QUẢ ĐẤT - QUÊ HƯƠNG

 

Dẫn nhập  : Lịch sử của lịch sử
Chương I   : Thời đại toàn cầu
Chương II  : Tấm thẻ căn cước địa cầu
Chương III : Sự hấp hối toàn cầu 
Chương IV : Mục tiêu của người trái đất chúng ta
Chương V : Cái chủ nghĩa hiện thực không thể có 
Chương VI : Chính trị nhân loại
Chương VII : Cải  tạo  tư  duy
Chương VIII : Phúc âm  của sự  trầm  luân
Kết luận
Chương VIII
Phúc âm của sự trầm luân


Đánh mất sự cứu rỗi, cuộc phiêu lưu vô định

Nếu có những phi hành gia vũ trụ, th́ con đường bay của họ giữa chùm sao Thất nữ có lẽ sẽ không biết đến dải Ngân hà hẻo lánh và sẽ vượt qua rất xa cái mặt trời ngoại vi nhỏ bé mang trong quỹ đạo của nó cái hành tinh quả đất tư hon này của chúng ta.

Như Rôbinsân trên ḥn đảo của ḿnh, chúng ta đă bắt đầu gửi đi những tín hiệu về phía các ngôi sao, nhưng cho đến giờ vẫn chưa thấy ǵ và có lẽ rồi vĩnh viễn cũng chẳng thấy ǵ. Chúng ta đă hoàn toàn bị bỏ rơi trong vũ trụ.

Vũ trụ mênh mông này chính nó cũng đang đi vào cơi trầm luân. Nó đă sinh ra, th́ rồi sẽ chết. Nó đang tự phân hoá với một vận tốc điên cuồng, trong khi những tinh cầu va chạm vào nhau, nổ tung, tan vỡ. Mặt trời của chúng ta đang kế tục hai hoặc ba vừng nhật khác đều đă chết trước đó, và chính nó rồi cũng sẽ tự thiêu cho đến lụi tàn. Tất cả những sinh vật được ném vào đời mặc dù chúng không hề đ̣i hỏi việc đó, rồi chúng cũng sẽ bị vứt vào sự chết mặc dù đâu muốn thế. Chúng sống giữa cái hư vô ở sau lưng và hư vô trước mặt, vây quanh chúng cũng toàn là hư vô.

Không chỉ có những cá nhân mới bị tiêu vong nhưng sớm muộn rồi loài người, rồi những dấu tích cuối cùng của sự sống và sau đó là trái đất cũng phải tiêu vong. Bản thân vũ trụ cũng đang đi về cơi chết, bất kể theo kiểu tan ră toàn diện hay bằng kiểu nổ ngầm để trở về khởi thuỷ... Từ cái chết của thế giới này có lẽ sẽ sinh ra một thế giới khác, nhưng cái thế giới của chúng ta rồi sẽ phải chết, không có cách ǵ cứu văn được. Vũ trụ của chúng ta tất yếu phải mai một. Chúng ta rồi cũng vậy thôi !

Thế giới thuộc về chúng ta này rất mềm yếu từ gốc rễ, hầu như là một thực thể không đặc. Nó ra đời từ một sự kiện ngoài ư muốn, có lẽ từ một sự biến chất của vô tận nếu không phải là nó đă sinh ra từ hư vô. Dù sao đi nữa, cái vật chất mà chúng ta biết được trong vật chất của vũ trụ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, mà vật chất hữu cơ lại chỉ là cái bộ phận cực nhỏ trong cái bộ phận vốn đă cực nhỏ này. Đó là những kết cấu giữa những thực thể vật chất, những nguyên tử, phân tử, tinh thể, sinh vật đă ngưng kết và trở thành hiện thực trong tinh thần chúng ta. Chính những cái đột biến thoát ra từ những kết cấu đó, cuộc sống, ư thức, cái đẹp, t́nh yêu đă trở thành giá trị đối với chúng ta. Nhưng những đột biến này lại rất mong manh và ngắn ngủi như một đoá hoa tươi đang độ nở, như hào quang của một khuôn mặt, như một thoáng t́nh yêu.

Sự sống, ư thức, t́nh yêu, sự thật, sắc đẹp đều chóng tàn. Những sản phẩm tuyệt vời này tất phải đ̣i hỏi các kết cấu tổ chức, những cơ may hăn hữu và biết bao nguy cơ có thể chết không ngừng chờ đợi nó. Đối với ta, chúng là nền móng mà chính bản thân chúng lại không hề có nền móng. Không có ǵ có nền móng tuyệt đối được. Chung quy, tất cả đều vô danh và vô h́nh. Tất cả đều sinh ra trong một hoàn cảnh riêng biệt và tất cả những ǵ có sinh đều có tử.

V́ thế, những đột biến cuối cùng, những sản phẩm cuối cùng của sự tiến triển, đấy là ư thức và t́nh yêu, chúng phải được xem như những tiêu chuẩn hàng đầu, những nguyên tắc tối cao.

Nhưng chúng không đạt đến được sự hoàn mỹ, cũng không có được sự bất biến. T́nh yêu và ư thức rồi sẽ chết. Không có ǵ thoát được cái chết. Không có tôn giáo cứu rỗi nào hứa hẹn cho riêng ai một sự bất tử. Không có sự cứu rỗi trên trái đất như tôn giáo cộng sản đă từng hứa, nghĩa là một giải pháp xă hội ở đó đời sống của từng người và của tất cả sẽ được giải phóng khỏi khổ nạn, khỏi những thăng trầm và những bi kịch. Cần phải từ bỏ một cách hoàn toàn, triệt để và vĩnh viễn sự cứu rỗi này.

Đối với những hứa hẹn không giới hạn chúng ta cũng cần phải chối bỏ như vậy. Chủ nghĩa nhân văn tây phương cổ động chúng ta đi chinh phục thiên nhiên không giới hạn. Quy luật tiến bộ bảo đảm với chúng ta rằng việc này có thể theo đuổi đến vô hạn. Không có một giới hạn nào cho sự tăng trưởng kinh tế, cho trí tuệ con người, cho lư trí. Con người đă trở thành một thứ vô giới hạn riêng cho chính ḿnh.

Ngày hôm nay chúng ta có thể vứt bỏ những thứ vô hạn giả dối ấy đi và ư thức lại về cái tính hữu hạn không thể nào thay đổi được của ḿnh. Như Gadamer (Ga-đa-me) đă nói: "Đừng tiếp tục suy nghĩ về tính hữu hạn như một hạn chế mà ở đó cái ước muốn được trở thành vô hạn của chúng ta đă lụi tàn, (nhưng) nh́n nhận một cách thiết thực tính hữu hạn này như một quy luật cơ bản đích thực của cái thử tại (nghiệp) ".

Cái vô hạn đích thực này ở bên ngoài lư tính, ngoài cả sự hiểu biết và quyền lực con người. Biết đâu nó đă xuyên qua toàn thân chúng ta một cách vô h́nh và chúng ta chỉ cảm thấy được nó qua thơ ca và âm nhạc?

Cùng một lúc với ư thức về cái hữu hạn, chúng ta từ đây c̣n có thể ư thức được về chính sự vô ư thức của chúng ta, nhận thức được sự vô tri của ḿnh: từ đây chúng ta có thể biết rằng chúng ta đang làm một cuộc phiêu lưu chưa biết về đâu. Với ḷng tin vào một khoa học ngụy tạo, chúng ta đă tưởng chúng ta biết được ư nghĩa của lịch sử nhân loại. Nhưng từ buổi b́nh minh của loài người, của các thời kỳ lịch sử, chúng ta đă đi vào cuộc phiêu lưu vô định này và chưa bao giờ chúng ta dấn thân sâu vào nó như hôm nay. Cái ḍng chẩy của lịch sử thời kỳ toàn cầu đă xa rời quỹ đạo tuần hoàn của văn minh truyền thống để rơi vào một tiến tŕnh càng ngày càng bất định.

Chúng ta hoàn toàn không biết điều ǵ sẽ xẩy ra, đó là cái mà những tôn giáo cứu rỗi dù thiên đường hay trần thế tưởng đă có thể xoá nhoà: "Những người Bôn-sê-vích đă không muốn hoặc không thể hiểu rằng con người là một sinh vật mềm yếu và không chắc chắn, nó hoàn thành một sự nghiệp không chắc chắn trong một thế giới không chắc chắn"(1).

Chúng ta cần hiểu rằng sự hiện hữu của chúng ta trong thế giới vật lư (và sự hiện hữu của chính cái thế giới vật lư này) đều phải trả bằng giá của sự suy thoái, hao ṃn, đổ nát chưa từng có; rằng sự hiện hữu của sự sống phải trả với giá của những đau khổ phi thường; rằng tất cả các niềm vui và hạnh phúc con người đă và sẽ c̣n phải trả bằng những hư hao, mất mát, điêu tàn và thống khổ.

Chúng ta đang lưu lạc. Chúng ta không phải đang đi trên một con đường được cắm mốc, chúng ta cũng không c̣n được dẫn dắt từ xa bởi định luật tiến bộ, chúng ta cũng không có đấng cứu thế mà cũng không có sự cứu rỗi nào, chúng ta đi trong đêm và sương mù. Không phải đi vật vờ trong may rủi, tuy rằng vẫn có phiêu bạt và may rủi, chúng ta cũng có thể có những ư tưởng dẫn đường, những giá trị ưu việt, một chiến lược càng ngày càng biến đổi đến hoàn thiện. Đấy không chỉ là bước tiến về ḷ sát sinh. Chúng ta được đẩy về phía trước bởi những nguyện vọng của chúng ta, chúng ta lại đầy ư chí và khí phách. Con đường phía trước tràn trề hy vọng. Nhưng là một hy vọng chẳng có được phần thưởng cuối cùng nào; v́ vậy niềm hy vọng này đang bơi trên một đại dương mênh mông của thất vọng.

Sự phiêu bạt này tất yếu thuộc về nhân gian, nghĩa là thuộc về số mệnh quả đất. Nhưng đồng thời nó cũng chứa đựng một sự t́m ṭi về các thế giới bên kia. Đó không phải là những cái "bên kia" ở bên ngoài thế giới, mà là những cái "bên kia" của thời này, đất này, những cái "bên kia" của sự khốn cùng và bất hạnh, những cái "bên kia" xa lạ của riêng chính cuộc phiêu lưu không biết về đâu này.

Chính qua sự phiêu bạt này mà lịch sử nhân loại được thể hiện. Nó giúp con người phục hồi được giá trị của những phút giây chân chính, đầy thi tứ, xuất thần của cuộc sống, đồng thời nó cũng giúp con người xem nhẹ được phần nào những ư nghĩa về mục đích và phương pháp giải quyết. Bởi v́ bất cứ mục tiêu nào, một khi đạt được, vẫn thúc đẩy con người t́m đến một con đường mới và bất cứ một giải pháp nào rồi cũng mở ra một vấn đề mới. Sự phiêu bạt giúp con người sống một cách trọn vẹn thời gian, không những như một sự liên tục nối liền quá khứ / hiện tại / tương lai mà c̣n hiểu được nó như sự t́m về nguồn (quá khứ), như hành động (hiện tại) và như khả năng (vươn đến tương lai).

Chúng ta đang ở trong một cuộc phiêu lưu xa lạ. Nỗi ḷng bất măn thôi thúc chúng ta đi sẽ không bao giờ vơi được trong cuộc phiêu lưu này. Chúng ta phải đảm nhận sự bối rối và lo âu, chúng ta phải gánh vác cái "nghiệp" này, cái việc "ở đây mà không hiểu tại sao ḿnh ở đây". Rồi càng ngày sẽ càng có nhiều nguyên nhân gây ra lo sợ và càng ngày càng cần đến sự dấn thân, nhiệt t́nh, bác ái, những thứ không phải có thể làm tiêu tan, nhưng đẩy lùi nỗi kinh hoàng kia.

T́nh yêu là thuốc giải độc, là sự phản công - chứ không phải là sự trả lời nỗi hoảng sợ. Đó là kinh nghiệm thiết thân cơ bản nhất đối với con người, ở đó sự cảm thông, sự hưng phấn tinh thần của bản thân và đối tượng của ḿnh, nếu không bị biến chất bởi ḷng ham muốn chiếm hữu, sẽ được thăng hoa. Chúng ta có thể nào giải thoát được cái khối lượng t́nh yêu to lớn mà các tôn giáo và sự thờ ơ đă làm khô héo, để đem dâng hiến nó không phải cho thần linh mà cho loài người?

Tin tức xấu mà tốt

Nhưng, ngay cả khi sự trầm luân vẫn c̣n được khắc ghi trong vận mệnh chúng ta.

Đây là cái tin buồn: chúng ta đang bơ vơ, lạc lơng không có cách ǵ cứu văn được. Nếu có một thứ phúc âm, nghĩa là một tin mừng, nó phải bắt đầu từ tin buồn này: chúng ta đang bị lạc, nhưng chúng ta có một mái nhà, một căn nhà, một quê hương: cái hành tinh nhỏ này, nơi sự sống đă tạo nên một khu vườn của nó, nơi những con người đă xây dựng tổ ấm của họ và từ nay nhân loại phải nhận nơi này là ngôi nhà chung của tất cả.

Đấy không phải là miền Đất hứa, cũng không phải là thiên đường hạ giới. Đó là quê hương của chúng ta, mảnh đất của cái cộng đồng cùng vận mệnh sinh tử của con người địa cầu. Chúng ta phải vun xới khu vườn địa giới này, nghĩa là chúng ta phải văn minh hoá trái đất.

Phúc âm của những con người lưu lạc và của Quả đất - Quê hương nói với chúng ta rằng: Hăy trở thành anh em, không phải v́ như thế chúng ta sẽ được cứu rỗi, nhưng bởi v́ chúng ta đang lạc lơng(2). Hăy trở thành anh em để sống một cách chân chính trong cộng đồng cùng vận mệnh sinh tử của chúng ta. Hăy làm anh em bởi v́ chúng ta tất cả đều liên đới trong cuộc phiêu lưu vô định này.

Như Albert Cohen (An-be Co-hen) đă nói: "Trong cuộc phiêu lưu đáng sợ này, con người đă sinh ra trong thế gian và cười vui, chạy nhẩy, rồi bỗng nhiên không động đậy nữa. Cái tai họa đang chờ đợi chúng ta đó lại không hề giúp chúng ta trở thành dịu dàng và thương yêu lẫn nhau, thật là một điều không thể tưởng tượng được"(3).

Cái tin buồn th́ không có ǵ là mới: Từ khi tinh thần nhân loại xuất hiện, đă có cái ư thức về vấn đề lạc lơng, nhưng ư thức này đă bị xua đuổi bởi ḷng tin vào sự sống c̣n, rồi bởi niềm hy vọng vào sự cứu rỗi. Tuy nhiên mỗi người đều âm thầm mang ư nghĩ về sự lạc lơng, mỗi người mang nó một phần nào trong sâu thẳm của ḿnh. C̣n cái tin vui cũng không có ǵ là mới: Phúc âm của con người lạc lơng làm sống lại thông điệp về t́nh thương và ḷng trắc ẩn đối với sự trầm luân của hoàng tử Thích-ca-mâu-ni và đối với bài thuyết giáo ở trên núi của Giê-su thành Na-za-rét, nhưng cái chính của tin buồn là không có cứu rỗi bằng che chở / phục sinh của bản thân, cũng không có siêu thoát bằng sự huỷ diệt bản ngă.

Kêu gọi t́nh nghĩa anh em

Sự kêu gọi t́nh nghĩa anh em không hạn hẹp trong nội bộ một chủng tộc, một giai cấp, một nhóm người ưu tú hoặc một quốc gia. Nó đến từ những người ở bất cứ nơi nào miễn là họ cảm nhận được nó, nó đến với tất cả cũng như với từng người. Khắp nơi, ở mọi giai cấp, trong tất cả các quốc gia, đều có những người đầy "thiện chí", cảm thấy được thông điệp của nó cũng lại là thông điệp của ḿnh.

Có lẽ số người này sẽ đông hơn trong hàng ngũ những kẻ đang lo lắng, những kẻ đầy ḷng hiếu kỳ, những người tính t́nh cởi mở, những kẻ ôn hoà, những người pha nhiều ḍng máu, những đứa con lai và những kẻ nằm giữa hai làn đạn.

Kêu gọi t́nh nghĩa anh em không chỉ là đột phá cái rào cản của lănh đạm vô t́nh, mà c̣n phải khắc phục cả thái độ thù địch. V́ sự hiện hữu của một kẻ thù cùng một lúc nuôi dưỡng sự man rợ của cả đôi bên. Ḷng thù địch sinh ra đôi khi do sự mù quáng của một bên, nhưng nó sẽ trở thành song phương khi đối phương bị thù hằn quay lại chống trả.

Dĩ nhiên những kẻ theo chủ nghĩa tự cho ḿnh là trung tâm hoặc cho dân tộc ḿnh là trung tâm đă gây ra và c̣n tiếp tục tạo nên những kẻ thù, chúng là những cấu trúc bất di bất dịch của tính cá biệt và tính chủ quan(4), nhưng cùng một lúc, nếu cái cấu trúc này chứa đựng một nguyên tắc loại trừ trong chữ "tôi" th́ nó cũng chứa đựng một nguyên tắc bao hàm trong chữ "chúng tôi" và vấn đề then chốt của sự hoàn thiện nhân loại là nới rộng cái "chúng tôi" ra để bao quát trong liên hệ mẹ - quê hương - quả đất, tất cả những "người khác" và thừa nhận trong cái người khác đó "một cái tôi khác" nghĩa là một người anh em nhân loại.

Chúng ta cần khắc phục sự bài xích những ǵ không hợp với chuẩn mực, với những điều cấm kỵ của chúng ta và khắc phục thái độ thù địch đối với người nước ngoài chỉ v́ họ gợi nơi chúng ta nỗi sợ hăi về những điều lạ lùng, cổ quái ; việc này cũng đ̣i hỏi một sự cố gắng của cả đôi bên, nghĩa là cũng từ phía người lạ này nữa, nhưng cái ǵ cũng phải bắt đầu th́ mới có thể khởi công...

Dù đă có quân thù từng tàn sát, cưỡng hiếp, tra tấn, nhưng chúng ta không thể nào loại chúng ra khỏi giống người được và chúng ta cũng không thể cam đoan rằng chúng ta không bao giờ làm những điều khiến chúng ta phải ân hận. Quan niệm phức tạp về sự đa trùng nhân cách cho ta biết rằng trong một cá nhân vẫn tiềm ẩn nhiều nhân cách và chúng ta không thể đem nhốt cá nhân này trong nhân cách tội phạm của nó. Hegel (Hê-ghen) đă từng nói: Xác định một cá nhân là tội phạm tức là xoá bỏ tất cả những nét đặc trưng không hề phạm tội khác của con người này. Không ai có thể vĩnh viễn bị kết tội.

Ḷng khoan dung, sự ăn năn và tha thứ cho chúng ta thấy khả năng chặt đứt được cái ṿng luẩn quẩn của sự trả thù nợ máu, trừng phạt, phục hận - kiểu không phải là ta th́ là địch, không phải là địch th́ là ta. Chúng ta phải làm ngưng ngay cái guồng máy ghê hồn thường trực không ngừng đem tàn khốc gieo rắc nơi nơi. Ngay cả đối với những vấn đề này chúng ta cũng đừng hy vọng sẽ giải quyết được chúng như có phép lạ, chúng ta phải biết đấu tranh với tội ác, bởi v́ chúng ta đă thấy, một trong những mục tiêu có tính toàn cầu sâu sắc là chống trả lại những hành vi bạo tàn trên thế giới(5).

Cư ngụ trái đất, sống cho ra sống

Chúng ta là cư dân của quả đất. Chúng ta đă dẫn Hửlderlin (Hơn-đec-lin) rồi tiếp nối lời ông ta mà nói rằng: con người đang sống trên địa cầu một cách vừa trần tục mà cũng vừa thi vị. Một cách trần tục (làm việc, nhắm vào những mục tiêu thực dụng, t́m cách sống c̣n) và một cách thi vị (ca hát, mơ mộng, t́m lạc thú trong hưởng thụ và yêu đương, chiêm ngưỡng) chúng ta sống ở trên trái đất như thế đấy.

Cuộc sống con người được thêu dệt bằng văn và thơ. Thi ca không chỉ là một loại h́nh văn học, nhưng c̣n là một lối sống hoà ḿnh trong t́nh yêu, nhiệt t́nh, cảm thông, hưng phấn, nghi lễ, lễ hội, men say, vũ điệu, ca khúc, tất cả làm thay đổi bộ mặt của cuộc sống đơn điệu đầy những việc thực dụng, vụ lợi, kỹ thuật. Vả lại, mỗi một con người đều có hai cách nói với ngôn ngữ của ḿnh. Cái cách đầu tiên để bày tỏ và diễn đạt, nó dựa trên lôgíc của luật bài trung(6)(tiers exclu), cách nói thứ hai chủ yếu thông qua nghĩa mở rộng (nội hàm -ND), nghĩa là bối cảnh ngữ nghĩa bao quanh mỗi chữ, mỗi câu, nó vận dụng phép loại suy (6) và phép ẩn dụ, t́m cách thể hiện những xúc động và t́nh cảm, cho phép tâm hồn diễn đạt. Cũng thế trong mỗi chúng ta đều có hai trạng thái thường không dính dáng ǵ với nhau, trạng thái đầu tiên hoặc trạng thái b́nh thường gồm những hoạt động hợp lư - dựa trên kinh nghiệm và cái trạng thái đúng nghĩa "thứ nh́" là trạng thái "thi tứ", ở trong trạng thái này chúng ta không chỉ đến được với thi ca, mà với cả âm nhạc, vũ điệu, lễ hội, hoan lạc, ái t́nh và khi lên đến cực điểm nó sẽ đưa con người đến trạng thái xuất thần. Chính trong trạng thái thi tứ này mà trạng thái thứ nh́ hay trạng thái "vô thức" lại trở thành trạng thái hàng đầu.

Fernando Pesoa (Phéc-nanđô Pêsoa) nói rằng trong mỗi chúng ta có hai con người, con người thứ nhất, con người thật, do mộng tưởng, ước mơ của riêng ḿnh tạo thành, nó sinh ra từ tuổi thơ và tiếp nối trong cuộc đời, con người thứ nh́, con người giả, do vẻ ngoài, do những tuyên bố và hành động của ḿnh tạo nên. Chúng ta có thể nói một cách khác: hai thực thể chung sống trong chúng ta, thực thể trong trạng thái b́nh thường và thực thể của trạng thái thơ. Cả hai chủ thể này tạo thành con người chúng ta. Chúng là hai cực của nhân cách và bổ túc cho nhau: nếu không có văn xuôi th́ sẽ không có văn vần, trạng thái thơ chỉ thể hiện thành thơ khi đem so với trạng thái trần tục.

Trạng thái trần tục đặt chúng ta vào chỗ đứng của thực dụng, của chức năng, và mục tiêu của nó là thực dụng và chức năng.

Trạng thái thơ có thể liên quan đến những mục tiêu yêu đương hay bè bạn, nhưng nó cũng là mục tiêu cho chính nó.

Hai trạng thái này có thể xung đột, đi đôi hoặc quyện lẫn vào nhau. Trong những xă hội cổ sơ, hai trạng thái này ảnh hưởng lẫn nhau một cách mật thiết: công việc hàng ngày, việc giă gạo, xay bột có thể được kèm theo với câu ḥ điệu hát nhịp nhàng, người ta sửa soạn đi săn hoặc đánh giặc bởi những nghi thức ngụy trang vừa ca vừa múa. Trong nền văn minh truyền thống, con người sống xen kẽ giữa các mùa lễ hội, những thời điểm mà tất cả các điều cấm kỵ được xoá bỏ trong sự phấn khởi, ăn chơi phung phí, say sưa, tiêu thụ và một cuộc sống thường ngày, đầy ràng buộc mà nếu không chịu kham khổ và tính toán chi li th́ không xong.

Văn minh hiện đại tây phương đă tách rời văn xuôi và thơ. Nó làm cho những lễ tiết trở thành hiếm hoi, và trong chừng mực nào đó c̣n bị loại bỏ để thay bằng nhàn thú, một khái niệm - bao b́ mà mỗi người cố nhồi vào đấy những ǵ ḿnh có thể nhét được. Cuộc sống công việc và áo cơm th́ đầy những tính toán tầm thường (lôgíc của lợi nhuận, sở hụi v.v..)(7). Chất thơ đă bị dồn vào trong cuộc sống riêng tư, trong nhàn thú và nghỉ hè. Nó đă phát triển riêng biệt với ái t́nh, tṛ chơi, thể thao, phim ảnh và dĩ nhiên với văn chương, thơ ca theo đúng nghĩa của các từ này(8).

Ngày nay, ở cuối thiên niên kỷ này, cái siêu tầm thường đang trên đà tiến triển với sự lan tràn của lôgíc máy nhân tạo trong mọi lĩnh vực cuộc sống với sự ph́nh trướng của giới quan liêu - kỹ thuật, với sự thắng thế của thời gian đồng thời bị căn đo, quá tải, căng thẳng trên cái thời gian tự nhiên của mỗi con người.

Từ khi niềm hy vọng nên thơ rằng t́nh anh em rồi sẽ ngự trị khắp nơi đă sụp đổ hay bị phản bội, một bức màn đơn điệu to lớn đă trùm lên thế giới. Trong khi đó mỗi nơi một tư, trên điêu tàn của sự đổi đời do thơ ca hứa hẹn, những phong trào quay về nguồn gốc sắc tộc và các tôn giáo đang cố làm sống lại những loại thơ ca bằng sự tham dự tập thể.

Cái phàm tục của giới quan liêu kinh tế và kỹ thuật muốn thu hẹp chính trị thành quản lư đang thắng thế ở Tây phương, tuy có thể chỉ là hiện tượng nhất thời, nhưng đó lại là thực tế trước mắt. Cho dù chính trị không c̣n đảm nhận giấc mơ đẩy lùi sự tầm thường bằng cách thực hiện hạnh phúc trên trái đất, nó cũng không thể tự giam ḿnh trong cái trần tục được.

Điều này có nghĩa là chính trị con người không thể chỉ nhắm vào "xă hội công nghiệp tiên tiến", "xă hội hậu công nghiệp" hay "tiến bộ kỹ thuật". Chính sách phát triển, theo nghĩa chúng ta đă hiểu, bao hàm trong nó cái ư tưởng siêu phát triển (xem chương IV) và cần có một ư thức đầy đủ về những nhu cầu mang chất thơ của con người.

Trong những điều kiện như vậy, sự lan tràn của cái siêu phàm tục phải được đáp lại bằng một cuộc phản công mạnh mẽ của thơ. Chất thơ này rồi sẽ đi liền với sự hồi sinh của t́nh huynh đệ, với khí thế của cái phúc âm của sự trầm luân. Thật ra chính bản thân của ư thức về Quê hương - Quả đất cũng đă có thể đưa chúng ta vào trạng thái thơ. Mối liên hệ với quả đất là một t́nh cảm đẹp đẽ, hơn nữa nó có thể là t́nh yêu và say đắm.

Có thể nào không rung động khi bất chợt gặp một vầng trăng tṛn trịa ló dạng ở chân trời trong màn đêm đang buông xuống? Làm sao không ngất ngây khi ngắm nh́n những cánh én mùa xuân bay lượn? Chúng có phải chỉ đơn thuần là những bộ máy đang bay hay không, chúng líu ríu có phải chỉ để trao đổi với nhau một tin tức nào đó thôi sao? Chẳng lẽ khi sập sè, lao xuống, vút lên, sạt vào nhau mà không bao giờ chạm đó, thật sự chúng không cảm thấy một khoái cảm say sưa điên loạn nào ư ?

Dĩ nhiên chúng ta không thể lúc nào cũng cứ liên tục ở trong một trạng thái thơ, đó là chuyện ảo tưởng và nếu thế th́ trạng thái này cũng trở nên nhạt nhẽo đi, rồi sẽ làm cho con người hoảng hốt khi nó chấm dứt. Và như vậy cũng lại là cách làm sống dậy cái ảo tưởng cứu rỗi một kiểu khác. Chúng ta bắt buộc phải chấp nhận cuộc sống trong đó thơ ca và văn xuôi (sự trần tục - ND) xen kẽ, bổ túc cho nhau.

Văn xuôi vẫn là vấn đề thiết thân đối với chúng ta, v́ chính những hoạt động thực dụng trần tục này đă giúp chúng ta sống c̣n. Nhưng đă biết bao lần trong thế giới động vật, những hoạt động để sống c̣n đó (t́m thức ăn, t́m mồi, chống trả lại những hiểm nguy, những tấn công) lại nuốt mất đi cả cuộc sống, nghĩa là cái thú vị trên đời. Ngày nay trên trái đất, loài người vẫn c̣n phải dùng gần như một phần lớn nhất thời gian của ḿnh để sinh tồn!

Chúng ta cần phải đấu tranh để đưa trạng thái vô thức lên hàng đầu, phải t́m lấy một cách sống, không phải chỉ để sống c̣n, mà c̣n để sống. Sống một cách thi vị, sống như thế mới là sống.

Phúc âm của sự trầm luân

Phúc âm của t́nh huynh đệ đối với luân lư chẳng khác nào sự phức tạp đối với tư tưởng: Nó kêu gọi hăy bỏ đi sự phân cách, chia rẽ để liên kết lại. Về thực chất nó là một sự "liên kết lại" (re-ligieuse) theo đúng nghĩa của từ này.

Tôn giáo? Làm sao không bối rối và hoang mang trước cái từ này được. V́ nó bị dính dáng tới quá nhiều nội dung thần thánh, đến độ hầu như bị đồng hoá với nội dung này, ngay cả khi ta chỉ hiểu chữ này với nghĩa tối thiểu của nó là: liên kết (re-lier).

Tôn giáo, theo nghĩa thông thường, đúng là có thể được định nghĩa bằng những từ đối nghịch với những từ thuộc về phúc âm của sự trầm luân: một đức tin vào thần thánh hay một thượng đế tối cao với sự tôn thờ, nghi thức cúng tế. Ngoài ra tôn giáo cứu rỗi c̣n hứa hẹn thêm một cuộc đời huy hoàng sau cái chết.

Thật ra, tôn giáo có thượng đế là một tôn giáo thuộc loại thứ nhất. Âu châu ngày nay đă thấy xuất hiện những tôn giáo không thần thánh. Mà những tôn giáo này lại không hề biết ḿnh là tôn giáo. Chúng ta gọi nó là tôn giáo loại thứ nh́.

Cũng thế, h́nh thức Nhà nước - quốc gia đă tự sáng tạo ra cái tôn giáo riêng của nó. Rồi sau đó, giới thế tục, duy lư, khoa học cũng xây dựng cái tôn giáo trên dương thế của ḿnh.

Robespierre (Rôbétxpie) đă muốn có một tôn giáo của lư trí. Aguste Comte (Ôgúxt Côngt) tưởng ḿnh đă đặt nền móng cho một tôn giáo của nhân loại. Mác đă sáng lập ra một tôn giáo cứu rỗi trên thế gian tự xưng là khoa học. Người ta cũng có thể nghĩ rằng tinh thần Cộng hoà của nước Pháp Đệ Tam Cộng hoà có một cái ǵ đó thuộc về tôn giáo, theo nghĩa nó liên kết những tín đồ của ḿnh bằng một đức tin cộng hoà và một đạo đức công dân.

Malraux (Ăndrê Manrô), khi tuyên bố thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của tôn giáo, không hề thấy được rằng thế kỷ XX đă là một thế kỷ cuồng tín tôn giáo rồi, chỉ có điều nó không ư thức được bản chất tôn giáo của những hệ tư tưởng của ḿnh mà thôi.

Chính v́ thế, cái từ "tôn giáo" không c̣n có thể chỉ được giới hạn trong những tôn giáo thần đạo. Nhưng, nếu ta đă không thừa nhận loại tôn giáo thứ nh́ (chủ nghĩa ư trời ban phước và cứu rỗi), tại sao chúng ta lại đề cập đến cái từ này ở đây?

Bởi v́ để theo đuổi sự tiến hoá nhân loại và để văn minh hoá quả đất, chúng ta cần đến một thứ sức mạnh khai thông và dung hoà. Cần có một nhiệt t́nh theo nghĩa tôn giáo, để thực hiện trong tinh thần chúng ta một sự nối liền giữa những con người, sự nối liền này chính nó sẽ kích thích cái ư chí nhằm kết hợp các vấn đề lại với nhau.

Chúng ta có thể nào nghĩ đến một thứ tôn giáo của thế gian thuộc loại thứ ba là tôn giáo của sự trầm luân không?

Nếu phúc âm của những con người ch́m đắm và của Quả đất - Quê hương có thể sinh ra một loại tôn giáo, đó sẽ là loại tôn giáo không liên quan ǵ đến tôn giáo cứu rỗi ở thiên đường hoặc tôn giáo cứu rỗi ở nhân gian, lại khác hẳn những tôn giáo thần đạo hoặc các hệ tư tưởng vẫn không biết ḿnh mang tính chất tôn giáo. Đó sẽ là một tôn giáo có thể hiểu được các tôn giáo khác, và sẽ giúp chúng t́m về được cội nguồn. Cái phúc âm phản cứu rỗi này có thể hợp tác với cái phúc âm cứu rỗi chính trên t́nh huynh đệ mà chúng cùng có.

Tôn giáo này, biết bao chúng ta đă chớm sống qua rồi, nhưng sống một cách riêng rẽ, chưa được nối liền với nhau bởi cái sức mạnh khai thông và dung hoà.

Đó sẽ là một tôn giáo mang một sứ mệnh hợp lư: cứu lấy địa cầu, văn minh hoá trái đất, hoàn thành tính thống nhất của loài người và bảo tồn sự đa dạng của nó. Một tôn giáo không phải để cấm đoán, mà để ǵn giữ sự sử dụng trọn vẹn cái tư duy hợp lư. Một tôn giáo để đảm đương cái tư duy thế tục vốn xuất thân từ thời Phục hưng Âu châu, một thứ tư duy biết tự đặt vấn đề và biết tự phê phán.

Đó là một tôn giáo theo nghĩa tối thiểu của từ này. Cái nghĩa tối thiểu này không chỉ bị thu gọn vào sự hợp lư. Nó chứa đựng một cái ǵ đó siêu hợp lư: tham dự vào một cái ǵ đó vượt lên trên chúng ta, mở ra cái mà Pascal gọi là ḷng từ thiện mà chúng ta cũng có thể gọi là sự t́nh thương. Nó gồm có một thứ t́nh cảm huyền bí và thiêng liêng. Có lẽ nó đ̣i hỏi một thứ nghi lễ. Tất cả mọi cộng đồng đều cần một sự cảm thông. Trong những nghi lễ, khi tín đồ chịu lễ ban phước, họ cảm thấy một cách mạnh mẽ tính đồng nhất nối liền họ với một thứ siêu lư tính và một thứ siêu thực mà đối với họ được gọi là thần linh.

Đó sẽ là một tôn giáo không thượng đế, nhưng sự thiếu vắng thượng đế này lại chứa đựng đầy ắp những nhiệm mầu.

Đó sẽ là một tôn giáo không có sự thần khải (như Phật giáo), là một tôn giáo của t́nh yêu (như Cơ đốc giáo) và từ bi (như Phật giáo), nhưng không có cứu rỗi bằng sự bất tử / phục sinh của bản thân, cũng chẳng có giải thoát bằng sự tiêu diệt bản ngă.

Đó sẽ là một tôn giáo của những chiều sâu: cộng đồng của đau khổ và chết chóc.

Đó sẽ là một tôn giáo không có chân lư đầu tiên, cũng không có chân lư cuối cùng. Chúng ta không biết tại sao thế giới lại là thế giới, tại sao chúng ta lại sinh ra trên đời, tại sao chúng ta sẽ phải chết đi, chúng ta không biết chúng ta là ai.

Đó sẽ là một tôn giáo không có phước lành, không có một tương lai sán lạn, nhưng nó kết hợp chúng ta lại với nhau trong một cuộc phiêu lưu xa lạ.

Đó sẽ là một tôn giáo không có hứa hẹn ǵ, nhưng có gốc gác: gốc gác trong văn hoá chúng ta, trong văn minh chúng ta, trong lịch sử toàn cầu, trong loài người, trong sự sống, trong những tinh cầu đă tạo nên các nguyên tử h́nh thành chúng ta, trong cái vũ trụ nơi đă xuất hiện những hạt cơ bản h́nh thành các nguyên tử của chúng ta.

Đó sẽ là một loại tôn giáo của trái đất, không phải của thiên đường, cũng không phải của sự cứu rỗi ở dương gian. Nhưng nó sẽ đem lại sự che chở, cứu vớt, giải phóng và t́nh huynh đệ. Đó sẽ là một tôn giáo với đức tin như mọi tôn giáo khác, nhưng nó khác ở chỗ là không dùng ḷng cuồng tín để áp đảo sự hoài nghi mà thừa nhận sự hoài nghi và đối thoại với nó. Đó là một tôn giáo dám tiếp nhận sự không chắc chắn. Đó sẽ là một tôn giáo mở ra trên vực thẳm.

Sự thừa nhận Quê hương - Quả đất sẽ hợp lưu với tôn giáo của những con người trầm luân hoặc nói một cách khác là nó sẽ chẩy vào trong ḍng sông tôn giáo của sự trầm luân.

Sẽ không có cứu rỗi nếu nghĩa của nó là giúp con người thoát khỏi ṿng trầm luân. Nhưng nếu hiểu cứu rỗi là tránh được hậu quả xấu nhất, t́m được cái tốt nhất có thể có được th́ lúc đó sự cứu rỗi của cá nhân chúng ta sẽ nằm trong ư thức, trong t́nh yêu và t́nh anh em.

Sự cứu rỗi tập thể của chúng ta sẽ là tránh được cái thảm hoạ chết yểu của nhân loại và biến quả đất, một tinh cầu lưu lạc trong vũ trụ, thành cái "bến bờ cứu rỗi" của chúng ta.

Chú thích:

(1)  D. Tchossitch, "Thời đại tội ác" (Le temps du mal), I, Paris, l'Age de l'homme, 1990, tr.186.

(2) Thật ra ư tưởng cứu rỗi được sinh ra để chống trả với sự lạc lơng mang trong nó ư thức tiềm tàng của sự lạc lơng. Tất cả những tôn giáo nói về cuộc đời sau khi chết đều chứa đựng trong chúng một cách tiềm tàng ư thức về khả năng không thể văn hồi của sự chết.

(3) Ôi các người, những anh em nhân loại, (O vous, frères humains), Paris, Gallimard, 1972.

(4) E. Morin, Phương pháp luận, Tập II, "Sự sống của sự sống", sđd, tr.164-173.

(5) Chúng ta cũng biết rằng sự khó khăn lớn nhất là có thể sống mà không cần đến con dê tế thần, hoặc cái bông sung. Cái bông sung đă ăn sâu không chỉ vào cái tính súc vật của chúng ta, mà c̣n ăn sâu vào tính người của chúng ta. ở đó được nuôi dưỡng sự đọa đầy, những âu lo, những kinh hoàng riêng biệt của con người.

(6) Luật, nguyên tắc bài trung : Giữa hai phán đoán mâu thuẫn, cần phải có một cái đúng và một cái sai, nghĩa là không thể có một cái thứ ba được; phép loại suy: suy diễn qua sự giống nhau của 2 hay nhiều sự vật, (ND).

(7) Đương nhiên trong ư chí kiếm lợi và làm giầu, trong khi quản lư công ty, qua những nguy hiểm trong tṛ chơi chứng khoán, trong những cuộc phiêu lưu về chiến lược, cũng vẫn có những nguồn lạc thú mang chất thơ mà những nhà tư bản, kinh doanh có thể cảm thấy được.

(8) Trong lịch sử, thơ ca văn học đă hai lần nổi loạn chống cuộc sống tầm thường, thực dụng, phàm tục. Lần thứ nhất vào đầu thế kỷ XIX với chủ nghĩa lăng mạn, nhất là ở nơi mà nó khởi thuỷ là nước Đức. Lần thứ nh́ với chủ nghĩa siêu thực nó đă muốn tiếp tục công việc phi tầm thường hoá cuộc sống thường nhật khởi xướng do Arthur Rimbaud bằng cách cho thấy cái tuyệt vời trong công việc hằng ngày mà bề mặt đầy vẻ trần tục và nhớp nhúa nhất.