|

Từ đầu Xuân năm nay nhờ cái duyên làm quen với thế
giới chim qua hội "Audubon" (1) tôi đă biết khá nhiều về giới
"điểu", ngay cả lời ca và tiếng nói của "họ". Khi biết thêm thứ
tiếng mới nầy rồi th́ có khác ǵ như biết thêm một sinh ngữ. Cho
nên lúc đi hiking tôi thường lắng tai nghe tiếng chim kêu để đoán
xem ai đó đang gọi ḿnh(?).

Ohio có nhiều loài chim đẹp nhất là vào mùa Xuân khi
chim đi tránh lạnh trở về xứ củ để xây lại tổ ấm. Họ thường về đúng
lúc vào ngày lễ Mẹ (Mother’s day) (2) để được muôn ngàn người ra đón
chào.
Từ Xuân cho đến cuối mủa hè nơi chúng tôi ở đi
đâu cũng nghe chim kêu gọi với nhau. Nhưng phải hiểu được
tiếng chim ta mới khám phá ra sự hiện diện của họ - nào có khác ǵ
qua cái "ngộ" của tri giác ta mới thấy được cái thế giới thực xung
quanh ḿnh?
Mùa Thu khi lá bắt đầu đổi màu, đó là lúc nhiều nhóm
chim cất cánh bay về miền Nam - trong đó đa số là chim ăn sâu, côn
trùng, rồi đến cả ngỗng trời hay thiên nga. Nhưng không phải chim
nào cũng bỏ Ohio mà đi khi "Đông chí". Trong những con chim đẹp c̣n
ở lại vào mùa Đông có chim "Cedar waxwing" và chim "Carnidal" (Ohio
state bird!).

Chim ăn hạt "Eurasian
Honeysuckle"
Chim "cedar waxwing" thích ăn hạt cây cedar (Eastern
cedar hay
Red
Juniper) nên bị gắn cho cái chữ lót "cedar". Phần gần cuối cánh của
nó có một
chấm màu đỏ như bị niêm phong (sealing) với sáp (wax; thường màu
đỏ). Đó là lư do tiếng Anh cho nó cái tên "Wax + wing".
Tên khoa học của chim nầy là Bombycilla cedrorun,
nó thuộc họ Bombycellidae thường sống ở vùng Bắc Mỹ và phía Nam
Canada. Chim có kích thước khoảng 15-18 cm và nặng tối đa là 30 g.
Bên Nhật họ gọi chim nầy là "Himerenjaku" (姫連雀・cơ
liên tước, "cơ" có nghĩa là "công chúa", "tước" là "chim sẻ" ) hay
"Hirenjaku" (緋連雀・phi
liên tước, "phi" là "đỏ" theo Hán Nhật hay "lụa đào" theo Hán Việt).
Cedar waxwing có tính sống chung với nhau đôi lúc đến
100 con. Trong gia đ́nh cedar waxwing có một loài hơi to con tên là
"Bohemian Waxwing" (Bombycilla garrulus) - tiếng Nhật gọi là
"Kirenjaku" (黄連雀・hoàng
liên tước, "hoàng hay huỳnh" có nghĩa là "màu vàng"). Người Trung
Hoa thích nuôi chim nầy và gọi là chim "Thái B́nh" (太平鳥).
Sự phân biệt giữa 2 loài của gia đ́nh Bombycilla thường không phải
dễ. Hai loài chim đôi khi sống chung với nhau như anh em trong cùng
một gia đ́nh.
Về tiếng gọi nhau, chim "Cedar waxwing" không dùng
tầng số "khoái nhỉ" ví von (!) như chim oanh hay sáo rừng. Chim
cedar waxwing gọi nhau bằng "high pitched" của tầng số cao. Người
không thính tai hay không "tune" được với âm thanh ở tầng số 8000 Hz
hay cao hơn th́ sẽ không nghe tiếng chim nầy kêu. Nó thường "x́
xào", "ri ri" rất nhẹ nên cần phải tinh luyện lỗ nhĩ mới nhận ra
được.

Khi đến lúc cặp bồ, chim trống mái thường đậu kề bên
nhau xong rồi cùng trao đổi "quà cưới" qua lại - đó là những cánh
hoa, cành nhỏ,
con
sâu hay hạt. Chim cedar waxwing thích ăn hạt cây, thêm vào đó là sâu
bọ khi nuôi con . Đến lúc cuối mùa có hạt, người ta thường thấy chim
cedar waxwing đậu thành hàng trên cùng một cành. Rồi một con ở phía
đầu rứt hạt xong trao chuyền cho nhau để cùng chia sẻ miếng ăn ngon
lúc hiếm hoi. Chim ǵ "kỳ lạ" sao lại biết hợp tác chẳng khác ǵ con
người....
Chim cedar waxwing rất hiền ḥa, sống gần người lúc
cần thức ăn và nước uống. Mùa Đông ta thường thấy cả đàn 4-50 con
đến ăn hạt berries quanh nhà. V́ ăn cùng thức ăn với chim robin
(giống như chim cưỡng) nên thường bị chim sau ăn hiếp xua đuổi.
Chim cedar waxwing thích nghe tiếng nước chảy. Muốn
t́m chim nầy ta nên đến gân suối nước nơi có hàng cây berries (như
Eurasian Honeysuckle) hay cây cedar... Naruhodo!
(1) xin xem: Đầu
Xuân đi chơi với "Audubon" qua link:
http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Audubon-04162010/Audubon.htm
(2)
xin xem: Đi xem chim trong ngày của
Mẹ..... qua link:
http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/XemChim-05212010.htm
|