|
Bài viết này sẽ
kết thúc loạt bài về máy chụp cắt lớp vi tính CT. Trong số tới chúng
tôi sẽ trình bày về kỹ thuật chính chụp cộng hưởng từ (Magnetic
Resonance Imaging hay thường được gọi tắt là MRI)-
một kỹ thuật không xâm lấn, không dùng tia phóng xạ X và được chọn lựa
nhiều nhất trong cộng đồng y khoa trong việc khảo sát hình ảnh u não.
MRI còn được dùng để đánh giá tình trạng bệnh lý như ở cổ, tủy sống,
ngực, tim, vú, mạch máu và nhiều chẩn đoán
lâm sàng khác.
Trong bài viết trước [1], chúng tôi đã
trình bày về
cơ cấu và nguyên lý vận hành của máy
chụp cắt lớp vi tình với màn hình phẳng FDCT hay còn gọi là
Cone Beam Computed Tomography (CBCT)
và việc sử dụng bộ cảm biến màn hình phẳng ghép nối (hybrid detector).
Hệ cắt lát FDCT
dùng C-arm systems trang bị với bộ cảm biến màn phẳng đã được nghiên
cứu và xử dụng trong nhiều năm qua; đầu tiên với ống tăng cường ảnh
(image intensifiers). Nhưng gần đây người ta cùng
bắt đầu dùng bộ cảm biến màn phẳng với diện tích nằm trong phạm vi từ
5x5 cm2 đến 40x40 cm2, tùy theo nhu cầu và giá
thành. Màn phẳng với một diện tích rộng như 30 x40 cm2 và
kích cỡ của điểm ảnh (pixel size) khoảng 150x150 µm2 cũng
được triển khai. Vì thế, bộ cảm biến màn phẳng
dùng trong việc chụp X-quang tuyến vú kỹ thuật số (digital
mammography) cũng có thể dùng trong máy chụp CT với màn hình phẳng
FDCT. Bộ cảm biến màn hình phẳng có ưu thế
về vùng tuyến tính rộng, tốc độ đọc tín hiệu điện tử nhanh, và thiết
kế gọn. FDCT còn có thể dùng trong lãnh vực chẩn đoán lâm sàng
và những ứng dụng đặc thù về mặt, răng và giải phẩu thẩm mỹ.
Để dễ theo dõi quá
trình phát triển FDCT và chức năng của bộ cảm biến màn phẳng trong máy
chụp X-quang tuyến vú kỹ thuật số và FDCT, chúng tôi xin tóm lược cấu
trúc của bộ cảm biến màn phẳng trước khi thảo luận vai trò của bộ cảm
biến thuộc dạng thức này trong những ứng dụng liên quan đến máy chụp
cắt lát CT. Trong số này, xin quý bạn
đọc cùng chúng tôi ôn lại cấu trúc của bộ cảm biến tích hợp, phương
pháp “tiling”, hai chức năng chụp quang tuyến X (radiography) và nội
soi huỳnh quang (fluoroscopy) trong cùng một bộ cảm biến- những kỹ
thuật mà chúng tôi đã được may mắn có cơ hội góp phần triển khai vào
giữa thập niên 90’s [2-6].
1. Tóm lược
về cấu trúc tổng quát của bộ cảm biến tích hợp
1.1 Cấu tạo
tổng quát của bộ cảm biến màn hình phẳng
Bộ cảm biến X quang dùng chất cảm quang
phủ trên hàng triệu tranzito (transistors) trải rộng trên một mặt nền
có kích cỡ từ 10”x10” (25.4 cm x 25.4 cm) đến 17”x17” (43.2 cm x43.2
cm). Mỗi tranzito đi đôi
với một điểm ảnh (pixel)- tương đương với
một giếng điện tích- có kích cỡ khoảng 50 µm x 50 µm đến 139 µm x 139
µm hay lớn hơn. Mỗi tranzito vẩn hành như một cái
khóa điện tử có thể đóng mở để truyền tải điện tích. Lượng điện
tích tỉ lệ với lượng quang tuyến X và được dẫn đến các mạch điện chung
quanh trang bị với bộ ghi dịch (shift register), bộ biến đổi A/D (A/D
converter), source follower, tạo thành hình trắng đen trên màn hình
máy tính để bác sĩ X quang tầm soát và chẩn đoán. Hình 1a tương đương
với bộ cảm biến DR với chất quang dẫn (photoconductor) amorphous
selenium nằm trên một dàn hàng với hàng triệu vô định hình silic
tranzito (amorphous silicon thin film transistors) để cảm biến trực
tiếp lượng X quang qua dạng điện tích. Thuật ngữ để ám chỉ qui trình
biến đổi trực tiếp từ X quang sang điện tích được gọi là “direct
conversion”. Hình 1b biểu hiện một dạng thức khác của bộ cảm biến DR
khi chất cảm biến là cesium iodine hợp thêm với tạp chất thallium (CsI:Tl)
hay gadolinium oxysulfide thêm với tạp chất terbium (GdOS:Tb) dùng để
biến X quang thành quang phổ nhìn thấy. Thuật ngữ để ám chỉ qui trình
biến đổi từ X quang qua quang phổ rồi sang điện tích được gọi là
“indirect conversion”. Lượng quang phổ tỉ lệ với lượng X quang được
cảm biến với quang điốt (photodiode) và điện tích đạt được sẽ được
truyền đạt đến mạch điện chung quanh.
Trong hệ DR này, mạch điện tử đọc tín hiệu
(read-out electronics) với những bo mạch
chung quanh làm bằng đơn tinh thể silic và kết nối với bộ cảm biến
bằng hợp kim hàn. Chúng tôi tạm gọi hệ thống này
là bộ cảm biến ghép nối (hybrid radiation detector). Có nghĩa
là bộ cảm biến này được tạo thành bằng sự kết hợp qua hàn chì
của hàng
chục triệu vô định hình silic tranzito và quang điốt làm bằng vô định
hình silic hay đa tinh thể silic với mạch điện chung quanh làm bằng
đơn tinh thể silic [5].
Hình 1.
(a) Cấu trúc điểm ảnh DR với amorphous selenium/transistors (direct
conversion) do chúng tôi đề nghị và triển khai; (b) Cấu trúc điểm ảnh
DR với phosphor/photodiodes/transistors (indirect conversion); phốtpho
có cấu trúc (structured phosphor) hay CsI:Tl
có thể dùng để giảm thiểu sự phát tán quang tử.
1.2 Bộ cảm biến X-quang tích hợp
Để tránh những yếu điểm của sự ghép nối
đơn vị cảm biến (làm bằng chất vô định hình silic) và phần dẫn và đọc
tín hiệu (làm bằng đơn tinh thể silic), chúng tôi tiến thêm bước kế
tiếp là thiết kế và chế tạo bộ cảm biến và mạch điện cùng một lúc; và
tất cả đều dựa trên đơn tinh thể silíc (Hình 2). Nói một cách nôm
na hơn, bộ cảm biến sẽ được tạo thành bằng
sự kết hợp hàng chục triệu
tranzito (direct conversion, Hình 1a) hoặc tranzito và quang điốt
(indirect conversion, Hình 1b) với mạch điện chung quanh; tất cả đều
làm bằng đơn tinh thể silic mà không phải
qua công đoạn hàn chì.
Về phương diện chế
tác và chức năng, dùng đơn tinh thể silic và công nghệ CMOS để chế tạo
linh kiện điện tử như quang điốt, tranzito và mạch điện có nhiều lợi
điểm mà đa tinh thể hay vô tinh thể silic không thể có được: (i) Thời
gian chuyển mạch (switching time) của tranzito nhanh hơn; (ii) Tất cà
bộ cảm biến kể cả quang điốt, tranzito và các mạch điện tử chung quanh
đều được chế tạo cùng một lúc nên giảm thiểu thời gian chế tác và nâng
cao công xuất sản lượng; (iii) Công nghệ CMOS đơn tinh thể silíc gần
như hoàn thiện sau hơn 50 năm, chiếm hầu hết các sản phẩm điện tử
chúng ta dùng hiện nay. Vì thế, hiệu xuất sản lượng, chức năng cao với
giá thành thấp theo Moore’s Law [4] sẽ tiếp
tục trong nhiều năm sắp tới. Ngoài ra, thiết kế của chúng tôi còn có
những đặc điềm như sau: (iv) Tia sáng từ tia X có thể chiếu từ phía
sau của phần cảm biến như quang điốt nhằm đạt tỉ lệ vùng cảm biến
(fill factor FF) cao hơn; (v) Các đơn vị cảm biến modules có thể tháo
ra và gắn lại một cách dễ dàng trong trường hợp bị sai hỏng, mà không
cần phải hủy bỏ toàn bộ cảm biến. Đơn vỉ cảm biến cũng có thể gỡ ra để
test, burn-in hay thay thế; (vi) Active pixel sensors có thể thiết lập
ở pixel level để khuếch đại tín hiệu cảm nhận được từ quang điốt hay
chất quang điện trước khi truyền tải ra mạch điện bên ngoài; (vii) Một
thiết kế độc đáo nữa ở đây là chúng tôi thêm “configured transistors”
vào cấu trúc cơ bản của mỗi điểm ảnh để thay đổi chức năng của những
linh kiện điện tử như reset, bộ khuếch đại amplifier (tương tự với
active pixel sensors) hay bộ biến đổi A/D; (viii) Vì kích cỡ của đơn
vị cảm biến modules nhỏ (2”x 2” đến 8”x 8”), hiệu xuất sản lượng sẽ
cao hơn; (ix) Dùng phốtpho có cấu trúc (structured phosphor) trong
trường hợp “indirect conversion”; (x) Bộ
cảm biến X-quang tích hợp có thể thiết kế để dùng cho cả radiography
(static) và fluoroscopy (dynamic)- trong cùng một cấu trúc, chỉ khác
nhau ở cách đọc, thời gian và phương hướng dẫn mạch điện ra ngoài
(binning approach) [6-7].

Hình 2.
(a) Đơn vị cảm biến modules 18
kết nối với nền chuyển tải (carrier substrate) 16
qua điểm tiếp xúc
điện 20 . Điểm tiếp xúc
20 gốm có đệm tiếp xúc (contact pads) nối liền với nhau quả cầu hàn
(solder balls) 26. Đệm 22 kết nối với đệm tiếp xúc dưới hình
thức những cây ghim (pins)24- Sau này có thể nối với ổ cắm (sockets)
trong tấm nền chung (base substrate); (b)
Nhìn từ một
bên của bộ cảm biến với nhiều đơn vị cảm biến modules. Bo mạch
PCB nằm ớ phía sau của tấm nền chung, đối
diện với những đơn vị cảm biến modules [8].
Như một thí dụ, đơn vị
cảm biến modules với kích cỡ 2.125” x
2.125 “ (5.39 cm x 5.39 cm) trước và sau
khi bao phủ với một lớp phốtpho như GdOS:Tb được biểu hiện ở Hình 2b.
Mỗi module có 624 x624 điểm ảnh (pixels) và mỗi điểm ảnh có kích cỡ
85 µm x 85 µm. Các bo mạch chủ nằm ở phía
sau của tấm nền chính. Ghim 24,
qua điểm tiếp xúc giữa hai đầu cầu hàn (solder ball) 23 trong
Hình 2a, có thể gỡ ra từng cái một để
dùng trong những công đoạn như burn-in, reworks và đo đạt. Điều này
rất thuận lợi về thời gian và giảm phí tổn cho hãng chế tạo và ngay cả
khách hàng- không cần phải thay hoàn toàn bộ cảm biến mà chỉ cần thay
vài đơn vị modules trong đó mà thôi! Các mạch điện dồn kênh
(multiplexing circuitry) có thể phân phối
bên trong tấm nền chuyển tải nhằm để giảm thiểu số pins 24. (Nên ghi
chú ở đây là tấm nền chuyển tải -carrier substrate- là tấm nền cho mỗi
đơn vị cảm biến modules trong khi đó tấm nền chung
hay tấm nền chính (base substrate) là tấm nền dùng chung cho toàn bộ
bộ cảm biến!). Với phương pháp này, số điểm tiếp xúc giữa tấm nền
chuyển tải và tấm nền chính có thể giảm thiểu một cách đáng kể, so với
số điểm tiếp xúc giữa tấm nền chuyển tải và đơn vị cảm biến module.
Kết quả là con số pins có thể giảm xuống 10 lần hay nhiều hơn so với
điểm tiếp xúc ban đầu trong đơn vị cảm biến; giúp cho việc tháo gỡ và
gắn lại modules được dễ dàng và thuận lợi hơn [8].
Một phương pháp
khác để tránh sự phát tán ánh sáng trong bộ cám biến màn phẳng với
diện tích lớn cỡ từ 10”x10” (25.4 cm x 25.4 cm) đến 17”x17” (43.2 cm
x43.2 cm) là dùng bản mạng sợi quang (fiber optic faceplate) để truyền
dẫn ánh sáng từ phốtpho đến dàng hàn bộ cảm biến. Mạng sợi quang gồm
có hàng trăm ngàn sợi quang nhỏ kết hợp với lớp phốtpho [9].
2. Vài thí
dụ về CBCT với bộ cảm biến màn phẳng tích hợp dùng trong việc chuẩn
đoán
Thí dụ 1
Nhiều đơn vị cảm biến modules “tiled” với
nhau [10] .
Bộ
cảm biến tia X có tất cả 57 đơn vị cảm biến modules; mỗi đơn vị cảm
biến modules có 256x16 pixel elements. Thế có nghĩa là mỗi đơn vị cảm
biến có 256 hàng (rows) nằm dọc theo trục Z; và vì thế sẽ cung cấp 256
lát cắt (slices) cùng lúc cho mỗi vòng quay của bánh rán và 912
columns (16x57= 912 channels). Số hàng này có thể điều chỉnh (để giảm
hay tăng thêm) nhằm có thể đạt được 512 lát cắt hay nhiều hơn.
Mỗi
đơn vị module lại có 8 đơn vị submodules và mỗi submodule có 32x16 để
tạo 256 lát cắt (32x8=256 lát cắt/rows); có nghĩa là 32 lát cắt/rows
với 16 channels. Nếu gọi ma trận này là
NxM với cả hai N và M có thể biến đổi từ 16, 32 hay 64. Chiều dài của
đơn vị submodule nằm dọc theo trục Z=10
mm-40 mm. Những đợn vị cảm biến này tiếp nhận quang tử từ phía sau
(back-illuminated); và quang tử này được tạo thành sau khi tia X chiếu
xuyên qua lớp phốtpho. Các mạch điện đọc và truyền tín hiệu đều nằm
phía sau của đơn vị cảm biến (analog side). Và
những bộ phận điện tử (electronic packages) như bộ cảm biến A/D (24
bits), ASIC, và đường liên kết I/O nằm ở phía đối diện (digital side).
Mạch điện của các dàn hàng điốt được kết nối với bô mạch và bộ kiểm
soát và xử lý (control/processing board) dùng mạch điện mềm (flex
circuits), keo nhiệt (thermal adhesive) và ball grid array (BGA).
Những tấm chuẩn trục (collimating plates) được đặt ở vùng nằm giữa
những đơn vị cảm biến modules để tránh nhiễu xuyên âm (cross talk), và
sự suy giảm hàm chuyển điều biến (modulation transfer function hay MTF).
Thí dụ 2
Quang điồt với
ánh sánh chiếu từ phía sau (back-illuminated) và đường liên kết xuyên
qua tấm nền silic (thru silicon via TSV)
Một lớp phốtpho
dùng để biến tia X thành quang tử.
Quang điốt biến quang tử thành những cặp
electron-hole, tạo nên dòng điện. Khác với cấu trúc của bộ cảm
biến dùng trong máy chụp CT với tia X (vì thế quang tử) chiếu từ phía
trước (Hình 3a) , trong cấu tạo này, quang
tử đến từ phía sau của bộ cảm biến (back-illumination, Hình 3b).
Hình 3c biểu hiện phương cách kết nối diểm tiếp
xúc của điện cực quang điốt với mạch điện tử nằm ở phía dưới của của
bộ cảm biến.

Hình 3.
Cấu trúc của quang điốt:(a)
Quang tử (ánh sáng) đến từ phía trước (front-illuminated).
Vùng hoạt động của quang điốt và điểm kết nối mạch
điện nằm cùng một phía với bộ cảm biến. (b) Quang tử (ánh sáng)
đến từ phía sau (back-illuminated). Vùng
hoạt động của quang điốt và điểm kết nối mạch điện nằm cùng phía đối
diện của bộ cảm biến. Chiều dày toàn bộ cảm
biến vào khoảng 100- 150 μm. (c)
Bộ cảm biến có cấu trúc tương tự (a) với điểm tiếp xúc điện cực phía
trên nối liền với điện cực phía dưới và có thể với
bo mạch điện qua đường liên kết xuyên qua tấm nền TSA (thru
silicon via). Chỉ có phần trên cùng (5-10 μm) là
vùng hoạt động.
Chiều dày toàn bộ cảm biến nằm trong khoảng 300-700 μm.
[11]
Thí dụ 3
Flat-detector
computed tomography (FDCT) [12]
Tốc độ khung (frame
rates) thông thường của bộ cảm biến màn phẳng hiện tại là 5-10
images/second; có thể thuận lợi cho nội soi huỳnh quang.
Độ phân giải không gian (spatial resolution) tùy
thuộc vào kích cỡ của điểm ảnh, hình dạng và tham số dùng trong việc
tái tạo hình [13].
Tham số cũng có thể điều chỉnh qua
phương thức kết nối “binning”.
Binning những điểm ảnh với nhau (binning process) có thể tăng frame
rate tới chẳng hạn 60 images/second với 4x4 binning; nhưng độ phân
giải sẽ bị giảm [6]. Với binning, kích cỡ biểu kiến của điểm ảnh sẽ
lớn hơn, giảm nhiễu âm, lượng dữ liệu (data) và gia tăng frame rates;
nhưng đồng thời cũng giám độ phân giải
không gian (spatial resolution). Kết quả độ hàm
chuyển điều biến MTF (modulation transfer function) bị suy giảm.
Thí dụ: 10% MTF ở 3.0 lp/mm với 0 binning và 1.5 lp/mm với 2x2 binning
(Hình 4). Mặc dù vậy, con số 1.5 lp/mm này đủ vượt qua số MTF của MSCT;
thường khoảng 1.2- 1.4 lp/mm để thoả đáng đòi hỏi cho độ phân giải cao.
Frame rates thông thường của bộ cảm biến với màn hính phẳng hiện tại
là 5-10 images/second; có thể thuận lợi
cho nội soi huỳnh quang.
Table 1 biểu hiện
một số tham số tiêu biểu của bộ cảm biến có màn hình phẳng: CsI được
dùng như lớp phốtpho với độ dày 0.6 mm, có 1,920 x 2,490 pixels
(detector elements) vớ kích cỡ của pixel 154 µm x 154 µm trên một diện
tích 30x40 cm2.

Table 1.
Một số dữ liệu tiêu biểu của FDCT [13].

Fig.
4 Binning suy giảm MTF. 10% MTF
ở 3.0 lp/mm với 0 binning và 1.5 lp/mm với 2x2 binning. Con số này
vượt qua số MTF đòi hỏi với MSCT; typically 1.2- 1.4 lp/mm đối với
trường hợp độ phân giải cao [13].
Thí dụ 4
FDCT dùng trong
nội soi huỳnh quang [14]
CBCT
dùng để cung cấp liên tục xạ hình trong
suốt thời gian quét (scanning). Loại máy này dùng trong những áp dụng
như dental (teeth), oral/maxillofacial region (mouth, jaw, neck)
, và tai, mũi họng (ears, nose, throat ENT) (Hình 5).
CT thông thường
dùng nguồn tia X hình quạt và bộ cảm biến
được dàn hàng thành hình cánh cung để tạo hình cắt lát cho mỗi lần
quét. Trong trường hợp của CBCT, CT dùng nguồn X có hình nón
(cone-shaped X-ray beam) xuyên qua bộ phận cơ thể và tín hiệu
tia X được cảm nhận bởi bộ cảm biến để tạo
hình chỉ trong một vòng quay. Hình ảnh đạt được
với CBCT nhanh hơn cách quay hình xoắn ốc của CT truyền thống, và có
thể hoàn thành với liều lượng bức xạ thấp; kết quả là bệnh nhân sẽ ít
bị phơi nhiễm với bức xạ hơn.

Hình 5.
(a) Đồ hình tổng quát của máy chụp cắt lát CT dùng để chẩn đoán
những vùng gần mặt như miệng, quai hàm, cổ hay tai
mũi họng (maxilla-facial region and ears, nose, throat ENT).
Bánh rán với
những hình dạng và kích cỡ khác nhau dùng cho những ứng dụng khác nhau:
(b) dành cho tư thế ngồi của bênh nhân (hình bên trái, 3D Accuitomo
170, Japan); (c) vị trí đứng (hình giữa, WhiteFox, Acteon Group, Pháp)
và (d) vị trí nằm nghiêng (hình bên phải, NewTom 5G, Ý) [14].
CBCT có thể xếp
hạng tùy theo vị trí của bệnh nhân, quang
trường (field of view), chức năng lâm sàng (clinical functionality) và
loại cảm biện xử dụng (Hình 5a).
CBCT đầu tiên được
thiết kế giống như MDCT; ở đó bệnh nhân nằm ở vị trí nghiêng
(reclined) trong lúc quét (Hình 5d). HIện tại hầu hết các đơn vị /máy
đòi hỏi bệnh nhân ngồi (Hình 5b) hay ở tư thế đứng (Hình 5c). Những
máy loại này đòi hỏi ít không gian hơn như trong phòng khám răng hay
có thể dễ dàng hơn cho những bệnh nhân ngồi trên
xe lăn. Quang trường là một phương hướng
khác để xếp loại CBCT. Tùy thuộc vào loại máy, bộ cảm biến và
hình dạng của chùm tia X, quang trường có
thể xếp hạng như cỡ nhỏ, trung và cỡ lớn.
CBCT dùng để quét
với vùng quang trường nhỏ bao phủ một vùng rộng khoảng 5 chiếc răng (đường
kính khoảng 5 cm); quang trường cỡ trung thường dùng để lấy hình vòng
cung bao phủ khoảng hai hàm răng với chiều cao khoảng 6-11 cm. Trong
khi đó, quang trường rộng dược dùng trong những trường hợp chẩn đoán
những vùng rộng hơn hay để làm kế hoạch cho việc giải phẩu răng hay
những bộ phận gần đầu hay tai mũi họng với chiều cao của vùng quét
thay đổi từ 11 đến 24 cm.
3. Kết từ
So với chụp X-quang thông thường, chụp
CT cho hình rõ nét hơn, đặc biệt là hình mô mềm trong cơ thể.
Khả năng tạo cấu trúc 3D nhằm giúp công tác chẩn đoán và sàng lọc của
bác sĩ X-quang được hiệu quả hơn. Một lợi điểm nữa là xạ hình ba chiều
3D hay có thể triển khai đến 4D (với thời gian và sự di động) hay 5D (với
động lực học chất lưu /fluid dynamics và lưu lượng máu) trở nên một
công cụ tiện lợi ở bệnh viện mà còn dùng trong việc giảng dạy ở các
trường đại học y khoa hay các viện nghiên cứu.
Trong vòng gần 50
năm kể từ ngày máy cắt lớp vi tính đầu tiên ra đời, máy chụp CT đã
phát triển nhanh nhờ sự tiến bộ vượt bực của máy vi tính, bộ cảm biến
X-quang, công nghệ điện tử và hệ thống quét hình xoắn ốc. So với hệ
thống chụp CT đầu tiên với một hay hai bộ càm biến cho mỗi lát cắt vào
đầu thập niên 70’s, hệ thống máy chụp CT với nhiều bộ cảm biến, nhất
là với bộ cảm biến màn hình phẳng, là một đột phá lớn trong lãnh vực
xạ hình y học. Với thời gian nhận hình nhanh, độ phân giải cao và chất
lượng hình tốt, máy cắt lớp vi tính CT đã trở nên phổ biến trong việc
chẩn đoán lâm sáng nhiều bộ phận trong cơ thể với chất lượng bảo quản
sức khỏe bệnh nhân tốt; đặc biệt là khảo sát các
tổn thương về viêm nhiễm, màng phổi, tim, viêm ruột, gan mật, và dạ
dày. Máy CT chẳng những dùng trong y khoa mà còn dùng trong nha
khoa trong việc chẩn đoán răng và những phẩu thuật liên quan.
Trong những loạt
bài tới, chúng tôi sẽ viết về cộng hưởng
từ (Magnetic Resonance Imaging hay MRI)- một phương pháp thu hình dựa
vào hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân của lượng nước trong cơ thể và
là một công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong những chẩn đoán lâm
sàng. Trong khi năng lượng dùng trong chụp X quang như chụp hình cắt
lớp CT là năng lượng phóng xạ tia X, năng
lượng dùng chụp MRI là năng lượng vô tuyến điện, nên không gây độc hại
cho cơ thể. So với máy chụp cắt lớp CT, MRI đắt
hơn, cho rõ hình các cấu trúc phần mềm với độ phân giải cao; nhưng
chất lượng thấp hơn về xương và thời gian chụp hình dài hơn.
(University of
Minnesota & Ecosolar International)
7/14/21
4. Tài liệu
tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part-10-06262021.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Digital%20Mammography.htm
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Digital-Breast-Tomosynthesis.htm
[4]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Integrated%20Radiation%20Detector.htm
[5]
US
patents 5,436,458;
5,182,624; 5,254,480; 5,525,527, 5,818,053; 6,262,421.
[6] US
5,973,311.
[7]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Fluoroscopy-Radiography.htm
[8] US
5,635,718;
[9]
US 5,391,879
[10]
US8548119B2 (GE)
[11]: Efrat Shefer,
Ami Altman, Rolf Behling et al. Advances in CT Imaging (ed.by N.J.
Pelc), 01 February, 2013.
[12] WA.
Kalender and Y. Kyriakou, European Radiology,
volume 17, pages2767–2779(2007).
[13]
https://radiopaedia.org/articles/flat-panel-ct?lang=us
[14]
https://info.blockimaging.com/and-the-top-used-cone-beam-ct-is
|