Như thế là ở cuối
cuộc phiêu lưu phi thường bắt đầu
vào thế kỷ thứ XV, tiếng kêu của người
lính gác trên tầu Côlômb cuối cùng đă mang ư
nghĩa toàn cầu của nó: Đất! Đất!
Đến những năm 1950
- 1960, chúng ta vẫn c̣n sống trên một quả
đất mà chúng ta chưa biết rơ, chúng ta đă
sống trên một quả đất trừu tượng,
một quả đất như một khách thể.
Cuối thế kỷ này chúng ta đă khám phá ra cái
quả đất - hệ thống, quả đất-thần
linh, bầu sinh quyển, quả đất như
một phần của vũ trụ, Quả đất-
Quê hương. Mỗi người trong chúng ta đều
có hệ phả và thẻ căn cước của
con người quả đất. Nó đến
từ quả đất, nó là quả đất và
nó ở trên quả đất.
Chúng ta thuộc về quả
đất và quả đất thuộc về chúng
ta.
Sự
hợp lưu lớn
ở cuối thiên niên kỷ
này, chúng ta đă gần như có thể cùng
một lúc hoàn thành được nhiều loại
ư thức bổ sung lẫn nhau:
- ư thức về tính
nhất thống của quả đất (ư thức
về quả đất);
- ư thức về tính
nhất thống/đa dạng của sinh quyển (ư
thức sinh thái);
- ư thức về tính
nhất thống/đa dạng của con người
(ư thức nhân loại học);
- ư thức về cương
vị nhân loại - sinh vật - vật lư của chúng
ta;
- ư thức về "cái
nghiệp" của chúng ta, cái việc "có
mặt ở đây mà không biết v́ sao";
- ư thức về kỷ nguyên
toàn cầu;
- ư thức về sự "đe
doạ ngàn cân treo sợi tóc";
- ư thức về sự tiêu
vong trong tương lai của cuộc đời chúng
ta, của tất cả sự sống, của
tất cả hành tinh, của tất cả mặt
trời;
- ư thức về vận
mệnh của con người địa cầu chúng
ta.
Qua các nhận thức này,
từ nay những thông điệp đến từ
mọi chân trời khác nhau, - từ ḷng tin, từ
đạo đức, từ chủ nghĩa nhân văn,
từ chủ nghĩa lăng mạn, từ khoa học,
từ ư thức về thời đại đồ
sắt toàn cầu - sẽ có thể về quy tụ
lại.
Cũng thế, tư tưởng
nhân văn của thời kỳ ánh sáng đă
thừa nhận cho mọi người một
phẩm chất như nhau, tư tưởng này có
thể hoà hợp với t́nh cảm của chủ
nghĩa lăng mạn đối với thiên nhiên để
t́m lại được sự liên hệ khắng
khít của con người với Đất mẹ.
Đồng thời trong cái ư thức toàn cầu ràng
buộc con người với nhau và ràng buộc con
người với thiên nhiên quả đất, chúng
ta có thể làm cho hợp lưu vào đó nào là t́nh
thương đồng loại, thương người
khác giống vốn là nguồn gốc của
những tôn giáo phổ biến có tầm vóc, nào là
ḷng từ bi đối với tất cả sinh
vật của đạo Phật, nào là ḷng bác ái
phúc âm và ḷng bác ái của chủ nghĩa quốc
tế, vốn là một thứ kế thừa
thế tục và xă hội chủ nghĩa của
đạo Thiên chúa.
Tất cả những thông
điệp này với thời gian đều nằm
trong những thể chế. Những thể chế này
rồi biến chất, thoái hoá đôi khi c̣n
biến thành những thứ phản tác dụng. Chúng
cần được làm cho hồi sinh liên tục và
biết đâu chúng sẽ có thể tự phục hưng
lẫn nhau với cái phúc âm của sự trầm luân.
Đấy cũng là biết bao nhiêu mảnh rời
của một bức tranh ghép h́nh, chỉ khi nào nó
được hoàn tất th́ ta mới thấy
được toàn diện bộ mặt luân lư nhân
loại.
Đất!
Làm chủ được thiên
nhiên ư ? Con người vẫn c̣n chưa
khống chế được bản chất
của chính ḿnh, cứ để cho sự điên
rồ thúc đẩy vào con đường làm
chủ thiên nhiên đến độ mất cả
tự chủ. Làm bá chủ vũ trụ ư ? Than
ôi! Con người chỉ là một con vi trùng ở
trong cái vũ trụ bao la và huyền bí này. Làm
chủ sự sống ư ? Ngay cả một ngày nào
đó mà con người có thể tạo được
một con vi khuẩn th́ cũng chỉ là với tư
cách cóp lại để làm ra một cấu tạo
mà nó không bao giờ có khả năng tưởng tượng
nổi. Và nó có thể nào làm ra được
một con chim én, một con trâu, một con sư
tử biển, một bông hoa lan không? Con người
có thể tiêu diệt hàng tỷ vi khuẩn nhưng
nó không thể ngăn cản được
những con vi khuẩn có sức đề kháng
vẫn phát triển. Con người có thể
huỷ diệt những con vi-rút, nhưng vẫn bó
tay trước những con vi-rút mới đang thách
thức, đang biến dạng, đang đổi
mới... Ngay cả đối với vấn đề
thuộc về vi khuẩn và vi-rút, nó phải và
sẽ c̣n phải tiến hành đàm phán với
sự sống và với thiên nhiên.
Con người đă làm thay
đổi quả đất, đă thuần hoá các
thảm thực vật, đă trở thành chủ
những súc vật của ḿnh. Nhưng con người
không phải là chúa tể của vũ trụ, ngay
cả của quả đất này nữa.
Kẻ di-gan của vũ
trụ, lang thang trong một cuộc phiêu lưu vô
định, cái số phận này của nhân
loại đă quá rơ ràng ở thế kỷ thứ
năm của kỷ nguyên toàn cầu, nó lộ
diện sau mấy ngh́n năm bị phong toả vào cái
ṿng luẩn quẩn của những văn minh
truyền thống đă tin vào sự vĩnh hằng
cùng những thần thoại siêu nhiên: trong giờ
phút này con người bị vất ra đó, nghiệp
chướng trên quả đất, cái con người
trôi dạt, của đường đi chưa
được vạch ra, của những ưu tư,
lo sợ, nhưng cũng của t́nh nhiệt, của
thơ ca, của xuất thần nhập định.
Đó là"con
người tinh khôn rồ dại, một
thứ "cổ quái... tân kỳ... khủng
khiếp... hỗn loạn" khó có thể nào tin
được, một chủ thể của mâu
thuẫn và kỳ diệu! Phán đoán tất cả
mọi thứ mà lại là một con giun ngu ngốc,
nắm được chân lư, mà lại là cái
hố của sự phân vân và sai lầm, là vinh quang
mà cũng là thứ đồ bỏ của vũ
trụ? Như Pascal đă nói (trong "Tư tưởng
luận" (Pensées) tr. 184). Đấy là con người
đă được biết đến bởi
Heraclite (Ê-ra-clít), Eschyle (Ê-sin-lơ), Sophocle (Sô-phốc-klơ),
Shakespeare (Sếch-xpia) và chắc chắn bởi
những người khác trong những văn hoá khác.
Con người này phải
nhận thức lại về tính hữu hạn
của địa cầu, đồng thời
phải từ bỏ tính vô hạn giả dối
của khoa học "vạn năng", của tinh
thần "vạn năng", của khát vọng
về một sự "vạn năng" để
tự nh́n thấy ḿnh trước cái vô hạn
thật sự, nhiều đến độ không
biết gọi là ǵ và không thể nào tưởng
tượng nổi. Những năng lực kỹ
thuật, tư tưởng và ư thức của nó
từ nay phải được đem dùng, không
phải để làm bá chủ mà để điều
chỉnh, cải thiện, thấu triệt.
Chúng ta cần phải học
tập để sống cái nghiệp chúng ta trên hành
tinh này. Học để có thể sinh tồn, nghĩa
là để sống, để chia xẻ, để
truyền đạt, để cảm thông, đó là
điều mà người ta học trong / bởi
những văn hoá khép kín. Từ đây trở
đi chúng ta phải học để sinh tồn,
sống, chia xẻ, truyền đạt, cảm thông
như những con người của hành tinh quả
đất này. Chúng ta không phải chỉ thuộc
riêng về một văn hoá mà chúng ta thuộc
về quả đất.
Cộng
đồng cùng vận mệnh của con người
trên quả đất
Xem quả đất như quê
hương? Đúng vậy, đó là sự bén
rễ của chúng ta trong vũ trụ.
Từ nay chúng ta đều
biết rằng hành tinh nhỏ bé lạc lơng này c̣n
là một cái ǵ hơn cả một nơi chung cho
tất cả những con người. Nó c̣n là căn
nhà, cái tổ ấm của chúng ta, là quê mẹ và
hơn nữa là Quả đất - Quê hương
của chúng ta. Chúng ta đă biết rằng chúng ta
có thể sẽ trở thành mây khói trong những
mặt trời và sẽ vĩnh viễn bị đông
lạnh trong không gian. Dĩ nhiên, chúng ta có thể ra
đi, du hành và di dân về những hành tinh khác. Nhưng
những nơi này, v́ quá nóng hay quá lạnh, đều
không có sự sống.
Chính ở đây, trong ngôi nhà
của chúng ta, c̣n có những cây cỏ, súc vật,
những người đă khuất, những sinh
mệnh chúng ta và con cái chúng ta. Chúng ta cần
phải bảo tồn, chúng ta cần phải cứu
lấy Quả đất - Quê hương này.
Cái "cộng đồng cùng
vận mệnh quả đất" đă hiện
ra lúc này với tất cả chiều sâu, bề
rộng và tính thời sự của nó. Tất
cả mọi người đang sống trong khu vườn
chung của sự sống, ở dưới một mái
nhà chung của nhân loại. Tất cả mọi người
đều bị cuốn hút vào trong cuộc phiêu lưu
chung của thời đại toàn cầu. Tất
cả đều bị đe doạ bởi nguy cơ
nguyên tử và nguy cơ sinh thái. Tất cả đều
rơi vào t́nh thế hấp hối của của
thời kỳ giữa hai thiên niên kỷ.
Chúng ta cần gây dựng
một t́nh liên đới nhân loại không phải
dựa trên sự cứu rỗi hăo huyền ở
thế gian, nhưng trên ư thức về nỗi điêu
linh của chúng ta, trên ư thức về sự
phụ thuộc của chúng ta vào mối phức
tạp chung của thời đại toàn cầu, trên
ư thức về những vấn đề sinh tử
chung, về t́nh trạng hấp hối ở cuối
thiên niên kỷ này.
YÙ thức về cộng
đồng cùng chung vận mệnh trên quả đất
này phải là một sự kiện then chốt
ở cuối thiên niên kỷ: chúng ta mang cùng một
nhịp thở với quả đất, cuộc
đời chúng ta gắn liền với cuộc
đời của nó. Chúng ta phải chăm sóc nó
nếu không chúng ta chỉ có con đường
chết.
Phải tiếp nhận cái thân
phận của công dân địa cầu, đấy
cũng là tiếp nhận cái cộng đồng cùng
vận mệnh.
Cùng làm
hoa tiêu của quả đất
Cùng một lúc, sự phát
hiện ra cái cộng đồng cùng vận mệnh
giữa con người/ thiên nhiên đă giao cho con người
một trách nhiệm về quả đất. Từ
khi ấy, con người phải triệt để
từ bỏ cái kế hoạch làm bá chủ đă
được cổ vơ bởi Descartes, Buffon, Marx.
Vấn đề bây giờ không phải là thống
trị quả đất nữa mà là chữa
bệnh cho nó, sinh sống, sửa sang, canh tác trên
đó.
Nhân loại phải t́m cách xây
dựng một phương thức để cùng
nhau điều chỉnh bầu sinh quyển quả
đất. Dĩ nhiên, con người có những
quyền lực lớn lao càng ngày càng tăng, nhưng
vấn đề ở đây là trở thành không
phải kẻ dẫn đường mà là một người
lái thứ hai của quả đất. Việc lái
đôi này trở nên cần thiết: con người
/ thiên nhiên, kỹ thuật / sinh thái, trí tuệ có
ư thức / trí tuệ vô ư thức... Quả đất
phải chỉ huy bằng sự sống, con người
phải chỉ huy bằng ư thức.
Thoát ra khỏi thời kỳ
đồ sắt toàn cầu, cứu lấy nhân
loại, cùng làm hoa tiêu cho bầu sinh quyển, văn
minh hoá quả đất là bốn khái niệm dính
liền với nhau thành một chuỗi liên hoàn,
mỗi cái đều cần thiết đối
với những cái kia. Sự hấp hối của
địa cầu lúc đó sẽ hoài thai ra một
sự sống mới: chúng ta sẽ từ giống
người hiện tại chuyển sang một nhân
loại thực sự:
Chính ở trên và để
cho cái nhân loại địa cầu này, như
một mục tiêu và một cơ sở mà chính
trị có thể thực hiện một hành vi sáng
lập. Cuộc chống trả lại sự tiêu
vong của giống người và cuộc đấu
tranh để cho ra đời một sự sống
mới của nhân loại chỉ là một.
Cuộc
đấu tranh thuở ban đầu
"Thời buổi hiện
nay ít nhất cũng rất nghiêm trọng". Cái
chắc chắn của thời dĩ văng đă ra
đi. Hiện tại đang rạn nứt và phân ră.
Tương lai cũng sụp đổ. Làm sao mà không
hoài nghi cho được? Cái mà chúng ta xem là
một b́nh minh huy hoàng vào những năm 1989-1990
rồi cũng chỉ là ánh sáng loá mắt khi
một siêu sao mới (supernova) vừa
nổ. Đấy phải chăng chỉ là một
tai nạn? Tốc độ tăng nhanh làm cho các
diễn biến trở thành bộc phá. Thế
giới ảo giác bị cuốn phăng đi trong
một cuộc tan vỡ chưa từng thấy.
Cái Quả đất - Quê hương
gần gũi thế mà bỗng không thể nào
nắm bắt được. Thảm họa thôi
lại nối thảm họa!
Làm cho địa cầu văn
minh hơn? Từ giống người hiện nay
chuyển sang một nhân loại thực sự? Nhưng
cái con người tinh khôn rồ
dại đang hy vọng ǵ? Làm sao che đậy
được cái vấn đề bất lực to
lớn kinh hồn của con người? Khắp nơi
và mọi thời, sự thống trị, bóc lột
bao giờ cũng áp đảo sự tương
trợ, đoàn kết. Khắp nơi và mọi
thời, hận thù và khinh miệt đều
thắng thế trên t́nh bạn và sự cảm thông,
khắp nơi những tôn giáo của t́nh yêu và
những hệ tư tưởng bác ái đều
gieo rắc hận thù, xa lánh nhiều hơn là t́nh yêu
và t́nh huynh đệ.
Trong lịch sử, sự
điên cuồng thường vẫn càn quét lư trí và
sự vô ư thức vẫn đẩy lùi ư thức.
Tại sao một lần nữa sự điên rồ
và sự vô ư thức lại không có thể lôi kéo
số mệnh chúng ta đi?
Bởi v́ hôm nay những
kẻ theo chủ nghĩa truyền thống, trường
phái hiện đại và hậu hiện đại
đă mù quáng biết chừng nào! Tư tưởng
cũng đă bị vỡ vụn thành trăm
mảnh! Đối với tính phức tạp toàn
cầu con người đă vô tri biết bao! Đối
với những vấn đề then chốt cũng
đă vô ư thức biết bao! Cái quan hệ giữa
người với người cũng đă man
rợ biết bao! Ôi biết bao nhiêu là điều
không hiểu được!
Dùng văn hoá để thúc
đẩy tiến bộ ư?
Trước đây đâu có
bao lâu, chủ nghĩa Quốc-xă đă chà đạp
cái nước có mức văn hoá cao nhất trong
thế giới. Lấy Saint- Germain-des-Prés (Xanh Gecmanh
đơ Prê) hay là đại học Sorbonne (Xooc-bon)
ở Paris làm mẫu mực của nhân loại ư?
Chẳng nhẽ điều ấy có thể loại
trừ được sự ty tiện, ḷng ham
muốn, tính ác độc? Chẳng nhẽ điều
ấy sẽ đem lại sự sáng suốt và tri
thức về cái chỗ đứng của ḿnh trên
thế giới chăng?
Dùng văn minh để thúc
đẩy tiến bộ ư? Nhưng văn minh
chỉ là một lớp vỏ mỏng bên ngoài đă
bị rạn vỡ và không c̣n nguyên vẹn. Nó
lại đem đến những vấn đề
mới khi vấn đề cũ vừa được
giải quyết xong. Sự chẩn đoán của
Freud về căn bệnh của văn minh
("Những văn minh đều bị loạn
thần kinh chức năng dưới chính tác
dụng của bản thân chúng") cũng vẫn c̣n
hiệu lực, nhất là đối với nền
văn minh của chúng ta, bởi v́ nó sinh ra những
chứng bệnh mới mà chỉ nó mới có mà thôi.
Một nền văn minh
được văn minh hoá quá độ có thể
dẫn đến chỗ khao khát sự man rợ mà
John Boorman (Giôn Boócman) đă diễn tả trong phim
"Zardoz".
Thế th́ văn minh hoá
quả đất là nghĩa ǵ nếu chính bản
thân của văn hoá và văn minh đều gây ra
vấn đề?
Vấn đề này
đưa chúng ta trở lại điều cơ
bản, có nghĩa là văn hoá và văn minh không
đem lại sự cứu rỗi. Nhưng ngay
cả trong sự bất măn mà những thoả măn
của văn minh mang lại, văn minh này lại tái
tạo ra sự bất măn có tính nhân loại
học, nghĩa là nhu cầu thúc đẩy tiến
hoá nhân loại. Sự bất măn về chính sự
thoả măn, ra đời giữa văn minh chúng ta và
đang ăn ṃn nó, chính là điều kiện
chuẩn bị cho sự vượt qua nó.
Nói tóm lại, chúng ta
phải dám quay về với nguyên tắc đề
kháng. Và cuối cùng trong sự tuyệt vọng chúng
ta vẫn c̣n những nguyên tắc hy vọng như
sau:
Nguyên
tắc đầu tiên là một nguyên
tắc cốt tử: giống như bất cứ
sinh vật nào cũng đều tự có thể tái
sinh dưới một ứng lực (tension)
về phía tương lai không thể ức
chế, tất cả những ǵ thuộc về con
người cũng thế, nó lại tái sinh ra hy
vọng trong quá tŕnh đổi mới sự
sống; không phải là hy vọng làm cho nó sống,
nhưng là sự sống làm ra hy vọng hoặc nói
một cách khác: sự sống làm ra hy vọng để
làm nó sống.
Nguyên
tắc thứ hai là nguyên tắc của
sự khó h́nh dung: Tất cả những biến
chuyển hoặc sáng tạo lớn đều là
thứ không có thể nghĩ ra được trước
khi nó phát sinh.
Nguyên
tắc thứ ba là nguyên tắc vị
tất: Tất cả những ǵ xẩy ra tốt
đẹp trong lịch sử đều đă không
có khả năng xuất hiện một cách tiên
nghiệm.
Nguyên
tắc thứ tư là nguyên tắc
của con chuột chũi: Con vật này đào
những đường hầm và làm rỗng
từng đất ngầm trước khi mặt
đất bị động chạm.
Nguyên
tắc thứ năm là nguyên tắc của
sự cứu vớt nhờ ư thức được
nỗi hiểm nguy. Theo lời của Hửlderlin:
"ở nơi mà nguy cơ tăng th́ sự
cứu nguy cũng tăng lên".
Nguyên
tắc thứ sáu là một nguyên tắc nhân
loại học: Chúng ta biết rằng con
người tinh khôn cho đến bây giờ
vẫn chỉ dùng có một phần rất nhỏ
của khả năng tinh thần / đầu năo
của nó. Như vậy chúng ta vẫn c̣n lâu
mới dùng hết được những khả năng
trên phương diện trí tuệ, t́nh cảm, văn
hoá, văn minh, xă hội, chính trị vốn có
của loài người. Điều này có nghĩa là
văn hoá của chúng ta hiện nay chỉ tương
ứng với thời vẫn c̣n là tiền sử
của đầu óc con người và văn minh
đương đại của chúng ta hiện nay
vẫn c̣n đ́nh đốn ở thời đại
đồ sắt toàn cầu hôm nay. Điều này
như vậy c̣n có nghĩa và nhất là, trừ phi
xẩy ra những tai biến ghê gớm, chúng ta
vẫn chưa đạt đến được
độ cao của những khả năng đầu
năo / tinh thần con người, của những
khả năng lịch sử các xă hội, của
những khả năng nhân loại học trong
tiến hoá nhân loại.
Nhưng sự tan vỡ
ảo tưởng này không hề ngăn cản bước
tiến về một giai đoạn mới trong
tiến tŕnh tiến hoá nhân loại, giai đoạn
này đồng thời cũng là một giai đoạn
mới trong văn hoá và văn minh con người.
Sáu nguyên tắc này cũng có
giá trị trong trường hợp kết quả
trở thành xấu nhất. Chúng không đem đến
một cái ǵ bảo đảm cả. Sự
sống có thể gặp phải cái chết một
cách ngẫu nhiên. Điều khó tưởng tượng
nổi chưa chắc ǵ sẽ đến. Cái không
có khả năng xẩy ra không tất yếu là may
mắn. Con chuột chũi có thể làm tan hoang
tất cả những ǵ con người muốn
giữ ǵn. Khả năng cứu trợ có thể không
đạt được tŕnh độ của
những hiểm nguy.
Cuộc phiêu lưu vẫn c̣n
là một ẩn số. Thời đại toàn
cầu có thể sẽ đắm ch́m trước
khi được thăng hoa. Sự hấp hối
của loài người có thể rồi chỉ
đưa đến chết chóc và điêu tàn. Nhưng
cái kết quả xấu nhất đó cũng chưa
có ǵ là chắc chắn, tất cả ván bài
vẫn chưa ngả. Không thể biết trước
một sự xác thực hoặc một xác suất
nào, xét cho cùng vẫn c̣n có thể có một tương
lai tốt đẹp hơn.
Nhiệm vụ của chúng ta
th́ vô cùng lớn lao và đầy bất trắc. Chúng
ta không thể nào trốn tránh vào tuyệt vọng cũng
như vào hy vọng. Muốn thực hiện gấp
nhiệm vụ hoặc ngược lại muốn
thoái thác cũng đều không thể được.
Chúng ta cần phải vũ trang bằng một
sự "kiên nhẫn nóng bỏng". Chúng ta đang
ở vào ngày hôm trước của cuộc
chiến, không phải cuộc chiến cuối cùng,
nhưng là cuộc chiến ban đầu.