|
Đi xem chim trong ngày
của
Mẹ.....
Huỳnh Văn Ba - Exryu USA (*)
Those who dwell among the beauty and mysteries of the earth
are never alone or weary of life
Rachel Carson
Ngày Chủ Nhật vừa qua là ngày
của
Mẹ (母の日・
Mother’s
day). Để nhớ công ơn nuôi dưỡng của hiền mẫu tôi thức sớm lên đường
để đi t́m lại cái kỷ niệm
êm đềm với "Mẹ Thiên Nhiên".
Xin xem toàn tập ảnh
Nơi tôi đi cách nhà khoảng 120 miles hay gần 200 km.
Đây là một vùng hoang dă có tên là Magee Marsh Wildlife Area (MMWA)
và Ottawa National Wildlife Refuge (ONWR). MMWA và ONWR cả hai là
vùng đất nước đọng, được đặt
ra để bảo vệ loài dă sinh như chim c̣, nai, chồn, v.v. Hai công viên
nầy nằm kề bên nhau trên ven
biễn hồ Erie (là một trong ngũ đại hồ
trải dài giữa biên giới Canada và Hoa Kỳ). Khoảng 100 km phía
Bắc đối ngạn với MMWA và ONWR là công
viên quốc lập Point Pelee National Park của Canada. Nơi sau nầy cũng
là vùng đất ẩm
để dành bảo vệ muôn thú
như hai vùng trên.
Nói về
địa lư, "Great Lakes Area" - Ngũ Đại Hồ là vùng đất
bằng do băng hà xưa kia tạo ra. Đến đây ta sẽ thấy rất nhiều đầm lầy
và sông hồ chẳng khác ǵ miền Tây Việt Nam. Đối với loài chim chóc
đây là nơi ẩn trú lư tưởng cho việc nuôi con trong mùa hết tuyết và
băng - v́ có nhiều côn trùng, cá, cua, ếch nhái sinh sôi nẩy nở một
cách đột phá vào đầu xuân. Đương nhiên hoa cỏ cũng đóng góp lớn vào
phần lương thực như hạt, trái và mật hoa cho giới "Herbivores" -
tức loài động vật "ăn chay trường".

Chim
Prothonotary warbler
Khi mùa Đông sắp chấm dứt ở Bắc bán cầu và mùa hè đổi
sang Thu ở Nam bán cầu, chim đàn miền Neotropic "Tân nhiệt đới" (新熱帯)-
như Trung và Nam Mỹ Châu- đoán biết là nguồn lương thực sẽ khô cạn
ờ vùng phía Nam nên bắt đầu di chuyển lên phía Bắc. "Họ" làm những
cuộc "di cư" bằng cánh bay đường dài hàng trăm hàng ngàn cây số,
xuyên qua nhiều quốc gia và đại lục. Thường th́ nhóm "waterfowls" -
vịt c̣ đi trước v́ họ cần nhiều th́ giờ để chuẩn bị cho việc t́m ổ
và ấp trứng. Kế đến là loài ăn sâu v́ nhóm nầy cần đến đúng lúc
tuyết hay băng vừa tang để cho "muỗi" và sâu nở trứng. Nhóm "ăn
chay" th́ thảnh thơi hơn loài "ăn mặn". Họ chờ cho đến lúc hạt và
hoa quả đơm cành miền trên rồi mới lên đường.
Về cách bay có loài thích bay ban ngày có loài thích
bay ban đêm. Một trong lư do chọn ban ngày là dễ t́m phương hướng,
kế đến là lợi dụng sức nổi của không khí ấm do ánh nắng tạo cho gọi
là "Thermal" - con diều rất giỏi về nghề chơi nầy. Ta gọi loài nầy
là loài "trú hành" (昼行/
Diurnal migrants). Loài ngược lại với loài vừa kể là loài "dạ hành"
(夜行/Nocturnal
migrants) - tức loài thích bay đêm. Cái lợi điểm của bay đêm là v́
có không khí mát nên không bị "overheat", ít khi gặp loạn khí lưu.
Ngày nay khoa học gia tin rằng loài chim bay đêm có khả năng t́m
phương giác cho cuộc hành tŕnh qua vị trí ánh sáng của sao đêm.
Thường loài chim bé nhỏ như chim nhạn, oanh rừng (warblers) v.v.
chọn bay "di cư" ban đêm để tránh chim lớn, trong khi ban ngày th́
nghỉ ngơi và t́m thức ăn dọc đường.
Chim warblers là loài chim giống
như chim oanh
hay chim
sẻ. "Họ" sống nhờ sâu mới nở trứng hay trùng đất. Đây là chim thích
ca hót cho nên người Mỹ gọi họ là "songbirds". Người thích
hát líu lo th́ cũng được đặt
cho nickname là "warbler". Chim warblers ngoài tài hót hay c̣n có
cái "áo xuân" rất đẹp. Cánh của họ có khi màu đỏ, màu vàng, màu cam,
màu tím, màu xanh v.v. Có loại có cái ức vàng ánh như bông, với con
mắt tṛn tí teo rất dễ mến. Cái mỏ của loài warblers là mỏ để ăn sâu
nên hơi dài và nhọn. Dân miền Bắc Mỹ rất yêu loài chim nầy cho nên
khi họ đến miền trên th́ tất cả nhóm người theo đạo "audubon" (1)
gần như muốn nghỉ việc để đón chờ họ đến.

Từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 mỗi đêm ta có thể thấy từng loạt chim
Warblers bay "di cư" về vùng thung lũng Ohio qua radar. Magee Marsh
Wildlife Area và Otta National Wildlife Refuse là nơi "nghỉ cánh"
sau đoạn đường bay dài hàng ngàn cây số từ Nam Trung Mỹ lên trước
khi nhập cảnh vào Canada - v́ phải băng qua biển
hồ Erie quá lớn (100 km non-stop!). Ngày
Chủ
nhật thứ hai của tháng 5 là "ngày của Mẹ" và cũng là
ngày "ngắm chim" lớn nhất Bắc Mỹ ở Ohio trên ven hồ Erie. V́ thế có
người bảo vùng Magee Marsh Wildlife Area và Ottawa National Wildlife
Refuse là " Warbler Capital of the World" và ngày "Mother’s
day" là một ngày của "the Biggest week in American
birding"(2).
Hơn 300 loài chim "di cư" ghé qua Magee Marsh
Wildlife Area và Otta National Wildlife Refuse mỗi năm trong đó có
khoảng 35 loài chim warblers. Để giúp việc xem chim cho tiện lợi
công viên nầy làm một con đường "boardwalk" như cầu ván bằng gỗ đi
trong một khu rừng hoang với diện tích khoảng 2-3 acres. Đây là nơi
có nhiều cây Sycamore và Cotton tree rất cao tuổi khoảng 3-400 năm.
Phía dưới là đầm nước ẩm. Khi đi trong vùng nầy mọi người đều rất
trật tự, nhường nhịn và giúp đỡ
với nhau. Người nào thấy chim đẹp liền chỉ cho người khác cùng xem
một cách rất tươi vui. Đối với dân thiện nghệ họ biết cả tên của
chim qua cánh áo, lớp lông và tiếng ca hót. Khi chỉ bảo họ cố nén
giọng nói để tránh làm phiền chim và người đứng kế ḿnh. Có người
mang cây đèn "blue laser beam" để dễ chỉ giúp người
khác. Ngôn ngữ của họ rất đặc biệt, thí dụ như "2 giờ trưa" có nghĩa
là anh chị phải nh́n với một góc độ ở nơi kim đồng hồ chỉ 2 giờ từ
một trục chính.

Tôi rất là cảm
động khi nh́n những bà mẹ già trên 7-80 được con cháu dẫn đi xem
chim. Khi thấy con chim non cất tiếng ca hay nhào lộn trên cành một
cách dí dơm, mắt và mồm họ mở
to ra và vẽ mặt rất hấn hở. Không cần phải làm bác sĩ tôi cũng có
thể đoán là những bà mẹ nầy sau chuyến đi xem chim hôm nay lúc về sẽ
sống với những ngày đẹp của tâm hồn ít lắm là đến sang năm vào mùa
nầy.
(1)
Xin xem thêm
"Đầu
Xuân đi chơi
với
"Audubon"
qua link :
http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Audubon-04162010/Audubon.htm
(2)
Kenn
Kaufman
(born
1954) - an
American
author,
artist,
naturalist, and
conservationist,
known for his
work
on several popular
field guides of
birds and butterflies in North America.
|