|
Cuối tuần qua tôi đi "săn”(= xem) chim" theo kiểu
người Mỹ gọi là "birding". Người xứ nầy khi thích chơi cái ǵ th́
thường gia nhập vào một hiệp hội chuyên môn hay club cho môn chơi
của ḿnh. V́ thế cho đến thú đi xem chim không mà cũng có cái club
gọi là "Audubon" ở mỗi địa phương lớn.

Columbus Audubon Center
"Audubon" là tên của một họa sĩ thiên tài chuyên
vẽ về loài "chim" và cũng là chuyên gia "Điểu học" "(Ornithologist).
Tên trọn vẹn của ông là John Jame Audubon (1785-1851). Họa sĩ là con
riêng của một sĩ quan Hải quân Pháp sống ở xứ thuộc địa Haiti. Sau
khi mẹ ruột chết được cha mang về mẫu quốc cho ăn học và nuôi bởi
chính thê của cha. Ông được gửi sang Mỹ lúc 18 tuổi có lẽ để tránh
đi lính cho Hoàng đế Napoleon.
Audubon là người đầu tiên dùng ṿng dây có số mă
cột vào chân chim (bird-banding) để theo dơi sự di chuyển của chim.
Qua nhiều năm quan sát ông đă khám phá ra rằng - dù cho chim có đi
di tản qua mùa hàng ngàn cây số chăng nữa, khi trở về xứ sinh đẻ sẽ
t́m đến tổ xưa của ḿnh. Năm 1826 Audubon cho xuất bản tập tác phẩm
gồm 435 trang tranh của ḿnh về 497 loài chim của xứ Mỹ với kích
thước thật và màu sơn bằng tay. Mỗi trang sách của ông ngày nay bán
qua đấu giá "auction" đến hàng ngàn đô-la. Tập tranh nầy được các
bảo tàng viện và thư viện lớn trên thế giới mua bảo quản. Charles
Darwin đă từng ngồi trong những phiên tŕnh diễn kỹ thuật giàn cảnh
vẽ chim của ông. Ngay trong quyển "The Origin of Species" (Nguồn gốc
muôn loài) Darwin đă nhắc đến tên ông 3 lần.

Tuy không phải là Audubon hay Darwin, mỗi khi đi
ra ngoài trời thấy chim hay thú vật tôi cảm thấy rất là lư thú.
Trong mấy tuần qua, sau khi cơn gió mùa Xuân thổi về vùng tôi đang
ở, hầu như mỗi cuối tuần tôi đều đi hiking ở các vùng bảo quản loài
hoang dă (wildlife reserve) hay công viên thiên nhiên của thành phố
vùng có nhiều chim và thú.
Buổi sáng lúc lên đường tôi gặp 2 con kền kền phơi
đôi cánh ướt sương đêm trên ngọn cây ven ruộng dưới nắng ấm. Trong
công viên Pickerington Ponds có mấy con c̣ xanh và trắng đang đi t́m
cá trong ao, xong rồi mang về tổ để nuôi con gần đó. Mùa nầy vịt và
le le bắt đầu ấp trứng, khoảng 1 tháng nữa là vịt le le con lội đầy
ao rất dễ thương. Trong công viên Glacier Ridge Metropark-Honda
Wetlands Education Area phía Bắc có rất nhiều loài vịt trời. Nhiều
tên vịt và tiếng kêu nghe xong rồi nhớ không hết. Khi chiều đến có
một đàn chim Starling ("sáo đá xanh") bay về vùng đồng cỏ gần đấy để
nghỉ đêm. Trên một cây sồi (oak) cao con ó đang chờ săn vịt trời.
Dưới đó là một họa sĩ đang mài miệt với mấy cây cọ màu cố ghi lại
cái giây phút huyền diệu của buổi chiều tà. Ngày ngày như mọi ngày
con chim đen cánh đỏ (một loài sáo hay cưỡng) cất tiếng ca thật
thanh như tiếng c̣ "tu-huưt" (whistle) – anh ta cố thu hút sự chú ư
của nữ phái hay là muốn nhắc nhở chim trống khác "đây là không phận
của ta" chăng?. Trong khi đó con chim "Brewer’s blackbird" (cánh
xanh "metallic" phản chiếu màu cánh con "kim quít") ngoảnh cổ ngó
lại như muốn mắng: "nanda...uru xê né!" (làm ǵ mà ồn quá vậy...).
Trên đường về tôi gặp một đám trẻ con người Amish
đang chơi trong một công viên. Có 2 cô bé rất là nghịch ngợm hồn
nhiên, leo trèo khắp nơi. Sau một ngày dài trong lúc mệt mỏi tôi
tưởng họ là loài chim hóa người. Rồi như qua cái thói quen tôi mở
máy ảnh ra chụp. Người mẹ thấy thế mỉm cười trong khi 2 đứa trẻ tỏ
vẻ bẽn lẽn. Th́ ra họ cũng là người ta như tôi…
Naruhodo! (Th́ ra thế).
|