngọt lại ra biển để sinh sản như lương.
Thịt của cá khi nấu chín thường hay
mềm hơn là thịt động vật và không cần phải nấu nướng lâu như thịt
của các loài thú vật khác v́ những mô liên kết của cá chỉ có 3% c̣n
thịt thú vật là vào khoảng 13%, phần đông thịt của cá chứa ít chất
béo nên rất tốt cho sự tiêu hóa.
Thịt cá chứa
rất ít mạch máu và sắc tố nên thịt của cá lúc nào cũng trắng.
Có vài loại cá chứa rất nhiều chất béo nhưng chất béo nầy phần đông
là đa bất bảo ḥa oméga 3 rất tốt cho sức khỏe, chất béo nầy có
nhiệm vụ làm giảm quá tŕnh đông tụ máu, làm giảm huyết áp, làm giảm
hàm lượng triglycérides và lipoprotéines (kết hợp giữa chất đạm và
chất béo) cũng như tránh các bệnh về năo. Cá béo
(gras) chứa nhiều chất béo đa bất bảo ḥa oméga 3 hơn là cá gầy (maigre).
Chất béo đa bất
bảo ḥa bị oxy hóa nhanh hơn là chất béo bảo ḥa nên cá bị thoái hóa
nhanh hơn là thịt, nên để bảo quản tốt phải gói cá bằng giấy bóng
kiến và để cá trong ngăn thật lạnh.
Giá trị dinh dưỡng của cá được chia
làm 3 nhóm:
- Nhóm cá gầy (maigre) chứa ít hơn 5%
chất béo và chứa từ 75- 125 kcal/100gr.
- Nhóm cá nửa béo (semi gras) chứa hơn
5-10% chất béo và chứa 125-150 kcal/100gr như cá hồi cá trích hoặc
cá thu.
- Nhóm cá béo (gras) chứa nhiều hơn 10%
chất béo và chứa hơn 150kcal/100gr.
Người Nhật cách đây vào khoảng 900
năm v́ chưa có phương pháp bảo tồn cá nên đă sáng chế phương pháp
chế biến thịt cá thành chả cá cũng được gọi là
“surumi” để bảo tồn được lâu
hơn, hiện tại có hơn 2000 loại thức ăn làm từ “surumi” có những loại
thực phẩm chế biến giống mùi vị như cua tôm. “Surumi” lá một loại
chả cá sau những quá tŕnh chế biến để hủy diệt những enzim
(enzymes), đào thải máu, chất béo và một vài loại chất đạm, những
chất này là nguồn gốc của sự thoái hóa chả cá, thành phẩm “surumi”
hầu như không c̣n mùi vị và có thể hấp thụ v́ chả cá lúc đó chỉ là
chất đạm của cá.
Ngoài ra cá c̣n
chứa nhiều chất khoáng như phosphore, iode, fluore, magnésium, sắt,
kẽm, đồng sélénium và vitamine như nhóm vitamine B nhất là chứa rất
nhiều vitamine D.
Cá cũng không tránh khỏi sự ô nhiễm
môi trường, hiện tại trên thế giới nhiều quốc gia nhất là những quốc
gia đang phát triển, nguồn nước thường hay bị ô nhiễm bởi những chất
hóa học, kim loại nặng được thải ra sông, hồ và biển nên không ít
th́ nhiều cá bị ô nhiễm, thịt của cá thường bị ô nhiễm
bởi nhiều chất thải độc hại như DDT (dichloro
diphényl trichloréthane). Những chất như BPC (
biphényles polychlorés) và thủy ngân là nguồn gốc của những
chứng bệnh nguy hiểm khi mật độ của những chất nầy lên cao. Cá càng
lớn độ ô nhiễm càng nhiều và thường th́ cá sống trong nước ngọt bị ô
nhiễm nhiều hơn là cá sống ở biển, ngoài ra những loại cá lớn được
tự nuôi bằng cá nhỏ nhất là những loài cá béo, thịt cá chứa nhiều
chất ô nhiễm v́ vậy không nên ăn những loài cá sống trong môi trường
bị ô nhiễm. Người Nhật cũng như người Việt-Nam phần đông tiêu thụ
rất nhiều cá nên người Nhật đă bỏ nhiều công sức cho nghiên cứu về
dinh dưỡng của nhiều loại cá khác nhau sống ở biển và sông, hồ,
người Nhật thích ăn lương, món ăn được gọi là “kabayaki”: lương
nướng được tẩm nước sốt lương sake và nước tương, người Nhật cho
rằng lương là một thức ăn chứa rất nhiều chất dinh dưỡng và chất bổ
cho t́nh dục. Sau đây là bảng dinh dưỡng của
những loài cá nước mặn và cá nước ngọt cùng với các loại tôm, cua và
ốc.
|
|
Các loại cá và hải sản |
Chất đạm
g/100g |
Chất béo
g/100g |
Calories
Kcal/100g |
Vitamine và
chất khoáng |
|
Cá chó (brochet) |
19 |
0,7 |
88 |
A va D |
|
Cá chép (carpe) |
18 |
4,6 |
127 |
B3, B12
phosphore |
|
Cá xăng (sandre) |
17 |
1 |
83 |
|
|
Cá pecca (perche) |
19 |
0,9 |
91 |
B3,B12
Phosphore,
potassium, |
|
Cá hồi sống |
21 |
7 |
148 |
|
|
Cá trích alo |
20 |
4 |
124 |
|
|
Cá vây chân
(baudroi) |
14 |
1,5 |
75 |
|
|
Cá ṃi |
19 |
5 |
85 |
Phosphore, B3
B6 và calcium
(nếu ăn xương) |
|
Các loại cá và hải sản |
Chất đạm
g/100g |
Chất béo
g/100g |
Calories
Kcal/100g |
Vitamine và
chất khoáng |
|
Cá trồng (anchois) |
29 |
10 |
210 |
Loại cá béo
Nhiều calories |
|
Cá trích (hareng) |
18 |
9 |
15 |
Phosphore, potassium
và nhiều loại vitamine B |
|
Cá thu (maquereau) |
19 |
14 |
204 |
B12, chất béo oméga 3 |
|
Cá ngừ (thon) |
23 |
1-5 |
105-145 |
|
|
Cá tráp (daurade) |
16 |
0,5 |
73 |
|
|
Cá ch́nh biển
(congre) |
20 |
3 |
100 |
Potassium, magnésium |
|
Cá kiếm (espadon) |
20 |
4 |
121 |
B3,B12,phosphore
potassium |
|
Cá phèn (rouget) |
17 |
3 |
100 |
Potassium, calcium |
|
Cá mút đá (lamproie) |
21 |
18 |
252 |
|
|
Cá quân (sébaste) |
19 |
2 |
94 |
|
|
Cá hồi (thịt hồng)
Cá hồi (thịt đỏ) |
20
21 |
3
9 |
116
168 |
|
|
Cá tuyết (morue) |
18 |
0,7 |
82 |
|
|
Cá đuối (raie) |
22 |
1 |
98 |
|
|
Cá mập (requin) |
21 |
4 |
131 |
|
|
Cá bơn sao (turbot) |
16 |
3 |
95 |
|
|
Cá bơn lá mít (sole) |
18 |
1,4 |
77 |
|
|
Tôm |
20 |
2 |
108 |
Cholestérol:
153mg/100g |
|
Cua |
18 |
1 |
89 |
Cholestérol: 60mg/100g |
|
Tôm hùm |
21 |
2 |
112 |
Cholestérol: 70mg/100g
B3, B12 và kẽm |
|
Bào ngư (ormeau) |
17 |
1 |
105 |
B3, B5, B12 |
|
Ṣ điệp |
17 |
1 |
88 |
B12 và potassium |
|
Ṣ đốm (palourde) |
13 |
1 |
74 |
Cholestérol: 34mg/100g
Potassium, B12 và
Chất sắt |
|
Ṣ vẹm (moule) |
12 |
2 |
86 |
Nhiều vitamine B như:
B2, B3,B9 và B12
Phosphore, sắt và kẽm |
|
Hào (huitre) |
7 |
3 |
65 |
B12
Sắt, kẽm,đồng |
|
Mực |
16 |
1 |
92 |
B2,B12 |
|
Mực bạch tuột |
15 |
1 |
73 |
|
|
Ốc tù và (buccin) |
24 |
0,4 |
138 |
|
|
Ốc vùng triều
(bigorneau) |
20 |
2 |
100 |
|
|
Cầu gai (oursin) |
12 |
4 |
126 |
|
|
Lương |
18 |
12 |
184 |
A,D và chất béo |
|
|
Đậu nành
Trái cây, rau cải và các loại ngũ
cốc là những thực phẩm thiết yếu cho sự cân bằng về dinh dưỡng cho
cơ thể, trong những thực phẩm nầy đậu nành có tiếng rất tốt cho tất
cả mọi lứa tuổi từ người trẻ cho đến người lờn tuổi, đậu nành là
nguồn dinh dưỡng đầy đủ nhất trong các loại thức ăn thực vật.
Đậu nành giàu về chất đạm và ít
chất cholesterol, dân chúng Ấ Châu dùng rất nhiều đậu nành, c̣n
người Âu-Châu mới bắt đầu biết tiêu thụ đậu nành sau khi các nhà
nghiên cứu khẳng định rằng đậu nành là thức ăn thực vật duy nhất có
chứa đầy đủ chất đạm và về thành phần th́ tương đương với chất đạm
động vật và những thực phẩm khác có nguồn gốc từ sửa v́ vậy những
người ăn chay có thể thay thế thịt cá bằng những thực phẩm chế biến
từ đậu nành.
Đậu nành được trồng rất nhiều ở các
nước miền nhiệt đới nhất là các nước Đông-Nam Ấ, nhưng diện tích
trồng đậu nành nhiều nhất là ở Mỹ vào khoảng 44% của tổng diện tích
thế giới và lượng sản xuất hon 55% của tổng lượng đậu nành thế giới,
tiếp theo là nước Brésil và Argentine, Tàu và Ấn Độ cũng trồng nhiều
đậu nành nhưng v́ dân đông nên phải nhập cảng thêm của các nước trên.
Ngoài
chất đạm đậu nành c̣n chứa nhiều chất béo tốt, phần lớn là chất béo
bất bảo ḥa, chất béo thiết yếu mà cơ thể không thể tổng hợp được.
Những chất béo nầy liên quan đến sự cấu tạo của những tế bào thần
kinh, đậu nành không có chứa cholestérol mà c̣n có thể làm giảm nồng
độ cao cholestérol cho những người bệnh, giá trị dinh dưỡng của dầu
đậu nành rất tốt nếu dùng dầu trộn với sà lách v́ nếu đun nóng, xào
hoặc chiên, các acid béo tốt trong dầu sẽ bị phân hóa.
Đậu nành c̣n chứa một chất đặc
biệt gọi là isoflavones hoặc phytoestrogenes, nhưng chất nầy có sự
cấu trúc giống như oestrogenes, v́ những tính chất nầy đậu nành có
ích cho những người đàn bà măn kinh, hơn nữa chất isoflavones c̣n có
nhiệm vụ quan trọng chống lại quá tŕnh ung thư bằng cách làm giảm
sự phân cách tế bào. Số người đàn bà Nhật bị ung
thư vú ít hơn 5-8 lần so với những phụ nữ Âu-Châu cũng nhờ
hấp thụ nhiều đậu nành.
Đậu nành được t́m thấy dưới nhiều
dạng khác nhau:
- Bột đậu nành
- Sửa đậu nành
- Dầu đậu nành chứa nhiều chất béo
tốt cho sức khoẻ:
-
Acid béo bảo ḥa: 16%
-
Đơn bất bảo ḥa (oméga 9): 24%
-
Acid linoléique (oméga 6): 53%
-
Acide alpha linoléique (oméga 3): 7%
- Đậu hủ: làm từ sửa đậu nành
- Miso: làm từ đậu hủ lên men dùng
cho súp (soupe) và nước sốt (sauce)
- Shoyu: làm từ hạt đậu nành lên men
cũng được gọi là nước tương Nhật
- Tamari: giống như nước Shoyu nhưng
nồng độ cao hon
- Natto: là một thức ăn truyền
thống Nhật Bản có nguồn gốc từ soja lên men, người Nhật thường hay
ăn với cơm trắng vào buổi sáng.
Phương pháp
chế tạo natto: đơn giản nhưng đ̣i hỏi nhiều công phu và
cần phải có nhiều kinh nghiệm: hạt đậu nành được ngâm với nước cho
mềm sau đó được hấp chín và để lên men với vi khuẩn bacillus natto
vào khoảng 40-50 giờ ở nhiệt độ khoảng 40-50°C, khi chất nhớt bắt
đầu thành h́nh là có thể ăn được và có thể tồn trữ được nhiều ngày.
Giá trị dinh
dưỡng: natto có mùi như ammoniaque nên có thể khó ăn cho
một số người chưa quen, trước khi dùng người Nhật hay dùng đũa đánh
natto đến khi lên bọt và nhiều chất nhớt, trộn với mù tạt và nước
shoyu trước khi ăn, nhưng một số nhà dinh dưỡng khuyên không nên
dùng thêm nước shoyu v́ shoyu có thể làm tiêu hủy tính chất tốt của
natto như chất flore trong ruột. Nhiệm vụ của vi khuẩn bacillus
natto là làm cho món ăn nầy có nhiều vitamine K2 rất tốt cho sức
khỏe, natto chứa nhiều chất đạm, chất béo tốt và ít chất bột đường
v́ trong quá tŕnh lên men chất bột đường được đào thải và một phần
chất đạm được phân hóa thành peptides và amino acides được tiêu hóa
dễ dàng hơn. Trong các hiệu thuốc tây vitamine
K2 được bán với giá rất cao, vitamine nầy được chiết ra từ natto.
B) ẨM THỰC PHÁP
Ẩm thực Pháp được biến đổi qua nhiều
thế kỷ với những thay đổi về xă hội, chính trị của Pháp, thời trung
cổ với sự phát triển của những lễ hội, yến tiệc và được tổ chức linh
đ́nh đă tạo cho ẩm thực Pháp đạt được tŕnh độ kỹ thuật nấu nướng
rất cao. Cách mạng Pháp vào năm 1789 và sự đảo chính của Napoléon
Bonaparte là thời đại chủ yếu đánh dấu sự chấm dứt của chế độ củ để
bước sang chế độ quân chủ lập hiến, kế tiếp là nền cộng ḥa thứ nhất.
Trong thời gian nầy những thói quen được thay đổi rất nhiều, người
Pháp bắt đầu dùng ít gia vị nóng và sử dụng những loại cỏ
thơm, kỹ thuật ẩm thực được tinh luyện và
được thanh tao hơn. Ẩm thực Pháp được hệ thống hóa vào thế kỷ thứ 20
bởi Auguste Escoffier để trở thành đề tài tham khảo cho hầu hết các
đầu bếp danh tiếng cho ẩm thực mới, nhờ vậy mà hiện tại ẩm thực Pháp
được có tiếng khắp nơi trên thế giới.
Ẩm thực Pháp rất đa dạng và rất
phong phú, mỗi vùng có những món ăn đặc sản riêng, fromage và rượu
đóng vai tṛ quan trọng cho nghệ thuật nấu nướng của Pháp, nhiều
thực phẩm bản xứ được mang thương hiệu AOC (appellation d’origine
controlé). Vào thế kỷ thứ 15 và 16 ẩm thực Pháp được đồng hóa với
nhiều thực phẩm từ các quốc gia khác trên thế giới, đến cuối năm
2006 các đầu bếp danh tiếng Pháp như Paul Bocuse, Alain Ducasse,
Pierre Trois Gros, Marc Veyrat và Michel Guerard cùng lên tiếng yêu
cầu UNESCO công nhận ẩm thực Pháp là tài sản của thế giới, năm 2008
tổng thống Sarkozy cũng lên tiếng ủng hộ sự yêu cầu nầy và sau cùng
ẩm thực Pháp là nước đầu tiên cũng là lần đầu tiên trên thế giới đă
được những nhà chuyên môn của ủy ban liên chính phủ của UNESCO gồm
có 132 nước thành viên công nhận là tài
sản văn hóa nhân loại phi vật chất (immatériel) vào tháng 11 năm
2010.
Thời trung cổ
(481-1492)
Với sự phát triển của những buổi
hội yến tiệc linh đ́nh đă ảnh hưởng rất lớn và giúp cho ẩm thực Pháp
có được một nền văn hóa rất cao về lĩnh vực nghệ thuật
ăn uống.
Nhiều món ăn được mang lên cùng một
lúc như những lát thịt nướng và ăn với một loại nước sốt thật đậm
đặc chứa nhiều gia vị và moutarde, lúc nầy người dân c̣n ăn bằng 3
ngón tay. Những thực phẩm được thay đổi theo mùa, nhiều nhất là mùa
xuân và thu nhưng rất ít vào mùa đông, cũng như Nhật Bản vào thời kỳ
Asuka (552-642), người Pháp biết dùng muối, gia vị và mật để ướp
thịt và các loại rau củ để có thể tồn trữ được lâu. Thịt ḅ th́ được
ướp muối, thịt heo sau khi ướp muối được
xông khói gần ḷ sưởi, c̣n có những thực phẩm khác được ướp muối,
phơi khô và được tồn trữ trong những b́nh bằng thủy tinh.
Đầu bếp danh tiếng thời đại nầy là
Guillaume Tirel cũng c̣n được gọi là Taillevent, người nầy nấu ăn
cho triều đ́nh vào thế kỷ 14 và trở thành đầu bếp chính cho vua
Philippe thứ 6 kế tiếp cho người con là Jean Lebon.
Thời đại của chế độ
cũ
(1495-1774)
Thời đại nầy Paris là trung tâm văn
hóa và kinh tế của Pháp cũng là trung tâm ẩm thực với sự phát triển
của nhiều chợ như chợ Halles và chợ Muffetard, hai chợ nầy là trung
tâm phân phối thực phẩm của Pháp.
Thế kỷ thứ 15-16
Thời đại này được đồng hóa bởi
nhiều thực phẩm khác đến từ tân thế giới, trong thời gian nầy những
thói quen được thay đổi, người Pháp dùng ít gia vị nồng và sử dụng
những loại cỏ thơm và giúp cho ẩm thực
Pháp được thanh tao hơn.
Thế kỷ thứ 17
Thời đại nầy ẩm thực Pháp được đánh
giá rất cao nhờ người đầu bếp nổi tiếng là La Varenne, người nầy
viết quyển sách đầu tiên về nghệ thuật ẩm thực, phương pháp nấu ăn
trong quyển sách nầy đánh dấu sự thay đổi quan trọng so với thời
trung cổ. Nhiều kỹ thuật mới với mục đích tạo ra những món
ăn nhẹ hơn và những loại bánh ngọt với
phong cách tŕnh bày khiêm tốn hơn.
Năm 1691 dưới triều đại Louis 14
một quyển sách “Cuisine Royal Bourgeois” (nghệ thuật ẩm thực vua
chúa) tŕnh bày những món ăn cho người quí tộc, sau lần tái bản của
quyển sách nầy có sự thay đổi lớn là đặc biệt dùng rượu vang trong
sự nấu nướng và món “ragout” được xem là món ăn truyền thống của
Pháp cũng được tŕnh bày trong lần tái bản nầy.
Thế kỷ 18-19
Thời đại cách mạng đánh dấu sự bành
trướng quan trọng cho ẩm thực Pháp, từ năm 1789 tất cả đầu bếp đều
có thể tự sản xuất và bán thức ăn của ḿnh. Năm năm trước sự khởi
đầu của cách mạng, người con gái tên là Marie Antoine Careme được
nhiều người biết đến v́ năng khiếu sáng tạo bánh ngọt của nàng qua
các lễ cưới hoặc các lễ hội, với những sáng kiến táo bạo, ngông
cuồng về bột và đường (bánh ngọt có nhiều tầng và được dính vào nhau
bằng caramel. Nghệ thuật của nàng đă góp phần vào sự tinh vi và cầu
kỳ của ẩm thực Pháp, căn bản của phong cách nầy bắt nguồn từ những
loại sốt: sốt espangol (màu nâu từ nấm, carrot, hành tây, cây húng
tây (thym), cây thang (laurier), soupe velouté:
một loại soupe làm bằng crème tươi, trứng và bơ, sốt béchamel (một
loại sốt làm bằng bơ, bột và sửa) có hơn 100 loại sốt được tŕnh bày.
Careme viết 3 quyển sách: “Le
maitre hotel” năm 1822, “Le cuisinier Parisienne” năm 1828 và “Art
de la cuisine Française” năm 1833.
Phần đầu nửa thế kỷ
20
Thời đại nầy phần đông các tổ chức
ẩm thực của Pháp được cung cấp bởi Auguste Escoffier, ảnh hưởng của
người đầu bếp nầy được khởi đầu bởi sự xuất hiện ở các khách sạn
sang trọng ở Âu Châu và Mỹ trong năm 1882-1890. Escoffier viết một
quyển sách ẩm thực vào năm 1912 có tựa đề là “ Livre des menus” (sách
của những thực đơn) với sự đơn giản hóa những món ăn mới và cấu trúc
của bửa ăn, phong cách dịch vụ nầy cũng được gọi là “dịch vụ Nga” là
bửa ăn được chia ra nhiều món ăn và mỗi món ăn được tŕnh bầy trong
bát đĩa ăn khác nhau, sau đó vào năm 1903 quyển sách có tên là
“Guide culinaire” (hướng dẫn làm bếp) được xuất bản, nội dung của
cuốn sách nầy được cho là tượng trưng cho ẩm thực Pháp, thời đại nầy,
người làm bếp dùng một loại sốt để làm tăng thêm tính chất của gia
vị hơn là che dấu như thời đại trước, Escoffier mô phỏng theo phương
pháp của Careme, thành phần của nước sốt cao cấp này được thay thế
và được thêm vào để món ăn được sang trọng hơn.
Sau 4 lần tái bản, có hơn 5000 công thức nấu ăn (recette).
Phần cuối nửa thế
kỷ 20
Vào năm 1960 một số người Bồ đào
Nha di dân qua Pháp sau chiến tranh giữa Bồ đào Nha và dân bản xứ
Phi Châu (Bồ đào Nha có nhiều thuộc địa ở Phi Châu), ẩm thực của
những người nầy góp phần quan trong trong việc đổi mới của ẩm thực
Pháp. Nhiều món ăn mới, nhiều kỹ thuật
mới được xuất hiện, thời đại nầy đánh dấu sự ra đời của ẩm thực mới
“Nouvelle cuisine”. Danh từ ẩm thực mới được
dùng nhiều lần trong lịch sử ẩm thực Pháp, từ Vincent La Chapelle
(1740) đến Escoffier (1890).
Hai nhà báo Henri Gault và
Christian Milau làm sống lại danh từ nầy vào năm 1960 bằng sự diễn
tả tài năng của nhà đầu bếp danh tiếng Paul Bocuse và các nhà đầu
bếp danh tiếng khác như Pierre Trois Gros vân.vân.
Những tài liệu nghiên cứu của những
nhà đầu bếp nầy đánh dấu một cách mạng cho ẩm thực so với sự chính
thống hóa của thời đại Escoffier, Gault và Milan, khám phá công thức
cho phong cách ẩm thực qua 10 nét đặc trưng:
1) Đào thải sự phức tạp quá đáng trong sự
nấu ăn: thời gian làm chín các loại cá, thịt và rau cải được giảm
nhiều để có thể giúp cho thực phẩm c̣n giữ được gia vị tự nhiên
2) Sự nấu chín bằng hơi nóng được dùng
trong sự nấu nướng tân thời nầy
3) Dùng những thực phẩm c̣n tươi
4) Thay đổi các thực đơn “lớn” bằng những
thực đơn “nhỏ và ngắn”
5) Loại bỏ nước ướp thịt như muối,dầu,
hương liệu
6) Loại bỏ các loại sốt đậm đặc như sốt
espagnol và béchamel bằng các loại gia vị tươi,
bơ chất lượng cao, jus chanh và giấm
7) Dùng các thức ăn
đặc sản thay v́ các món ăn cao cấp (luxe)
8) Dùng các thiết bị tân thời như ḷ
nướng và ḷ vi sóng (micro onde)
9) Các đầu bếp theo
dơi ư kiến của thực khách qua các món ăn được phục vụ
10) Đầu bếp có nhiều sáng kiến và thiết
lập những thực đơn mới
Nước Pháp đứng đầu Âu Châu về lănh
vực nông nghiệp với sự phát triển chăn nuôi và trồng trọt trên diện
tích rất lớn trên toàn lănh thổ, về thực phẩm nước Pháp chia ra làm
4 vùng danh tiếng : tây mở rộng (grand ouest), tây nam, đông nam và
đông mở rộng (grand est).
Tây mở rộng (grand
ouest)
Miền tây bắc được biểu hiện bởi ảnh
hưởng của miền biển với những thực phẩm địa phương, những món ăn gia
đ́nh được phục dịch như cá soi (bar), lotte và cá trích (hareng)
vùng Bretagne th́ có moule, homards, ốc vẹm c̣n vùng Normandie th́
có cá bơn lá mít (sole) và ṣ điệp . Miền tây bắc có món ăn đặc sản
là ṣ vẹm dồn thịt với quả hạnh, vùng Normandie danh tiếng về trái
táo, táo dùng để ăn sống hoặc làm rượu có tiếng với rượu cidre (rượu
có nồng độ cồn vào khoảng 2-8% (từ táo lên men) và một loại rượu
khác là Calvados (rượu nầy có độ
cồn rất cao vào khoảng 40-45%), vùng Bretagne có tiếng về artichaut
và bông cải. Vùng Val de Loire năm 2000 được công nhận là tài sản
nhân loại bởi UNESCO với những yếu tố đa dạng, phong phú về lịch sử
nông nghiệp và văn hóa, về thực phẩm, danh tiếng là thịt ḅ “Charolaise”,
thịt ḅ con, thịt trừu và các loại thú rừng, gà “Géline” và fromage
dê, về trái cây th́ có tiếng với trái cerise dùng để làm rượu
liqueur Guingolet một loại rượu có độ cồn rất cao vào khoảng 40%,
dùng để làm bếp hoặc dùng sau bửa ăn.
Về phía nam miền tây bắc là
Charente Maritime, Marenne Oléron và Vendé có tiếng về hào và vùng
Charente có tiếng về rượu cognac.
Miền tây nam
Vùng
Bordeaux có tiếng thế giới về rượu vang đỏ và trắng cũng như
hầu hết các vùng miền tây nam nước Pháp, ẩm thực vùng nầy phần đông
có nguồn gốc từ cá, xuống phía nam miền tây nam có vùng Pyrénées,
dân chúng vùng nầy sản xuất trừu con thật ngon c̣n gọi là trừu
“Pauillac” cùng với fromage làm từ sửa cừu, ẩm thực vùng nầy phần
đông có nguồn gốc từ thịt ḅ, gia cầm như gà, gà tây, chim bồ câu,
ngỗng và vịt. Miền Gasconge và Périgord có tiếng về paté thịt chín
dầm mỡ, ngoài ra vùng nầy có tiếng trên toàn thế giới về món
“foie
gras” của ngỗng và vịt (foie gras là món ăn có nguồn
gốc từ gan ngỗng và vịt), ngỗng và vịt được nuôi bằng phương pháp
rất đặc biệt chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn đầu cho ngỗng ăn rau cỏ
để làm cứng chắc thực quản, kế tiếp là cho ăn tinh bột đến khi gan
bằng phân nửa trọng lượng sau cùng của ngỗng và giai đoạn cuối cùng
với mục đích làm cho ngỗng béo ra bằng cách dồn thức ăn bằng một ống
đưa vào họng của con ngỗng, phần lớn là bắp nhiều lần mỗi ngày, thời
gian nầy có thể kéo dài đến 12 ngày lúc nầy gan ngỗng có thể lớn gấp
10 lần so với trọng lượng b́nh thường, sau đó người ta làm thịt và
lấy gan chế biến nhiều loại thức ăn, phần lớn dành cho những ngày lễ
lớn như Noel hoặc tết đầu năm dương lịch.
Miền Agen danh tiếng về trái mận (pruneaux)
với rượu Armagnac, vùng Toulouse
th́ có tiếng về cassoulet (cách làm giống như làm món ragout nấu
trong nồi trong thời gian khá lâu với đậu trắng và thịt heo hoặc
thịt ngỗng, thịt vịt, thịt dồi, thịt trừu vân vân, thêm cà chua,
carot và cần tây, vùng Cahor th́ có nấm củ
“truffe” màu nâu một loại nấm hiếm cao cấp giá rất đắc (nấm
truffe màu trắng của Ư c̣n có giá trị hơn), vùng Aveyron danh tiếng
về fromage “Roquefort”
(một loại fromage mà
bên trong có lên móc màu xanh) làm từ sửa của con cừu.
Miền đông nam
Vùng Languedoc-Roussillon có tiếng
về jambon sống (jambon cru) đôi khi được có dưới tên là jambon của
miền núi Midi, vùng cao nguyên Larzac rộng mênh mông cũng có loại
fromage Roquefort, vùng Cévenne có nhiều loại nấm, hạt dẻ, mạt, cừu
con, thịt dồi, patés và fromage dê, ngoài ra c̣n có tiếng về món ăn
“Brandade” bởi ảnh hưởng của người Catalan (nhóm người nầy ở khắp
nơi trên thế giới vào khoảng hơn 7 triệu người nhiều nhất là ở
Tây-ban-Nha, ở Pháp vào khoảng 300000 người), món ăn nầy làm với cá
tuyết (morue) hoặc cá cabillaud (cá moruy chấm đen) trộn với dầu
olive, tỏi, chanh và các gia vị như thym (cây húng tây), laurier (cây
thắng) và hành tây, vùng nầy cũng có món ăn đặc biệt về ốc sên (escargot)
cũng theo phong cách Catalan là đem nướng ốc sên cho thêm gia vị như
tỏi muối, tiêu, các loại cỏ thơm trong lúc nướng ốc sên được thêm mỡ
hoặc bơ, món nầy được gọi là “cargolade”.Vùng Provence-Alpes Côtes
d’Azur là vùng lớn nhất Pháp sản xuất cam, quít, rau cải, trái cây
và các loại cỏ thơm như cây húng tây (thym), hoa xôn (sauge), cây
hương thảo (romarin), cây húng dổi (basilic), cây ngải thơm
(estragon) và cây thắng (laurier) và cũng là vùng sản xuất nhiều
nhất dầu olive, vùng nầy cũng có nhiều thực phẩm được ưa chuộng như
mật, fromage dê, đồ biển (từ biển Địa trung Hải), thịt ḅ và thịt
cừu con. Vùng nầy thường dùng một loại sốt đặc biệt từ tỏi và cá
trồng (anchois) một loại cá ṃi nhỏ, xuống phía dưới có vùng
Camargue, vùng nầy sản xuất gạo đỏ, danh tiếng nhất là rượu “Pastis”
có mùi của cây anit, có nồng độ rất cao khi dùng trộn với nước cho
ra màu sửa uống như loại rượu khai vị trước khi ăn, người miền
Provence, vào mùa đông nhất là lễ Noel thường hay ăn nấm
truffe và một loại bánh ngọt gồm 13
loại làm từ quả mộc qua (coing) có màu vàng như nghệ, bánh biscuits,
quả hạnh (amandes), nougat, quả táo và một loại bánh ḿ miền
Provence (fougasse).
Đảo Corse thuộc
về Pháp năm 1768, từ lâu chịu nhiều ảnh hưởng của Ư (Italo-Toscane
và Cathalinoise), loại fromage được ưa chuộng nhất là “brocciu”.
Corse có tiếng về thịt heo v́ heo được cho
ăn bằng trái của cây sồi (chêne) gọi là quả sồi (gland) có
nhiều tinh bột là thức ăn truyền thống cho heo, heo rừng và con sóc,
thịt heo được chế biến thành nhiều thức ăn đặc sản như “coppa” thit
ba rọi phơi khô, “lonzu” thịt nạt khô, “figatellu” thit dồi gan,
“salamu” thịt dồi xông khói, “prisuttu” jambon xông khói, về trái
cây th́ có trái quít, quả xuân đào và trái sung.
Thung lũng của vùng Rhône có rất
nhiều loại trái cây và rau cải, ngoài ra c̣n có tiếng về thịt gia
cầm như ở miền “Bresse” vùng Rhône-Alpes, Lyon và Savoie cung cấp
nhiều loại saucisse danh tiếng về phẩm chất, miền núi có nhiều loại
fromage như Abondance, Reblochon, Tome và Vacherin des Bauges ngoài
ra vùng thung lũng Rhône có nhiều đầu bếp danh tiếng như Fernant
Point, Paul Bocuse, les frères Trois Gros và Alain Chapel.
Miền đông mở rộng
(grand est)
Vùng Bourgogne cũng có tiếng về
rượu vang, escargot (ốc sên), gia cầm
Bresse nhất là thịt gà của vùng này được mang nhản hiệu AOC
(appellation origine controlée) nhản hiệu được bảo vệ và được bảo
đảm nguồn gốc của thức ăn) gà có lông màu trắng, mồng đỏ, chân xanh
được nuôi thả ngoài trời với diện tích trên 10m2 cho mỗi con gà,
thức ăn của gà hoàn toàn bằng bắp. Ngoài ra vùng này c̣n có ḅ
Charolais, miền Dijon có tiếng về moutarde có tên là
“moutarde
Dijon”, vùng Bourgogne dùng nhiều dầu cây cải (colza) và
dầu quả hồ đào (noix); miền Champagne có tiếng về rượu trắng và
Champagne, vùng Champagne-Ardenne
có tiếng về anduoillette (một loại saucisse) làm từ ḷng heo, c̣n
miền Lorraine có tiếng về quiche (một loại bánh mặn làm từ trứng,
crème tươi và mỡ (lardon).
C) ẨM THỰC VIỆT NAM
Phần đông dân chúng sống trong
những nước phát triển với sự hưng thịnh về kinh tế có khuynh hướng
tiêu thụ quá nhiều chất đạm và chất béo mà ít để tâm tới những hậu
quả do mất cân bằng về cơ chế ăn uống với quá nhiều năng lượng, sự
dư thừa nầy đă và đang phát sinh ra rất nhiều chứng bệnh nguy hiểm
về tim và mạch máu năo, bệnh béo ph́, dân chúng của những nước tân
tiến nầy bắt đầu t́m hiểu các loại ẩm thực trên thế giới như ẩm thực
Nhật Bản và Việt Nam, hai nước nầy thường dùng những nguyên liệu
thực phẩm có ảnh hưởng rất tốt cho sức khỏe, họ t́m hiểu về giá trị
dinh dưỡng của mỗi thực phẩm được dùng trong các món ăn, t́m hiểu
không những về số năng lượng cần thiết mỗi ngày cho cơ thể mà c̣n
t́m hiểu làm thế nào để giữ được cân bằng cho sức khỏe.
Ẩm thực Việt Nam được biết đến là
nhờ những nguyên liệu, thực phẩm dồi dao, nhiều rau cỏ lá
thơm người đầu bếp dùng rất nhiều rau củ
tươi, dùng cá nhiều hơn thịt, ít chất béo bảo ḥa và thực hiện những
món ăn đậm đà nhiều hương vị thơm, cung cấp nhiều vitamine và chất
khoáng. Theo một tờ báo New York times
th́ ẩm thực Việt Nam là một ngôi sao mới của Ấ Châu và là một
trong 10 nước đứng đầu về ẩm thực được ưa chuộng nhất thế giới. và
theo ư kiến của một người chuyên môn về ẩm thực Mỹ ông Jacques Pepin
cho rằng ẩm thực Việt Nam có một sự khéo léo, một phẩm chất đặc biệt
nhất định trong cách nấu ăn giúp cho món ăn Việt Nam có một chỗ đứng
riêng biệt so với các món ăn phương đông khác, nước dùng rất trong,
ít chất béo, rau thật phong phú chứa nhiều hương vị khác nhau đặc
biệt nhất là nước mắm và să thường hay dùng để nấu nướng, uớp thịt,
cá cùng nhiều gia vị hỗn hợp khác.
Ẩm thực Việt Nam được đài truyền
h́nh Mỹ CNN giới thiệu nhiều lần và thu hút được càng ngày càng đông
thực khách Mỹ, phần đông người du lịch ở Việt Nam khi trở về có ư
muốn học hỏi t́m hiểu về ẩm thực Việt Nam, trong số người thích
những món ăn Việt Nam có phu nhân của tổng thống George w Bush nhân
dịp buổi hợp APEC thứ 14 tổ chức ở Việt Nam bà cho rầng ẩm thực Việt
Nam thật tuyệt vời, phu nhân của tổng thống Bill Clinton cũng vậy
rất thích món chả gị c̣n bà tổng thống nước Chili th́ rất thích món
phở.
Ông
Didier Corlou một đầu bếp danh tiếng Pháp ở Việt Nam thường
hay thực hiện những món ân ngon cho các nguyên thủ quốc gia, ông cho
rằng phở là món ăn ngon nhất hành tinh,
ông viết rất nhiều sách về ẩm thực Việt Nam nhất là những món ăn của
vùng cao nguyên. Ông xác nhận gia vị và mùi thơm
của nhiều loại cỏ, lá, cây là cơ bản của tất cả tinh túy mang tính
đặc thù cho các món ăn mà không thể t́m thấy ở nơi nào khác trên thế
giới.
Ngoài ra cũng nhờ di sản phong phú
về ẩm thực để lại cho những người nội trợ Việt Nam và với sáng kiến
mới và nguyên liệu mới để có thể cho chúng ta những món ăn tuyệt vời.
Theo trung tâm
nghiên cứu thị trường “Definity Marketing de New-York” th́ những
người trẻ Mỹ ưa thính ẩm thực Việt Nam hơn là Nhật Bản và Đại Hàn v́
cho rằng ẩm thực Việt Nam vừa ngon vừa bổ vừa rẻ.
Nhà hàng “Bao 111” ở Mahattan được
nhiều danh nhân của mọi tầng lớp ưa chuộng và được tôn vinh là nhà
hàng ngon nhất New-York năm 2003 và 2004, với năng lực sáng tạo đổi
mới cho những món ăn truyền thống Việt
Nam.
Một khách du lịch Pháp sau khi thăm
viếng Việt Nam, nhận xét rằng ẩm thực Việt Nam ngon nhất thế giới v́
cho rằng hầu hết các món ăn đều có những mùi thơm đặc biệt, hương vị
đậm đà sự pha chế vô cùng khéo léo của người đầu bếp, ngoài ra ông
cũng cho rằng, bất cứ lúc nào và nơi nào ông cũng có thể thưởng thức
được món ăn ngon với giá rất rẻ và rất tốt cho sức khỏe với những so
sánh sau đây:
Đức: nhiều loại xúc xích, nhiều
chất béo
Mỹ:
quá đơn giản lại nhiều dầu mỡ
Anh: quá ngọt ,
kỳ dị
Tàu: nặng, nhiều dầu mỡ
Đại Hàn: quá cay, làm mất hương vị
các món ăn
Pháp: quá nhiều năng lượng
Ư: nhiều dầu, ít rau cải
Nhật: thiếu rau cải tươi
Thái
Lan: quá nhiều vị cay, hơi ngọt
Nhiều người ngoại quốc đến du lịch
Việt Nam đều rất hâm mộ nghệ thuật làm bếpViệt Nam, và hứa sẽ trở
lại, phần đông cho rằng muốn thưởng thức lại những món ăn đậm đà đầy
hương vị của Việt Nam và nhận xét rất tiếc cho sự quảng bá nghệ
thuật nấu ăn của cộng đồng ẩm thực Việt Nam c̣n quá khiêm tốn.
Ẩm thực Việt Nam rất dồi dào về
phẩm và lượng, phong phú về hương vị, kỹ thuật tŕnh bày món ăn với
nhiều màu sắc tự nhiên của nhiều bông, lá rau
thơm, người nội trợ có thể dễ dàng thực hiện được những món
ăn ngon.
Đầu bếp Việt Nam cần t́m hiểu xâu
rộng về các ẩm thực ngon của thế giới hoặc đi tu nghiệp và học hỏi
những phương pháp pha chế, tổng hợp các thực phẩm để có thể có năng
lực sáng tạo và có thể phát minh ra những món ăn mới lạ và ngon với
những nguyên liệu đa dạng và phong phú của 3 miền trên toàn lănh thổ.
Tạo ra môi trường thuận tiện cho các đầu bếp trẻ
và quảng bá ẩm thực Việt nam cho những khách du lịch ngoại quốc.
Về địa lư cũng như nước Pháp và
Nhật Bản, bờ biển nước Việt Nam dài hơn 3000 km, người dân Việt Nam
tiêu thụ cá nhiều hơn thịt, ngoài ra c̣n rất nhiều thực phẩm chế
biến từ cá đặc biệt quan trọng cho ẩm thực Việt Nam là
“nước mắm”.
Trong thời gian Việt Nam bị đô hộ
dưới sự khai thác thuộc địa Pháp vào thế kỷ thứ 19 dưới triều đại họ
Nguyễn, người Pháp tạo một vùng đất có tên là “bán đảo Đông Dương”
gồm ba nước Việt Nam, Cambodge và Laos, danh từ “nước mắm”
lần đâu tiên được đưa ra bởi một nghị định của chánh phủ vùng bán
đảo Đông Dương nầy vào ngày 21/12/1916 và được lưu truyền cho tới
ngày nay.
Nước mắm là kết quả của sự ngâm cá
sống trong một dung dịch muối biển với nồng độ rất cao, sau một thời
gian có thể kéo dài hơn 9 tháng tùy theo sự phân hóa nhanh hay chậm
ở nhiệt độ b́nh thường sau khi dung dịch được tự động phân hóa, bởi
tác động của một loại enzyme chứa trong thịt của cá, như
protéase chất nầy đóng vai
tṛ quan trong trong sự phân hủy chất
đạm thành nhiều chất acides
aminés, dung dịch nước mắm được chế tạo trong môi trường đặc
biệt nên có thể đề pḥng được tất cả sự ô nhiễm vi trùng nhờ vào
nồng độ cao của muối.
V́ nước mắm là món ăn chính hàng
ngày của mỗi gia đ́nh Việt Nam, nên từ lúc thương hiệu nước mắm được
công nhận, song song với nghị định nầy, một nhà dược sĩ Pháp tên là
ROSE đưa ra những tiêu chuẩn để bảo đảm dung dịch nước mắm không có
hại cho sức khỏe và có thể bán ra cho đại quần chúng, những phân
tách nước mắm được thực hiện tại pḥng thí nghiệm của viện Pasteur
Saigon. Năm 1963 sau khi được tổng thống cộng ḥa Việt Nam chấp nhận
tiêu chuẩn nầy, ROSE dựa theo kết quả của
nhiều nghiên cứu khác và kết luận rằng nước mắm là một thực phẩm rất
có giá trị về dinh dưỡng, ngoài chất đạm nước mắm c̣n chứa rất nhiều
chất khoáng và vitamine nhất là vitamine B12.
Cũng như Nhật Bản
gạo là thức ăn không thể
thiếu cho mọi bửa ăn của người Việt Nam, người Nhật hay nói rằng
“gohan o tabemashita ka” có nghĩa là “ăn cơm chưa” “gohan” là cơm
cũng như Việt Nam lúc gặp nhau hay hỏi rằng “ăn cơm chưa” cũng có ư
là một bửa ăn lúc nào cũng có cơm (gạo và nếp là thức ăn chính của
Việt Nam và Nhật, c̣n Pháp th́ chỉ hỏi “ăn chưa” mà không xác định
ăn ǵ, mặc dầu bánh ḿ là thực phẩm không thể thiếu cho mỗi bửa ăn.
Qua nhiều biến đổi về chính trị và
với sự phát triển kinh tế, ẩm thực Việt Nam cũng bị ảnh hưởng và có
nhiều thay đổi nhưng những món ăn truyền thống vẩn được truyền từ
đời này sang đời khác nhất là phương pháp nấu nướng được truyền từ
người mẹ đến con gái v́ nước Việt Nam suốt thời gian hơn 1000 năm
chinh chiến với Tàu, hầu hết đàn ông được huy động chống xâm lăng
nên đàn bà đảm nhận một vai tṛ quan trọng việc nấu nướng để nuôi
dưỡng gia đ́nh, dưới sự kiềm chế, thống trị của Tàu trong suốt thời
gian trước thế kỷ thứ 11 trước JC, và được độc lập vào thế kỷ thứ 10
trước JC, đến năm 938 sau JC mới được độc lập hoàn toàn và tự do qua
nhiều lần đẩy lùi thành công những ư đồ xâm lược của quân Tàu và
Mông Cổ.
Độc lập bị gián
đoạn vào thế kỷ thứ 19 bởi sự khai thác thuộc địa của Pháp dưới thời
nhà Nguyễn, kế đến là sự xâm lược của Nhật Bản.
Thời gian bị
chiến tranh liên tục, ẩm thực Việt Nam không ít th́ nhiều chịu ảnh
hưởng của Tàu, Pháp và Nhật.
Mặc dầu chịu ảnh hưởng
lớn của Tàu, từ thuở vua Hùng đă có cơ hội thi nấu cơm làm bánh, chế
biến thức ăn. Nền văn minh ăn uống
được h́nh thành cùng với ư chí:
“ Nam quốc sơn hà nam đế cư”.
Trải qua ngàn năm lệ thuộc Tàu
nhưng Việt Nam vẩn giữ được sự khác biệt về ẩm thực với phong cách
nhẹ nhàng bởi những hương vị thanh tao của nhiều gia vị của từng món
ăn ở khắp các vùng lănh thổ Việt nam.
Triều đ́nh nhà Nguyễn ở Huế đă để
lại nhiều món ăn ngon và trang trọng, đặc biệt là vua Tự Đức rất
thích ăn chim sâm cầm được nuôi bằng nhân sâm v́ cho rằng ăn thịt
chim này thân thể sẽ được bồi bổ sinh lực và minh mẫn, bắt đầu thời
đại vua Tự-Đức, lúc nầy vua chúa, cận thần sống trong cung đ́nh,
tiêu xài xa hoa phung phí. Mỗi ngày hoàng đế đ̣i hỏi phải dâng lên
ít nhất là 50 món ăn khác nhau (không khác ǵ yêu sách của vua Louis
14 của Pháp), nhưng hoàng đế không thể ăn hết chỉ nếm sơ qua mỗi món
ăn, phần c̣n lại được phân chia cho các cận thần và hơn 120 người vợ,
người hầu và con cái nhà vua.
Cũng như Nhật Bản nguyên liệu chính
cho ẩm thực Việt Nam là gạo và nếp, có rất nhiều món
ăn chế biến từ gạo và nếp. Một truyền
thuyết kể lại một câu chuyện về bánh tét, bánh
chưng, là một trong những món ăn đặc biệt tượng trưng cho ba
miền, nhất là vào dịp tết đầu năm hầu hết mọi gia đ́nh đều có nhiều
bánh chưng hoặc bánh tét trên bàn thờ.
Đó là thời dưới sự trị v́ của
triều đại Hùng Vương thứ 6, sau khi tiêu diệt các kẻ thù, lúc đó vào
mùa xuân nhà vua có ư định truyền ngôi lại cho một trong những người
con trai và ra lệnh rằng nếu người nào làm được món ăn vừa ḷng vua
th́ sẽ được vua truyền ngôi, đứa con thứ 18 của vua tên là Tiết Liêu
cũng c̣n gọi là Lang Liêu, tánh t́nh rất hiền thục, tôn kính cha mẹ,
nhưng không may mắn, mẹ của Lang Liêu đă chết sớm không ai khuyên
bảo và rất lo cho số phận, c̣n mấy người con khác được nuông ch́u,
sống trong sang giàu nên nghĩ chắc rằng ḿnh sẽ có khả năng làm vừa
ḷng vua và sẽ được lên ngôi. Một hôm nọ Tiết Liêu nằm mơ thấy mẹ về
khuyên ḿnh và chỉ cách làm bánh chưng và nói rằng bánh chưng làm
bằng nếp và nói rằng gạo, nếp là nguồn sống của nhân loại, ngoài ra
c̣n giải thích ư nghĩa của bánh chưng, có hai loại tṛn và vuông,
tṛn th́ tượng trưng cho mặt trời và vuông tượng trưng cho đất đai
c̣n vỏ bọc bên ngoài và nhân bên trong th́ tượng trưng cho sự bảo
vệ của cha mẹ đối với con cái, Tiết Liêu mừng rỏ và làm theo lời của
mẹ. Đến ngày tŕnh món ăn cho vua, các người con khác dâng hiến cho
vua những món ăn thật hoàng tráng, đủ loại cao lương, mĩ vị thường
được quí tộc trong cung đ́nh ưa chuộng nhưng nhà vua lại cho rằng
không có ǵ đặc biệt, đến khi thưởng thức món ăn đơn sơ mộc mạc của
Tiết Liêu th́ nhà vua lại rất hài ḷng, vừa đơn giản vừa ngon vừa lạ,
từ trước đến giờ nhà vua chưa được nếm qua, nhà vua hỏi ư nghĩa và
nguồn gốc của món ăn, Tiết Liêu tŕnh bày chi tiết những ǵ mẹ ḿnh
đă cân nhắc, nhà vua rất măn nguyện và bằng ḷng nhường ngôi lại cho
Tiết Liêu, từ đó bánh chưng bánh tét được quảng bá ra tất cả mọi
người dân và mỗi lần Tết đến là mọi người đều làm
bánh chưng và bánh tét để vui mừng
đón xuân trong những ngày Tết.
Ẩm thực Việt Nam rất đa dạng và
phong phú nhờ vào thiên nhiên nhất là ở miền nam như sông ng̣i và bờ
biển dài từ bắc chí nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long,
sông Mekong bắt nguồn từ núi Himalaya qua các nước như Tàu,
đến biên giới Miến Điện và Lào, qua Thái Lan rồi xuyên qua Lào, Miên
(Cambodge) và cuối cùng đến Việt Nam, khi vào lănh thổ Việt Nam sông
Mekong được chia ra làm hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang
trước khi đổ ra biển, sông Tiền Giang và Hậu Giang được chia làm 9
nhánh và có tên là Cửu Long, sông Mekong lúc mùa nước dâng, nước
biển đi ngược lên nguồn vào khoảng 60 km v́ sự đảo ngược nầy sông
Cửu Long thường xuyên được bồi đắp bởi phù sa của sông Mekong, v́
vậy miền đồng bằng sông Cửu-Long được cho là vựa lúa của Việt Nam
ngoài ra c̣n cung cấp vô số rau củ, trái cây và rất nhiều loại lá
thơm giúp cho ẩm thực miền nam có được rất nhiều món ăn đặc biệt.
Việt Nam được chia ra thành 3 miền:
nam, trung và bắc, ẩm thực của 3 miền có những món ăn đặc biệt khác
nhau, ngoài ra c̣n có ẩm thực của miền đồng bằng sông Cửu-Long và ẩm
thực của miền cao nguyên, mỗi nơi một phương pháp nấu ăn khác nhau
nhờ vào sự phong phú của thực phẩm mỗi vùng.
Những món ăn như chả gị, gỏi cuốn,
tôm chiên, thịt heo kho tộ, cá kho tộ, vịt xào thơm, chuối lăng bột
chiên vân vân thường được cho vào thực đơn của những nhà hàng Tàu,
Thái, Miên và Lào mặc dầu những món ăn trên là những món ăn cổ
truyền thuần túy của Việt Nam và cũng chứng tỏ rằng ẩm thực Việt Nam
rất được ưa chuộng của rất nhiều người trên thế giới.
Ẩm thực Việt Nam dựa trên cơ sở văn
hóa chung nhưng đôi khi khác nhau trên 3 miền: bắc, trung, nam, đó
chỉ là thể hiện sự đa dạng, phong phú của mỗi miền, nguyên liệu thực
phẩm, cơ chế ăn uống cũng tùy thuộc vào đời sống hàng ngày của mỗi
người.
Ẩm thực miền bắc
Miền bắc giáp với Tàu và Lào thời
tiết khắc nghiệt hơn hai miền trung và nam, ẩm thực miền bắc cho
chúng ta những món ăn đúng mực, nhiều chất đạm, nhiều
năng lượng, người miền bắc dùng nhiều đồ
chiên với dầu thực vật hay dầu động vật như món
chả cá Hà Nội, nước tương, chao, ḿ,
trứng, bột ḿ cũng được dùng rất nhiều ngoài ra có rất nhiều loại
bánh xếp. Người miền bắc đặc biệt ưa chuộng thịt ḅ, thịt gia cầm
nhất là vịt và heo quay, vịt và heo quay được ướp gia vị rất thơm
đặc biệt ở vùng Cao Bằng vịt quay được ướp với 7 loại hương vị ngoài
ra c̣n dùng mật và nước tương để món ăn được thơm, đậm đà hơn là đồ
quay của Tàu, ẩm thực miền bắc cũng dùng nhiều rau cải luộc và xào.
Về phong cách ăn uống phần đông
người miền bắc dùng nhiều thời gian hơn cho những bửa ăn mặc dầu với
những món ăn đơn sơ, cách chế biến thực phẩm cũng có phần trịnh
trọng hơn với gia vị thanh nhẹ, người miền bắc ăn uống khoang thai,
ăn chậm nhai kỹ được đút kết thành khoa học dưỡng sinh.
Có người cho rằng khẩu vị miền bắc nghiêm ngặt
đến mức bảo thủ có lẻ nó được canh gát thường trực để chống nổi lo
âu bị đồng hóa của Tàu.
Người miền trung và người miền nam
trộn gà với rau răm c̣n người bắc lại trộn gà với lá chanh và chó là
món ăn được dân miền bắc ưa chuộng:
Con
gà cục tác lá chanh,
Con
lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con
chó khóc đứng khóc ngồi,
Bà ơi
đi chợ mua tôi đồng riềng
Phở
là món ăn b́nh dân đặc biệt nhất của miền bắc, với thịt ḅ, vị
thơm mùi quế và nhiều rau như giá, hành,
ng̣, rau quế và ng̣ gai. Ngoài phở c̣n có những món ăn tượng trưng
và được người miền bắc ưa thích là món bún thang, bún ốc, bún mọc,
bún riêu, chả cá Hà Nội, bún cá Hà Nội món ăn dân dă mộc mạc nhưng
đầy vẻ bản chất riêng biệt của người Hà Nội.
Ẩm thực miền trung
Miền trung với bờ biển dài và bề
ngang hẹp “dằng dặc khúc ruột miền trung” mắm ruốc cá
kho đă đi vào mâm cơm của số đông thay cho “ tương cà gia bản”
của truyền thống miền bắc. Món cá ngừ kho chan
bún, bánh tráng lá đặc sản của dọc suốt miền duyên hải. Nói
chung món cá kho miền trung phần nhiều là cá biển và thường kho với
các loại rau quả như khế, cà chua, thơm, dưa môn, dưa cải, chuối
chát, trái vả, dưa hường, mít non v.v…. hơn nữa món cá kho là món ăn
b́nh dân của 3 miền nhưng khi đưa đến Huế cũng mang màu quí phái.
Có thể nói các món
ăn Huế là tiêu biểu cho văn minh ăn uống
Việt Nam cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19. Các món ăn Huế được chế biến
công phu, tinh tế, nhiều người cho rằng ăn
các món Huế là thưởng thức cái đẹp, cảm nhận cái hồn của Huế, ngay
cả những ḷng lợn, ḷng ḅ khi vào tay của các bà nội trợ Huế cũng
trở thành mĩ vị cao sang.
Miền trung c̣n có nhiều món gỏi như
gỏi cá mai, ở miền bắc có phở th́ miền trung có
ḿ quảng,
bún bó Huế, ngoài ra c̣n có một món ăn đặc biệt là bánh bèo (
bánh bèo miền trung không dùng đậu xanh như bánh bèo của miền nam)
được tŕnh bày khéo léo, mỗi bánh với nhiều màu sắc nấu trên một đĩa
nhỏ, có lẽ bị ảnh hưởng của đời sống vua chúa với nhu cầu hưởng lạc,
cao sang nhất là sau khi giang sang thu về một mối, chính là thời cơ
vàng để các món ăn Huế phát triển. Bửa tiệc có hàng trăm đĩa nhỏ với
các loại thức ăn khác nhau.
Có hàng trăm món Huế, nhưng phổ
biến rộng không chỉ là những món ăn cao
cấp. ngày nay cả nước đều biết tiếng mắm
tôm chua Huế ăn với thịt heo qhay (cuit à point à l’eau) kèm
khế và các loại rau thơm, ngoài ra c̣n có món mắm ṣ Lăng Cô, cơm
hến, bánh lá, bún mắm Hội An nực
mùi mắm nêm trộn với dưa leo rau ghém, ẩm thực Huế c̣n đặc biệt nổi
bật với những món ăn thịt xỏ xâu (brochette) ăn với bánh hỏi với đủ
loại rau tươi và ăn với nước mắm v.v….
Có những món ăn
b́nh dân Huế nhưng ngày nay là món đặc sản trong thực đơn của các
khách sạn sang trọng. Cái khó trong lúc làm món
bún ḅ Huế là nước dùng phải qua nhiều công đoạn chế biến riêng và
khó là làm sao cho nước dùng được đậm đà vị mắm ruốc mà không hôi
mùi ruốc.
Toàn thể ba miền Việt Nam đều có
món mắm tôm chua, nhưng có lẽ hương vị tôm chua Huế đặc sắc hơn v́
sự chế biến qua nhiều công đoạn của nhiều nguyên liệu khác nhau như
rượu, măng ṿ, riềng, tỏi, ớt, xôi nếp và nước mắm ngon.
Về địa thế miền trung không thuận
lợi bằng miền bắc và miền nam nhưng ẩm thực miền trung chịu ảnh
hưởng của những món ăn của các cung đ́nh vua chúa và của vương quốc
Chàm lúc xưa, các món ăn Huế mặc dầu không được phong phú của miền
bắc hay đậm đà của miền nam nhưng người miền trung có những món ăn
với những hương vị rất đặc biệt, họ dùng những thực phẩm với nhiều
gia vị cay để làm các món ăn như sả, ớt đỏ, me, gừng, chanh, dầu mè,
dầu hào và đặc biệt ngoài nước mắm c̣n có mắm tôm dùng trong các món
ăn đặc biệt của miền trung như món ăn “bún ḅ Huế” một món ăn có gia
vị rất ngon vừa thơm vừa cay không giống bất cứ món ăn nào khác với
rất nhiều nguyên liệu như thịt ḅ (bắp ḅ) thịt heo (đuôi heo, chân
heo), các loại lá thơm như sả, gừng tiêu,chanh, hành tây vân vân,
ngoài ra c̣n có nước mắm, mắm ruốc, một món ăn đầy đủ chất dinh
dưỡng nhất là chất đạm chứa nhiều “gélatine” (tót cho da) từ đuôi
heo và chân heo.
Ẩm thực miền nam
Miền nam có nhiều món ăn lạ, tùy
theo nguyên liệu thực phẩm đặc biệt của mỗi vùng, người dân có thể
làm nhiều món ăn ngon, ví như món lẩu mắm, một món ăn rất b́nh dân
không hoàng tráng nhưng đậm đà hương vị mà nguyên liệu chính là mắm,
thời gian trôi qua món lẩu mắm được thêm nhiều nguyên liệu như ốc,cá,
tôm, mực, thịt ba rọi đậu hủ và nhiều loại rau thơm tùy theo sở
thích của mỗi người như giá, rau bắp, rau hổ, rau đắng, rau nhúc,
rau ôm, ngó sen và rất nhiều loại rau thường dùng hàng ngày. Món ăn
này trở thành món ăn đặc sản cao cấp của miền nam, món ăn này cũng
biểu lộ được tính chất thực thà chất phát không bảo thủ, không cầu
kỳ như miền bắc, ngoài ra c̣n thể hiện đầy đủ nét hoang dă và hào
phóng của người miền nam, nếu có nguyên liệu nào mới, ngon, lạ và
thích nghi với món ăn, người đầu bếp sẽ t́m cách pha chế, kết hợp,
cải biến để món ăn trở nên đậm đà thơm ngon hơn.
Đặc biệt vùng Trà Vinh và Sóc Trăng
có một loại nước lèo danh tiếng được gọi là
nước lèo Trà Vinh hoặc bún mắm Sóc Trăng
một loại nước súp làm từ cá lóc, cá rô đồng hoặc với mắm cá nhất là
mắm cá sặc. Đặc biệt nước lèo này được nấu với một loại củ giông như
củ sâm gọi là ngải bún có nguồn gốc
từ xứ Miên, ngải bún có mùi thơm d́u dịu
và vị ngai ngái ẩn chứa hương vị của đất đai, rừng rú hoang dă của
miền nam nam bộ.
Miền bắc và miền trung đều có canh
chua nhưng tô canh chua miền nam
khác hẳn về chất lượng thể hiện cho sư trù phú vô cùng của miền nam,
nước súp thật chua dùng me rất nhiều, cá cắt khúc lớn, tôm, nhiều
loại rau củ như thơm, cà chua, đậu bắp, giá, rau ôm và ớt thật
cay.
Ẩm thực miền nam có tiếng về gia vị
và màu sắc đủ loại của các thức ăn miền nhiệt đới (h́nh trên
trang 118 của bài này: rau ăn với món bún mắm), hầu hết ẩm thực miền
nam dùng nước dừa, nước cốt dừa và nước mắm cho nhiều món ăn từ
những món ăn chánh cho đến các món ăn tráng miệng, có vị ngọt, mặn
và bùi hơn ẩm thực của miền trung và miền bắc, như
lương um lá nhàu với nước dừa và
nước cốt dừa của vùng Cà Mau và các vùng khác của miền tây nam bộ ,
nhiều người cho rằng người miền nam ăn bằng mắt, bằng mủi không
giống như người miền bắc ăn để bổ dưỡng cho cơ thể, miền nam có rất
nhiều loại rau, trái cây, lá cỏ thơm, nhiều gia vị, với những nguyên
liệu trên, người nội trợ có thể pha chế và thực hiện được nhiều món
ăn lạ, đậm đà hương vị trong thời gian ngắn.
Với nước mắm, mắm cá đủ loại, mắm
tôm, cua với đu đủ, thơm, người nội trợ có thể làm trên “1001” món
ăn: xào như mắm ruốc xào sả, hấp như mắm chưng, luột như bánh tráng
cuốn tôm, thịt và mắm thái hoặc món canh như mắm và rau v.v…, những
gia vị: mặn, ngọt, chua, cay và đắng được phối hợp với nhiều loại
rau thơm cùng với nhiều loại thú vật ở mọi vùng của miền nam: ḅ,
nhảy, lội và bay:
Ḅ như
lương xào xúc bánh đa
Nhảy như
ếch xào lăng
Lội
như cá trê
kho tộ
Bay như
chim cút rôti
Hơn nủa ở vùng Đồng Thàp có một
loại chim nhỏ như chim cút vừa bay (chỉ vài thước), vừa lội và vừa
nhảy gọi la chim cúm núm, cho thêm người miền nam những món
ăn ngon.
Ngoài ra c̣n có những món
ăn thuần túy miền nam là
thịt heo kho nước dừa (nước dừa là
nguyên liệu chánh cho món ăn này). Đặc biệt có món ăn như hột vịt
lộn ăn với rau răm món ăn b́nh dân được mọi người Việt-Nam ưa thích
và có thể ăn bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, đối với những người
ngoại quốc, vịt lộn là món ăn ít được ưa chuộng v́ cho rằng:
“Trứng không phải trứng mà vịt cũng không
phải vịt mà là vịt trong trứng”
Người miền nam c̣n có những nguyên
liệu dùng để biến chế rất nhiều món ăn như: cá trê, cá lóc, lương,
ếch, ốc đủ loại, chuột đồng rất nhiều trong mùa
thu hoạch lúa với những thú vật này cũng đủ dâng hiến cho
người dân miền nam vô số món ăn đặc biệt khác nhau.
Báo chí Pháp cho rằng ẩm thực Việt
Nam có hơn 500 món ăn nhưng thật ra với sự tiến hóa theo thời gian,
với nguồn nguyên liệu thiên nhiên dồi dào của miền nam nhất là miền
tây nam bộ được phối hợp với những nghệ thuật nấu nướng cổ truyền,
người nội trợ miền nam có thể sáng chế rất nhiều món ăn mới và ngon
đến ngày hôm nay, số món ăn không thể kê khai đầy đủ được.
Trong mỗi thành phố lớn của Việt
Nam nhất là Saigon trung tâm kinh tế của miền nam cũng là trung tâm
ẩm thực của toàn quốc, nếu chúng ta vào một nhà hàng sang trọng nào
đó hoặc một quán ăn b́nh dân được gọi là “quán nhậu” để t́m và
thưởng thức” những món ăn đặc sản của Việt Nam th́ chúng ta cũng sẽ
có một nhận định như một nhà phê b́nh người Pháp về ẩm thực Việt
Nam: muốn thưởng thức được món ăn thuần túy đậm đà gia vị của Việt
Nam th́ nên vào “quán nhậu” mặc dầu náo nhiệt ồn ào nhưng có rất
nhiều món ăn ngon lạ và nhà phê b́nh này c̣n quan sát rằng “quán
nhậu” hầu như chỉ dành riêng cho đàn ông !!.
Miền nam c̣n có món súp có tên là
hủ tiếu Mỹ Tho xuất hiện từ trước
năm 1960, khởi đầu từ các xe, các quán hủ
tiếu bên đường, hầu hết chủ nhân là người Việt gốc Hoa, sau đó người
Mỹ Tho cải biến theo khẩu vị riêng. Về phương diện dinh dưỡng một tô
hủ tiếu có được đầy đủ chất đạm, chất béo, chất khoáng và
vitamine : thit heo nạt cắt lát, thịt heo
bầm xào với hành, tỏi có mùi rất thơm, gan, tim heo, tôm, trứng cúc
vv, thêm nhiều loại rau giúp tô hủ tiếu thêm nhiều hương vị tươi
thơm: hẹ, giá, rau cần, sà lách, rau tần ô vv.
D) ẨM THỰC PHÂN TỬ
Một danh từ mới được đưa ra cho ẩm
thực thế giới vào năm 1988 bởi môt người Pháp tên là Hervé This
danh từ “gastronomie moléculaire”
hay cuisine moléculaire có thể dịch
ra “ẩm thực phân tử” và bắt đầu bởi những nghiên cứu và áp
dụng một cách khoa học như đặc tính của một loại rong biển màu nâu
“Agar-agar” có thể thay thế đặc
tính kết đông của trứng, giống như người Việt Nam dùng “rau câu”
để làm những món ăn tráng miệng.
Người đầu tiên nghiên cứu và áp
dụng khoa học vào lănh vực nghệ thuật nấu nướng là một người Pháp
tên là Hervé This, sinh ngày 5/6/1955, là một kỹ sư lư-hóa sau khi
tốt nghiệp ông làm ở viện nghiên cứu nông học quốc gia, ông cũng là
giám đốc khoa học của tổ chức khoa học thực phẩm,
ngoài ra ông c̣n là chủ tọa của hội đồng giáo dục của viện
nghiên cứu gia vị, nghệ thuật nấu ăn. Năm 1988 ông H This đă tạo ra
một kỷ luật khoa học mới với ông Nicolas Kurti được gọi là “gastronomie
moléculaire” cùng với nhóm nghiên cứu của I.N.R.A
( institut national de la recherche
agronomique) viện nghiên cứu nông học quốc gia, ông nghiên cứu sự
biến hóa thức ăn ở pḥng thí nghiệm hóa học “Agro Paris Tech”, ông
đă xuất bản rất nhiều sách về “ẩm thực phân tử”. Nội dung của những
sách nầy là tŕnh bày cơ chế của nhiều sự biến hóa thức ăn, những
nghiên cứu khoa học của ông được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công
nghệ chuyên môn và kỹ thuật. Ông nhận xét rằng nấu chín trứng ở một
nhiệt độ chính xác có thể cho một kết quả mà từ trước đến giờ không
ai biết được chẳng hạn như ở nhiệt độ 67,5
°C, làm mousse chocolat hoặc làm chocolat chantilly mà không cần
trứng, ngoài ra ông Hervé This c̣n áp dụng
nitơ lỏng ”azote liquide” để làm nhanh món cà rem.
Ẩm thực phân tử là một kỷ luật khoa
học dựa trên kinh nghiệm, nghiên cứu những hiện tượng, những biến
đổi xảy ra trong khi làm bếp, ẩm thực phân
tử liên quan đến toán học, vật lư, hóa học và ngoài ra c̣n
liên quan đến văn hóa và lịch sử. Từ những phương pháp nấu nướng, ẩm
thực phân tử được nghiên cứu một cách khoa học những sự biến đổi và
t́m hiểu cơ chế của sự biến đổi này, ngoài ra ẩm thực phân tử c̣n để
ư nghiên cứu đến sự khéo léo của người làm bếp, sau đó t́m hiểu
nguyên do.
Tất cả thức ăn là những hệ thống
phân tán (dispersé) như: nhũ tương (émulsion), gel, bọt (mousse),
bọt ở thể cứng (mousse solide), thể vẩn (suspension), thể vẩn ở thể
cứng (suspension solide), trong bếp gel là tṛng trắng của trứng,
nhũ tương là nước xốt mayonne (mayonnaise: làm bằng tṛng đỏ trứng
và dầu), ẩm thực phân tử nghiên cứu sự đông tụ của trứng và sự kết
tinh của thực phẩm bởi nitơ ở thể lỏng.
Năm 2005 Hervé This đưa ra một
chương tŕnh khoa học mới trong sự nấu nướng:
- Khám phá thành phần kỹ thuật
- Khám phá thành phần mỹ thuật
- Khám phá thành phần liên hệ
|
|
Pha phân
tán
(phase
dispersé) |
Gaz |
Chất lỏng |
Chất
cứng |
|
Chất lỏng
(liquide) |
Gaz phân tán trong
chất lỏng :bọt lỏng
(Chantilly, blanc en
neige, soufflé) |
Chất lỏng phân tán
trong chất lỏng:
nhũ tương
(Sửa, xốt mayonne,
giấm) |
Chất cứng trong chất lỏng:
Thể vẩn
(Bột làm bánh xếp,crème
Anglais) |
|
Chất cứng
(solide) |
Gaz phâ tán trong
Chất cứng: bọt cứng.
(Bánh ḿ, soufflé,
meringue) |
Chất lỏng phân tán
trong chất gel: gel
(gelée, mứt, aspic)
|
Chất cứng trong chất cứng:
Thể vẩn cứng
(Bột bánh ḿ không
có levure) |
|
|
- Bọt (mousse): sự phân tán của
những bọt không khí trong chất lỏng hoặc chất cứng chẳng hạn như bọt
savon và bọt polystyrene.
- Nhũ tương (émulsion): sự phân tán
của chất béo trong nước như bơ.
- Thể vẩn (suspension): có thể là
một chất lỏng hoặc nửa lỏng nửa cứng, là kết quả của sự phân tán của
một chất cứng trong chất lỏng cũng được cho là sự phân tán hỗn hợp
trong đó một chất được phân tán ra những thành phần rất nhỏ và có
thể ḥa tan trong chất khác để thành một chất đồng nhất.
- Nitơ lỏng: Nitơ (azote) c̣n được
gọi là diazote (N2) là một chất gaz có rất nhiều trong thiên nhiên,
gồm có khoảng 80% không khí, là chất vô hại và không tác động đến sự
đốt cháy, để có được nitơ lỏng diazote được nén dưới áp xuất rất cao
(200 bars) và được làm lạnh ở nhiệt độ – 196°C sau đó chất gaz trở
thành thể lỏng ở áp xuất 1 bar.
NHÀ HÀNG NGON
Restaurants gastronomiques
THẾ GIỚI
Hậu quả của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, song song với sự lo âu về việc làm, đời sống không ổn định
và tương lai của gia đ́nh không được bảo đảm, mọi từng lớp dân chúng
nhất là những thành phần có thu nhập trung b́nh và thấp đă thay đổi
cơ chế ăn uống và để dành nhiều thời gian hơn cho ẩm thực, tự thực
hiện cho ḿnh những món ăn vừa rẻ vừa có đầy đủ phẩm chất và nhất là
có thể thực hiện nhanh chóng các món ăn, có nhiều sách chuyên về
dinh dưỡng sáng chế những công thức nấu ăn vừa ngon vừa rẻ lại có
cân bằng về dinh dưỡng.
Dân chúng miền Bắc Âu từ xưa không
có tiếng về ẩm thực, cũng bắt đầu để ư đến việc tự nấu
ăn và t́m cách học hỏi từ sách vở hoặc
trên tivi về phương pháp dạy nấu ăn.
Cuối tháng 2 năm 2011 ông
Paul Bocuse (chủ nhà hàng 3 sao
ở Lyon) tổ chức một bửa ăn trang trọng và đă mời 90 người đầu bếp
danh tiếng của 90 quốc gia trên thế giới, mục đích để giới thiệu và
củng cố địa vị ẩm thực của Pháp sau khi ẩm thực Pháp được UNESCO
công nhận là tài sản văn hóa nhân loại phi vật chất và nhân dịp nầy
ông có tổ chức một cuộc thi dành cho những đầu bếp tương lai của ẩm
thực thế giới qua giải thưởng “Bocuse
d’Or”, kết quả thật ngạc nhiên của hầu hết các khách quan: 3
vị trí đầu thuộc về các nước Bắc Âu : Đan Mạch, Thụy Điển và Na-Uy,
và thứ tư là Pháp.
Sự kiện này chứng tỏ dân chúng Bắc
Âu qua những sự kiện về ô nhiễm môi trường và sự bất ổn về kinh tế,
dân chúng bắt đầu ư thức được sự quan trọng của cơ chế ăn uống, bớt
thói quen với những đồ ăn chế biến, đông lạnh và những “fast food”
và bắt đầu làm quen với những thức ăn gọi là “low food” tự nấu ăn
với mục đích vừa bớt được gánh nặng tài chính vừa hạp khẩu vị hơn
nữa có đầy đủ chất dinh dưỡng.
Bẩm
sinh ai cũng muốn ăn ngon, mỗi người chúng ta đều có sự định nghĩa
của danh từ “ăn ngon” khác nhau, v́ tùy theo văn hóa, phong
tục, kinh tế, môi trường và cơ chế ăn uống khác nhau của mỗi quốc
gia, ăn tại gia có lẻ chúng ta không để ư đến những chi tiết khi
chúng ta có dịp thưởng thức những món ăn ở một nhà hàng ngon danh
tiếng, một cách tổng quát một món ăn ngon ở nhà hàng, ngoài hương vị,
cách pha chế, tổng hợp các nguyên liệu, kỹ thuật nấu chín thực phẩm
vân vân c̣n có sự phối hợp, tŕnh bày màu sắc khéo léo giữa các loại
bát đĩa và các món ăn để có được những món ăn vừa đẹp vừa thơm vừa
hạp khẩu vị, ngoài ra phần dịch vụ, không gian, môi trường xung
quanh, vấn đề an toàn vệ sinh cũng đóng vai tṛ quan trọng và ảnh
hưởng rất nhiều đến những món ăn và cũng ảnh hưởng rất nhiều đối với
sự định vị về giá trị của nhà hàng. Ẩm thực bao gồm nhiều thành phần
văn hóa, sự tổng hợp những hiểu biết và những truyền thống của sự ăn
và uống, ẩm thực cũng liên quan nhiều đến sự học hỏi, t́m ṭi một
cách khoa học của mọi người trên thế giới,
như vậy ẩm thực là một nghệ thuật, là
gia tài phi vật chất của mỗi quốc gia.
V́ vậy tờ báo “Guide Rouge” của Michelin
cũng dựa theo những điều kiện trên để so
sánh và định vị những nhà hàng ngon trên thế giới.
Ẩm
thực của Nhật và Pháp được nhiều báo chí trên thế giới đề cập, định
vị và phê b́nh c̣n đối với ẩm thực Việt Nam, báo chí thế giới có đề
cập, phê b́nh nhưng chưa có sự định vị nào.
Những nhà hàng danh tiếng được báo
chí tham khảo, đánh giá, định vị và xuất bản
mỗi năm, sự định vị này giống như sự định vị cho các
khách sạn danh tiếng từ không có sao nào
đến 5 sao theo tiêu chuẩn quốc tế . Theo
tiêu chuẩn thế giới về sự định vị của các nhà hàng danh tiếng trong
giới ẩm thực được các nhà báo chuyên về ẩm
thực chấm từ không có sao đến 3 sao.
Những nhà hàng được định vị 3 sao
phải đạt được điểm cao nhất trên mọi phương diện:
- Phẩm chất, vệ sinh
an toàn thực phẩm
- Nguồn cung cấp nguyên liệu phải
tuân theo những luật lệ, tiêu chuẩn đặt
ra bởi chính phủ như sự bảo quản nguyên liệu từ lúc mua đến lúc đưa
vào sử dụng trong bếp
- Sự tổ chức và phương pháp nấu
nướng trong bếp
- Phong cách dịch vụ của toàn thể
nhân viên trong nhà hàng
- Dụng cụ bát đĩa tŕnh bày trên
bàn ăn
- Nhà vệ sinh phải cũng phải được
luôn luôn sạch sẻ.
- Không gian, môi trường, trang trí
pḥng ăn phải hoàn hảo
Hơn nữa để có được 3 sao các chủ
nhà hàng và các đầu bếp chính phải chịu áp lực rất lớn mỗi ngày, v́
ngoài sự cạnh tranh mạnh mẽ với các nhà hàng danh tiếng khác, các
đầu bếp luôn luôn phải tự giác và cố gắng rất nhiều trong lĩnh vực
nghiên cứu, quan sát, tim ṭi để có thể phát minh ra những món ăn
ngon, lạ và hạp khẩu vị của phần đông khách hàng, quan trọng hơn là
lúc nào cũng muốn nhà hàng của ḿnh không bị xuống cấp qua sự định
vị mỗi năm. Cách đây vài năm, năm 2003, người đầu bếp chính cũng là
chủ một nhà hàng 3 sao Pháp Bernard Loiseau đă tự tử v́ không chịu
nổi những áp lực và phê b́nh từ các nhà chuyên môn về ẩm thực, sau
khi bị báo “Guide Gault Milau” cho xuống điểm từ 19/20 xuống c̣n
17/20 và những phê b́nh ít ca ngợi với những lời châm biếm nhục nhă
của ông François Simon v́ cho rằng ông đă ngủ trên sự vinh quang của
ông, sau sự kiện đáng tiếc này, có rất nhiều nhà hàng danh tiếng tự
động từ chối sự định vị của các nhà báo và chỉ chuyên tâm làm những
món ăn với chất lượng cao với giá cả phải chăng để phục vụ khách
hàng v́ cho rằng họ không chịu được những áp lực triền miên để duy
tŕ, giữ vững đẳng cấp của ḿnh hơn nữa về công sức và tài chinh sẽ
bị hao hụt rất lớn.
Sau đây là bảng xếp hạng của
10 nhà hàng ăn
danh tiếng nhất thế giới được đăng trên tờ báo Anh
“Restaurant Magazine” năm 2011
1) Noma nước Đan Mạch
2) El Celler de can
Roca nước Tây Ban Nha
3) Mugaritz nước Tây Ban Nha
4) Osteria Francescana nước Ư
5) The fat Duck nước Anh
6) Alinea nước Mỹ
7) D.O.M nước Bresil
8) Arzak nước Tây ban Nha
9) Le chateaubriand nước Pháp
10) Perse nước Mỹ (Chicago)
Ấn tượng nhất là sư phát triển ẩm
thực của nước Đan Mạch, như đă được đề cập, người đầu bếp trẻ nước
Đan Mạch được giải nhất do ông Paul Bocuse tổ chức cuối tháng 2 năm
2011 và trong bảng xếp hạng của sự định vị 50 nhà hàng ngon nhất thế
giới cho năm 2011 bởi 600 nhà chuyên môn thế giới về ẩm thực trong
tờ báo “Restaurant Magazine” của Anh, nhà hàng Noma của nước Đan
Mạch đă đoạt giải nhất.
Ghi chú: từ năm 2006 nhà
hàng El Bulli đăng quang 4 năm liên tiếp, năm 2009 nhà hàng này đă
tuyên bố ngừng hoạt động trong ṿng hai năm để nghiên cứu và phát
minh thêm các món ăn mới với mục đích chính là để phục vụ khách hàng,
giảng dạy cho những đầu bếp trẻ thế giới sau đó để duy tŕ đẳng cấp
của ḿnh trong thế giới ẩm thực, hàng năm có hàng triệu người muốn
giữ chỗ để mong muốn thưởng thức được những món ăn độc đáo nhưng số
chỗ có giới hạn nên có thể phải đợi đến 1-2 năm mới có chỗ, nên
không có tên trong danh sách định vị của năm 2011.
Đặc biệt trong sự định vị này nhà
hàng Chateaubriand ở Paris được giữ địa vị thứ 9 trong 10 nhà hàng
ngon nhất thế giới trong khi đó cuốn sách định vị của Michelin Guide
Rouge lại không có tên nhà hàng này trong sự đinh vị năm 2011!!.
Sự định vị năm 2011 của tờ báo
“Restaurant Magazine” của Anh và “Guide Rouge” của Michelin Pháp làm
cho giới ẩm thực thế giới nhất là Pháp lên tiếng chỉ trích sự thiên
vị, bất đồng sai sự thật trong sự lựa chọn đối tượng, tiêu chuẩn
trong sự quyết đoán, nghi ngờ khẩu vị của người Anh, chú trong quá
nhiều đến sự nhạy cảm theo thời về khẩu vị của nhiều người trong
nhóm trọng tài có trách nhiệm về định vị và cuối cùng hầu hết các
nhà phê b́nh ẩm thực nghi ngờ những gíám khảo này khó có đủ thời
gian để có thể thưởng thức và phê b́nh những món ăn của tất cả các
nhà hàng danh tiếng trên thế giới. Hơn nũa theo sách Guide Rouge của
Michelin thi số nhà hàng có sao nhiều nhất thế giới của Nhật Bản lại
không có tên trong danh sách của “Restaurant Magazine” của Anh.
Số nhà hàng ngon của các nước Âu Châu
được định vị trên sách “Guide Rouge” của
Michelin
|
|
Quốc gia |
3 sao |
2 sao |
1 sao |
Năm xuất bản
“Guide rouge” |
|
Pháp-Monaco |
26 |
77 |
455 |
2010 |
|
Đức |
9 |
23 |
205 |
2011 |
|
Tây Ban Nha |
7 |
11 |
119 |
2010 |
|
Y |
6 |
37 |
229 |
2010 |
|
Anh |
3 |
13 |
106 |
2007 |
|
Bỉ |
2 |
10 |
86 |
2010 |
|
Ḥa Lan |
2 |
14 |
75 |
2010 |
|
Thụy Sỉ |
2 |
16 |
75 |
2011 |
|
Áo |
0 |
4 |
49 |
2006 |
|
Luxembourg |
0 |
1 |
12 |
2010 |
|
Na Uy |
0 |
0 |
6 |
2008 |
|
Bồ đào Nha |
0 |
1 |
11 |
2010 |
|
Thụy Điển |
0 |
2 |
12 |
2009 |
|
|
Số nhà hàng ngon của các thủ đô trên
thế giới
được định vị trên sách “Guide Rouge” của
Michelin
|
|
Thủ đô |
3 sao |
2 sao |
1 sao |
Năm xuất bản
“Guide Rouge” |
|
París |
10 |
13 |
41 |
2010 |
|
Tokyo |
11 |
42 |
144 |
2010 |
|
New-York |
5 |
10 |
42 |
2011 |
|
Hồng Kông |
2 |
8 |
32 |
2010 |
|
Macau |
1 |
1 |
7 |
2010 |
|
Milan |
1 |
4 |
17 |
2008 |
|
Sao-Paulo |
0 |
0 |
2 |
2009 |
|
Kyoto |
7 |
22 |
71 |
2011 |
|
Osaka |
3 |
12 |
75 |
2011 |
|
Kobe |
2 |
10 |
37 |
2011 |
|
Chicago |
2 |
3 |
18 |
2011 |
|
San Francisco |
2 |
0 |
39 |
2011 |
|
|
Ngoài sự định vị của báo chí Anh, ở
Pháp cũng có nhiều sách chuyên môn về khách sạn và nhà hàng như sách
“Guide rouge” của Michelin sách này mỗi năm định vị hầu hết những
nhà hàng danh tiếng của Pháp và thế giới cũng như sách
Chateaux&Hotel collection và sách
Relais&Chateaux định vị mỗi năm hầu
hết các khách sạn, nhà hàng có liên quan đến lâu đài xưa của Pháp và
các nước Âu Châu
Năm tiêu chuẩn quan trọng cho nhà
hàng ngon:
1) Chất lượng của thực phẩm
2) Quán thông sự “nấu chín” thức
ăn và gia vị
3) Cá tính của người đầu bếp chính
trong bếp
4) Chất lượng (toàn diện của nhà hàng)
trên giá cả (Qualité/prix)
5) Bất cứ lúc nào cũng giữ vững, duy
tŕ sự đều đặng của thực đơn
Phần 2 là giai đoạn quan trọng nhất
trong quá tŕnh nấu ăn, sự “nấu chín”
và pha chế các loại thực phẩm thực ra rất phức tạp, khó đạt đến mức
hoàn hảo và giai đoạn này có thể biểu hiện sự khác biệt giữa các đầu
bếp danh tiếng nhất trên thế giới. Kỹ thuật ẩm thực là một quá tŕnh
biến chế những thực phẩm, người đầu bếp lựa chọn và phối hợp những
thành phần của thực phẩm (chất đạm, chất béo, chất đường, chất
khoáng và vitamine) với nhiều dụng cụ và phương pháp khác nhau (những
dụng cụ trong pḥng thí nghiệm lư-hóa cũng được đem ra áp dụng để
thực hiện các món ăn). Trong quá tŕnh biến chế
thức ăn, người đầu bếp cần phải thấu hiểu sự kết cấu, bề ngoài và
những đặc tính hóa học những thành phần của những nguyên liệu dùng.
Hơn nữa kỹ thuật nấu chín thức ăn có sự
khác biệt rất lớn giữa các quốc gia v́ liên hệ đến phong tục, tập
quán, kinh tế, văn hóa và môi trường của mỗi nước.
Sự nấu chín
thực phẩm đ̣i hỏi người đầu bếp phải luôn luôn cảnh giác, phải được
huấn luyện và tinh thông về mọi phương diện ẩm thực. Những
nhà nhân loại học cho rằng sự “nấu chín” có từ 250000 năm trước và
theo sự phát triển của các ngành nông nghiệp, thương mại và giao
thông giữa các nền văn minh trên thế giới đă giúp cho nhiều người
đầu bếp có được những thực phẩm mới với những thành phần mới, ngoài
ra với những phát minh kỹ thuật như công nghệ đồ gốm giúp làm tăng
thêm sự chính xác cho kỹ thuật nấu chín một thực phẩm để có thể giữ
giá trị thơm ngon cho món ăn.
Cuốn sách “Guide Rouge” của
Michelin được dân chúng Pháp và hầu hết mọi người trên thế giới xem
như là cuốn sách đầy đủ nhất cho việc tham khảo mỗi khi đi du lịch,
ngoài sự cung cấp, chỉ dẩn những bản đồ của các thành phố, địa chỉ
của các khách sạn, nhà hàng kèm theo những ư kiến về chất lượng cũng
như về giá cả của các khách sạn và nhà hàng ăn uống. Sách “Guide
Rouge” đầu tiên được xuất bản vào năm 1900, hiện nay sách “Guide
Rouge” được phát hành trên 90 quốc gia và trên 1 triệu cuốn, năm
2011 sách “Guide Rouge” phát hành 26 loại khác nhau của 23 quốc gia,
số nhà hàng được tuyển chọn là 16500 và 96 nhà hàng được tôn vinh 3
sao, 338 nhà hàng 2 sao và 1952 nhà hàng 1 sao.
TÂY BAN NHA
Ẩm thực của Tây Ban Nha mặc dầu
không danh tiếng bằng Pháp và Nhật Bản nhưng hầu như năm nào cũng có
3-4 nhà hàng trong số 10 nhà hàng ngon nhất thế giới được lựa chọn
nên có thể được cho là ẩm thực mẫu để tham khảo.
Thành phố
San Sebastian (tiếng Tây Ban
Nha), Saint Sébastien (tiếng Basque) thuộc vùng Pays Basque là một
trong 17 cộng đồng tự trị Tây Ban Nha, là một trong những thành phố
du lịch nổi tiếng nhất của Tây Ban Nha, phần lớn nhờ vào sự danh
tiếng về ẩm thực, băi biển La Concha là một trong những băi biển đẹp
nhất Tây Ban Nha, ngoài ra trong phố cổ có rất nhiều quán bar b́nh
dân Pintxos nổi tiếng (tiếng Basque là Tabas) suốt năm, tối nào cũng
rất đông người đến tụ tập nơi này ăn, tṛ chuyện và uống rượu.
Thành phố San Sebastian có nhiều
nhà hàng ngon 3 sao như Arzak, Martin Berasategui, Mugaritz và
Akelarre, nhà hàng Arzak được xếp hạng 8 thế giới năm 2009 và năm
2011, nhà hàng này có vài món ăn được người đầu bếp áp dụng ẩm thực
phân tử “cuisine moléculaire” để thực hiện cũng như phần đông các
nhà hàng danh tiếng của xứ này.
Trung
tâm thành phố San Sébastian, bên trái là
khách sạn Maria Cristina
(bên
trong khách sạn này có một nhà hàng tên là Saigon !!)


Kiến
trúc này chúng ta thường thấy ở các nước nam Mỹ thuộc địa của Tây Ban Nha
Tây Ban Nha có một loại thịt jambon
được gọi là “jambon ibérique” làm từ thịt của một giống heo đen và
thức ăn của heo là trái của cây sồi (chêne), thịt của giống heo này
có màu đỏ như thịt ḅ và thường hay bày bán ở các tiệm thịt nguội
(charcuterie) hoặc có thể thưởng thức ở các quán bar Tapas như đă đề
cập trên, thịt jambon này rất ngon và giá khá cao
Nhà hàng Arzak
Thành phố
San Sebastian
(3
sao và đứng hàng thứ 8 thế giới)

Vài
món ăn mới, ngon, lạ và cách tŕnh bày đẹp mắt từ khai vị đến tráng miệng


Dân
chúng Tây Ban Nha hay ăn bánh ḿ với dầu olive
(Tây
ban Nha là quốc gia đứng đầu thế giới về lượng sản xuất dầu olive)
Đặc
biệt nhà hàng này phục vụ các món ăn khai
vị với bánh ḿ và dầu olive


PHÁP
Nói đến nước Pháp mọi người trên
thế giới đều nghĩ đến tháp Eiffel, đại lộ Champs-Elysées, thiết kế
thời trang, dầu thơm v.v… nhưng ngoài ra
về phương diện ẩm thực cũng được nhiều người trên thế giới ưa thích.
Hơn nữa ẩm thực Pháp càng được nhiều người biết
sau khi ẩm thực Pháp lần đầu tiên được UNESCO công nhận là tài sản
văn hóa nhân loại phi vật chất.
Năm 2010 toàn nước Pháp có vào
khoảng 200000 nhà hàng trong đó có 25 nhà hàng được định vị 3 sao
trong đó thủ đô Paris có 13000 nhà hàng và 10 nhà hàng 3 sao, 13 nhà
hàng 2 sao và 41 nhà hàng 1 sao.
Sau đây là tên của 10 nhà hàng
được tôn vinh 3 sao của thủ đô Paris năm 2010
1) Restaurant de l’hotel Meurice
2) Restaurant l’Ambroisie
3) Restaurant l’Arpège
4) Restaurant de l’hotel Plaza
Athénée
5) Restaurant l’hotel Bristol
6) Restaurant Pierre Gagnaire
7) Restaurant Le Doyen
8) Restaurant Astrance
9) Restaurant Le Pré-Castelan
10) Restaurant Guy Savoy
Ngoài Paris c̣n có 15 nhà hàng của
những thành phố khác được chấm 3 sao
1) Le petie
Nice ở thành phố Marseille
2) Maison Pic ở thành phố Valence
3) Lameloise ở thành phố Chagny
Saône et Loire
4) Le clos des cimes ở thành phố
Saint-Bonnette-le-Froid Haut Loire
5) La côte Saint-Jacques ở thành
phố Joigny Yonne
6) Les Loges de l’Aubergade ở thành
phố Puymirol Lot-et-Garonne
7) Bras ở thành phố Laguiole
Aveyron
8) La maison de Marc
Veyrat ở thành phố Veyrier-du-Lac Haut-Savoie
9) Le Relais Bernard
Lois ở thành phố Saulier Côte d’Or
10) Georges Blanc ở
thành phố Vonnes
11) Les Près
d’Eugénie ở thành phố Eugenie-les-Bains
12) Trois Gros ở
thành phố Roanne Loire
13) L’Amsbourg ở
thành phố Moselle
14) L’Auberge de
d’Ill ở thành phố Illhaeusem Haut Rhin
15) Paul Bocuse ở
thành phố Collongé-au-Mont d’Or Rhône

Paris
là một thành phố đẹp và lăng mạn của Pháp
được mọi người trên thế giới mơ ước đến
thăm quan Tháp
Eiffel

Viện
bảo tàng Louvre (trái) - Nhà
thờ Notre Dame de Paris (phải)

Khải
hoàn môn và Cầu
Alexandre 3

Vườn
Luxembourg gần khu “Quartier Latin”
Nhà hàng Bigarade
Thủ đô Paris (1 sao)
Nhà hàng này được Guide Rouge định
vị 1 sao và chỉ có 20 chỗ cho thực khách, nếu muốn ăn tối phải giữ
chỗ trước ít nhất là 2 tháng, thời gian dùng cho buổi ăn tối trung
b́nh từ 3h30 đến 4 giờ v́ trung b́nh từ khai vị đến tráng miệng là
khoảng 20 món. Sau đây là h́nh ảnh của vài món
ăn tượng trưng cho nhà hàng này


Nhà hàng Joel Robuchon
Thủ đô Paris
(ở
Tokyo được 3 sao nhưng ở Paris chỉ được 2 sao)

Truffe được tŕnh
bày giữa ba lát ṣ điệp (trái)
Đùi
chim cúc nấu với nấm morille
Morille cũng là một loại nấm tổ ong rất thơm
và hiếm của Pháp (phải)

Muốn
cà rem được ngon phần đông người đầu
bếp của
Những
nhà hàng danh tiếng dùng phương pháp ẩm thực phân tử “nitơ
lơng” để thực hiện (h́nh phải)
Phương pháp
Trọng lượng của nitơ lỏng bằng
trọng lượng của thực phẩm, hỗn hợp những thành phần của thực phẩm
tùy theo sở thích như crème tươi các loại
trái cây, chocolat, vanille v.v.....
Chia làm 2-3 lần lượng nito lỏng và đổ vào
nồi inox chứa hỗn hợp thực phẩm, sau mỗi lần quấy đều hỗn hợp thực
phẩm đến khi hỗn hợp thành cà rem, cà rem làm bằng phương pháp này
sẽ rất mịn và rất nhiễn, v́ những phân
tử nước của jus được kết tinh với một thời gian rất ngắn khi tiếp
xúc với nito lỏng ở nhiệt độ -200°C. (nên thận trọng khi
áp dụng nito lỏng để làm thức ăn v́ dung dịch này ở nhiệt độ -200°C)
Nhà hàng Guy Savoy
Thủ đô Paris (3 sao)

Cá hét (merlan) sống với trứng cá hồi


Như đả đề cập trên,
Ở Paris có rất nhiều
đầu bếp Nhật Bản làm việc
cho các nhà hàng danh tiếng Pháp, có một số muốn có sự độc lập, ra
riêng và tự tạo nhà hàng riêng cho ḿnh và để có dịp dâng hiến cho
thực khách những món ăn ngon, khác lạ của ḿnh.Đặc biệt có hai nhà
hàng vừa mới khai trương nhưng được nhiều thực khách Pháp ưa thích
. Nhà hàng Guilo Guilo
Thủ đô Paris (không có sao)
1) Nhà hàng Guilo Guilo là một nhà hàng
ăn Nhật, nhưng thật ra có vài món ăn cổ truyền của Nhật, ngoài ra
phần lớn là những món ăn mới (nouvelle cuisine) ẩn chứa những gia vị
của Nhật và Pháp.


Những món ăn
khai vị
Những món
ăn chính

Cua
trộn với đậu hủ và nấm chiên và tŕnh bày
trên rau câu cam quít (gelée agrume) (trái)
Ca
saba nướng bằng rơm ăn với gừng bầm nhiễn, hành lá và
“myoga” (phải)

Thịt
ḅ nướng trộn với “míso” (một loại tương bầm)
hành lá ăn với cơm (trái)
Cá
chiên mè (phải)

Cà
rem với rượu để thay đổi khẩu vị giữa các món ăn
(trái)
Toro
(cá ngừ phần bụng) ăn với “míso” và mù tạc
(phải)

Bánh
kẹp cuốn cà rem chocolat và matcha
Nhà hàng KEI
Thủ đô Paris
(không có sao)
2) KEI là nhà hàng ăn Pháp, người đầu bếp
này trước đó đă làm việc cho nhà hàng 3 sao của người đầu bếp danh
tiếng của Pháp Alain Ducasse, những món ăn của người đầu bếp này
dược tŕnh bày rất đẹp và gia vị cũng rất ngon có lẻ v́ mới khai
trương nên chưa có sự định vị

Cách
tŕnh bày bàn ăn đơn giản
nhưng không kém phần trang trọng
(trái)
Mực
sống, sốt agrume (cam, chanh, bưởi),
hạt hồ đào (noix) tươi lát mỏng, hành lá
(phải)

Tôm
chiên, bọt (mousse) dưa leo, trứng caviar
(trái)
Rau
tươi, củ (sống và chín), trứng cá, nước sốt làm bằng
gelée các loại rể thực vật
(phải)

Gan
ngỗng, mức sung, sung tươi,
quả hạnh nướng lát mỏng và trang trí bởi
nước sốt sung
Ghi chú: gan ngỗng hợp với những loại trái cây và rượu có vị
ngọt

Cá
sói (bar) chiên xù, trái quất (kumquat) nướng,
sốt chanh, sốt cải soong, bọt (mousse)
bưởi (trái)
Thịt
ḅ nướng (phải)

Cà
rem hạt dẻ và chanh, bánh kẹp làm bằng
tṛng trắng trứng gà (trái)
Jus
trái mơ (phương pháp ẩm thực phân tử)
crème tươi, chocolat nóng (phải)
Ngoài Paris, Pháp c̣n có những
thành phố cổ khác với những nhà hàng ngon như thành phố Beaune
cách Paris 300km về phía nam là thành phố cổ danh tiếng về rượu
trắng và rượu đỏ Bourgogne như Pommard, Nuits Saint-George,
Gevrey-Chambertin v v và nhất là rượu Romanée-Conti của làng Vosne
Romanée ngon nhất của vùng Bourgogne cũng là rượu danh tiếng nhất
thế giới, nho thuộc loại Pinot Noir được trồng trên diện tích rất
nhỏ vào khoảng 1,8 mẩu nằm trên vùng đất đá vôi (calcaire) rất tốt
cho sự hấp thụ nước, chỉ sản xuất khoảng 6000 chai/năm, và bán giá
trung b́nh 6000 Euros/mổi thùng 12 chai, từ năm 2003 mổi thùng có 13
chai (1 chai Romanée de Conti và 12 chai khác thuộc làng “côte de
Nuits” cũng là loại rượu ngon nhất của vùng Bourgogne và là rượu đắc
nhất thế giới. có thể lên tới 18000 euros/ chai như Romanée Conti
năm 2005 bán ó Gallerie La Fayette Paris (2005 là năm đặc biệt tốt
cho hầu hết loại rượu toàn nước Pháp).
Vào thời kinh tế hưng thịnh nhất
của Nhật, vùng rượu này đă được đề nghị bán cho một công ty Nhật
nhưng tổng thống Pháp François Mitterrand từ chối v́ cho rằng thương
hiệu Romanée Conti là tài sản của Pháp.
Thành phố Beaune

Tu
viện “Hotel Dieu” ở trung tâm thành phố (trái)
Bên
trong tu viện Hotel Dieu (phải)

Truffes được tŕnh bày bán
là một loại nấm củ thơm và hiếm của vùng
nầy (trái)
Morilles cũng là một loại nấm củ thơm và
hiếm và
giá rất cao 450 euros/kg (phải)
Nhà hàng Le jardin des
Remparts
Thành phố Beaune (1 sao)
Hai món khai vị

Bên
trái là jus của trái melon được áp dụng phương pháp ẩm thực phân tử (cuisine
moléculaire)
để thực hiện và bên phải là soupe đậu hà lan xay nhiễn
Phương pháp Ẩm thực phân tử
Thành phần gồm có:
- Agar
agar: có đặc tính giống như rau câu làm từ rong biển (thực vật),
có thể thay thế bằng gélatine có cùng đặc tính như rau câu (động vật)
- Jus melon
(hay bất cứ loại jus trái cây khác)
- Dung dịch
chlorure de calcium hoặc dầu ăn
trung tính (neutre)
Trộn 150 ml jus với dung dịch agar
agar (2g) ở nhiệt độ b́nh thường, dùng máy đánh cho đều, để vào máy
micro onde vài phút đến khi sôi, dùng máy đánh thêm vài giây và để
nguội, dùng muỗng soupe lấy dung dịch jus để vào chén dầu (1/2 chén)
hoặc dung dich chlorure de calcium, h́nh tṛn như tṛng đỏ trứng gà
h́nh thành và ch́m lóng xuống đáy chén, vớt ra và rửa với nước cho
hết dầu hoặc hết dung dich chlorure de calcium.
Ghi chú: bên trong h́nh tṛn này là
jus, bên ngoài là jus được kết đông bằng một lớp mỏng, không nên làm
bể trước khi bỏ vào miệng.
Chúng ta có thể dùng phương pháp
này để làm những sợi ḿ Ư (spagetti) và những hạt ngọc trai đủ loại
màu sắc của các loại trái cây để trưng bày cho những món ăn tráng
miệng..

Trứng 63°C với nấm củ truffe tṛng đỏ c̣n sống ở dưới lớp nước sốt
Năm món chính

Sự
phối hợp giữa hào sống và thịt
ḅ bầm sống thật lạ và rất ngon

Món
ăn cá bơn lá mít (sole) với gelé bưởi
hồng (pamplemousse)
màu vàng trang trí trên cá là xương cá
chiên gịn và xay nhiễn
trộn với bột làm tăng thêm mùi thơm cho
món ăn (trái)
Ṣ
điệp chiên và nấm củ thơm (truffe) của
vùng Beaune (phải)

Bảy món ăn
tráng miệng


Về
phía đông cách Paris vào khoảng 360 km có tu viện
Mt Saint Michel thuộc vùng Basse
Normandie (nơi đổ bộ của quân đội đồng minh lúc thế chiến thứ hai)
là điểm đến không thể thiếu của phần đông du khách đến Pháp, trên
đường đi đến vùng này, có vài nơi thăm quan rất hửu t́nh và lảng
mạng như căn nhà của họa sỉ danh tiếng
Claude Monet ở làng Giverny thuộc tỉnh l’Eure và vùng Basse
Normandie cách Paris vào khoảng 60km, có vườn hoa và ao sen như
trong bức tranh bất hủ của ông, ngoài tranh vẻ ông c̣n sưu tập rất
nhiều tranh in tay (estampes) thời Edo của Nhật
Căn
nhà và vườn hoa của họa sỉ Claude Monet, ông đă sưu tập
rất
nhiều tranh vẻ tay thời Edo của Nhật Bản và được trưng bày trong căn
nhà này

Bức
tranh danh tiếng của Claude Monet
được vẻ với h́nh ảnh này

Từ thành phố Giverny đi thêm 65km
nữa sẻ đến thành phố Honfleur thuộc tỉnh Calvados cũng thuộc vùng
Basse Normandie, một thành phố đặc biệt có một nhà thờ được xây cất
bằng gổ vào cuối thế kỷ 15 và được thay thế nhà thờ bằng đá bị phá
hủy bởi chiến tranh 100 năm, thành phố này nằm gần bờ biển, một
thành phố văn hóa có nhiều gian nhà trưng bày mỹ thuật và bán tranh
của nhiều họa sỉ danh tiếng.
Honfleur c̣n được mọi người biết
đến là trường học cho những họa sỉ trẻ “École de Honfleur” được tạo
ra bởi họa sỉ Claude Monet và các họa sỉ danh tiếng khác như Gustave
Courbet, Eugne Boudin vv trường học này góp phần cho sự xuất hiện
phong trào theo xu hướng ấn tượng (impressionniste).
Thành phố Honfleur

Những
căn nhà cổ của thành phố Honfleur

Nhà
thờ Saint-Catherine duy nhất của Pháp dược xây cất bằng gổ
với lối kiến trúc đặc thù của vùng
Normandie
Thành phố Honfleur có hai nhà hàng
ăn ngon ở trung tâm là la
fleur de sel và
sa.qua.na chủ nhà hàng này có đi tu nghiệp ở vùng Hokkaido
Nhật Bản, phát âm của tên nhà hàng này giống như “sakana” (cá) của
Nhật c̣n “la fleur de sel” là tên của một loại muối danh tiếng của
vùng này, muối này được đa số đầu bếp danh tiếng thế giới dùng để
nấu nướng v́ không quá mặn và có vị “ngọt”, giá rất cao nhiều lần so
với muối thường.
Từ thành phố Honfleur đi thêm 280km
nữa sẻ đến tu viện Mt Saint Michel,
ở trên một đảo nhỏ thuộc vùng “Basse Normandie” kiến trúc của tu
viện này được nhiều người ưa chuộng, số du khách hàng năm hơn 3
triệu, đứng hàng thứ hai sau Paris, có chiều cao 170m, năm
1979 tu viện này được công nhận là tài
sản nhân loại của UNESCO

Tu
viện Mont Saint Michel

Sinh
hoạt bên trong thành lũy của tu viện
Nếu có dịp đi thêm 40 km về phía
đông có thành phố St Malo, là một
hải cảng của vùng Bretagne được bao bọc bởi thành lũy chống giặc
thời xưa, được xây và liên tục được tu bổ từ thế kỷ thứ 12 đến thế
kỷ thứ 19, St Malo là thành phố được dân chúng Âu-Châu ưa chuộng
nhất nước Pháp

Phía
trước của thành lũy (trái) - Phía
sau giáp biển của thành lũy (phải)

Một
phần của thành lũy có chiều cao rất ấn tượng
Thành phố này
có hai nhà hàng ngon là
Le chalut (chỉ phục vụ những món cá và đồ biển) và
Le St Placide.
Về hương vị và kỹ thuật nấu ăn của hai nhà hàng này đều ngon nhưng
những món ăn của nhà hàng Le St Placide đều nhỏ về lượng có thể
thưởng thức trọn vẹn trái lại những món ăn của nhà hàng Le Chalut
quá lớn về lượng, người lớn tuổi không thể ăn hết được có thể để
dành cho những người trẻ.
Đi thêm 40 km nữa là tới thành phố
Sables d’Or les Pins một thành phố
du lịch biển có băi biển dài với màu nước biển émeraude, một trong
những băi biển đẹp nhất vùng Bretagne và phong cảnh hoang dă với
những vách đá cao (falaise).


Nhà hàng La voile d’or La
Lagune
Sables d’Or les Pins (1 sao)
Vừa là khách sạn vừa là nhà hàng
ngon nằm đối diện đồi cát rất đẹp, bên trong pḥng ăn thực khách có
thể vừa ăn vừa ngắm nh́n các đầu bếp nấu nướng qua một lớp kiến dài
ngăn cách pḥng ăn và pḥng bếp
Những món ăn
khai vị

Sáu
món ăn chính

Gan
ngỗng chiên (trái) - Gan
ngỗng ăn lạnh (phải)

Tôm
hùm Na-Uy (langoustine)

Tôm
hùm Na-Uy pha chế với truffe

Sườn
cừu con rôti

Sườn
cừu con ướp rượu vang đỏ
Mười món tráng miệng





Nhà hàng ngon Nhật
Những nhà hàng ăn danh tiếng của
nước Nhật phải đợi đến năm 2009 mới được sách “Guide Rouge” của
Michelin tham khảo và định vị, theo sách này mọi người mới biết rằng
số nhà hàng có “sao” của 6 thành phố lớn rất nhiều (409 trong đó có
26 nhà hàng 3 sao) như Tokyo, Yokohama và Kamakura năm 2010, kế tiếp
vào năm 2011 ba thành phố: Kyoto, Kobe và Osaka đă được sách “Guide
Rouge” của Michelin tham khảo và định vị.
Năm 2010 thủ đô Tokyo đă vượt qua
thủ đô París với 11 nhà hàng 3 sao, từ trước đến nay Paris lúc nào
cũng được cho rằng là thủ đô của ẩm thực thế giới với 10 nhà hàng 3
sao, sự kiện này đă tạo nên sự tranh cải mănh liệt giữa các đầu bếp
chính danh tiếng và hầu hết người Pháp yêu chuộng ẩm thực của nước
ḿnh với nhà xuất bản sách ”Guide Rouge”
của Michelin, với 3 lí do:
1) Sự định vị nhiều
sao cho các nhà hàng Nhật là thiên vị và cho rằng sách này muốn
làm dịu sự phản đối của một số người đầu
bếp và phần đông đọc giả Nhật Bản qua sự phê b́nh định vị của cuốn
sách lần đầu tiên xuất bản ở Nhật vào năm 2007.
2) Suy đoán một cách chủ quan về sự tâng bốc quá đáng cho Tokyo là
thủ đô mới của ẩm thực thế giới, hơn nữa tỉ lệ không cân xứng v́
diện tích và số dân của thủ đô Tokyo quá lớn đối với thủ đô Paris
với 160000 nhà hàng ở Tokyo và chỉ 13000 nhà hàng ở Paris ngoài ra
sách “Guide Rouge” không đề cập đến 3 nhà hàng được 3 sao ở Tokyo (2
đang hoạt động và 1 bị hủy bỏ v́ ṭa nhà bị phá hủy) là nhà hàng
Pháp !!! hơn nữa có những nhà hàng đáng được tôn vinh ở Paris như Le
Chateaubriand, La Gazetta, L’Ami Jean, Le comptoir du Relais vv
không được tiếp tục tham khảo v́ có sự thiên vi.
3) Nước Pháp
thường hay có những xung đột nhỏ v́ bị ganh tị với các nước láng
giềng và thế giới về ẩm thực như nước Tây Ban Nha với số lượng nhà
hàng có sao rất ít và không nổi tiếng bằng Pháp nhưng nhiều nhà hàng
Tây Ban Nha đă áp dụng ẩm thực phân tử để làm thỏa măn sự hiếu kỳ
của một số khách như nhà hàng “El Bulli” c̣n nước Ư th́ t́m cách chỉ
trích ẩm thực Pháp về sự kiện ẩm thực Pháp đă được UNESCO cho là tài
sản văn hóa nhân loại phi vật chất và sau cùng lúc nào các nước
Anh-Mỹ cũng có sự hơn thua về thực phẩm và ăn uống của Pháp.
Một cách
tổng quát, không thể so sánh ẩm thực Nhật với ẩm thực Pháp v́ từ
cách lựa chọn thực phẩm, kỹ thuật nấu nướng, văn hóa, bản chất của
mỗi nước khác nhau, nghệ thuật ẩm thực (phong cách tŕnh bày món ăn
trên bát đĩa) cũng khác nhau và được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác.
Dưới đây là số nhà hàng có sao của
6 thành phố lớn của Nhật Bản được định vị trên sách “Guide Rouge”
của Michelin năm 2011, sự kiện trên chứng tỏ sự dồi dào và phong phú
của ẩm thực Nhật Bản
|
|
Thành phố |
Nhà hàng
3 sao |
Nhà hàng
2 sao |
Nhà hàng
1 sao |
Total |
|
Tokyo |
14 |
52 |
174 |
240 |
|
Yokohama |
|
2 |
14 |
16 |
|
Kamakura |
0 |
0 |
10 |
10 |
|
Kyoto |
7 |
22 (restaurant)
2
(ryokan) |
71 (restaurant)
1
(ryokan) |
103 |
|
Kobe |
2 |
10 |
37 (restaurant)
1
(ryokan) |
50 |
|
Osaka |
3 |
12 |
75 |
90 |
|
Total |
26 |
100 |
283 |
409 |
|
|
Ghi chú: năm 2010 thủ đô Tokyo có
11 nhà hàng 3 sao:
1) Joel Robuschon (nhà
hàng Pháp)
2) L’osier (nhà hàng
Pháp)
3) Qintessence (nhà hàng
Pháp)
4) Ishikawa (nhà hàng
Nhật)
5) Kanda (nhà hàng Nhật)
6) Araki (nhà hàng Nhật)
7) Kojyu (nhà hàng Nhật)
8) Yukimure (nhà hàng
Nhật)
9) Sukiyabashi (nhà hàng
Nhật)
10) Sushi Mizutani (nhà
hàng Nhật)
11) Sushi Saito (nhà hàng
Nhật)
Nhà hàng Pháp l’Osier được tôn vinh
3 sao bởi “guide rouge” Michelin lần đầu tiên xuất bản ở Nhật năm
2007 bị hủy bỏ trong danh sách của những nhà hàng 3 sao ở Tokyo năm
2011 v́ ṭa nhà bị phá hủy
Bốn nhà hàng mới được tôn vinh 3
sao năm 2011 là: Hamadaya, Kyoboshi, 7chomé, Usukifugu Yamadaya và
năm 2011 thủ đô Tokyo có tất cả 14 nhà hàng 3 sao :
1) Joel Robuschon (nhà
hàng Pháp)
2) Qintessence (nhà
hàng Pháp)
3) Ishikawa (nhà hàng
Nhật)
4) Kanda (nhà hàng Nhật)
5) Araki (nhà hàng Nhật)
6) Kojyu (nhà hàng Nhật)
7) Yukimure (nhà hàng
Nhật)
8) Sukiyabashi (nhà
hàng Nhật)
9) Sushi Mizutani (nhà
hàng Nhật)
10) Sushi saito (nhà
hàng Nhật)
11) Hamaday (nhà hàng
Nhật)
12) Kyoboshi (nhà hàng
Nhật)
13) Usukifugu Yamadaya (nhà
hàng Nhật)
14) 7chomé (nhà hàng
Nhật)
Hơn nửa sự định vị của “Guide
Rouge” Michelin từ lâu đă bị chỉ trích bởi báo chuyên về ẩm thực Mỹ
“Guide Zagat” v́ thiên vị, hệ thống tham khảo và phương pháp định vị
không được khắc phục và đưa ra một thí dụ một nhà hàng 3 sao ở Nhật
là một quán “sushi bar” ở dưới tầng hầm của một ṭa nhà và không có
toilette riêng, ngoài ra một nhà xuất bản sách về ẩm thực Nhật Bản
cũng chỉ trích “Guide Rouge” chưa hiểu biết nhiều về ẩm thực Nhật
Bản.
Với số nhà hàng có sao được tôn
vinh từ năm 2007 đến 2011 mọi người đều công nhận rằng ẩm thực Nhật
Bản đă có một bước tiến quan trọng và chiếm được một vị trí rất cao
trên ẩm thực thế giới,
Hầu như bất cứ về phương diện nào
người Nhật cũng muốn t́m ṭi học hỏi, vừa bắt chước vừa nghiên cứu
sâu sắc vấn đề để đạt đến tŕnh độ hoàn hảo, về phương diện ẩm thực
cũng vậy, dân Nhật phần đông rất ṭ ṃ t́m hiểu, chịu khó nghiên cứu
ẩm thực của các quốc gia khác, hàng ngày tivi Nhật dành một thời
gian lớn cho ẩm thực.
Từ nhiều thập
niên qua số đầu bếp Nhật qua Pháp học tập rất nhiều và hiện tại hầu
hết trong bất cứ nhà hàng danh tiếng nào của Pháp đều có đầu bếp
người Nhật hoặc dưới dạng tập sự hoặc là nhân viên thường trực.
Điều này chứng tỏ rằng ẩm thực Pháp vẫn được xem là mẩu mực và đứng
đầu thế giới, một thí dụ điển h́nh một đầu bếp Nhật Shuzo Kishida
chủ nhà hàng ẩm thực Pháp 3 sao “Quintessence” ở Tokyo là học tṛ
của đầu bếp danh tiếng Pháp Pascal Barbot. Lúc đề cập đến vấn đề ẩm
thực Pháp và Nhật ông Shuzo Kishida tuyên bố rằng nghệ thuật ẩm thực
Pháp đă đạt đến vị trí tối cao và xứng đáng là gương mẩu để học hỏi
và cầu tiến với những phương pháp pha chế, tổng hợp thức ăn với gia
vị một cách hoàn hảo, tuyệt vời và ông cũng hănh diện v́ đă phối hợp
được các thực phẩm Nhật nhất là cá (Nhật ăn cá nhiều hơn thịt) để có
được những món ăn xứng đáng với sự trang trọng của ẩm thực Pháp.
Thêm một thí dụ nữa về bản chất cầu
tiến của người Nhật, về phương diện rượu vang, ai cũng cho rằng Pháp
lúc nào cũng đứng đầu thế giới về kỹ thuật, sự hiểu biết, kinh
nghiệm cũng như về lượng sản xuất rượu vang, c̣n Nhật Bản th́ đất
hẹp người đông khó có thể cạnh tranh với Pháp, nhưng năm 1995, một
“sommelier” người Nhật Shinya Tasaki đoạt giải nhất thế giới
được tổ chức một lần/năm ở Pháp với sự ngạc nhiên và khâm phục của
toàn thế giới.
Sommelier là người có biệt tài với
sự hiểu biết tinh thông về rượu, nếm rượu để suy đoán nguồn gốc xuất
xứ của rượu, năm sản xuất, loại nho, vùng trồng nho, doanh nhân hay
hiệp hội hoặc lâu đài (chateaux nơi đóng chai và tồn trữ rượu) vân
vân.
Giải thưởng này đả giúp cho sự phát
triển nhanh chóng cho rượu vang của Nhật, với sự giúp đỡ của người
Mỹ Ernest Singer và người Pháp Denis Dubourdieu cộng
với sự cố gắng t́m ṭi nghiên cứu của dân chúng vùng Yamanashi cách
khoảng 100km về phía tây của thành phố Tokyo, vùng này bắt đầu sản
xuất rượu Koshu một loại nho
hồng đặc biệt của vùng này, thật sự khởi đầu vào năm 2003 đến năm
2010 được OIV (l’ofice international de la vigne ) công nhận và lần
đầu tiên sản xuất qua Anh với giá từ 47-71 euros/chai
Ẩm thực Nhật Bản có được vị trí
như hiện tai có thể v́ ngoài bản chất cầu tiến rất cao của dân Nhật,
sự phát triển kinh tế cũng góp một phần quan trọng cho ẩm thực Nhật
Bản, nhiều người ngoại quốc khâm phục đến ngạc nhiên về sự dồi dào
phong phú của ẩm thực Nhật Bản khi họ có dịp thăm quan những tầng
hầm dành riêng cho các loại món ăn làm sẳn của bất cứ trung tâm
thương mại nào.
V́ Tokyo được cho la trung tâm ẩm
thực tương lai của thế giới nên từ năm 2007 có nhiều đầu bếp danh
tiếng của Pháp đến Tokyo với mục đích giới thiệu và kinh doanh nhà
hàng ăn Pháp như Paul Bocuse và Alain Sanderens và hiện tại có Alain
Ducasse, Piere Gagnaire, Michel Trois Gros và Joel Robuchon (tất cả
đều có nhà hàng 3 sao ở Pháp)
Shigetsu
là một nhà hàng rất nhỏ chỉ có hai pḥng mỗi pḥng 4 thực
khách và một quầy bar có 5 thực khách, nhà hàng này ngoài các dịch
vụ hoàn hảo c̣n hiến dâng cho thực khách những món ăn đặc sản của
toàn nước Nhật tùy theo mùa và tùy theo nhu cầu của khách. Ngoài ra
nhà hàng này rất hănh diện được phục vụ cho thực khách những món ăn
trang trọng được hài ḥa với những đồ sứ hiếm được sưu tập khắp nước
Nhật và những loại li bằng pha lê (cristal) danh tiếng trên thế giới
được đặt làm và để tên của nhà hàng này.
Nhà hàng Shigetsu
Tokyo


Li
thủy tinh đặc biệt dùng để uống rượu sake
(phải)



Trứng
sống của con cầu gai hay con nhím biển (oursin)

Ở Nhật, ngoài nhà hàng, khách sạn
c̣n có những ”ryokan” vừa ăn và ở theo
phong cách truyền thống Nhật (ăn “kaiseki” và ngủ “tatami”).
Thành phố Kyoto có rất nhiều ryokan
trong đó có ryokan Tawaraya được nhiều danh nhân trên thế giới đến
ăn và ở để thưởng thức ẩm thực và cũng có ư muốn t́m hiểu phong tục
tập quán nhất là kỹ thuật kiến trúc của Nhật Bản thời xưa như phu
nhân của tổng thống Reagen, vua và hoàng hậu Thụy Điển, ông
Rockefeller, tài tử Marlon Mando vv, ryokan “Tawaraya” có hơn 300
năm lịch sử từ thời đại Edo đến giờ vẫn giữ nguyên giá trị truyền
thống phục dịch thuần túy Nhật Bản với nử tiếp viên mặc áo kimono,
tất cả khách hàng đều được phục dịch rất tận t́nh, chu đáo và tế nhị.
Ryokan Tawaraya
Kyoto
Ryokan Tawaraya được xây cất từ
thời Edo và đến giờ vẩn c̣n giữ được phong cách xưa thuần túy Nhật,
pḥng ở có một mảnh vườn nhỏ, có nước chảy trên cối đá, có đá trang
trí đây đó trong vườn, có cây cảnh, được bố trí rất gọn, đơn sơ nh́n
như một bức tranh, với sự yên lặng tuyệt đối, chỉ nghe tiếng nước
róch rách trên cối đá, không một tiếng ồn nhỏ, thời gian như ngừng
lại, sau khoảng một giờ nghỉ ngơi, đọc sách ở thư viện của nhà hàng
và uống trà, bửa ăn tối bắt đầu được phục vụ bởi hai nữ tiếp viên,
cả hai trong chiếc áo truyền thống kimono, những món ăn “kaiseki”
khoảng hơn 15 món được tŕnh bày trên những đồ sứ đủ loại xưa hơn 3
thế kỷ với sự hài ḥa những màu sắc khác nhau của từng món ăn ,
rượu sake nóng và lạnh được phục vụ liên tục tùy theo món ăn. Sáng
hôm sau trước khi ăn điểm tâm, những tách trà nóng được mang đến,
ngồi bên “kotatsu” (môt loại bàn thấp có chỗ để chân và được sưởi ấm
nếu thời tiết lạnh ) vừa uống trà vừa nh́n ra phong cảnh của mảnh
vườn, ánh sáng lung linh xuyên qua những cành lá “momizi” bao phủ
gần trọn mảnh vườn trong sự yên lặng của buổi sáng tươi mát của khi
hậu đầu xuân, một cảm giác rất nhẹ nhàng và an b́nh, hồi tưởng lại
40 năm về trước, thời sinh viên, mùi vị của những món ăn của
“shokudo” (cantine) của trường đại học Kyoto c̣n phảng phất đâu đây.
Sau một tuần trà bửa ăn điểm tâm được phục vụ, cũng có hơn 10 món,
sự ưu đăi và phong cách phục vụ vẫn không thay đổi như buổi ăn tối.
Khi chia tay là lúc cảm động nhất và để lại cho thực khách một niềm
cảm kích khó quên, ba người (người quản lí, hai người phục vụ) đứng
trước cửa nhà hàng để nói lời “sayonara”, đi được một đoạn khi nh́n
lại 3 người vẫn đứng đó và tiếp tục cuối đầu chào, cứ như thế hai ba
lần họ vẫn đứng ngoài cửa và tiếp tục cuối đầu chào
khách . Những cử chỉ, sự ưu đăi, tôn
trọng thực khách này, khó có thể t́m thấy được ở các quốc gia khác,
một khắc thời gian trôi qua sau khi nói lời “sayonara” những h́nh
ảnh, màu sắc và gia vị của các món ăn đến phong cách tiếp đăi của
tất cả các nhân viên của nhà hàng vẫn c̣n sâu đậm trong tâm trí.

Bức
thềm từ pḥng ra vườn (trái ) - Nh́n
từ thư viện của ryokan
(phải)

Bức
tranh thời Edo

Thực
đơn cho buổi ăn tối

Vài
món ăn trong thực đơn


Trước
cửa nhà hàng với những lời tạm biệt
Thành phố Hakone
Thành phố Hakone cách Tokyo vào
khoảng 85 km về phía tây nam, ở độ cao 700m, một nơi du lịch nổi
tiếng của Nhật, có hồ Ashi “Ashi no ko” và những thắng cảnh khác như
Owakudani, công viên quốc gia Fuji Hakone-Izu, vườn bách thảo Hakone
và từ Hakone ta có thể nh́n thấy Fuji-Yama, Hakone cũng là thành phố
có rất nhiều suối nước nóng, hầu hết các khách sạn hoặc ryokan đều
có suối nước nóng, ngay cả những chung cư cao cấp cũng có suối nước
nóng.
Dưới đây là những h́nh ảnh của
thành phố Hakone và những món ăn ngon của
nhà hàng Mỉrador và nhà hàng Satosuisan

Núi
Phú Sĩ từ Hakone (trái)
- Hồ
“Ashi no ko” với tàu thăm quan
(phải)

Fuji-Yama
buổi chiều chụp
từ nhà hàng Satosuisan

Nhà hàng Mirador
Hakone



Món
ăn đơn giản “steack” với sốt rượu vang đỏ
nhưng được
pha chế và tŕnh bày với sự hài ḥa của
những màu sắc
làm chúng ta liên tưởng đến nghệ thuật
cắm hoa của Nhật Bản
Nhà hàng Satosuisan
Hakone

Về phía cực bắc của Nhật là vùng
Hokkaido, Sapporo là thủ đô của vùng này, đứng thứ 5 về
dân số và thứ 3 về diện tích, Trước thời Edo Sapporo là nơi sinh
sống của bộ tộc Ainou, ư nghĩa của Sapporo là “sông lớn chảy xuyên
qua đồng bằng” theo ngôn ngữ của bộ tộc này và vào năm 1866 dân Nhật
di dời đến đây và bắt đầu khai khẩn đất đai thành một thành phố mới,
thành phố Sapporo có những đại lộ thẳng giao nhau thành những ô
vuông khác biệt với hầu hết tất cả các thành phố khác của Nhật. Đề
án quy hoạch đô thị Sapporo được thành lập bởi một người Nhật
Kiyokata Kuroda và được hổ trợ kỹ thuật của một người Mỹ Horace
Capron. Trung tâm thành phố có Parc Odori rất
dài và được xuyên qua bởi 12 đại lộ.
Cách thành phố Sapporo vài chục km
có nhiều danh lam thắng cảnh như Noribetsu, hồ Shikotsu
và nếu đi xa hơn về phía biển đông có làng Iwanai, năm 2008
có vào khoảng hơn 15000 dân và sống về nghề đánh cá, làng này được
xây lại mới v́ không may năm 1954 bị một hỏa hoạn lớn làm thiêu hủy
hầu hết các căn nhà truyền thống, Iwanai là nơi nghỉ cuối tuần của
phần đông dân Sapporo với mục đích chính là thư giăn v́ không khí
trong lành, thưởng thức nhiều loại cá sống rất tươi đặc biệt là bào
ngư và các loại cá như cá bơn sao (hirame: Nhật; barbue: Pháp) vân
vân và nhất là tắm suối nước nóng.
Ghi chú: Pháp và Nhật có hai loại
cá cùng loại nhưng khác nhau về h́nh dạng: cá Barbue tiếng Nhật là
Hirame (da bóng láng không có vảy và có h́nh trái xoan)
, và Turbot tiếng Nhật là Ohio (h́nh con thoi) cả hai loại
cá này, tiếng Việt gọi là cá bơn sao.
Thành phố Noribetsu
Noribetsu và “jigokudani” địa ngục cốc

Đường
xuống “địa ngục cốc”

Hồ
Shikotsu trong sương mù (trái) - Hoa
anh đào nở trể vi thời tiết c̣n khá lạnh
(phải)
Ryokan “Mizu no Utau”
Noribetsu


Trong
ryokan này có nhà hàng phục vụ dưới dạng “buffet”
cho thực khách với những thực phẩm
danh tiếng vùng Hokkaido đặc biệt những
món ăn hải sản

Amai
ebi (tôm ngọt) danh tiếng của vùng Hokkaido

Những món ăn
tráng miệng của
ryokan Mizu no Utau


Hồ
tắm suối nước nóng lộ thiên
Thành phố Iwanai

Làng
chài cá của Iwanai
Ryokan Takashima
Iwanai

Sashimi:tôm ngọt (amai ebi), ṣ điệp và
các loại ốc (trái) -
Sashimi ốc và rong biển đỏ (phải)

Bào
ngư nướng than (trái)
- Cua
lông đặc sản của Hokkaido (phải)

Sashimi bào ngư (trái) - Sashimi hirame (barbue)
(phải)
Những
lát cá rất tươi và mỏng trong suốt như pha
lê rất đẹp mắt

Lẩu
bào ngư, cua và các loại ốc

Các
món ăn điểm tâm
Mặc dầu có nhiều sự bất đồng quan
điểm về ẩm thực Pháp và Nhật giữa các đầu bếp danh tiếng của hai
nước bởi những phê b́nh và định vị của một số nhà báo không ít th́
nhiều có phần thiên vị cho một số nhà hàng nhưng giá trị ẩm thực của
hai nước từ nhiều thế kỹ qua đă để lại cho thế giới hiện tại những
món ăn tuyệt vời.
Nhà hàng ngon Vỉệt Nam
Nhiều sự khác biệt giữa ẩm thực
Pháp, Nhật và Việt Nam được phân tích và t́m hiểu qua nhiều yếu tố
như lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, kinh tế và sinh hoạt hàng
ngày của dân chúng của 3 quốc gia.
Việt Nam có rất nhiều món ăn ngon
đậm đà hương vị nhưng phong cách ăn uống của người Việt Nam có phần
khác nhau với người Nhật và người Pháp, đối với những món ăn truyền
thống đơn giản như hủ tiếu, phở hay bún ḅ huế tượng trưng cho ba
miền của Việt Nam hoặc món súp “soba” của Nhật hay món thit ḅ nướng
ăn với khoai lang tây chiên của Pháp, mỗi người có phần ăn riêng,
nhưng nếu đề cập đến những bửa ăn trang trọng trong những nhà hàng
danh tiếng như tham dự những buổi “yến tiệc” của Việt Nam hoặc
thưởng thức “menu dégustation” hay “repas gastronomique” của Pháp
hoặc những món ăn thuần túy “kaiseki” của Nhật th́ phong cách ăn
uống lại khác nhau, nhiều món ăn trong “menu dégustation” của Pháp
hay trong “kaiseki” của Nhật Bản được phục vụ mỗi phần ăn cho riêng
mỗi thực khách c̣n những món ăn của Việt Nam được tŕnh bày trong
những đĩa hoặc tô lớn và thực khách tùy theo sở thích dùng chung các
món ăn được phục vụ trên bàn ăn.
-
“Menu dégustation” của Pháp, danh từ này phần đông
được thấy trong thực đơn của những nhà hàng danh tiếng của Pháp,
thực đơn (menu) này gồm có nhiều món ăn nhỏ về lượng từ món khai vị,
món ăn chính đến món tráng miệng, tùy theo nhà hàng có sao nhiều hay
ít, các món ăn có thể từ 8 đến 20 món.
-“Kaiseki”
của Nhật, danh từ này cũng đồng nghĩa với “menu dégustation” của
Pháp, dành cho những bửa ăn thịnh soạn thường thấy ở những khách sạn
sang trọng hoặc ở nhiều “ryokan” danh tiếng Nhật.
Việt Nam v́ chịu sự đô hộ một thời
gian rất dài của Tàu nên văn hóa ẩm thực không ít th́ nhiều chịu ảnh
hưởng của Tàu, phong cách ăn uống trong những dịp yến tiệc đại khái
giống nhau, phần đông các món ăn được phục vụ trên bàn cho 10-12
thực khách cùng dùng chung, mặc dầu ẩm thực Việt Nam được nhiều
người trên thế giới ưa chuộng nhưng chưa được định vị bởi sách
“Guide Rouge” v́ ngoài hương vị, kỹ thuật nấu nướng, pha chế các
thực phẩm, sự tŕnh bày và phối hợp màu sắc giữa các món ăn và bát
đỉa, nhà hàng cần có một không gian thích hợp, ấm cúng, trang nhả,
hơn nữa tŕnh độ phục vụ, môi trường và an toàn vệ sinh cũng chiếm
một phần quan trọng trong thế giới ẩm thực.
Hiện tại thành phố Saig̣n có rất nhiều nhà
hàng ngon và sang trọng, những món ăn lạ với những nguyên liệu mới
được các nhà hàng pha chế và dâng hiến cho thực khách những bửa ăn
đậm đà hương vị của ba miền, nhưng rất ít nhà hàng đáp ứng được
những tiêu chuẩn quốc tế như những nhà hàng danh tiếng trên thế giới
có khả năng hiến dâng cho mỗi thực khách những món ăn nhỏ về lượng
cao về phẩm, được tŕnh bày đẹp với sự hài ḥa màu sắc giữa các món
ăn và bát đĩa trong một không gian thân thiện ấm cúng mà không kém
phần trang trọng.
Nhà hàng Nam Phan ở Saigon có thể dâng
hiến cho thực khách một bửa ăn ngon trong một không gian trang trọng,
nhưng giống như các nhà hàng sang trọng khác không quan tâm đến sự
thực hiện cho mỗi thực khách ăn riêng nhiều món ăn ngon,
nhỏ qua những pha chế đặc biệt với gia
vị thơm, lạ của ba miền. Nhà hàng này phục vụ các món ăn
chung cho mọi người, gia vị không có ǵ
đặc biệt hơn nữa giá/chất lượng của những món ăn lại quá cao đối với
phần đông thực khách bản xứ. Ngoài ra sự lựa
chọn bát đĩa c̣n quá khiêm tốn làm giảm sắc đẹp và giá trị của những
món ăn.
Nhà hàng Nam Phan
Saigon

Trang
trí pḥng ăn không gian và ánh sáng rất hài ḥa và nhẹ
nhàng

Pḥng
vệ sinh sạch sẽ và trang trọng
Một
người bạn, chủ nhà hàng Nhật danh tiếng ở Tokyo khuyên rằng
trước khi giữ chỗ nên để mắt qua pḥng vệ
sinh

Món
súp hải sản pha chế với củ riềng, sả, ớt
và cả ri (trái)
Gỏi
hải sản Nha Trang pha chế với cần tây và
mè trắng
cam và cà chua không quan hệ ǵ đến món
gỏi
và c̣n làm màu sắc của món ăn trở nên quá rườm
rà

Chả
gị cung đ́nh. Gia
vị ngon nhưng cách tŕnh bày không có ǵ đặc biệt

Nấm
tươi thập cẩm xào tôm màu sắc và cách tŕnh bày nhạt nhẽo, nấm
và tôm
có màu nhạt lại dùng dĩa màu trắng làm
giảm giá trị của món ăn,

Sườn
heo nướng sả

Canh
rong biển thịt heo bằm

Món
ăn tráng miệng: chè hạt sen quá đơn giản
Vùng U Minh Thượng của
tỉnh Cà Mau
Rừng,
sông, nước mênh mông cung cấp
cho người miền nam vô số món ăn ngon và
lạ

Vùng Hồng Ngự của tỉnh
Đồng Tháp

Đồng
lúa mênh mông của miền nam


Món
lẩu mắm đặc sản của miền nam nam bộ
với rất nhiều màu sắc của nhiều loại rau
và đủ loại thịt, cá và ốc

Resort Princess Annam
Mủi Né

Lối
đi ra biển

Pḥng
ăn nh́n ra biển

Hồ
tắm trong vườn hoa
Vườn
hoa với nhiều loại hoa lạ từ nhiều quốc gia khác

Hồ
tắm giáp bờ biển
Vài
món ăn mới, lạ và ngon Việt Nam của resort Princess Annam
được pha chế, tŕnh bày và ăn theo phong
cách Pháp


Gỏi
đu đủ tôm

Thịt
ḅ phối hợp với ṣ điệp sống


Hai
món ăn tráng miệng - Cách
trinh bày của món chè bà ba (phải)
Kêt luận
Nhà hàng ngon Tây ban Nha
Để
có sự so sánh và hiểu biết về ẩm thực Pháp, Nhật và Việt Nam, nhà
hàng ngon của Tây Ban Nha như đă được đề cập trên là tiêu biểu cho
ẩm thực thế giới v́ trong 10 nhà hàng ngon nhất thế giới năm 2011 có
đến 3 nhà hàng của Tây Ban Nha là El Celler de Can Roca (hạng 2)
Mugaritz (hạng 3) và Arzak (hạng 8), chưa kể nhà hàng El Bulli đứng
đầu thế giới trong 4 năm liên tiếp, không có tên trong danh sách 10
nhà hàng ngon nhất v́ tự đóng cửa năm 2010 để nghiên cứu thêm với
mục đích phục vụ và làm thỏa măn thực khách, mặc dầu số lượng nhà
hàng có sao của nước này rất ít nếu so sánh với số nhà hàng của Pháp
và Nhật Bản.
Phương pháp pha chế những món ăn
của nhà hàng Arzak rất đặc biệt, màu sắc hài ḥa giữa các món ăn và
bát đĩa và được tŕnh bày rất đẹp, phần đông các món ăn đều ngon,
chỉ có vài món ăn v́ quá cầu kỳ mà gia vị lại không được đậm đà và
không lưu lại cho thực khách những kỷ niệm khó quên của một nhà hàng
3 sao.
Nhà hàng ngon Pháp
Hiện tại giá tiền cho mỗi bửa
ăn trong nhà hàng ngon ở Paris là trung
b́nh:
Nhà hàng 1 sao: 80- 150 euros chưa tính tiền
rượu
Nhà hàng 2 sao: 150-200 euros chưa tính tiền
rượu
Nhà hàng 3 sao: 250-350 euros chưa tính tiền
rượu
Nhà hàng ở các tỉnh rẻ hơn nhiều so
với Paris và theo bản giá kê khai, quáng cáo trên mạng th́ các nhà
hàng ngon ở Paris có thể cho là đắc nhất thế giới (nhà hàng 3 sao ở
Tây Ban Nha giá chỉ từ 150-200 euros như nhà hàng Arzak của vùng San
Sebastian ngay cả nhà hàng El Bulli đứng đầu thế giới của Tây ban
Nha cũng vào khoảng 200-250 euros/người chưa tính tiền
rượu )
Hiện tại phần đông các nhà hàng
danh tiếng Pháp có khuynh hướng phục vụ cá sống theo phong cách Pháp
nhưng rất tiếc các đầu bếp này chưa quán thông được tất cả kỹ thuật
cách pha chế trong khi dùng cá sống cho ẩm thực Pháp, không phải
loại cá nào cũng có thể ăn sống được, có loại cá phải biến chế trước
v́ nếu không cá sẽ c̣n mùi tanh, như nhà hàng 3 sao Guy Savoy đă
dùng cá hét (merlan) sống phối hợp với trứng cá hồi. Cá hét thuộc
nhóm cá “tara” và người Nhật không dùng ăn sống mà chỉ dùng cá hét
để chiên hoặc luộc hoặc ngâm với giấm, củ hành và ăn với khoai lang
tây và trứng cá hối thường hay dùng với cơm trắng với nước tương
hoặc với rong biển hoặc làm món ăn “norimaki”, mù tạt xanh sẽ làm
giảm mùi tanh của trứng cá.
C̣n nhà hàng Bigarade đặc biệt dùng
rất nhiều nguyên liệu Nhật Bản để thực hiện những món
ăn từ khai vị tới các món ăn tráng miệng.
Trong 7 nhà hàng có sao (étoilés)
mà tác giả bài viết này đă thử qua: 3 ở Paris, 1 ở Beaune , 2 ở vùng
Normandie và 1 ở vùng Bretagne, nhà hàng “Le jardin des Remparts” có
thể đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn của một nhà hàng ngon (nhiều món
ăn mới, lạ, gia vị, phục vụ, không gian, môi trường và an toàn vệ
sinh), kế đến là nhà hàng “La voile d’or La Lagune” tiếp theo là nhà
hàng St Placide và Bigarade, nhà hàng 2 sao Joel Robuchon không có
ǵ đặc biệt và nhà hàng Guy Savoy, mặc dầu dịch vụ, không gian rất
tốt nhưng gia vị, cách pha chế món cá sống để lại mùi tanh của cá và
gia vị của những món ăn khác cũng không tương xứng cho nhà hàng 3
sao. Ngoài ra ở Paris có vài nhà hàng chưa được định vị nhưng đạt
được những tiêu chuẩn của nhà hàng ngon như nhà hàng KEI và Guilo
Guilo .
Nhà hàng ngon Nhật Bản
Một cách tổng quát, tất cả món ăn
thuần túy Nhật Bản của hầu hết các nhà hàng hoặc ryokan đều đạt đúng
tiêu chuẩn, và giá cả cũng rất hợp lư, về phương diện dịch vụ th́
rất chu đáo, tận t́nh với tinh thần tôn trọng thực khách đến tuyệt
đối và sự hài ḥa giữa màu sắc của bát đĩa và các món ăn ẩn chứa,
tiềm tàng một nền văn hóa phong phú với sự tŕnh bày đơn giản nhưng
đẹp một cách thanh tao nhẹ nhàng, không c̣n là một món ăn đơn thuần
mà là một tác phẩm nghệ thuật đặc biệt của xứ phù tang.
Nhà hàng ngon Việt Nam
Như đă đề cập trên, nếu so sánh
những món ăn trong một “quán nhậu” và một nhà hàng sang trọng th́
phần đông đều cho rằng quán nhậu có thể dâng hiến cho thực khách
những món ăn ngon, lạ đủ loại gia vị, có lẻ v́ bản chất của người
Việt Nam thích ăn ngon giá rẻ ở chỗ đông người và có thể hàn huyên
mà không ngại làm phiền những người xung quanh.
Việt nam là một trong những nước được
thiên nhiên ưu đăi, nguyên liệu thực phẩm rất phong phú, dồi dào
giúp cho mọi người có được những món ăn với nhiều hương vị đậm đà
nhưng phần đông những đầu bếp Việt Nam chưa có sáng kiến và chưa ư
thức được sự quan trọng, cần thiết để có thể thực hiện những món ăn
đầy đủ tiêu chuẩn như an toàn thực phẩm, vệ sinh, không gian, trang
trí của pḥng ăn, sự hài ḥa màu sắc giữa các món ăn và bát đĩa,
phong cách và tinh thần phục vụ để hiến dâng cho thực khách một bửa
ăn trong một không gian trang trọng, thoải mái với ban bè hoặc với
gia đ́nh với nhiều món ăn ngon, lạ của ba miền đất nước và để thực
khách có thể thưởng thức toàn diện kỹ thuật nấu ăn, cách pha chế của
người đầu bếp.
Nếu
phối hợp được những ưu điểm ẩm thực của ba miền:
- Phong cách
ăn uống của người miền bắc (vừa ăn vừa
thưởng thức các món ăn).
- Dùng những bát đĩa
nhỏ, cách trưng bày đẹp của những món ăn
như thời vua chúa ngày xưa của miền trung
- Nguyên liệu dồi dào
phong phú và gia vị ngọt ngào, đâm đà của miền nam
Nếu
đầu tư nhiều hơn cho bát, đĩa, li, tách, dao, muỗng, nĩa có giá trị
mỹ thuât cao cấp, sang trọng, sau cùng với những
sáng kiến táo bạo, t́m ṭi, nghiên cứu
sâu sắc về ẩm thực thế giới để có thể tạo ra những món ăn mới
lạ với những gia vị cổ truyền và về phương diện mỹ thuật, học hỏi
phương pháp tŕnh bày tao nhả với sự hài ḥa màu sắc giữa rau củ (bông,
rau, lá) và màu sắc của chén đĩa th́ ẩm
thực Việt Nam sẽ c̣n được nhiều người trên thế giới ưa chuộng hơn và
có được vị trí cao trong ẩm thực thế giới.
Tóm lai, dỉ nhiên có sự khác biệt
của mỗi người của mỗi quốc gia và tùy theo khẩu vị, cách nhận thức
về nghệ thuật tŕnh bày về màu sắc của mỗi món ăn nên khó có thể so
sánh ba loại ẩm thực của ba quốc gia, được cho là tiêu biểu cho ẩm
thực thế giới nên những ư kiến được tŕnh bày trong bài viết này chỉ
có giá trị tương đối về lĩnh vực gia vị cũng như về lĩnh vực mỹ
thuật và nội dung bài này cũng chỉ có mục đích để tham khảo và tùy
theo sớ thích khác nhau của mỗi cá nhân để có thể t́m cho ḿnh những
món ăn ngon và hạp khẩu vị trong thế giới ẩm thực rất đa dạng và vô
cùng phong phú
.....................................................................
Tham khảo
Những tài liệu dùng để viết bài nầy phần đông được tham khảo
trên sách vở, báo chí của Pháp và Nhật Bản và những tài liệu được
trích ra từ những thông tin trên mạng internet. Những h́nh
ảnh của vài món ăn được tŕnh bày trong bài viết này, đôi khi tác
giả không thể dùng flash v́ sự tế nhị đối với các thực khách khác
trong pḥng ăn, nên không được tốt như ư muốn.
Ghi chú: trang
đầu của bài nầy được tŕnh bày với bảy món ăn
tượng trưng cho ba quốc gia: Pháp, Nhật Bản và Vỉệt-Nam.
H́nh thứ nhất và thứ ba
là hai món ăn Pháp thực hiện bới đầu bếp Nhật, h́nh thứ hai là món
ăn mới (nouvelle cuisine) cũng do người Nhật thực hiện, h́nh thứ tư
là món ăn Việt-Nam và ba h́nh cuối cung là ba món ăn tráng miệng của
Pháp, trong ba món này có hai món được thực hiện bởi ẩm thực phân tử
(cuisine moléculaire).
Nguyễn Hoàng Anh
Exryu 63 Kyodai - Paris 8/2011
Xem thêm :
Phần II:
Dinh Dưỡng và Sứcc Khoẻ
Phần III:
Phương pháp sản xuất những chất dinh dưỡng từ chất đạm: acides
aminés.
|
* Vài
hàng về anh Nguyễn Hoàng Anh.
Anh Nguyễn Hoàng Anh qua Nhật năm 1963. Sau khi xong
chương tŕnh học tiếng Nhật anh vào Đại học Kyoto. Theo anh
Anh cho biết sempai của anh lúc đó là anh Nguyễn Trung Chí và
anh Nguyễn Đại Ca. Anh theo học môn hóa học cơ khí (kikai
kagaku). Sau khi tốt nghiệp anh ở lại cao hoc thêm một năm.
Năm 1969 anh qua Pháp. Tại đây anh làm việc cho viện nghiên
cứu đại học Marie-Curie Paris. Sau đó anh làm việc cho một xí
nghiệp cách Paris 125 km, xí nghiệp này chuyên sản xuất những
chất amino acides có thể gọi là xí nghiệp hóa dược, anh chịu
trách nhiệm về bộ môn phương pháp và sản xuất (méthode et
production). Hiện giờ anh đă nghỉ hưu và đang sinh sống ở
Paris.
|
|
|