|
Phần III:
Phương pháp sản
xuất những chất dinh dưỡng từ chất đạm: acides aminés.
Chất đạm (protide) là
phần quan trọng nhất trong dinh dưỡng, có trong các thức ăn hàng
ngày như thịt, cá, sửa và các loại thức ăn chế biến từ sửa, trứng và
các loại thức ăn thực vật như ngũ cốc.
Chất đạm là những hợp chất của những sinh vật
sống mà thành phần là những acides aminés dính liền với nhau bằng
những nét nối tương đối dễ vỡ.
Chất đạm sau quá tŕnh thủy phân
(hydrolyse) trong hệ tiêu hóa, chất đạm bị tách ra từ đơn vị, mỗi
đơn vị là một acide aminé,
thấm thấu vào màng ruột và được đưa vào bộ tuần hoàn máu, tùy theo
nhu cầu của mỗi cơ quan trong cơ thể, các acides aminés này có thể
được phối hợp với các acides aminés khác để đáp ứng nhu cầu cho cơ
thể.
Trong công nghệ có hai phương pháp chính cho
việc sản xuất những chất acides aminés:
1) Phương pháp lên men
2) Phương pháp chromatographie
Nội dung của bài này chỉ chú
trọng đến phương pháp phân cách các acides aminés có nguồn gốc từ
chất đạm động vật bằng cách dùng những loại bi nhựa (résine) trao
đổi ion của phương pháp chromatographie
Để có những khái niệm cơ bản về sự cách li những
thành phần của những hợp chất hóa học sau đây là những phương pháp
cổ điển thường được dùng trong pḥng thí nghiệm hoặc trong công nghệ
dầu hỏa.
Trong thiên nhiên có nhiều hợp chất chứa những thành phần khác nhau
cần được phân cách, có nhiều phương pháp như kết tinh, phân đoạn,
chưng cất phân đoạn v.v…. c̣n có một phương pháp khác là dùng tính
chất mạng lưới với đường kính có độ lớn khác nhau được gọi là
sàng lọc phân tử (sas moléculaire).
Sas moléculaire là những chất hữu cơ, hữu cơ
kim loại hoặc là những chất khoáng có thể bẫy và giữ lại bên trong
những phân tử nhỏ và loại trừ những phân tử lớn hơn trong hợp chất,
có hai loại :
- Polynasse
moléculaire (đa bẫy phân tử) đặc biệt có chất « Clathrate »
là một chất cấu tạo bởi một thể vùi (inclusion) phức tạp gồm một
hoặc nhiều phân tử chủ có thể giam hăm những phân tử khác cũng được
gọi là trao đổi ion hửu cơ.
- Polynasse
minérales (đa bẫy khoáng chất) một chất cấu tạo bởi phần
chính là « zéolite » một khoáng chất có tên gọi là « tamis
moléculaire » và cũng được gọi là trao đổi ion khoáng chất.
A) Đa bẫy
phân tử
(Polynasse
moléculaire)
Polynasse moléculaire có nhiều loại: ổ xốp (cavités), lồng, ống
(canaux) vv
Một trong những chất quan trọng nhất trong nhóm
polynasse moléculaire là urée, hợp chất của phân tử này được dùng
rất nhiều trong kỷ nghệ, đặc biệt là kỷ nghệ dầu hỏa để tinh chế và
phân cách các chất hydrocarbures.
Urée là một chất hữu cơ, công thức hóa học
CO(NH2)2. Nhiều nhà nghiên cứu dùng quang phổ (spectre) của nhiễu xạ
(diffraction), của tia x (rayon x) để t́m hiểu chi tiết kết cấu của
các phân tử urée.
Đa bẩy phân tử
loại ống (Polynasse canaux) là sự h́nh thành của
nhiều phân tử khác nhau
(h́nh số 1).

H́nh số 1
Sự khám phá này chứng tỏ rằng các phân tử
urées được liên kết với nhau
bằng những phân tử hydrogène và tạo nên một khoảng trống dọc theo
hành lang và có đường kính vào khoảng 5,2 A (1A=0,1 nanometre), các
phân tử hữu cơ được bố trí xếp đặt vào những khoảng trống này theo
qui luật là để một khoảng trống tự do vào khoảng 2,4A giữa hai phân
tử liên tiếp.
Những vạch liên kết (covalentes) được chỉ định
bởi những gạch nối liên tục và những gạch nối nét chấm, mỗi nguyên
tử oxy được liên kết với nhau bởi những gạch nối liên kết hydrogène
và mỗi nguyên tử nitrogène bởi hai nguyên tử oxygène. Chiều dài của
những gạch nối giữa N1O3 và N1O5 vào khoảng 3,04A và giữa N1O2 và
N104 nhỏ hơn vào khoảng 2,93A.
Ngoài urée c̣n có một chất khác là
thiourée, giống như urée nhưng
chất
này chứa những rảnh
tiếp thu lớn hơn vào khoảng 7A.
Thêm một thí dụ nửa là polynasse dưới dạng « cavités » :
clathrate là một hợp chất gồm
một hoặc nhiều phân tử chủ có thể giữ lại bên trong các phân tử khác
bởi các ổ như tổ ong
Đa bẩy phân tử loại ổ xốp
(Polynasse cavité) là các tổ ong tạo ra bởi một mạng lưới bên trong
phân tử, các phân tử được ghép vào khung sườn (squelette) không phải
dưới dạng canaux mà ghép vào trong các tổ ong phát tán trong
polynasse (h́nh số 2a và 2b).

H́nh 2a và 2b
B) Đa bẫy
khoáng chất (Polynasses minérales)
Là những silico-aluminates
alkalines được biết từ năm 1760 có tên
« Zéolite » có hai loại zéolite : thiên nhiên và nhân tạo.
Zéolite thiên nhiên :
chẳng hạn như « Chabazite » có
đặc tính hấp thụ rất nhanh hơi nước, alcool méthylique, éthylique
cũng như hơi acide formique, ngược lại những chất như éther, benzene
và acétone bị đẩy ra ngoài chứng tỏ rằng loại này có thể phân cách
rất tốt những phân tử nhỏ như nước, méthane, éthane vv. Tốc độ hấp
thụ tùy theo h́nh thù và độ lớn của phần cắt ngang của những phân tử
hơn là dung tích, thí dụ như isobutane bị loại trừ c̣n n-heptane
được hấp thụ, mặc dầu n-heptane có dung tích lớn hơn nhưng có đường
kính nhỏ hơn (isobutane : 5,58A ; n-heptane : 4,89A).
Có 5 loại « zéolite » thiên nhiên với những đặc
tính khác nhau tùy theo độ lớn, nhỏ của các phân tử hữu cơđược xử lí :
chabazite, gmélinite, levynite,
nordinite va analcite.
Zéolite nhân tạo
(artificielle) : năm 1950 các nhà nghiên cứu đă phát minh một
loại zéolite nhân tạo có những đặc tính giống như « zéolite » thiên
nhiên nhưng sự cấu tạo hoàn toàn khác nhau. Zéolite thiên nhiên bị
giới hạn với những phân tử lớn như những hydrocarbures aromatiques,
có ba loại với độ lớn :4A, 5A và 13X, hai loại 4A và 5A có kết cấu
ba chiều và những tổ
ông chiếm hơn 45% dung tích c̣n 13X có thể
hơn 51%.
Zéolite nhân tạo dùng để tinh chế, chọn lọc tùy
theo độ lớn của đường kính các tổ ong của mạng lưới, có khả năng hấp
thụ lớn đối với những chất có nồng độ thấp, có ái lực lớn đối với
những phân tử hữu cơ bất bảo ḥa,
những phân tử polaires và chịu ảnh hưởng bởi
nhiệt độ và áp xuất.
Phương pháp này được dùng nhiều trong các công
nghệ như :
- Công nghệ dầu hỏa xử lí những chất
hydrocarbures
- Công nghệ caouchouc
- Công nghệ mỹ phẩm, xà bông, dầu thơm
- Công nghệ thuốc trừ sâu
- Công nghệ mực, sơn dầu
Những phương pháp dùng để phân cách các chất
hữu cơ trên được đề cập đến với mục đích là để bổ túc và tạo điều
kiện dễ dàng cho sự hiểu biết về kỹ thuật phân cách bằng phương pháp
thay đổi ion cho tất cả nhóm chất đạm (acides aminés)
1) Phương
pháp lên men
Một chất gia vị có nguồn gốc từ rong biển màu nâu được khám phá bởi
ông Ikeda năm 1908, chất này là glutamate de sodium là một
chất muối từ acide glutamique (một
chất acide aminé) cũng là chất bột ngọt mà chúng ta dùng hàng ngày
trong việc nấu nướng.
Chất này thực sự được phát triển và sản xuất
bằng công nghệ bio được khám phá bởi ông
S Kinoshita năm 1956 do
một loại vi khuẩn có tên là
Corynebacterium tiết ra chất acide glutamique và từ đó phát
sinh ra những cố gắng đáng kể cho sự nghiên cứu và phát triển phương
pháp lên men.
Gần đây sự sản xuất những acides aminés bắt
đầu từ sự biến đổi sinh học enzim
(bioconversion enzymatique) có nghĩa là một chất hóa học có
thể được kích hoạt và dùng như một chất xúc tác để sau đó có thể
biến đổi và cho phép phát triển một cách liên tục và sản xuất được
dễ dàng hơn, nhất là có thể giảm bớt rất nhiều cho vấn đề ô nhiễm
môi trường gây ra bởi dung dịch sa thải rất lớn.
Phương pháp lên men rất phức tạp và thời gian
nghiên cứu rất lâu để có thể t́m ra vi khuẩn tương ứng với từng
acide aminé, phương pháp lên men có ưu điểm là có thể sản xuất với
số lượng rất lớn nếu t́m được vi khuẩn thích hợp và giá thành được
giảm rất nhiều.
Hiện tại hầu hết các acides aminés được sản
xuất trên thế giới bằng phương pháp lên men
2) Phương
pháp sắc kư (chromatographie)
Phương pháp này gồm có ba phần chính :
1) Lư thuyết chromatographie
2) Bi nhựa trao đổi ions
3) Áp dụng bi nhựa
- Xử lư nước
- Phương pháp phân cách và sản xuất
các acides aminés
1)
Chromatographie
Chromatographie là một kỹ thuật phân cách hóa học những thành phần
của một hợp chất dựa theo sự phân phối khác nhau qua hai
pha (phase) cũng là một phương
pháp vật lư dựa theo những ái lực (afffinité) khác nhau của những
thành phần trong hợp chất qua hai pha
cố định và di động. Pha di động là pha di chuyển mang
theo hợp chất được phân cách xuyên qua pha cố định, sự phân cách này
tùy theo sự hấp thụ (absorption) và sự giải hút (désorption), hiện
tượng này xảy ra một cách liên tục.
Có nhiều loại chromatographie tùy theo đặc tính
của pha di động
- Chromatographie trên một lớp mỏng (CCM)
- Chromatographie bởi pha gaz
- Chromatographie bởi pha lỏng
- Chromatographie bởi pha lỏng với hiệu
năng cao CLHP
- Chromatographie bởi pha siêu tới hạn
(super critique)
Người ta có thể đặt tên cho phương pháp phân
cách tùy theo nội phản ứng phát triển bởi pha cố định.
- Chromatographie bởi sự hấp thụ
(absorption) và ái lực (affinité)
- Chromatographie bởi sự phân chia
(partage)
- Chromatographie bởi sự trao đổi ion (échange d’ion)
- Chromatographie bởi sự loại trừ (exclusion)
Những phương pháp này thường được dùng trong pḥng thí nghiệm,
phân cách y học để ước đoán số lượng của vitamine trong máu, dùng
trong lĩnh vực thể thao để kiểm tra số lượng chất kích thích của vận
động viên hoặc được các nhân viên cảnh sát khoa học để t́m ra thành
phần của những chất mà thủ phạm đă để lại.
Những nội dung của bài này chỉ dựa trên sự phân
cách CLHP (Chromatographie liquid à
haute performance) và sự kết hợp của hai phương pháp : sự
trao đổi ion (échange d’ion) và sự
đào thải (exclusion) của bi nhựa
(résine)
Chromatographie bởi pha lỏng
với hiệu năng cao
CLHP
Phương pháp : một hợp chất cần phân cách (séparation) được mang đi
bởi một dung môi (thông thường là nước) qua một pha cố định, pha này
có thể chứa rất nhiều bi nhựa (résine) rất nhỏ c̣n được gọi là chất
trao đổi ion.
Muốn có được hiệu quả phân cách cao, hai yếu tố
quan trọng và cần thiết cho sự xử lí :
1) Hạt bi nhựa được dùng rất nhỏ có nghĩa
là dung tích bên ngoài giữa các bi nhựa
(volume interticiel) sẽ nhỏ và
diện tích trao đổi (diện tích của
bi nhựa) sẽ lớn nên năng xuất phân
cách sẽ cao.
2) V́ các bi nhựa rất nhỏ nên tốc độ chảy
của pha di động bị chậm lại, nên muốn giữ tốc độ b́nh thường phải
tăng áp xuất trên cột ống (colonne) nên thông thường các
thiết bị cho sự phân cách này được xử lí dưới áp xuất rất cao có thể
lên đến 100 bar để có thể duy tŕ tốc độ ổn định trong suốt quá
tŕnh tiếp xúc giữa pha di đông và pha cố định.
Để biết hiệu quả của sự kiện này, thông thường
toàn bộ thiết bị đo lường được áp dụng hệ thống tự động, sau khi quá
tŕnh xử lí phân cách chấm dứt, hệ thống này sẽ cung cấp kết quả qua
những họa đồ với những « pícs » tương ứng cho mỗi thành phần của hợp
chất, nếu « pic » càng nhỏ càng cao th́ sự phân cách càng tốt và ta
cũng có thể gọi kết quả này là hiệu năng
cao « haute performance »
Chromatographie
bởi trao đổi ion
(par échange
d’ion)
Pha (phase) cố định là những hạt bi nhựa không
ḥa tan trong nước và được ghép vào những khung sườn của hạt bi nhựa
những nhóm có chức năng đặc biệt, thông thường là nhóm
sulfonate SO3H và được gọi là chất
trao đổi ion acide, hoặc nhóm ammonium
quaternaire (N(R3)) và được gọi là chất trao đổi ion basique.
Chromatographie
bởi sự loại trừ
(par exclusion)
Hợp chất được
phân cách tùy theo độ lớn của mỗi thành phần trong hợp chất, pha cố
định là một chất có rất nhiều lổ xốp (poreux) như tổ ong và tùy theo
độ lớn của mỗi phân tử có thể được giữ lại hoặc bị loại trừ và bị
đẩy ra ngoài pha cố định.
Nếu kết hợp ba phương pháp trên, chúng ta có
thể phân cách được tất cả các acides aminés. Như đă đề cập trên,
phần đông những phương pháp này chỉ được dùng trong các pḥng thí
nghiệm, nếu kỹ thuật này được đem ra áp dụng cho công nghệ phân cách
những acides aminés với năng xuất cao và liên tục, phương pháp này
trở nên rất phức tạp vi có nhiều yếu tố cần phải được quán triệt và
sự lựa chọn các loại bi nhựa cũng rất quan trong cho công nghệ này :
- Áp xuất :
áp xuất phải được hoàn toàn chế ngự vi áp xuất liên quan rất nhiều
đến tốc độ chảy của chất di động, đến sự tổn hại của những bi nhựa
trao đổi ion, trong pḥng thí nghiệm đường kính của cột ống (colone)
chỉ vào khoảng 0,2-0,4 mm với áp xuất rất cao có thể lớn hơn 100
bars v́ đường kính của bi nhựa rất nhỏ và cấu trúc của các bi nhựa
này rất kiên cố nhưng muốn áp dụng trong lĩnh vực công nghệ với số
lượng sản xuất lớn th́ đường kính của cột ống (colonne) có thể lớn
đến nhiều ngàn lần 2-3m và áp xuất maximum nhỏ hơn nhiều so với áp
xuất áp dụng trong pḥng thí nghiệm, vào khoảng 3-4 bars v́ các bi
nhựa dùng trong công nghệ không được kiên cố bằng các bi nhựa dùng
trong pḥng thí nghiệm (giá thành của các bi nhựa dùng trong pḥng
thí nghiệm có thể cao hơn hàng trăm lần những bi nhựa dùng trong
công nghệ).
- Tốc độ chảy :
phải có sự điều chỉnh giữa áp xuất và tốc độ chảy của chất di động
để có được năng xuất cao.
- Độ ḥa tan :
mỗi chất đạm có độ ḥa tan khác nhau, trong suốt quá
tŕnh phân tách, để sự lưu thông của dung dịch trong cột ống được xử
lí trong điều kiện b́nh thường, phải quan sát, kiểm soát liên tục độ
ḥa tan của các thành phần chất đạm trong dung dịch v́ khi nồng độ
hóa học của một chất đạt đến một nồng độ nào đó chất này sẽ bắt đầu
kết tinh trong bi nhựa và làm giảm tốc độ chảy và có thể làm tắc
nghẽn hoàn toàn sự lưu thông của dung dịch.
2) Chất
thay đổi ion (échangeurs ions)
Tổng quát
Trao đổi ion (échange ion) là một phương pháp trong đó một chất hóa
học nào đó được ion hóa (cation hoặc anion) và được ḥa tan trong
một dung dịch, thí dụ như cation, cation này được cách li từ dung
dịch này bởi sự hấp thụ trên một thể cứng (chất trao đổi ion) và
được thay thế bởi một số lượng tương đương của một cation khác phát
ra bởi thể cứng, ngược lại những ion đối lập (anion) không bị ảnh
hưởng.
Chất trao đổi ion có thể là một chất muối, một
acide hoặc basique, chất này dưới dạng thể cứng không ḥa tan trong
nước và thường thấy dưới dạng ẩm (hydraté), chất trao đổi ion có thể
phồng lên như một chất xốp (éponge), chất này có thể phồng lên gấp
đôi so với tổng dung lượng sau quá tŕnh xử lí.
Trao đổi ion là cơ bản của một số lớn phương
pháp hóa học, có 3 loai :
- Thay thế (substitution) : thí dụ
một ion của một chất độc « cyanure » được thay thế bằng một ion của
một chất không độc hoặc một ion của một chất có giá trị cao như « đồng »
được thu hồi và được thay thế bằng một chất khác không có giá trị.
- Phân cách (séparation) : chẳng
hạn một dung dịch chứa một số ions như : Li+, Na+,
K+, Rb+, Cs+, tất cả ions trong
dung dịch này dưới dạng chlorures và được cho qua một cột ống
(colonne) chứa những bi nhựa thay đổi ion. Những ion này được phân
cách tùy theo độ ái lực của mỗi ion đối với các bi nhựa.
- Đào thải (élimination) :
Nếu chúng ta dùng sự phối hợp của hai loại bi
nhựa trao đổi ion như bi nhựa cationique dưới dạng H+ và
bi nhựa anionique dưới dạng OH- chúng ta có thể loại trừ
(élimination) tất cả các ions của dung dịch nước và dung dich nước
này được gọi là nước vô khoáng (déminéralisée).
Ba kỹ thuật này thông thường cũng có thể được
gọi là « fixation » và
« élution »
- Đính vào (fixation) :
khi những thành phần của một hợp chất trong dung dịch được tiếp xúc
với bi nhựa trao đổi ion, những thành phần này được gắn đính vào bi
nhựa ở nhiều vị trí khác nhau trong cột ống (colonne), tùy theo ái
lực (afffinité) và tùy theo độ lớn của mỗi phân tử của mỗi thành
phần trong hợp chất
- Tẩy rửa (élution) : dùng một
chất có ái lực lớn hơn tất cả các thành phần trong hợp chất để thay
thế tất cả thành phần này và có khả năng đẩy ra khỏi bi nhựa thay
đổi ion theo thứ tự tùy theo ái lực và độ lớn của mỗi thành phần.
Kỹ thuật trao đổi ion được khám phá vào giữa thế kỷ
thứ 19 do ông Thompson, sau khi cho một dung dịch chứa sulfate
d’ammonium qua một cột ống (colonne) chứa đất và ông nhận thấy rằng
chất thu hồi được là
sulfate de calcium.
Bi nhựa
(résine) polystyrénique
Năm 1935 ông Liebknecht khám phá rằng vài chất
charbons có thể được sulfonés để cho một chất trao đổi cation ổn
định về cả hai phương diện hóa học và cơ học, ngoài ra hai ông Adamc
và ông Holmes phát minh những loại trao đổi cations và anions tổng
hợp đầu tiên bởi sự đa trùng ngưng (polycondensation) của chất
phénol với formaldéhydre cho phần cations và polyamine cho phần
anions. Hiện tại chất charbon sulfoné được thay thế bởi
polystyrène sulfoné.
Năm 1944 ông Alelio phát minh bi nhựa đầu tiên
có nguồn gốc từ polystyrène, hai năm sau ông Burney sản xuất những
loại bi nhựa trao đổi anions bởi chlorométhylation và amination,
trước đây các loại bi nhựa trao đổi anions là basique yếu
(faiblement basique) chỉ hấp thụ những loại acide khoáng (acide
minéraux), c̣n loại bi nhựa trao đổi anions của ông Burney là loại
basique mạnh có thể hấp thụ những acide yểu như dioxyde de carbon
hoặc silice, với bi nhựa này người ta có thể dùng sản xuất nước để
cung cấp cho các nồi đung hơi (chaudière) được xử lí ở áp xuất cao.
Bi nhựa
macroporeuses
Để đáp ứng và giải quyết những vấn đề liên quan đến sự ô nhiễm
những bi nhựa bởi những acide hữu cơ có trong nước và ở áp xuất cao
với tốc độ xử lí lớn, ba nhà sản xuất bi nhựa : The Permutit Co,
Bayer và Rhom and Haas đă phát minh một loại bi nhựa được kết mạng
mạnh (fortement réticulé) nhưng chứa những tổ ong mở một cách nhân
tạo để có được những canaux với đường kính có thể lên đến 150A và có
thể hấp thụ được những phân tử hữu cơlớn.
Trao đổi
anion polyacrylique
Giữa năm 1970 và 1972 có một loại bi nhựa trao đổi anion mới với
khung sườn bằng polyacrylique, sản phẩm này có sức chịu đựng rất lớn
đối với những acide hữu cơ gây ra từ nhiều loại nước thải và có sự
ổn định rất tốt về phương diện cơ học như áp xuất nhờ vào sự đàn hồi
của polymère.
Cấu trúc
của các loại bi nhựa trao đổi ion
Khung sườn
(squelette)
1) Khung sườn (squelette)
polystyrénique
Với sự trùng hợp (polymérisation) của styrène
hoặc vinylbenzène dưới ảnh hưởng của một chất xúc tác hoạt tính như
péroyde hữu cơ để có được chất polystyrène linéaire ḥa tan trong
vài chất dung môi ở một nhiệt độ nhất định. Nếu với một tỷ lệ nhất
định nào đó của chất divinylbenzène (DVB) được pha trộn với styrène
(S), chất trùng hợp (polymère) được tự kết mạng và trở thành một
chất hoàn toàn không ḥa tan trong nước. Trong phương pháp sản xuất
các loại bi nhựa trao đổi ions thường được xử lí dưới dạng thể vẩn
(suspension) để sản xuất những hạt bi nhựa h́nh tṛn của polymère
(xem h́nh 1).

Hinh (1)
2)
Khung sườn polyacrylique
Với sự trùng hợp (polymère) acrylate,
méthacrylate hoặc acrylonitrile, người ta có thể kết mạng
(réticuler) với divinylbenzene để có được khung sườn (squelette)
(xem hinh 2).

H́nh 2
Nhóm chức
(groupes fonctionelles)
1) Bi nhựa trao đổi
ions acide mạnh
Những bi nhựa polystyrène được xử lí với acide
sulfuriques dưới nồng độ cao, người ta có được sulfonate de
polystyrène kết mạng (bi nhựa trao đổi cations), bi nhựa này được
dùng trong nhiều lĩnh vực, nhóm chức của bi nhựa này được biểu thị
bằng SO3H.
(xem h́nh 3)

Hinh 3
2) Bi nhựa trao đổi ion acide
yếu
Những bi nhựa này thường được sán xuất từ những
khung sườn polyacrylique được thủy phân hóa bằng NaOH hoặc H2SO4,
chẳng hạn như polyarylonitrile hoặc polyacrylate de méthyl, nhóm
chức của bi nhựa này được biểu thị bằng
COOH (hinh 4)

H́nh 4
3) Bi nhựa trao đổi anions
Những hạt bi nhựa polystyrène kết mạng được xử
lí với chlorométhylméthyl éther
CH2Cl-O-CH3 ở môi trường khan (anhydre) với sự hiện
diện của chất xúc tác như AlCl3 hoặc Sn Cl4, người ta có được chất
polystyrene chlorométhylé (hinh 5)

Hinh 5
Giai đoạn kế tiếp là nếu ta thay thế phân tử chlore của nhóm
chlorométhylé bởi một amine hoặc ngay cả ammoniaque ta có thể có
được một loại bi nhựa trao đổi anion mạnh hoặc yếu tùy theo sự lựa
chọn chất phản ứng khác nhau.
Bi nhựa acide chỉ có hai loại mạnh và yếu tùy
theo nhóm sulfonique hay carboxylique, ngược lại bi nhựa basic có
nhiều loại tùy theo nhu cầu mục đích xử dụng của nhiều công nghệ
khác nhau vi có nhiều loại amine.
Những bi nhựa có nhóm ammonium quaternaire đều
là bi nhựa basic mạnh (hinh 6),
theo quy ước type 1 là bi nhựa có
nhóm benzyltriméthylammonium là bi nhựa basic rất manh,
type 2 với nhóm
benzyldiméthyléthanolammonium có basic hơi yếu hơn type 1, bi nhựa
type 1 có thể loại thải được tất cả các anions ngay cả các acide yếu
như silice, c̣n type 2 cũng có thể loại thải được tất cả các anions
và có khả năng trao đổi ion cao hơn type 1 và trong giai đoạn phục
hồi (régénération) bi nhựa cũng dễ dàng hơn và có hiệu xuất tốt hơn
nhưng rất tiếc là type 2 không được bền bằng type 1 và không thể đào
thải hoàn toàn silice trong việc xử lí nước.
Những bi nhựa có nhóm hoạt tính (groupe actif)
amines tertiaires thường được gọi là basic trung b́nh c̣n amine
primaire th́ có tính chất basic rất yếu và rất ít được dùng. Bi nhựa
trao đổi anion trung b́nh được dùng nhiều nhất là bi nhựa có nhóm
hoạt tính amine tertaire, nhóm này dùng để làm đính vào bi nhựa
(fixer) tất cả các acides mạnh chứa trong dung dich nhưng không thu
giữ được những chất muối trung tính hoặc các acide yếu

Hinh 6
Tính chất
tổng quát của những bi nhựa
1) Tính chất thiết yếu của sự
kết mạng (réticulation)
Nếu ta tăng tỷ suất kết mạng (taux de
réticulation) của DVB trong monomère ta có được một loại bi nhựa rất
cứng và ít tính đàn hồi. Những bi nhựa có sự kết mạng cao sẽ bền và
có thể chịu đựng tốt trong môi trường bị oxy hóa v́ hiện tượng này
sẽ làm giảm tính chất của sự kết mạng. Nếu tỷ suất DVB lớn hơn
10-12% kết cấu của bi nhựa trở nên rất cứng và chặt (compacte), hoạt
tính trở thành khó v́ nơi đến trung tâm của những bi nhựa bị cản trở
do mật độ (densité) cao của khung sườn.
Ngoài ra áp lực thẩm thấu rất cao do sức mạnh
của sự phồng lên (gonflement) trong khung sườn và không thể được hấp
thụ bởi sự đàn hồi và bi nhựa có thể bị bể nát.
Khi những ions có thể lưu thông dể dàng bên
trong những bi nhựa trao đổi ion th́ tốc độ trao đổi sẽ lớn, nếu cấu
trúc (structure) bi nhựa quá dày đặc có thể làm chậm lại sự di
chuyển của các ions và làm giảm năng xuất của bi nhựa.
Đối với bi nhựa acide manh
năng xuất đạt cao nhất nếu tỷ suất của
DVB vào khoảng 8%.
2) Kết mạng (réticulation) và ái
lực (affinité)
Nếu ta muốn tăng ái lực khác nhau giữa nhiều
loại ions, điều cần thiết là phải tăng kết mạng của bi nhựa.
Trong quá tŕnh xử lí nước, bi nhựa acide mạnh
lúc nào cũng có tỷ suất DVB vào khoảng 8%, nếu ta muốn sản xuất nước
với độ ṛng (pureté) cao th́ ta
dùng bi nhựa có tỷ suất DVB 10-12%
và nếu ta chỉ muốn làm bớt độ cứng
của nước th́ ta dùng bi nhựa với tỷ suất
DVB 5-7% , loại bi nhựa này
thường đươc dùng trong việc khử độ cứng của nước v́ giai đoạn giải
hút (désorption) và phục hồi (régénération) sẽ dễ dàng hơn.
-Bi nhua
macroporeuse
Trong lúc trùng hợp (polymérisation) người ta
thêm vào hổn hợp của monomere một chất
porogène, chất này có thể ḥa tan được trong hổn hợp mà không
bị trùng hợp
Chung ta có thể dùng những chất sau đây như
một agent porogène
- Heptane
- Những acide béo bảo ḥa
- Những alcools hoặc polyalcools từ C4 đến
C10
- Những oligomère của styrène
Những chất porogène cấu tạo những rảnh (canaux)
trong toàn thể bi nhựa và hợp thành những
tổ ong nhân tạo, người ta gọi
rằng bi nhựa macroporeuse là bi
nhựa chứa những rảnh (canaux) và các bi nhựa khác chứa những
tổ ong (cavités) tự nhiên được
gọi là type gel

Bi nhựa type gel

Bi nhựa type macroporeuse
Trong thực tế bi nhựa macroporeuse có kết mang
(réticulation) mạnh hơn type gel , chúng ta có thể điều chỉnh tỷ
suất kết mạng và số lượng của chất tổ ong (agent porogene).
Những tổ ong của bi nhựa macroporeuse có đường
kính khoảng 100nm và của type gel chỉ bằng 1nm. Những phân tử lớn có
thể đi xuyên vào bi nhựa macroporeuse dễ dàng và vào sâu tận trung
tâm của những hạt bi nhựa.
Một cách tổng quát những ions sau khi thẩm thấu
vào bi nhựa, chỉ cần một đoạn ngắn để có thể đạt tới trung tâm nhóm
hoạt tính (group actif), vào khoảng 0,1µm, ngược lại đối với type
gel th́ dài hon : 125µm, và kết quả cho thấy sự trao đổi ion của
type macroporeuse nhanh hơn nhiều so với type gel.
Những bi nhựa loại macroporeuse hấp thụ tốt và bền
về cả hai phương diện lư hóa
(áp suất và sốc thẩm thấu (choc osmotique)), ngược
lại type gel bị hủy hoại rất nhanh nếu xử lư thường xuyên trong
những điều kiện nghiêm trọng (critique) như : tốc độ chảy cao, trong
hệ thống liên tục, môi trường dễ bị oxy hóa, nhiệt độ cao vv.
Tóm lại người ta dùng loại bi nhựa macroporeuse
để có sự hấp thụ tốt với phản ứng thuận nghịch (réversiblement) và
không bị ô nhiễm bởi những phân tử lớn bị giữ bên trong, với bi nhựa
này những chất hữu cơ có thể được đẩy ra ngoài sau giai đoạn hồi
phục (régénération).
3) Khả năng trao đổi ion của bi
nhựa
- Tổng khả năng (capacité total) :
Tổng khả năng của bi nhựa thông thường được
biểu thị bằng đương lượng trên đơn vị khối lượng hoặc thể tich
(équivalents par unité de masse ou de volume), đại diện cho số chức
năng hoạt tính (sites actifs) có sẵn của bi nhựa
Trong trường hợp bi nhựa trao đổi
polystyrénique, số chức năng hoạt tính cao nhất tùy theo sự « ghép »
(greffer) của nhóm hoạt tính vào nhân của phân tử benzen, khả năng
được biểu thị bằng éq/kg
của bi nhựa khô (résine seche) va éq/l
nếu bi nhựa ở dạng ẩm (résine humide)
- Khả năng hữu ích(capacité utile)
Là một phần của tổng khả năng, tùy thuộc vào
nhiều yếu tố :
- Nồng độ và loại ions được xử lí
- Tốc độ chảy (percolation) :dung dịch
lưu động từ trên xuống dưới xuyên qua những bi nhựa chứa trong cột
ống
- Nhiệt độ
- Chiều cao của lớp bi nhựa trong cột
ống (colonne)
- Loại, nồng độ, định lượng của chất
phục hồi (régénérant)
Trong cột ống, phản ứng giữa những ions của một
dung dịch và ions của bi nhựa trong lúc xử lí cũng như trong lúc
phục hồi, xảy ra ở một vùng nhất định được gọi là vùng phản ứng
(zone de réaction). Khi khả năng chọn lọc của bi nhựa đối với một
ion trong dung dịch được thuận lợi (favorable) một phần bi nhựa được
bảo ḥa sau quá tŕnh thay đổi ions, vùng phản ứng này được thay thế
và di chuyển theo hướng chảy của dung dịch và tiếp tục đến điểm đáy
của cột ống và hiệu quả của việc xử lí được xem là tốt nhất của bi
nhựa. Chiều dài của vùng phản ứng tùy thuộc vào tốc độ và nồng độ
ions nhưng không tùy thuộc vào chiều dài của cột ống
Ngược lại nếu khả năng chọn lọc của bi nhựa
không thuận lợi, vùng phản ứng tùy thuộc vào hệ số chọn lọc và
chiều cao của cột ống, chiều cao của cột ống càng cao vùng phản ứng
càng lớn và khả năng trao đổi hữu ich của bi nhựa càng cao (Hinh 7)

H́nh 7
Vùng trên cùng của cột ống (colonne) chứa bi nhựa hoàn toàn
bảo ḥa (S) bởi những ions trong
dung dịch, vùng Z là vùng chỉ được bảo
ḥa một phần, đến một thời gian (t) nào đó các ions của dung
dịch được thay thế bởi những ions của bi nhựa trong cột ống và bị
đẩy đi ra ngoài phần cuối cùng của cột ống (colonne) và ta có thể
cho rằng vai tṛ xử lí làm đính vào bi nhựa (fixation) được hoàn tất,
nhưng theo h́nh trên khi những ions đạt đến điểm cuối cùng của vùng
Z (bên trái) c̣n khoảng 1/2 vùng này chưa được xử lí và
phần R là phần phục hồi chưa được xử lí.
V́ thực tế, bi nhựa không thể đạt được kết quả 100% trong giai đoạn
phục hồi (régénération có nghĩa là nhóm hoạt tính của bi nhựa không
được phục hồi 100% ). Tóm lại khả năng hữu ích của bi nhựa là
sự khác biệt giữa khả năng toàn diện thuận lợi ban đầu (t1) của một
chu kỳ xử lí và khả năng c̣n dư lại ở thời gian (t2) trong lúc việc
xử lí được xem là hoàn tất.
4) Ổn định và độ bền
của bi nhựa trao đổi ion
Ngân sách chi cho bi nhựa rất cao v́ số lượng
dùng và sự hư hại quá lớn qua nhiều lần xử lí, tùy theo phương pháp
và ứng dụng của các bi nhựa trong các công nghệ, v́ vậy để có thể xử
dụng lâu dài các loại bi nhựa, sự lựa chọn bi nhựa thích hợp rất
quan trọng. Sự lựa chọn loại bi nhựa này đ̣i hỏi nhiều kiến thức về
chất lượng và giá cả trước khi mua bằng cách tự làm thực nghiệm
trong pḥng thí nghiệm để biết rỏ khả năng chịu đựng của bi nhựa về
phương diện cơ khí (mécanique) cũng như về phương diện lực thẩm thấu
(force osmotique) và ngoài ra c̣n phải kiểm soát độ ô nhiễm của bi
nhựa sau nhiều lần xử lí.
- Ổn định hóa học của khung sườn
(squelette)
Trong những điều kiện
oxy hóa cao như chlore, acide chromique
có thể
tấn công khung sườn và làm giảm khả năng của sự kết
mạng (réticulation) thí dụ với lượng 1 ppm của chlore ở nhiệt độ
b́nh thường bi nhựa thay đổi ions cations loại polystyrène với tỷ số
kết mạng 8% sẽ không bị ảnh hưởng, ngược lại ở nhiệt độ 80°C với
lượng chlore 1ppm, polymère của bi nhựa có thể bị oxy hóa, kết quả
có thể làm bể hệ thống kết mạng và làm cho bi nhựa phồng lên và trở
nên mềm và kết quả sẽ không tốt cho tốc độ chảy của dung dịch. Thông
thường bi nhựa được chọn là bi nhựa macroporeuse có thể chóng lại sự
oxy hóa rất tốt, nếu dùng để xử lư nước th́ loại bi nhựa này có thể
dùng đến 20 năm.
- Ổn định của nhóm hoạt tính
(stabilité des groupes actifs)
Nhóm acide
sulfonique chịu đựng rất tốt, ngược lại nhóm basique rất nhạy
biến với nhiệt đô cao, ở môi trường nóng, phản ứng được gọi là phản
ứng hủy hoại Hoffmann có thể biến những ammoniums quaternaires
(bases mạnh) thành amines tertiaires (bases yếu) và có thể làm tiêu
hủy hoàn toàn nhóm hoạt tính.
Chẳng hạn bi nhựa bases mạnh type 1 ở nhiệt độ
b́nh thường có thể dùng được trong thời gian hơn 5 năm nhưng nếu
trên 50°C bi nhựa này sẽ bị mất dần khả năng trao đổi. Bi nhựa type
2 có thể mất 50% khả năng trao đổi trong thời gian 5 năm nhưng ở
nhiệt độ cao 50°C sự thoái biến có thể xảy ra và bi nhựa chi c̣n
dùng được trong ṿng 1-2 năm.
- Ổn định cơ khí ( stabilité mécanique)
Sự bền cơ khí (résistance mécanique) tùy theo
loại bi nhựa, dưới kính hiển vi ta có thể phân biệt bi nhựa hoặc bị
bể nát hoặc chỉ thấy những đường nứt dưới sự câu thúc cơ khí trong
việc xử lí.
Thông thường bi nhựa anionique type gel chịu
đựng kém hơn bi nhựa cationique nhưng đặc biệt lại yếu nếu xử lư
dưới áp xuất cao, v́ vậy điều quan trọng là sau mỗi giai đoạn hồi
phục bi nhựa trong cột ống (colonne) cần phải được xử lí bằng những
tháo tác như dùng nước với hướng chảy ngược (contre courant) với mục
đích đào thải những phần bi nhựa bị bể vụng không c̣n khả năng trao
đổi để có được tốc độ chảy (flux) b́nh thường và tránh áp xuất trong
cột ống (colonne) tăng lên cao bất thường.
Những bi nhựa acrylique mềm dẻo hơn những bi
nhựa polystyrénique và có thể chịu đựng được hầu hết tất cả các câu
thúc cơ khí trong những điều kiện b́nh thường.
Thông thường bi nhựa loại macroporeuse được
dùng nhiều nhất v́ có thể dùng trong nhiều trường hợp khắc nghiệt
nhưng có khuyết điểm là nếu độ kết mạng (réticulation) lón hơn 15%
và dưới áp xuất quá cao và v́ tính đàn hồi thấp nên bi nhựa này có
thể bị nổ tung thành từng mảnh rất nhỏ và không c̣n xử lí được.
- Ổn định thẩm thấu (stabilité osmotique)
Trong quả tŕnh trao đổi ions, cấu h́nh
(configuration) chung quanh của mỗi nhóm hoạt tính của bi nhựa bị
thay đổi, những ions được gắn đính vào bi nhựa hoàn toàn không giống
nhau và nhất là không cùng một tầng lớp mà ion được thay thế. V́ vậy
trong lúc phản ứng bi nhựa có thể phồng lên hoặc co thắt lại đáng kể
như bi nhựa acide yếu (résine faiblement acide) thể tích của bi nhựa
này có thể phồng lên gắp đôi từ dạng
–COOH qua dạng –COONa, áp lực chịu đựng lúc thay đổi thể tích
của bi nhựa được gọi là lực thẩm thấu (forces osmotiques). Lực này
rất lớn và có thể làm tăng áp suất cục bộ lên đến vài chục đến vài
trăm bars (bar=1kg/cm2).
Để có thể dùng trong công nghiệp, bi nhựa phải chịu đựng được lực
thẩm thấu và cơ khí mạnh qua hàng trăm lần xử lí bảo ḥa
(saturation) và phục hồi (régénération).
H́nh số 8 cho thấy sau 4 chu kỳ xử lí thay đổi
ions và 4 lần phục hồi (régénérations) của bi nhựa basique mạnh,
phần lớn bi nhựa c̣n nguyên vẹn nhưng ở những bi nhựa có đường kính
lớn xuất hiện những đường nứt bên trong, và h́nh số 9 sau 24 chu kỳ
xử lí thay đổi ions và sau 24 lần phục hồi (régénération), 5-6% bi
nhựa bị bể nát thành nhiều mảnh nhỏ và khoảng 50% bi nhựa có đường
nứt do áp lực thẩm thấu sau nhiều lần hoạt động và phục hồi.
Để có thể dùng bi nhựa trong thời gian lâu và
để có việc xử lí xảy ra b́nh
thường, sau mỗi chu kỳ xử lí, bi nhựa bị bể
nát trong cột ống phải được đào thải bằng cách xử dụng ḍng nước
chảy ngược từ dưới lên trên (contre courant).
Ghi chú : bi
nhựa bi bể vụn vẫn c̣n khả năng trao đổi nhưng nếu không đào thải,
tốc độ chảy sẽ bị giảm và áp xuất trong cột ống sẽ tăng và ảnh hưởng
sẽ không tốt cho bi nhựa và cho việc xử lí

Hinh 8 sau 4 lần phục hồi (régénérations)

Hinh 9 sau 20 lần phục hồi (régénérations)
Những phản
ứng của bi nhựa
thay đổi ions
1) Thay đổi ion cationique
a) Thay đổi tổng quát
Bi nhựa thay đổi ion cationique có thể dùng
dưới nhiều dạng khác nhau, thông thường dưới dạng sodium (Na+) bởi
tính chất ái lực tương đối yếu đối với sodium nên có thể xử lí tốt
và dễ dàng cho sự gắn đính những kim loại khác vào bi nhựa hơn nửa
làm giảm chi phí cho sự phục hồi (régénération) của bi nhựa bằng
chlorure de sodium rẻ hơn HCl hoặc H2SO4.
R-Na + K+Cl–
R-K
+ Na+Cl–
(1)
2 R-Na + Ca++(HCO3–)2
R2-
Ca++ + 2 NaHCO3 (2)
R- : tượng trưng cho bi nhựa
cationique
Phản ứng (1)
thường được dùng trong xí nghiệp làm rượu, và
phản ứng (2) dành cho việc xử lí
nước, trong mỗi trường hợp người ta dùng
chlorure de sodium để hoàn thành
giai đoạn phục hồi
b) Bi
nhựa cationique mạnh : thay đổi hydrogen
(phản ứng số 3)
R-H + Na+Cl–
R-Na
+ H+Cl– (3)
:
Phản ứng thuận nghịch như nhau
Trong trường hợp này một ion kim loại được
thay thế bằng một ion hydrogène, phản ứng này thường được dùng cho
phần đầu của việc xử lí nước và người ta dùng acide khoáng chất thí
dụ như acide chlohydrique (HCl) cho sự phục hồi bi nhựa
Trong phản ứng số
3 : ion H+ được thay thế bởi ion Na+,
có nghĩa là trong bi nhựa nhóm hoạt tính có
ái lực (affinité) đối với ion Na+
lớn hơn ái lực của ion H+, sau đây là một số ions
được xếp theo thứ tự tăng dần cho ái lực
Li+<H+<Na+<NH4+<K+<Rb+<Cu+<Ca+<Ag+
Theo bảng xếp đặt này ion Ag có ái lực lớn hơn
tất cả các ion khác
c) Bi nhựa
cationique yếu : thay đổi hydrogène
2RCOOH + Mg (OH)2
(RCOO)2Mg
+ 2H2O (4)
2RCOOH + Na2CO3
2RCOONa
+ H2O + CO2 (5)
R-COOH + Na+Cl–
không
phản ứng (6)
R-COOH + Ca+Cl–2
(R-COO–)2Ca++
+ 2 HCl (7)
R-COOH + Na+HCO3–
R-COO–Na+
+ H+OH– + CO2 (8)
2 R-COOH + Ca++(HCO3–)2
(R-COO–)2Ca++
+ 2 H2O + 2CO2 (9)
:
phản ứng thuận mạnh hơn phản ứng nghịch
:
phản ứng thuận yếu hơn phản ứng nghịch
Những bi nhưa
carboxylique là những acide yếu v́ vậy nên độ ions hóa rất
yếu trong môi trường acide. Nhưng có ái lực rất lớn đôi với những
kim loại có hai hóa trị (métaux divalents) chẳng hạn như calcium,
mangésium vv trong môi trường pH>4,5
Ngoài ra bi nhựa carboxylique dưới dạng
hydrogène không thể gắn đính lượng lớn kim loại trong dung dịch muối
v́ những acide khoáng chất sinh ra làm hạ nhanh pH của dung dịch và
làm cản trở việc xử lí thay đổi ions.
Bi nhựa carboxylique xử lí tốt đối với những
chất kiềm mạnh như hydroxyde magnésium hoặc chlorure de calcium
(phản ứng 4 và 7), ngược lại đối
với những chất sodium dưới dạng muối như chlorure de sodium th́
không có phản ứng. (phản
ứng 6)
V́ bi nhựa carboxylique rất tốt đối với những
ions hai hóa trị (divalents) hoặc ba hóa trị (trivalents) như
calcium và magnésium nhưng có khả năng yếu đối với những ions đơn
hóa trị (monovalents) như hydrogénénocarbonate
(phản ứng 5) v́ sự h́nh thành của acide carbonique đủ để có
thể cản trở phản ứng thay đổi những ions đơn hóa trị.
Bi nhựa acide yếu có đặc tính chọn lọc đa hóa
tri hơn là đơn hóa trị (phản ứng 8 và
9)
d) Bi nhựa acide yếu : thay đổi chọn lọc
R-COOH + NaOH → R-COO–Na+
+ H2O (10)
2RCOONa + ZnSO4 → (RCOO)2Zn + Na2SO4 (11)
(RCOO)2Zn + H2SO4 → 2RCOOH + ZnSO4 (12)
V́ bi nhựa acide yếu
có khả năng cầm giữ tốt đối với những cations đa hóa trị (cations
polyvalents) hơn là đối với những cations đơn hóa trị (cations
monovalents) hơn nửa sự phục hồi rất tốt, nên người ta có thể dùng
bi nhựa acide yếu để cầm giữ chọn lọc (fixer sélectivement) những
kim loại divalents hoặc trivalents ngay cả có sự hiện diện của những
cations kiềm (cations alcalins) ở nồng độ cao. Muốn như vây người ta
cho bi nhựa acide yếu này dưới dạng monovalente.
(phản ứng 10)
Dưới dang này sự thay đổi với một muối trung
tính có thể xảy ra thí dụ (phản ứng 11)
Và cuối cùng bi nhựa được phục hồi bằng acide
HCl hoặc H2SO4. (phản ứng 12)
2) Thay đổi ions anionique
a) Thay đổi tổng quát
Giống như trong quá tŕnh xử lí nước, bi nhựa
này dùng để loại trừ những acide hửu cơ, những nitrate có trong nước
cũng như trong công nghệ xử lí các kim loại ở môi trường dung dịch,
bi nhựa được dùng thông thường là bi nhựa anions mạnh dưới dạng
chlorure
(phản ưng 13, 14 và 15)
và bi nhựa được hồi phục với chlorure de sodium bởi phản ứng ngược.
R+ Cl– + Na+ NO3–
R+
NO3– + Na+ Cl– (13)
nR+ Cl– + (Na+)n
(humate)n–
(
R+ )n (humate)n– + nNa+Cl–
(14)
R+ Cl– + Na+ ((Au
(CN) 2 )) –
R+
((Au(CN) 2 )) – + Na+ Cl–
(15)
R+ tượng trưng cho bi nhựa
anioniques
b) Bi nhựa anionique mạnh ( résine
fortement basique)
Bi nhựa này có mục đích cầm giữ (fixer) các
loại ions acides như chlorure, gaz carbonique vv trong quá tŕnh đào
thải toàn diện chất khoáng có trong nước.
(phản ứng 16 và 17)
R+-OH– + H+Cl–
→ R+-Cl– + H2O (16)
2R+ OH– + CO2
→ ( R+) 2 CO3– + H2
O (17)
c) Bi nhựa anionique yếu (résine
faiblement basique)
RN(CH3)2 + H+Cl–
R-NH+(CH3)2
+ Cl– (18)
R-N(CH3)2 + Na+Cl–
không
phản ứng (19)
RN (CH3) 2 + SiO2
không
phản ứng (20)
RN (CH3) 2 + CO2
+ H2 O
RN
H(CH3) 2 + HCO3 (21)
Nhóm hoạt tính của loại bi nhựa này thông
thường là những amines chỉ có thể được ions hóa ở môi trường acide
có nghĩa là chỉ xử lí được với những acide mạnh như HCl hoặc H2SO4
vv (phản ứng số 18) và không
phản ứng với những chất muối trung tính
(phản ứng số 19) hoặc những acides yếu
(phản ứng số 20) hoặc phản ứng
rất ít (phản ứng 21)
RN(CH3) 2 HCl + NH4OH → RN
(CH3) 2 + NH4Cl + H2O (22)
(CH3) 2 HCl + Na2CO3
→ RN(CH3) 2 + NaCl + NaHCO3
(23)
Bi nhựa anions yếu có thể được phục hồi bằng
ammoniaque hoặc carbonate de sodium, những chất này là những bases
mạnh có thể trung ḥa tốt đối với những chlohydrates của bi nhựa bảo
ḥa. (phản ứng 22 và 23)
3) Ấp dụng
bi nhựa
Đơn vị đo
lường và những danh từ liên quan đến
kỹ thuật
phân cách bằng phương pháp chromatographie
Đơn vị đo
lường
Để có thể tính số lượng nước sản xuất cho mỗi
chu kỳ, những đơn vị tượng trưng cho nồng độ ions chứa trong
nước cần được biết trước khi xử lí :
- Ếquivalents par litre (éq/l)
hoặc milliéquivalents par litre
(mesq/l)
Thí dụ 1 :
1g
CaCO3/litre tương đương với 0,02 éq/l
Thí dụ 2 :
dung dịch chứa những cations
1 mole H+ tương ứng
với 1 équivalent H+
1 mole Ca+ + tương
úng với 2 équivalents Ca+ + (2 charge/atom)
1 mole Fe+ + + tương
ứng với 3 équivalents Fe+ + + (3 charge/atom)
Đối với những anion phương pháp tính cũng
giống như trên
Tóm lại 1
équivalent (éq) là 1 mole của charge dương hoặc âm.
Masse molaire trọng lượng của một mole : thí dụ như
masse molaire của Cl là M=35g/mol, của Na là M=23g/mol, của C là
M=12g/mol (dấu hiệu của mole là mol)
Công thức : n=m/M để tính số mol có trong dung
dịch
n : số mole (số mole được
biểu thị bằng n)
m : trong lượng của
cations hoặc anion chứa trong dung dịch được xử lí
M : trọng lương của 1 mole
Thí dụ 3 :
trong dung dịch chứa 83mg/litre của cation Ca+ +
Masse molaire của
calcium : 40 g/mole
Calcium chứa hai charge +
Số équivalents : 83/40*2=
4,1 équivalents
Những danh
từ liên quan đến phương pháp chromatographie
a) Số khay lư
thuyết (plateau théorique) : danh từ này
tượng trưng cho hiệu suất của cột ống, biểu đạt sự hoàn thiện
(finesse) của những pics trên họa đồ (xem danh từ résolution, trang
68) của những chất sau khi tháo tác được xử lí xong. Một cột ống có
thể cho rằng có N plateaux théoriques là cột ống được chia thành N
đĩa nhỏ h́nh trụ (dísque cylindrique) liên tiếp, để sự phân cách
được tốt và hiệu quả, số plateaux théorique phải nhiều, số plateaux
này được biểu thị như sau
Ns2=(tr)
N : số khay lư thuyết (plateau théorique)
s : chiều rộng của pic
tr : thời gian một chất bị giữ lại trong
cột ống (temps de rétention)
Thời gian được giữ lại của chất này phải lâu và
chiều rộng của pic của chất này phải nhỏ để có số plateau théorique
lớn.
Giả thử rằng pha di động tiến triển một cách
không liên tục nhưng từng bước nhảy (saut) từ plateau này tới
plateau khác, trong mỗi plateau người ta nhận xét sự giữ lại (rétention)
của một chất (soluté) S, từ sự cân bằng của chất này giữa pha di
dộng (Spm) và pha cố định
(Sps). Người
ta cho rằng một cột ống thật sự có N plateau théorique là cột
ông có thể cho phép xử lí như một cột ống dùng trong
lĩnh vực chưng cất với N số khay
lư thuyết (plateaux théoriques).
b) Sự giải (la
résolution) : là đơn vị đo lường chất
phẩm của sự phân cách một hỗn hợp, hai đặc tính xác định độ che phủ
(degré de couvrement) của những đỉnh điểm (pícs)
1) Khoảng cách chia cách hai đỉnh điểm của
hai pícs được đo bởi tr1 và tr2
là thời gian được giữ lại (temps de rétention) của chất 1 và chất 2
2) Chiều rộng của những pícs so với đường
đáy (ligne de base)
- Nếu so sánh kết quả của hai chất đo được
trong biểu đồ a và b (h́nh 1)
Biểu đồ a : những pícs được che phủ đều nhau
Biểu đồ b : Khoảng cách chia hai đỉnh điểm
của hai chất của biểu đồ (b) lớn hơn hai đỉnh điểm của hai chất
trong biểu đồ (a) nhưng chiều rộng so với đường đáy cùng một kết quả
như (a)
- Nếu so sánh kết quả của hai chất đo được
trong biểu đồ (b) và (c) (h́nh 2)
Biểu đồ (c) : Khoảng cách chia hai đỉnh điểm
của ( c) bằng khoảng cách chia hai đỉnh điểm của (a) nhưng chiều
rộng so với đường đáy nhỏ hơn chiều rộng của (b)
La résolution R được biểu thị bởi công thức
R=2(tr2-tr1)/(s2-s1)
tr : temps de rétention, thời gian
này càng dài hiệu quả phân cách càng lớn
s : chiều rộng của một chất (soluté)
từ đường đáy, chiều rộng này càng nhỏ hiệu quả càng lớn.

H́nh 1

H́nh 2
Kết luận : résolution c>b>a
c) Hệ số chia phần K
(coefficient de partage) :
Cơ cấu phân cách chromatographie được giải thích bởi sự khác nhau về
cách phân phối của những phân tử
chứa trong hợp chất giữa hai pha không ḥa tan với nhau, một pha di
động và pha cố định. Về phương pháp chromatographie, những thành
phần của một hợp chất được chia phần giữa hai pha. Hiện tượng này là
năng động, những phân tử đi xuyên qua liên tục từ pha này qua pha
khác và tạo ra một trạng thái cân bằng giữa hai pha, trong lúc này
tỷ lệ
của những nồng độ bằng với tỷ lệ của sự phân phối
trong hai pha và hệ số chia phần K được định như sau :
K=Cs/Cm
Cs : nồng độ có trong pha cố định
Cm : nồng độ có trong pha di động
K càng lớn, hợp chất được hấp thụ càng mạnh
trong pha cố định và thời gian được giữ lại (temps de rétention)
càng lớn.
d) Dung tích cầm
giữ (volume de rétention) : là một trong
những tham biến (paramètre) quan trong trong phương pháp
chromatographie cột ống, volume de rétention được biểu thị như sau :
Vr(ml)=tr(sec) D(ml/sec)
Vr : dung
tích cầm giữ (volume de rétention)
tr : temps de rétention (thời gian
cầm giữ)
D : tốc độ của pha di động
Thời gian cầm giữ (le temps de rétention)
thường được thay thế cho dung tích được giữ lại (volume de
rétention) và kết quả tùy thuộc vào :
- Tính chất của pha cố định
- Tính chất của pha di động
- Tốc độ của pha di động
- Chiều dài cột ống
e) Hệ số khả
năng K’(coefficient de capacité) :
Hệ số này đại khái giống như hệ số chia phần K (cofficient de
partage), v́ hệ số K’ được biểu thị tỷ lệ của trọng lượng của một
soluté (một chất trong dung dịch) trong pha cố định với trọng lượng
của một soluté khác trong pha di động. Hệ số này không biểu thị bằng
kích thước và liên quan đến thời gian được giữ lại (le temps de
rétention), không tùy thuộc vào vận tốc và chiều dài của cột ống, hệ
số này được biểu thị bằng công thức :
K’= tr-tm/tm
tr : temps de réteention của một chất
trong dung dịch được giữ lại trong cột ống
tm : temps de rétention của một chất
trong dung dịch không được giữ lại trên cột ống
f) Hệ số tuyển
lọc (facteur de sélectivité) S :
có thể gọi là hệ số phân cách, cũng không biểu thị bằng kích thước,
và bằng tỷ lệ của những hệ số khả năng K’ của hai solutés mà người
ta muốn phân cách, hệ số này được biểu thị như sau :
S= K’2/K’1=tr2-tm/tr1-tm
K’2 : hệ số khả năng của chất 2
K’1 : hệ số khả năng của chất 1
tr2 : temps de rétention của chất
2
tr1 : temps de rétention của chất
1
tm : temps de rétention của chất
không được giữ lại trên cột ống
Phần 1
Phương
pháp xử lí nước
Bi nhựa được dùng rất nhiều trong lĩnh vực hóa học, việc xử lí nước
là phương pháp cơ bản để hiểu biết dễ dàng những đặc tính của bốn
loại bi nhựa. Phương pháp này đ̣i hỏi nhiều yếu tố cần phải đề cập
đến :
- Khả năng trao đổi ions của bi nhựa (xem phần
« tính chất tổng quát của bi nhựa »
- Các loại bi nhựa
- Đơn vị đo lường cho nồng độ ions nước
- Thành phần cations và anions của nước
- Thể tích bi nhựa cho việc xử lí
1) Các
loại bi nhựa (résine)
a) Bi nhựa acide mạnh :
trong quá tŕnh xử lí nước, bi nhựa này dùng để giữ lại những
cations như calcium, magnésium, sodium, potasium và ammonium, khả
năng trao đổi tùy theo loại acide dùng để phục hồi bi nhựa, thường
th́ acide chlohydrique được dùng v́ có hiệu quả tốt nhất và có thể
cho khả năng trao đổi cao nhất c̣n acide sulfurique v́ không hoàn
toàn phân ly ở nồng độ dùng b́nh thường hơn nửa nếu trong dung dịch
xử lư chứa nhiều calcium và trong giai đoạn phục hồi nồng độ acide
sulfurique phải được pha lỏng để tránh sự kết tinh của sulfate
calcium. Khả năng hữu ich của bi nhựa tùy theo lượng acide dùng để
phục hồi, và lượng acide này cũng tùy theo số lượng cations chứa
trong nước.
b) Bi nhựa cationique
yếu : bi
nhựa này có khả năng trao đổi rất
lớn nhưng chỉ dùng để :
- Giữ lại những ions divalentes như
calcium Ca++ hoặc magnésium Mg++, bi nhựa này
dùng trong việc xử lí nước trong trường hợp TH>TAC (TH là độ cứng và
TAC là độ kiềm chứa trong nước).
- Làm giảm độ pH (pH=4-5) của nước đả
được xử lí với mục đích tồn trữ lâu.
c) Bi nhựa anionique mạnh :
bi nhựa này có khả năng giữ lại những anion mạnh và yếu như : OH–,
CO3– –, HCO3–, Cl–, SO4– –,
NO3– đặc biệt anion
silice, kim loại này không phản ứng tốt với các bi nhựa anion
yếu và nếu anions này c̣n nhiều trong nước sau khi xử lí sẽ làm hư
hại những nồi hơi nước (chaudière) nên phải kiểm tra độ silice lúc
nước ra khỏi côt ống và thỉnh thoảng nên phục hồi bi nhựa này bằng
soude nóng. Ngoài ra bi nhựa này có thể giữ lai những chất hữu
cơphần đông là những phân tử rất lớn có thể làm ô nhiễm bi nhựa và
có thể làm giảm khả năng trao đổi của bi nhựa này nên thỉnh thoảng
phải đào thải chất làm ô nhiễm bằng acide mạnh nhu HCl, giai đoạn
này đươc gọi là tẩy ô nhiễm (dépollution)
d) Bi nhựa
anionique yếu : bi nhựa này
có cinétique chậm (cinétique là vận tốc phản ứng hóa học) có khả
năng trao đổi thấp với vận tốc cao và hơn nủa chỉ giủ lại những
anions mạnh và rất ít đối với những anions yếu, nếu có gaz
carbonique (dioxyde de carbon) th́ nên thêm một côt ống « dégazeur »
giữa hai cột ống của bi nhựa anionique yếu và anionique mạnh
(dégazeur là cột ống không chứa bi nhựa được thiết kế để đào thải
gaz carbonique bằng không khí ở phần dưới của cột ống).
2) Thành
phần anions và cations của nước
Thông thường thành phần của nước trước khi được
xử lư chứa những ions sau đây :
Anions :
OH–, CO3– –, HCO3–, Cl–,
NO3–, SO4– – và những
cations : Na+, Ca++,
Mg+ + ,
ngoài ra có những ions khác với lượng nhỏ như : K+,
NH4+, Mn+ +, Fe+ +
Những ions như Ca+ +, Mg+ +
cũng như Fe+ + và Mn+ + được gọi là chất cứng
(dureté) có thể đo bằng « titre hydrotimétrique »
TH (éq/l) và những ions OH–,
CO3– –, và HCO3– được kết lập thành một nhóm
có tên là alcalinité totale và được đo bằng « titre alcalimétrique
complet » TAC (éq/l) và những
ions : Cl–, NO3– và SO4– – được kết
lập thành một nhóm có tên là SAF :
muối acide mạnh (sels d’acide forts) cuối cùng
ST (salinité totale) là tổng số của
anions và cations.
Ngoài ra c̣n có những chất acide yếu không bị
ion hóa như SiO2 và gaz carabonique CO2 tự do cộng với những chất
hữu cơ mà nồng độ được biểu thị bằng lượng permanganate de potassium
(mgKMnO4/l) cần thiết để oxy hóa những chất hữu cơ này (thông thường
ở môi trường acide đun nóng)
3) Dung
tích bi nhựa
Từ những chỉ số về khả năng trao đổi của 4 loại bi
nhựa, đơn vị đo lường, thành phần anions và cations trong nước chúng
ta có thể tính dung lượng nước sản xuất tùy theo dung tích của bi
nhựa. Thí dụ một mô h́nh thiết bị để có
thể sản xuất 1280
m3 nước vô khoáng với thành phần anions,
cations silice và các chất hữu cơ chứa trong nước trước khi xử lí :
|
|
Thành phần cations và
anions
chính trong nước thô (eau
brute) |
éq/m3 |
|
Calcium |
5 |
|
Magnésium |
1 |
|
Sodium+potassium+ammonium |
2 |
|
Chlorure |
3 |
|
Sulfate |
1 |
|
Nitrate |
0 |
|
Silice |
0,12 |
|
Chất hửu cơ |
0,1 |
|
Total |
12,22 |
|
|
|
|
Bi nhựa Duolite |
C433 |
C20 |
A378 |
A132 |
|
Dung tích bi nhựa (m3) |
3,28 |
4,56 |
5,92 |
2,02 |
|
Tổng dung tích nước sản xuất (m3) |
1292 |
1292 |
1292 |
1292 |
|
Lưu lượng (m3/h) |
80,7 |
80,7 |
80,7 |
80,7 |
|
Thời gian/chu kỳ (h) |
16 |
16 |
16 |
16 |
|
Lượng ionique (éq) |
5644 |
5312 |
5459 |
662 |
|
Khả năng trao đổi hửu ich (éq/m3) |
1720 |
1164 |
922 |
328 |
|
Đường kính của cột ống (mm) |
1600 |
1800 |
1600 |
1400 |
|
Chiều cao của bi nhựa trong
cột ống (mm) |
1632 |
1794 |
1884 |
1400 |
|
|
Duolite :
tên của xí nghiệp sản xuất bi nhựa và C433, C20, A378, A132 : tên
của bi nhựa
Số lượng acide (HCl hoặc H2SO4) và số lượng basique (NaOH hoặc
NH4OH) dùng để phục hồi các loại bi nhựa cation anion tùy theo khả
năng trao đổi của mỗi loại bi nhựa và thông thường số lượng này được
tăng lên vào khoảng 120% số lượng cần thiết để có thể đảm bảo bi
nhựa được phục hồi maximum v́ đa số trường hợp bi nhựa không thể
được phục hồi hoàn toàn.
4)
Nhiệm vụ của mỗi loại bi nhựa
- Bi nhựa
acide yếu Duolite A433 : giữ lại những cations mạnh như
calcium và magnésium đến khi có sự cân bằng giữa TA và TAC có nghĩa
là giữ lại 4 éq/m3 : (5+1+3)-(3+1)=4 éq/m3
- Bi nhựa
acide mạnh Duolite C20 : giữ lại những cations c̣n lại :
8-4=4 éq/m3
- Bi nhựa
anion yếu Duolite A378 : giữ lại nhóm SAF tức là những anions
(Cl– + SO4– – + NO3–) có nghĩa là 4
éq/m3
- Bi nhựa
anion mạnh Duolite A132 : giữ lại những anions c̣n lại sau
dégazage (dégazage là một thiết bị trung gian giữa cột ống chứa
anion yếu và anion mạnh, thiết bị này không chứa bi nhựa với mục để
đào thải khí carbonique ), ngoài ra c̣n giữ lại
SiO2 và những
chất hửu cơ, nếu nước được xử lí
có nhiều chất hữu cơ thi nên dùng bi
nhựa loại polyacrylique để tránh bị hư hại v́ những chất hữu
cơ này sẽ làm giảm khả năng trao đổi đối với bi nhựa
polystyrénique.
Những kết quả trên được tŕnh bày chỉ là một
thí dụ tổng quát để xử lí nước trong trường hợp TH>TAC, nhưng thông
thường th́ TH=TAC có nghĩa là có
sự cân bằng về lượng équivalents giữa anions và cations. Thông
thường thiết bị sẽ đơn giản hơn, cũng gồm có 4 cột ống ::
- Cột ống (colonne) đầu tiên của dăy
thiết bị chứa bi nhựa cation mạnh
có nhiệm vụ cầm giữ lại tất cả các cation mạnh và yếu đến khi có sự
hiện diện calcium ra khỏi cột ống này bằng sự thử nghiệm chất
calcium
- Cột ống thứ hai là
bi nhựa anion yếu có nhiệm vụ
cầm giữ chlorure hoặc sulfate
- Cột ống thứ ba là
bi nhựa anion mạnh có nhiệm vụ
cầm giữ lại tất cả anions mạnh và yếu gồm cả silice và những chất
hữu cơ, xử lí được tiếp tục đến khi nào có sự hiện diện của silice
- Cột ống thứ tư là
bi nhứa cation yếu có nhiệm vụ
cầm giữ lại phần ṛ rỉ sodium và ammonium từ cột ống anion mạnh và
anion yếu ngoài ra c̣n làm giảm pH của nước sản xuất để có thể tồn
trử lâu
Nước sau khi dược xử lí được gọi là nước vô
khoáng có thể dung trong nhiều xí nghiệp như auto, điện hạt nhân vân
vân và nếu lọc qua thêm giai đoạn ultra filtration th́ nước này có
thể dùng trong ngành y và dược
Phần 2
Phương pháp
sản xuất acides aminés
Có nhiều loại bi nhựa, chúng ta có thể chọn 4 loại bi nhựa thích hợp
nhất để xử lí phương pháp này
|
|
Loại bi nhựa |
Khung sườn
(squelette) |
Nhóm hoạt tính
(Groupes
Fonctionnels) |
Tỗng khả năng
trao đổi (éq/l)
(capacité total) |
Tỷ suất
phồng lến
(gonflement)
% |
Đặc tính |
|
Cation mạnh
(Fort acide) |
Poly-
styrénique |
Sulfonique |
1,8 (Na+) |
Na+ → H+
=3% |
Macroporeuse
ổn định thẩm thấu
và cơ khí rất cao |
|
Cation yếu
(Faib acide) |
Poly-
acrylique |
Carboxylique |
4,2 (H+) |
H+ → Na+
=75-100% |
Khả năng trao đổi
rất cao |
|
Anion mạnh
(Fort basique) |
Poly-
styrénique |
Ammoniaque
quaternaire
Type 2 |
1,1 (Cl–) |
Cl– → OH–
=20% |
Macroporeuse,
ổn định thẩm thấu
rất tốt,
phục hồi dễ dàng |
|
Anion yếu
(Faib basique) |
Poly-
styrénique |
Amine tertiaire |
1,7
(base libre) |
Cl– → OH–
=15-20% |
Macroporeuse
ổn định khả năng
trao đổi tốt cho các
chất hóa học hửu cơ |
|
|
1)
Nguồn gốc chất đạm :
Như đă đề cập ở phần đầu của bài này, chất đạm được t́m thấy trong
những thức ăn thực vật và động vật, trong bài này chất đạm được xử
lí chỉ có nguồn gốc từ động vật như lông gia cầm, lông heo vv cũng
c̣n được goi là « Kératine » và
xương, da (ḅ, heo vv) cũng đươc gọi là « Gélatine ».
Kératine và Gélatine là những loại chất đạm (protéine) có thể được
thủy phân để có được những acides aminés. Thành phần của hai nguyên
liệu này đại khái giống nhau, nhưng Valine và Sérine trong Kératine
nhiều hơn và Glycine it hơn Gélatine và ngược lại Kératine không có
chất Hydroxy-proline.
2)
Phương pháp thủy phân
- Kératine :
lông gia cầm thô được cung cấp từ các xí nghiệp sản xuất thịt gia
cầm, các loại lông này được rửa và lược sạch, làm ráo nước và bỏ vào
thùng lớn bằng phương pháp chế tạo đặc biệt để tránh khỏi bị ăn ṃn
(corrosion) do acide và có đầy đủ thiết bị cần thiết như nhiệt độ
kế, máy quậy vv, phương pháp thủy phân này được xử lí bằng acide
acide hoặc soude với nồng độ cao (vào khoảng 3-4N).
(N: normalité) : nồng độ đương lượng dung lượng
acide HCl được tính bằng số moles tùy theo lượng lông gia cầm được
xử lí, dung dịch acide và lông được đun nóng vào khoảng 130°C với
thời gian vào khoảng 24-36h đến khi tất cả chất đạm được hoàn toàn
thủy phân, dung dịch này được gọi là chất thủy phân (hydrolysats) là
hỗn hợp của nhiều chất như những acides aminés dưới dạng
chlohydrate, chất hửu cơ, nhiều loại khoáng chất, và nhất là một
lượng acide HCl c̣n lại chưa xử dụng hết trong quá tŕnh thủy phân,
trước khi thực hiện giai đoạn phân cách hổn hợp này ra từng acides
aminés bằng phương pháp trao đổi ion, acide tự do của dung dịch này
cần phải được chưng cất (làm bay hơi) và thu hồi lại maximum HCl )
để có thể xử lí việc phân cách dễ dàng hơn trên bi nhựa..
- Gélatine :
là một sản phẩm có được từ thủy phân một phần (hydrolyse partielle)
của collagène chiết ra từ : da heo, xương, sụn, dây chằng v.v….
Gélatine tan khi đun nóng và kết đông khi để nguội, gélatine là chất
cứng, không mùi không vị và có màu vàng lợt, thông thường gélatine
có nguồn gốc từ xương (27%), da ḅ (28%) và da heo (44%).
Phương pháp thủy phân giống như Kératine nhưng
đơn giản hơn nhiều v́ Gélatine được bán trong thị trường dưới dạng
h́nh tṛn hoặc h́nh bầu dục màu vàng lợt sau giai đoạn thủy phân một
phần (hydrolyse partielle).
3)
Thành phần AA trong dung dịch được thủy phân (hydrolysats)
|
|
Acide aminé |
Kư hiệu |
Kératine
g/l % |
Gélatine
g/l % |
|
Aspartique |
Asp |
7,67 8.23 |
5,93 5,96 |
|
Thréonine |
Thr |
5,20 5.58 |
1,95 1,96 |
|
Sérine |
Ser |
13,98 15.00 |
3,14 3,16 |
|
Glutamique |
Glu |
11,16 11.92 |
10,54 10,60 |
|
Proline |
Pro |
11,53 12.38 |
12,27 12,34 |
|
Glycine |
Gly |
8,64 9.28 |
22,10 22,22 |
|
Alanine |
Ala |
5,55 5.96 |
9,19 9,24 |
|
Valine |
Val |
7,36 7.90 |
2,69 2,71 |
|
Cystine |
Cys |
1,03 1.11 |
|
|
Methionine |
Met |
0,52 0.56 |
0,87 0.87 |
|
Isoleucine |
Ileu |
3,60 3.86 |
1,32 1.33 |
|
Leucine |
Leu |
0,52 056 |
3,28 3.30 |
|
Tyrosine |
Tyr |
0,13 0.14 |
0,76 0.76 |
|
Phenylalanine |
Phe |
6,12 6.57 |
2,39 2.40 |
|
Lysine |
Lys |
1,74 1.87 |
3,55 3.57 |
|
Histidine |
His |
2,11 2.26 |
1,59 1.60 |
|
Arginine |
Arg |
6,42 6.89 |
7,60 7.64 |
|
Hydroxyproline |
Ohpro |
|
10,27 10.33 |
|
Total |
|
93,15 99.97 |
99,44 99.99 |
|
|
4) Đặc tính
của acides aminés
|
|
Acides aminés |
Công thức |
Trọng lượng
phân tử
(poids moléculaire) |
Độ ḥa tan
(solubilité)
ở nhiệt độ 20°C |
pHi |
|
Aspartique |
C4H7NO4 |
133.10 |
0.43g/100g H2O |
2.77 |
|
Thréonine |
C4H9NO3 |
119.12 |
9.03g/100g H2O |
5.6 |
|
Sérine |
C3H7NO3 |
105.09 |
35.90/100g H2O |
5.68 |
|
Glutamique |
C5H9NO4 |
147.13 |
0.75g/100g H2O |
3.22 |
|
Proline |
C5H9NO2 |
115.13 |
155g/100g H2O |
6.3 |
|
Glycine |
C2H5NO2 |
75.07 |
22.5g/100g H2O |
5.9 |
|
Alanine |
C3H7NO2 |
89.09 |
15.8g/100g H2O |
6.11 |
|
Valine |
C5H11NO2 |
117.15 |
5.61g/100g H2O |
5.96 |
|
Cystéine |
C3H7NO2S |
121.16 |
16g/100g H2O |
5.07 |
|
Méthionine |
C5H11NO2S |
149.21 |
5.37g/100G H2O |
5.74 |
|
Isoleucine |
C6H13NO2 |
131.18 |
3.21g/100g H2O |
6.2 |
|
Leucine |
C6H13NO2 |
131.18 |
2.24g/100g H2O |
5.98 |
|
Tyrosine |
C9H11NO3 |
181.19 |
0.038g/100g H2O |
5.7 |
|
Phénylalanine |
C9H11NO2 |
165.19 |
2.62g/100g H2O |
5.84 |
|
Lysine 50% |
C6H14N2O2 |
146.19 |
|
9.74 |
|
Histidine |
C6H9N3O2 |
155.16 |
3.82g/100g H2O |
7.59 |
|
Arginine |
C6H14N4O2 |
174.20 |
14.9g/100g H2O |
10.76 |
|
OHProline |
C5H9NO3 |
131.13 |
35.8g/100g H2O |
5.82 |
|
|
6) Cột
ống (colonne)

Cột ống có ba phần chính :
A : phân phối dung dịch cho cột ống
B : bi nhựa
C : thu hồi dung dịch, phần này gồm có những
lỗ nhỏ hơn bi nhựa
- Dụng cụ chế biến cột ống : trong dung
dịch được xử lí phân ly bằng phương pháp chromatographie chứa rất
nhiều chất acides và basique với nồng độ lớn nên để tránh sự xoi ṃn
(corrosion) kim loại bởi những chất này, cột ống phải được làm bằng
kim loại đặc biệt và được bảo vệ bởi một lớp nhựa cứng.
- Chiều cao và đường kính cột ống :
kích thước (chiều cao và đường kính) cột ống tùy theo lượng sản xuất
những acides aminés cho mỗi chu kỳ xử lí.
Trong quá tŕnh xử lí có nhiều yếu tố có thể
ảnh hưởng đến kết quả của sự phân cách như :
dung tích giữa các bi nhựa (volume
interticiel) dung tích này liên quan đến đường kính của bi nhựa, nên
chọn bi nhựa với đường kính đồng nhất, thông thường những bi nhựa
bán trên thị trường và được dùng trong các công nghệ có đường kính
vào khoảng 0,3-0,6 mm, bi nhựa càng nhỏ và đều, dung tính giữa các
bi nhựa càng nhỏ, kết quả xử lí càng tốt, tiếp theo là
dung tích chết (volume mort) là
dung tích trên bi nhựa trong mỗi cột ống (cột ống càng nhiều dung
tích này càng lớn), kết quả xử lí càng giảm.
7)
Thiết bị
- Hệ thống tự động :
nhũng thiết bị cần thiết và quan trong nhất là hệ thống tự động có
mục đích làm cho việc xử lí được xảy ra một cách liên tục không bị
gián đoạn. Tốc độ chảy của dung dịch được điều chỉnh liên tục bởi hệ
thống tự động, chẳng hạn như sự điều chỉnh mực dung dịch trên bi
nhựa trong cột ống, mực dung dịch này được điều chỉnh để lúc nào
cũng ở vị trí nhất định, v́ nếu không, có hai sụ cố sẽ xảy
ra :
- Mực dung dịch lên quá cao : dung tích dung
dịch chết (volume mort) sẽ lớn làm cho kết quả xử lí bị giảm.
- Mực dung dịch xuống quá thấp : nhiều rủi
ro v́ không khí sẽ đi vào bi nhựa và sẽ làm cho tốc độ chảy bị chậm
lại có thể bị tắc nghẽn hoàn toàn.
- Thiết bị đo nồng độ
dung dịch : thiết bị này
dùng để kiểm tra nồng độ dung dịch được thu hồi ra ngoài cột ống, có
thể kiểm tra tự động hoặc bằng tay.
Những đặc tính của cột ống đươc tŕnh bày sau
đây là một thí dụ và chỉ để tham khảo và tùy theo số lượng sản xuất,
sau đó có thể dùng phép ngoại suy (extrapolation) để đáp ứng nhu cầu
cho mỗi mô h́nh tối ưu cho qui tŕnh sản xuất.
Như đă đề cập trên, hiệu xuất phân cách của cột
ống tùy theo :
- Chiều cao của cột ống
- Diện tích trao đổi ions của bi
nhựa ( diện tích này tùy theo đường kính của bi nhựa)
- Khả năng thay đổi của bi nhựa
(tùy theo số nhóm hoạt tính trong bi nhựa)
- Tốc độ chảy của dung dịch trong
cột ống
8) Thời
gian xử lí cho một chu kỳ
Chẳng hạn trọng lượng AA dùng cho mỗi chu kỳ xử
lí là 10000kg của dung dịch gélatine sau khi được thủy phân
(hydrolysats) tương ứng với 100 m3 (100g/l), và tương ứng với 76000
moles acides aminés (để có thể tính đơn giản số lượng bi nhựa chúng
ta tính trung b́nh một mole acide aminé được định là 130 g/l). V́
dung dịch được xử lí dưới dạng chlohydrate và có thêm một lượng HCl
tự do nên khả năng trao đổi của bi nhựa này sẽ bị giảm v́ phải để bi
nhựa này dưới dạng NH4+ hoặc Na+ để có thể
thực hiện được sự trao đổi và được dự tính là 0,50 éq/l thay v́
0,9-1 éq/l (khả năng maximum của bi nhựa dưới dạng H+).
vậy số dung lượng bi nhựa phải dùng là 76000/0,5 = 152000 litres
Với số lượng bi nhựa trên, nếu mô h́nh được
chọn là cột ống có đường kính là 150cm, th́ chiều cao của cột ống
là : 152000/(1.5*1.5*3.1416/4)=86m
Với chiều cao 86m của bi nhựa trong cột ống, để
có thể xử lí dễ dàng chiều cao của cột ống phải cao hơn ít nhất la
20% có nghĩa là chiều cao của cột ống là : 86*1,20=103m, thực tế
trong công nghệ khó có thể thực hiện được, nên chiều cao này được
chia ra thành nhiều cột ống nhỏ chẳng hạn như 7 cột ống, mỗi cột ống
cao 14.7m hay là 10 cột ống mỗi cột ống cao 10,3m nhưng giải đáp 2
không tốt v́ số cột ống càng nhiều, giá thành thiết bị càng cao và
dung tích chết (volume mort) càng lớn (mỗi cột ống có một volume
mort) sẽ không tốt cho kết quả phân cách. Thời gian có thể ảnh hưởng
nhiều đến giá thành của sản xuất và chiều cao của cột ống càng cao,
thời gian xử lí càng dài nhưng hiệu quả xử lí lại cao v́ vậy việc
lựa chọn chiều cao đường kính của cột ống rất quan trọng để có thể
đạt kết quả tối ưu cho sản xuất. Nếu lấy mô h́nh 7 cột ống, thời
gian cần thiết để xử lí cho một chu kỳ được tính như sau :
Thời gian xử lí dung
dịch (percolation)
Nếu đường kính của bi nhựa được chọn cho việc
xử lí này là 0,3-0,6 mm và đường kính của cột ống được chọn là 150cm
th́ tốc độ được định trung b́nh 10m3/h, với tốc độ này thời gian cần
thiết để xử lí dung dịch là : 100/10=10
h
Thời gian đẩy bằng nước
(poussage à l’eau)
Sau khi sự ngâm chiết (percolation) được xử lí
xong, giai đoạn kế tiếp là sự đẩy bằng nước (poussage à l’eau) để có
một khoảng cách biệt rơ ràng giữa hai giai đoạn ngâm chiết
(percolation) và tách rửa (élution) thời gian đẩy bằng nước
(poussage à l’eau) :
20,6 (chiều cao cột ông) *((1,5*1,5*3,1416)/4))/10= 3h35/cột
ống
nếu dùng 7 cột ống dưới dạng NH4+ và 1
cột ống dưới dạng H+ tổng thời gian cho pha này là
3h35*8=28h35
Thời gian tách rửa
(élution)/cột ống :
Lúc này bi nhựa dưới dạng H+ nên
khả năng trao đổi được tính là 0,9-1éq/l, bi nhựa dùng cho cột mỗi
cột ống là 21,7m3 tức là phải dùng 21700 éq ammoniaque/cột ống với
nồng độ là vào khoảng 0,3N v́ nếu dùng nồng độ cao hơn sẽ gây ra sự
kết tinh của một vài acides aminés v́ độ ḥa tan của những acides
aminés này rất nhỏ, với tốc độ 10m3/h tương đương với
10000*0,3=3000éq/h vậy thời gian cần thiết để cho giai đoạn này là :
21700/3000=khoảng 9h15/cột ống. tổng thời gian cho giai đoạn này :
9h15*8=74h.
Sau giai đoạn này có thêm một giai đoạn đẩy bằng nước
(poussage à l’eau) tức là thêm 28h35.
Thời gian phục hồi không tính v́ bi nhựa sau giai đoạn tách rửa
(élution) đươc để dưới dạng ammonium và có thể xử lí cho chu kỳ tiếp
theo sau khi hoàn thành giai đoạn chuẩn bị bằng ḍng chảy ngược
chiều (contre courant). Sau mỗi chu kỳ số bi nhựa bị hư hại nhiều
hay ít tùy theo việc xử lí được xảy ra b́nh thường hay không và thời
gian để thực hiện giai đoạn này nhanh hay lâu, trung b́nh vào khoảng
3h*8=24h mục đích để đào thải bi
nhựa bị nát, những chất thể vẩn nổi trên bi nhựa và những cặn bả
phát sinh trong suốt quá tŕnh xử lí.
Vậy tổng thời gian maximum cho một chu kỳ xử
lí là : 165h,
thời gian này có thể giảm
nếu trong quá tŕnh xử lí không bị gián đoạn và có thể bắt đầu chu
kỳ kế tiếp N+1 trên cột ống C1 mặc dầu việc xử của chu kỳ N chưa
hoàn tất.
Phương pháp phân cách được chia ra làm 2 giai
đoạn :
1) Giai đoạn tiền phân cách thành
nhiều nhóm
2) Giai đoạn phân cách AA từ mỗi
nhóm
Giai đoạn
tiền phân cách thành
nhóm AA
Hoặc giai đoạn « PS » (préséparation)
Mục đích của giai đoạn này là đào thải HCl c̣n
lại sau giai đoạn chưng cất và tiếp theo là phân cách hợp chất ra
thành nhiều nhóm theo thứ tự tùy theo đặc tính của mỗi AA có nghĩa
là từ AA acide đến AA basique:
Nhóm F1 : gồm có những AA như : aspartique,
glutamique, thréonine, sérine
Nhóm F2 : gồm có những AA như : nhóm F1
(nồng độ nhỏ + hydroxyproline
Nhóm F3 : gồm có những AA như :
hydroxyproline (nồng độ nhỏ),thréonine, sérine, proline
Nhóm F4 : gồm có những AA như : proline,
alanine, valine, glycine
Nhóm F5 : gồm có alanine, valine, glycine
Nhóm F5 : gồm có những AA như :alanine,
valine, glycine, leucine, isoleucine
Nhóm F6 : gồm có những AA như : nhóm F5
(nồng độ nhỏ) , méthionine, phénylalanine
Nhóm F7 : gồm có những AA như : nhóm F6
(nồng độ nhỏ), hístidine
Bảy nhóm trên được thu hồi từ cột ống C8 (bi
nhựa dưới dạng H+)
Nhóm F8 : gồm có như AA như arginine, lysine
và nhiều chất hữu cơphát sinh trong quá tŕnh thủy phân được thu hồi
từ cột ống C1 bằng giai đoạn tẩy rửa lần thứ hai (réélution) với
ammonique có nồng độ lớn hơn 3N.
Tóm lại để xử lí giai đoạn này, mô h́nh được
chọn là 7 cột ống có chiều cao 14,7m và đường kính của cột ống 1,5m,
bi nhựa được chọn lựa là bi nhựa cation mạnh dưới dạng NH4+,
số lượng bi nhựa cho việc xủ lí là 152000 litres, tốc độ vào khoảng
10m3/h và lượng hợp chất acides aminés được xử lí là 76000 moles

Mô h́nh mẩu
Mô h́nh mẩu này có 7 cột ống với bi nhựa dưới
dạng NH4+ và 1 cột ống dưới dạng H+
Như đă đề cập trên, những bi nhựa cation mạnh
dưới dạng NH4+ có khả năng trao đổi vào khoảng 0,5-0,6
éq/litre và bi nhựa cation mạnh dưới dạng H+ có khả năng
trao đổi vào khoảng 0,9-1,0 éq/litre.
Sự phân cách của giai đoạn này khá phức tạp,
trước tiên ta hăy dùng những kư hiệu của bi nhựa dưới dạng NH4+
và các loại acides aminés (AA) dưới dạng chlohydrate như sau :
Bi nhựa
cation mạnh dưới dạng NH4+ :
R–NH4+
Acides aminés dưới
dạng Chlorhydrate :
®COO+Cl–
R– : bi nhựa cation mạnh
®COO+ : acides aminés
Phản ứng
giữa dung dịch và bi nhựa
Khi dung dịch tiếp xúc với bi nhựa, nhiều phản
ứng xảy ra một cách liên tục và phức tạp trên một phần của bi nhựa
(được gọi là khay lí thuyết : plateau théorique) nếu trên bi nhựa
của cột ống C1 chúng ta cho rằng có N (x) plateaux, dung dịch chảy
theo chiều từ trên xuống dưới, khi dung dịch này tiếp xúc với bi
nhựa ở plateau N (1), có 2 phản ứng :
Phản ứng 1
giữa acide tự do H+Cl– trong dung dịch với R–NH4+
của bi nhựa :
(R–NH4+)
+ (H+Cl–) → (R–H+)
+ (NH4+Cl–) (1)
Sau khi bi nhựa trên plateau N (1) được bảo ḥa
bằng ion H+, phản ứng 2
tiếp theo là giữa bi nhựa bây giờ dưới dạng acide R-H+ và
acides aminés dưới dạng chlorhydrate
( R–H+)
+ (®COO+Cl–) → (R–®COO+)
+ (HCl) (2)
Sau phản ứng này bi nhựa trên plateau N (1)
được bảo ḥa bởi những AA và HCl phát sinh được ḥa lẩn với acide
trong dung dịch và tiếp tục phản ứng với R– NH4+
của bi nhựa ở plateau N (2)
Trong lúc này bi nhựa của plateau N (2) vẩn c̣n
dưới dạng NH4+ và những phản ứng tương tự được tiếp tục
đến plateau cuối cùng của mỗi cột ống và để kết thúc giai đoạn xử lí
dung dịch này những phản ứng xảy ra liên tục đến cột ống cuối cùng
C7
Trong phản ứng 2
acides aminés được gắn đính vào bi nhựa ở vi trí plateau N (1), v́
mỗi acides aminés có những ái lực khác nhau trên nhóm hoạt tính của
bi nhựa nên sự gắn đính này cũng khác nhau, những acides aminés có
pHi lón và có ái lực lớn đối với bi
nhựa nên được giữ lại ở phần trên
của cột ống có nghĩa là ở plateau N (1)
và những acides aminés có pHi nhỏ hơn
được giữ đính lại ở
plateau
N (2) từ
đó chúng ta có thể suy luận rằng có sự sắp xếp của tất cả các acides
aminés trong dung dịch trên bi nhựa tùy theo giá trị pHi của mỗi
chất acide aminé. Hiện tượng này được xủ lí trong suốt chiều cao của
7 cột ống
Sau giai đoạn xử lí dung dịch (percolation) và
giai đoạn đẩy bằng nước (poussage à l’eau), nếu sự xử lí không có
vấn đề, tất cả bi nhựa trong 7 cột ống được bảo ḥa bởi tất cả các
acides aminés
Để biết bi nhựa được bảo ḥa (saturation) hay
quá bảo ḥa (sursaturation) có nghĩa là số lượng équivalents của tất
cả acides aminés bằng hoặc lớn hơn số lượng équivalents của nhóm
hoạt tính của bi nhựa, để tránh có vấn đề quá bảo ḥa số lượng
acides aminés phải nhỏ hơn khả năng trao đổi hữu ích (capacité
utile) của bi nhựa, có hai dụng cụ có thể dùng cho sự kiểm tra này :
Máy kiểm tra
pH của dung dịch chảy ra ngoài cột ống C7
Máy đo nồng độ của
dung dịch (réfractomètre)
Sau hai giai đoạn xử lí trên dung dịch muối
chlorure d’ammonium
được đào thải ra ngoài cột ống C7 với nồng độ khoảng 15-20% và pH
trung tính (pH≈7).Dung dịch muối này có thể là
chlorure de sodium nếu bi nhựa
trước khi xử lí được đặt dưới dạng Na+ có nghĩa là trong
giai đoạn tẩy rửa (élution) thay v́ dùng NH4OH ta dùng NaOH).
Sau giai đoạn « poussage à l’eau » côt ống C1
được bảo ḥa bởi những acides aminés có pHi lớn như Arginine, Lysine
và những acides hữu cơ với phân tử lớn v.vvvv.
Sau giai đoạn đẩy bằng nước (poussage à l’eau)
trên C1 tiếp theo là giai đoạn tách rửa (élution), trong giai đoạn
này, ammoniaque≈ 0,3N được dùng để đẩy những AA (acides aminés) ra
khỏi bi nhựa với nồng độ dung dịch vào khoảng 5% (để tránh sự kết
tinh của vài loại AA có độ ḥa tan nhỏ), sự phân cách này tùy theo
pHi của mỗi AA, những AA có pHi nhỏ được đẩy ra trước và những AA có
pHi lớn như Arginine, Lysine được giữ lại C1, để có thể đẩy hai AA
này ra khỏi cột ống C1 phải dùng ammoniaque 3-4N, số lượng
ammoniaque dùng trong giai đoạn này tương đương với số équivalents
của khả năng trao đổi của bi nhựa trong cột ống C1.dung dịch được
tách rửa với ammoniaque 3-4N được thu hồi ra ngoài cột ống C1 này có
tên là F8 (xem mô h́nh mẩu).
Trong giai đoạn đẩy bằng nước (poussage à
l’eau) dung dịch chlorure d’ammonium được truyền qua từ C1 qua C2 và
tiếp tục đến cột ông C7 và được thu hồi từ cột ống này.
V́ việc xử lí này được tháo tác trên bi nhựa
cation dưới dạng NH4+ nên sự phân phối AA trong 7 nhóm
không được tốt nên giai đoạn này cần thêm một cột ống C8 với bi nhựa
cation dưới dạng H+ để cải tiến sự phân cách các AA. Sau
cùng chúng ta thu hồi được tất cả các AA đuợc phân phối trong 7
nhóm: F1→ F7 (trừ 2 AA: arginnine và lysine trong F8 đă được thu hồi
từ C1).
Giai đoạn
phân cách từng AA
Phương pháp này phần đông dựa trên sự khác biệt
của pHi của các AA và đặc tính của mỗi loại bi nhựa thích hợp cho sự
phân cách (xem tài liệu « séparation technologies của RHOM &HAAS »
1) Nhóm F1
Nhóm này gồm có những AA: Aspartique, Glutamique,
Thréonine và Sẻrine, nhóm này được chia thành hai nhóm nhỏ : Asp+Glu
(F1a) và Thré+Ser (F1b)
Có ba giai đoạn để phân cách nhóm này :
a) Dùng bi nhựa
anion yếu : bi nhựa này có đặc tính phản ứng với các
acide mạnh nên có thể giữ lại dễ dàng hai acide như Aspartique và
Glutamique và không có phản ứng với hai acide Thréonine và Sérine.
Trước khi xử lí giai đoạn này, để tránh có sự quá bảo ḥa đối với
hai AA Asp và Glu, số lượng khả năng trao đổi của bi nhựa hữu
íchphải bằng hoặc lớn hơn số équivalentes của hai AA Asp và Glu để
có thể giữ lại tổng số lượng của hai AA này có nghĩa là phần dung
dịch quá bảo ḥa chỉ chứa có hai chất
acide aminés Thréonine và Sérine.
b) Sau giai đoạn đẩy bằng nước (poussage à
l’eau) bi nhựa được phục hồi bằng ammoniaque NH4OH và người ta có
thể thu hồi được hai AA Aspartique và Glutamique dưới dạng ammonium
cũng đươc gọi là glaspate d’ammonium,
từ dung dịch này người ta có thể dùng phương pháp hóa học để tinh
chế hai chất Aspartique và Glutamique bằng sự khác biệt của độ ḥa
tan của hai chất này.
c) Phân cách hai chất Thréonine và Sérine : v́
pHi của hai AA này rất gần nhau (Thré=5,6 và Ser=5,68) nên khó có
thể phân cách hai chất này bằng phương pháp thay đổi ion, người ta
dùng bi nhưa như một chất
có nhiều lỗ xốp (xem trang 8) và
phân cách hai AA này bằng sự loại trừ
(par exclusion) bởi sự khác nhau về trọng lượng phân tử
(poids moléculaires) Thré : 119,12, Ser : 105,09.
Để xử lí sự phân cách này người ta dùng bi nhựa
có khả năng hấp thụ lớn như bi nhựa
cation yếu dưới dạng NH4+,
để xử lí sự phân cách , hiệu quả của tháo tác này
tùy thuộc nhiều vào chiều cao của cột
ống, bi nhựa cation yếu dưới dạng NH4+ có thể xử
lí như sàn lọc phân tử (tamis
moléculaire), Thré là phân tử lớn hơn Ser nên những phân tử
Thré sau đi vào những lổ xốp bị đẩy ra ngoài và được thay thế bởi
những phân tử Ser nhỏ hơn, sau giai đoạn « percolation » và giai
đoạn « poussage à l’eau » trong giai đoạn này, nước được pha thêm
với ammoniaque với nồng độ nhỏ để bù trừ NH4+ bị mất
trong suốt chu kỳ xử lí và cũng có mục đích cho bi nhựa dưới dạng
NH4+, sau giai đoạn này phân tử Ser được thay thế bởi
những phân tử ammoniaque nhỏ hơn và việc xử lí được tiếp tục đến khi
hai AA Thré và Ser hoàn toàn bị đẩy ra ngoại cột ống, chúng ta sẽ
thu hồi được hai phần dung dịch, phần đầu
chứa Thré và phần sau chứa Sér, chu kỳ xử lí tiếp theo có thể
bắt đầu sau khi hoàn thành tháo tác chuẩn bị « détassage » bằng ḍng
chảy ngược (contre courant)
2) Nhóm F2
Nhóm này gồm có những AA như : (Asp,Glu,Thré, Ser) nồng độ nhỏ và
OHPro. Để xử lí giai đoạn này chúng ta
dùng bi nhựa anion mạnh, bi
nhựa này có đăc tính phản ứng với những acide mạnh và yếu, bởi sự
khác biệt pHi của 6 chất trên, pHi : OHPro=5,82, Ser=5,68, Thré=5,6,
Glu=3,22 và Asp=2,77. Sau khi xử lí, qua giai đoạn đẩy bằng nước
(poussage à l’eau) chúng ta thu hồi phần
quá bảo ḥa chỉ có OHPro và phần bảo ḥa gồm có những chất :
Glu, Âsp, Thré và Sér, qua giai đoạn tẩy rửa (élution) bằng acide
HCl với nồng độ vào khoảng 0,5N với mục đích có được sự chọn lọc tốt
« sélectivité » với nồng độ vào khoảng 4-5% thu hồi bằng những phần
« fractions » nhỏ, phần đầu là OHPro, kế tiếp là nhóm Ser+Thré sau
cùng là Asp+Glu dưới dạng chlohydrate
Ghi chú : Nhóm Ser và Thré có thể được
pha trộn vào phần ( c ) của nhóm F1
3) Nhóm F3
Nhóm này gồm có những AA như : OHPro (nồng độ nhỏ), thành phần chính
là Pro, Ala và Val, pHi của 4 chất AA này : OHPro=5,82, Pro=6,3,
Ala=6,11 và Val=5,96. Để xử lí nhóm này người ta
dùng bi nhựa anion mạnh,
phần quá bảo ḥa là chất Pro, và
trong giai đoạn tẩy rủa (élution) bằng acide HCl với nồng độ nhỏ
(0,3-0,4N) và thu hồi những phần (fraction) với dung lượng nhỏ để có
thể phân cách tốt Ala đối với OHPro và Val. Trong giai đoạn này hai
yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phân cách là pHi và độ lớn của phân
tử của hai chất OHPro và Val. Mặc dầu pHi của Val lớn hơn pHi của
OHPro nhưng phân tử của chất này là một :
amine secondaire cyclique được
gọi là secondaire v́ chỉ có một nguyên tử hydrogène được dính liền
với nguyên tử azote.
Pro cũng có tên là
acide Pyrrodine-2-carboxylique và
OHPro có tên là acide
L-trans-n-Hydroxy-Pyrrodine-2-carboxylique
và có trọng lượng phân tử lớn hơn Val (Pro và OHPro
là hai phân tủ trong đó nguyên tủ azote được dính liền với một cycle
aromatique). Những phần (fraction) nhỏ được thu hồi trong giai đoạn
tẩy rửa « élution » :
a)
Pro+Ala, kế tiếp là
b)
Ala+OHPro, ké tiếp là
c)
Ala, kế tiếp
d)
Ala+Val và sau cùng là
e) Val
Những nhóm chưa được phân cách có thể pha trộn với những nhóm khác
chứa cùng một hổn hợp và được xử lí với phương pháp như trên.
Nhóm F4
Nhóm này gồm có những AA như : Pro, Ala,Val, Gly, pHi của những AA
này là :Pro :6,3, Ala=6,11, Val=5,96, Gly : 5,9. V́ thành phần của
các AA trong nhóm này đại khái tương đương nên khó phân cách từng
AA, nhóm này được xử lí tuần hoàn
(recyclage) lại phần tiền phân cách (phân cách thành từng nhóm)
« PS » cho chu kỳ kế tiếp trước giai đoạn tẩy rửa « élution ».
Nhóm F5
Nhóm này gồm có những AA như : Alanine, Valine và Glycine, pHi của
Ala : 6,11, Val : 5,96 và Gly : 5,9 Để xử lí nhóm này người ta
dùng bi nhựa anion mạnh,
phần quá bảo ḥa chứa Alanine, giai
đoạn « élution » được xử lí bằng acide HCl với nồng độ rất nhỏ (vào
khoảng 0,4N) để có thể thu hồi được dung dịch với nồng độ vào khoảng
4-5% bằng nhiều phần dung lượng nhỏ, những thành phần này chứa :
Ala + (Ala,Val) +
Val + (Val,Gly). Hai nhóm
chưa phân cách Ala,Val và Val, Gly được xủ lí tuần hoàn (recycler)
trên nhóm F5 sau giai
đoạn « percolation ». Mặc dầu pHi của Gly
nhỏ hơn pHi của Val và Ala, nhưng trọng lượng phân tử (poids
moléculaire) của Gly nhỏ nhất trong tất cả các AA nên được thu hồi ở
phần cuối của cột ống..
Nhóm F6
Nhóm này gồm có những AA như : (Ala, Val) nồng độ nhỏ, Gly, Ileu,
leu, Mét, Tyr và Phé, pHi của : Ileu : 6,2, Leu : 5,98 Mét : 5,74,
Tyr : 5,7 và Phé : 5,84. Để phân cách nhóm này người ta
dùng bi nhựa anion mạnh,
phần quá bảo ḥa chứa Ala,Val, Gly, Ileu, Leu. Để phân cách Ileu và
Leu ra khỏi nhóm này, người ta có thể dùng phương pháp kết tinh
(cristallisation) hai chất này v́ độ ḥa tan nhỏ hơn các chất khác
trong nhóm.
Để tránh sư kết tinh của Phé và Tyr trong cột
ống v́ độ ḥa tan của hai chất này rất nhỏ, trong giai đoạn tẩy rửa
(élution) người ta dùng HCl vớ nồng độ rast nhỏ (0,2-0,3 N) Sự thu
hồi này được chia ra nhiều phần với dung lượng nhỏ,
phần đầu chứa Phé và phần cuối theo
thứ tự chứa (Phé+Mét), Mét
và sau cùng là Mét+Tyr+acides hữu cơvà HCl hổn hợp này thường hay
được kết tinh v́ phần chính là Tyr với một lượng nhỏ Mét, v́ kết
tinh của Tyr nên nhóm này không thể được xử lí trên cột ống nên có
thể được đào thải, c̣n nhóm Phé+Mét được xử lí tuần hoàn (recyclage)
lại cho chu kỳ kế tiếp sau giai đoạn « percolation » của nhóm F6.
Nhóm F7
Nhóm này gồm có những AA như : nhóm F6+ Histidine , pHi của Hís :
7,59
Người ta dùng bi
nhựa cation yếu dưới dạng H+ để xử lí nhóm này, dưới dạng
này bi nhựa chỉ phản ứng với chất base lớn như Histidine và không có
phản ứng với những AA khác trong nhóm như Ala, Val, Ileu, Leu và
Phé. Trong giai đoạn « percolation » phần quá bảo ḥa chứa Ala, Val,
Ileu, Leu và Phé, c̣n phần tẩy rửa « élution »,người ta dùng acide
acétique có nồng độ lớn vào khoảng 3-4N và His đươc thu hồi dưới
dạng Acétate Hístidine. Phần quá
bảo ḥa có thể được xử lí tuần hoàn lại ở phần phân cách thành nhóm
AA « PS » và trước giai đoạn tẩy rửa (élution).
Nhóm F8
Nhóm này gồm có những AA như Lys, Arg và nhiều
chất acides hữu cơ (những phân tử rất lớn) phát sinh trong giai đoạn
thủy phân, pHi của Lys : 9,740 Arg. 10,76 bởi sự khác biệt này người
ta
dùng bi nhựa anion mạnh
để xử lí nhóm này,
phần quá bảo ḥa chứa Arg, trong
giai đoạn tẩy rửa « élution » nên thu hồi bằng những phần với dung
tích nhỏ để có thể phân cách rỏ ràng chất Arg c̣n lại với
Lys. Trong giai đoạn phục hồi thỉnh
thoảng nên dùng NaCl để có thể đào thải những chất ô nhiễm
(dépollution) như những chất hóa học hưu cơ c̣n tồn trữ trong bi
nhựa.
Phương pháp xử lí Kératine cũng giống như Gélatine chỉ có sự khác
biệt là trong nhóm F2 và F3 không có OHProline và chỉ có Proline.
Phần kết
Ứng dụng
Sau khi phân cách ra từng acide aminé, những AA này c̣n ở thể lỏng
và cần phải được xử lí qua nhiều phương pháp tinh chế lư hóa như :
tẩy màu, lọc cực vi (ultrafiltration), kết tinh để được những thành
phẩm hoàn toàn theo tiêu chuẩn quốc tế có thể áp dụng trong lĩnh vực
y và dược. Trong ngành dược các AA có thể dùng như những chất thuốc
bổ phụ gia và trong ngành y những AA có thể dùng rất nhiều cho những
bệnh nhân không thể nuôi dưỡng bằng đường tiêu hóa có nghĩa là những
acides aminés này được đưa vào thân thể bằng những ống chích như
phương pháp vô nước biển.
Ngoài ra acides aminés c̣n được dùng để tổng
hợp nhiều loại thuốc có tác dụng đặc trị cho sự điều chỉnh chứng
tăng huyết áp, làm đào thải ammoniaque dư thừa trong máu, chống lại
sự suy nhược (trạng thái trầm uất), điều trị sự giảm sút chất khoáng
như calcium, magnésium, sodium, potassium) qua trung gian của những
chất muối của acides aminés vân vân.
Ẩnh hưởng
đến môi trường
Phương pháp chromographie áp dụng để phân cách những chất acides
aminés như trên có thể làm ô nhiễm rất lớn đến môi trường và cũng
tùy theo số lượng sản xuất v́ phương pháp này cần một số lượng nước
rất lớn và trong nước thải từ những cột ống phần đông c̣n chứa rất
nhiều chất hửu cơ, cặn bă của acides aminés không có giá trị thương
mại và nhất là những chất muối khoáng (sel minéraux), nên công nghệ
này cần một hệ thống xử lí nước thải lớn để có thể đào thải hoàn
toàn những hợp chất nitơ (composés azotés) và những chất hữu cơ. Một
phần chất thải chứa muối khoáng ammôniac (sel minéraux ammoniacaux)
được làm bay hơi (để có được nồng độ cao và làm dễ dàng cho việc
chuyên chở) và có thể dùng trong kỷ nghệ phân bón.
Phương pháp được tŕnh bày trên, ngoài kỷ
thuật chế biến những acides aminés c̣n có thể áp dụng bi nhựa trong
nhiều lĩnh vực khác như trong công nghệ thực phẩm, dầu hỏa, công
nghệ điện hạt nhân và trong kỷ nghệ tinh chế các loại kim loại hiếm
vân vân.
Tham khảo
- Séparation technologies : échange d’ions principes
et applications ROHM and HASS
- Amberlite : résines échangeuses d’ions
- Duolite : resines échangeuses d’ions propriétés et
applications ROHM and HASS
- Inorganic ion exchanges : C.B.Amphlett
- Sister Martinette Hagen : Clathrate Inclusion
Compounds
- Charles.K.Horch : Molecular sieves
- R.Petits : Les sas moléculaire en chimie organique
- Selective adsorption of some hydrocarbons by
synthetic zeolites of the X type C.A(1966) 65 16765
- Traité de chimie organique tập 13 : Melle
P.Amagat, P.Brun, P.Bruylants, A.Morel 1950
- Traité de chimie organique (Chromatographie tập 3)
quyển 2 (applications en chimie biologique) E . LEDERER xuất bản
1960
|
Vài lời
tâm sự
Bài viết này thực hiện được phần lớn v́ đă hứa
với người bạn thân đă ra đi quá sớm, anh Nguyễn văn Chuyển, một
người bạn đă để hết tâm sức ḿnh cho nghiên cứu, cho khoa học, góp
công rất nhiều vào những hội thảo ở Việt-Nam về dinh dưỡng, bài này
viết lên đặc biệt để tưởng nhớ đến người đă mất và tác giả cũng rất
hănh diện được góp một phần nhỏ về dinh dưỡng vào tủ sách của
anh.
|
|
|
* Vài
hàng về anh Nguyễn Hoàng Anh.
Anh Nguyễn Hoàng Anh qua Nhật năm 1963. Sau khi xong
chương tŕnh học tiếng Nhật anh vào Đại học Kyoto. Theo anh
Anh cho biết sempai của anh lúc đó là anh Nguyễn Trung Chí và
anh Nguyễn Đại Ca. Anh theo học môn hóa học cơ khí (kikai
kagaku). Sau khi tốt nghiệp anh ở lại cao hoc thêm một năm.
Năm 1969 anh qua Pháp. Tại đây anh làm việc cho viện nghiên
cứu đại học Marie-Curie Paris. Sau đó anh làm việc cho một xí
nghiệp cách Paris 125 km, xí nghiệp này chuyên sản xuất những
chất amino acides có thể gọi là xí nghiệp hóa dược, anh chịu
trách nhiệm về bộ môn phương pháp và sản xuất (méthode et
production). Hiện giờ anh đă nghỉ hưu và đang sinh sống ở
Paris.
|
|
|