
Phương pháp
ngưng đọng hơi hóa học metalô- organô
(Metalorganic
Chemical Vapor Deposition - MOCVD)
Part I
Trần Trí
Năng
(Univ. of Minnesota & Ecosolar International)
Phương pháp ngưng đọng hơi hóa học metalô-
organô (MOCVD) đóng vai tṛ tất yếu trong việc sản xuất blue LEDs và
blue LDs. Trong những số trước chúng tôi đă tŕnh bày những “họ hàng”
như nhiệt CVD và plasma CVD [1,2] của hệ thống MOCVD trong đại gia
đ́nh chemical vapor deposition (CVD).
MOCVD là phần cuối trong những loạt bài
chúng tôi viết về blue light technology.
Bắt đầu từ số này , chúng tôi sẽ đề cập
đến những thành phần chính của hệ thống chế tạo màng mỏng MOCVD :
buồng phản ứng, bộ lọc và trừ khử các chất khí (scrubbers), hệ
thống phân phối chất khí và các chất khí. Buồng
phản ứng và một số các thành phần liên quan sẽ được thảo luận trong
số tháng này.
Từ khóa: blue light technology, EL
isplays, MOCVD, thermal CVD, plasma CVD, MBE, alkyl sources,
hydride sources, reactors, scrubbers, gas cabinet, vent line,
exhaust line, susceptor, dry pump, mass flow controller, gas
manifold, heater , pressure controller, vent-run switch, gas
handling system , Aixtron , Veeco.
Thay lời tựa
Hôm nay là ngày Vu Lan.
Lúc đầu, nhà tôi và tôi tính đi chùa nhưng rồi đổi
y v́ những ngày như thế này-nhất là ngày
chủ nhật-, ở những nơi như chùa người đông đảo lắm! Chúng tôi
quyết định ở nhà dành vài giây phút yên
lặng để tưởng nhớ đến mẹ đă suốt đời tần tảo nuôi con.
“…Mẹ ở đó. Bao tháng năm lận đận
Áo nâu đen đẫm mưa bụi tháng ngày
Vỡ đất cày sâu. Thế cuộc đổi thay
Cơm gạo hẩm rế khoai ḿ hai bữa.
Chính chiến dâng cao.
Làng quê khói lửa
Sông Trường Thi nước ngọt nhẹ xuôi ḍng.
Đập Đá, G̣ Găng : bom đạn ngày đêm
Ḍng máu ấm thắm sâu ḷng đất mẹ.
Thái B́nh Dương dâng
cao ḷng biển mẹ
Đưa đời con đi khắp bốn phương trời
Khi trở lại ḷng con thành bé dại
Nhớ ngày nào tuổi nhỏ chạy dong chơi…”
(TBA)
1. Not all the systems that make thin
films are the same!
Vào cuối thập niên 70’s ,
hăng Sharp là “chim đầu đàn” trên thế giới về lănh vực
electroluminescent displays (hay gọi tắt là EL displays). Sharp
dùng phương pháp bốc nhiệt bằng tia điện tử (electron beam
evaporation) để chế tạo lớp bán dẫn ZnS:Mn
và phương pháp phún xạ catốt (sputtering) để chế tạo lớp điện môi
(dielectrics) như Al2O3 và lớp kim thuộc như
Al dùng làm điện cực. Đồng thời ở thời điểm này, nhóm của GS Tuomo
Suntola , University of Helsinki, Phần Lan dùng atomic layer
epitaxy (ALE) *) để chế tạo EL. Độ sáng của tấm hiển thị (EL
displays) của nhóm bên Phần Lan bằng
hay tốt hơn EL của Sharp nhưng deposition rate và khả năng chế tạo
các tấm hiển thị trên diện tích lớn từ ALE quá thấp không thuận
lợi cho việc sản xuất . Lúc đó tôi từ University of California-
Irvine đến làm việc cho một joint-venture của Sharp và Rockwell
International nằm ở đường Amstrong ,
thuộc thành phố Irvine. Công việc trước tiên của chúng tôi là t́m
một phương pháp khác hơn phương pháp electron beam mà trung tâm
nghiên cứu của Sharp ở Nara đang làm để chế tạo hiển thị EL Để
thuận lợi cho việc sản xuất hàng loạt và giảm phí tổn, chúng tôi đề
nghị với ban lănh đạo của Sharp/Rockwell ở Nhật dùng phương pháp
phún xạ catốt để chế tạo tất cả thành phần màng mỏng trong linh
kiện điện tử flat panel EL displays kể cả chất bán dẫn chính
ZnS:Mn. Điểm chính của đề án này là v́ sputtering có thể tạo màng
mỏng với tính năng đồng nhất trên một diện tích rộng và khả năng tạo
hiển thị EL dùng hệ thống dây chuyền in-line. Ban lănh đạo chấp
thuận và chúng tôi gửi đề án đến chính phủ Mỹ (US Army)
và may mắn đề án được chấp thuận tài trợ
v́ lúc đó cơ quan quân sự rất quan tâm đến EL displays. So với màn
h́nh tinh thể lơng (liquid crystal displays, lúc này vẫn c̣n phôi
thai), với màn h́nh (EL displays) ,
người sử dụng có thể đọc được dữ liệu dưới ánh sáng mặt trời, rất
thuận lơi cho công tác quân sự . Đề nghị này nghe rất hấp dẫn nên
mọi người rất phấn khởi và chúng tôi bắt
tay ngay vào việc. Chúng tôi dùng DC phún xạ
catốt để chế tạo Al và AC phún xạ catốt để chế tạo ZnS:Mn
và chất điện môi. Hệ thống phún xạ catốt
của chúng tôi có ba sputtering targets : ZnS, ITO và Al2O3.
Chúng tôi dùng phương pháp reactive sputtering với H2S để
chế tạo ZnS:Mn. Toàn nhóm chúng tôi lúc
bấy giờ có ba người : hai người (một bạn đồng nghiệp người xứ
Pakistan và tôi) lo phần chế tạo (device fabrication/processing ) ;
c̣n một người khác lo phần testing. So với nhóm EL displays của
Sharp ở Nhật (khoảng 25 người), chúng tôi “đúng là điếc không sợ
súng”! Thử thách của nhóm processing là
làm thế nào chế tạo màng bán dẫn ZnS:Mn với chất lượng tốt và từ đó
làm ra flat panel EL displays. Chúng tôi lo tất cả mọi khâu liên
quan đến việc chế tạo hiển thị EL từ device fabrication đến
packaging để có thể hội tiêu chuẩn humidity/temperature testing của
cơ quan quân sự (khó hơn tiêu chuẩn dân sư nhiều). Tôi đă “ṃn vết
xe” trên những con đường với những cái tên như Redhill , Von Karman,
Edinger, Culver; nơi tôi di qua lại nhiều lần để đến tiệm
hardware ở góc đường Redhill và Edinger mua những dụng cụ cần thiết
về để bít kín (seal) tấm hiển thị với chất dầu đen ngơ hầu giữ
contrast tốt hay đến thư viện chính trường UCI nằm ở Campus Drive để
đọc các tài liệu nghiên cứu liên quan . Máy móc làm việc in ảnh
li-tô ( photolithography) c̣n thô sơ và
chúng tôi chỉ có một pḥng sạch nhỏ class khoảng 10.000 (hay nói
một cách nôm na hơn đây chỉ là một pḥng thường ít bụi thôi!). Công
việc tuy có bận thật nhưng thấy vui! Chúng tôi làm ngày thứ
bảy và đôi khi luôn ngày chủ nhất với hy
vọng t́m được một cái ǵ mới để đóng góp. Sau một khoảng thời gian
gần một năm, chúng tôi có thể chế tạo EL displays cho ra ánh sáng
orange-yellow (4x4 square inches, 512x 512 pixels) , nhưng độ sáng
khoảng 70% độ sáng của EL displays dùng electron beam evaporation
của Sharp. Ly do chính là trong lúc chê tạo,
lớp bán dẫn ZnS:Mn bị bắn phá (bombarded) với ions nên chất
bán dẫn có mật độ khiếm khuyết cao (high defect density). Chúng tôi
muốn dùng ion beam sputtering để tránh ion bombardment; nhưng Sharp
không quan tâm đến đề nghị này cho lắm; mặc dù lúc bấy giờ có một số
hăng như Planar Systems ở Oregon tiếp tục nghiên cứu bằng tiền
nghiên cứu của chính phủ dùng phương pháp sputtering như chúng tôi.
Thất vọng về phản ứng “hơi thờ ơ” của Sharp, tôi đổi sang làm việc ở
hăng Arco Solar nằm ở thành phố Chatsworth
(gần Thousand Oaks) và người bạn người Pakistan cũng đi ra ngoài mở
hăng riêng vài tháng sau đó. Project về EL
dsplays ở joint-venture với Sharp cũng dần dần chấm dứt
“không kèn, không trống”.
Sự kiện này đưa ra một bài học là tùy theo cấu
trúc của linh kiện bán dẫn và các màng mỏng, chúng ta cần một kỹ
thuật chế tạo màng mỏng khác nhau : không
phải phương pháp nào cũng giống nhau cả. Một bài học nữa mà tôi
học được ở project này là nghiên cứu khai phát ở kỹ nghệ khác hẳn
với các nghiên cứu ở đại học. The bottom
line của kỹ nghệ là nghiên cứu có tạo ra
sản phẩm tốt và rẻ hay không; c̣n nghiên cứu ở đại học chủ yếu là
t́m cái ǵ “mới” để viết bài đăng báo. Trong suốt thời gian làm
việc trong lănh vực EL displays, chúng
tôi tương đối có một số khám phá mới; nhưng không được viết bài
báo cáo trong cộng đồng chuyên môn và không được gửi xin patents (đây
cũng là một điều lạ đối với một hăng Nhật như Sharp ; nơi mà chuyện
xin bằng sáng chế - dù sản phẩm có work hay không- trở thành thông
lệ).
Giờ trở lại đề tài blue LEDs và blue
LDs : hiện tại có hai phương pháp hữu
hiệu dùng để chế tạo epitaxial structure là : molecular beam
epitaxy (MBE) và metalorgano chemical vapor deposition(MOCVD). MBE
là phương pháp hữu hiệu nhất để chế tạo epitaxy nhưng quá
đắt v́ dùng độ chân không quá cao (10-10
Torr) và chỉ chế tạo các linh kiện bán dẫn trên một diện tích nhỏ
thích hơp cho nghiên cứu nhưng không thuận lợi trong việc sản
xuất. Trong khi đó MOCVD không đ̣i hỏi độ chân
không cao và có thể dùng chế tạo màng mỏng trên diện tích rộng, phù
hơp cho việc sản xuất. Đó cũng là ly do mà GS
Nakamura đă xin Nichia, sang nghiên cứu
tại University of Florida một năm để học tập về phương pháp chế tạo
màng mỏng này [3].
*) ông này cũng là cha đẻ
của kỹ thuật ALE, giở trở thành kỹ thuật thong dùng trong lănh vực
IC và nanotechnology. Các lớp của linh kiện bán dận hiện tại
rất mỏng nên độ phủ màng mỏng thấp (low
deposition rate) của kỹ thuật này không c̣n là vấn đề nữa.
2. Những chất bán dẫn chế tạo trong hệ
thống MOCVD
Những chất liệu (direct
bandgap và indirect bandgap) thường được dùng trong việc chế tạo các
chất bán dẫn như GaN và GaInN trong việc chế tạo LEDs và LDs với
MOCVD được biểu hiện ở bên trái của H́nh 1.

H́nh
1 Bandgap energy of various
semiconductors versus in plane lattice constant (after ref. [4]).
Recent work indicates that the bandgap of InN is around 0.7 eV [4,5,6].
Các
đặc tính tiêu biểu như năng lượng vùng cấm (bandgap), hằng số tinh
thể (latticce constant) , độ dẫn nhiệt (thermal conductivity) , hệ
số khúc xạ (index of refraction) và hằng số điện môi (dielectric
constant) của ba chất bán dẫn chính nằm phía bên trái của H́nh 1
được tóm tắt ở H́nh 2.

H́nh 2.
Bản tóm tắt một số đặc tính chính của AlN, GaN và InN [4]
3. Hệ thống MOCVD
3-1 Vài nét đặc thù của MOCVD
So với molecular beam epitaxy (MBE), MOCVD có
những lợi điểm sau: (i) độ thành trưởng màng mỏng (growth) nhanh hơn,
có thể tới vài microns/ giờ; (ii) khả năng tạo màng mỏng trên nhiều
wafers hay tấm nền với những tầm kích khác nhau
; (iii) nhiệt độ thành trưởng (growth temperature) cao hơn,
thích hợp với cơ cấu nhiệt động học hơn và (iv) độ chân không thấp.
MOCVD cũng có những nhược điểm như sau :
(v) khó đo chiều dày màng mỏng (ở mức độ nanometers) chính xác (RHEED
dùng để đo chiều dày không thể dùng được v́ áp xuất trong pḥng
phản ứng MOCVD cao); (vi) chuyển tiếp từ hai màng mỏng ít đột ngột
(abrupt) hơn v́ vấn đề với ḍng chất khí và hiệu ứng nhớ (memory
effects) và (vii) chất khí dùng trong MOCVD thường rất độc.
MOCVD
có nguyên tắc vận hành giống LPCVD ; sự
khác nhau chính là nguồn metalorganic dùng trong MOCVD
3-2 Các chất khí
thường dùng trong hể thống MOCVD
Bảng 1 kê khai một số chất
khí thường dùng trong việc chế tạo chất bán dẫn thuộc III-V và
II-VI groups. V́ tên các chất khí này
khá dài, nên thông thường tên ngắn được dùng ; chẳng hạn thay v́
gọi trimethylgallium , chúng ta dùng TMGa ; ở đây TM là tên viết
ngắn của trimethyl. Tương tự như vậy, TE là tên
rút gọn của triethyl. Công thức hóa học
của các chất khí được liệt kê ở Bảng 2.

Bảng 1: is a selection of
common alkyl and hydride sources used for MOCVD growth.
There are other sources and many different combinations that can be
used to form a wide variety of III–V
semiconductor compounds and alloys [7]

Bảng 2.
Ky hiệu hóa học của một số chất khí
dùng trong hệ thống MOCVD [7].
3-3
Cơ cấu
tổng quát của hệ thống MOCVD
MOCVD
có nguyên tắc vận hành giống LPCVD ; sự
khác nhau chính là nguồn metalorganic dùng trong MOCVD. Đại khái, hệ
thống MOCVD có những thành phần chính như : pḥng phản ứng
(reactors) nơi hydride gas và metal alkyl sources gas hỗn hợp, hệ
thống nun nóng (heating systems), hệ thống làm sạch chất khí (gas
purification system), bộ phân phối chất khí (gas manifold system),
hệ thống pump và kiểm soát áp suất trong pḥng phản ứng (paumping &
pressure control system), máy sục khí (bubblers), thiết bị lọc khí
(scrubbers/ exhaust gas treatment system) và buống giữ b́nh gas (gas
cabinets) như ở H́nh 2 và 3.

H́nh 2:
Những thành phần chính trong hệ thống MOCVD [tài liệu từ Aixtron]

H́nh 3:
Những thành phần chính trong hệ thống MOCVD (tiếp tục).
Biểu
hiện ở h́nh 4 là sơ đồ diễn tả sự phân phối của các chất
organometalic với hydrides trong pḥng phản ứng của
MOCVD . Ở h́nh này,
trimethyl gallium (TMGa), ammonia và hydrides được cho vào pḥng
phản ứng của MOCVD. Với nhiệt đô, các chất alkyls bị
“cracked” ở gấn hay ngay trên bề mặt nơi phản ứng của chất khí này
với hydrides xảy ra.

Fig. 4
Schematic of a simple MOCVD system [8]
Bộ cách nhiệt (heater) thường là resistance heating type hay đèn
infrared nằm biệt lập với những thành phần khác trong buồng phản ứng
để giữ được lâu dài hơn (lifetime). Những bước chính của hệ
thống MOCVD gồm có: (i) laminar flow của carrier gas như H2
hay N2 và của
precursor molecules (metal-organic compounds) trên tấm nền hay
wafers ; những tấm nền này được đặt trên a graphite susceptor nằm
trong buồng phản ứng. (ii) heater nhằm cung cấp nhiệt năng lượng
để phân ly các phân tử hữu cơ (organic molecules); (iii) bốc nhiệt
(evaporation) những molecular fragments vào gas phase và (iv)
thành phần hóa học thặng dư sau phản ứng được chuyển qua hệ thống
exhaust /scrubber system hay h́nh thành lọp trên tường của pḥng
phản ứng. Hệ thống c̣n được trang bị với wafer handling và
susceptor transfer. Độ chân không trong pḥng phản ứng được thực
hiện với a load-lock configuration và một hệ thống bơm [9].

H́nh 5.
Schematic diagram of an MOCVD reactor
delivery system gas panel, illustrating hydride delivery modules,
alkyl delivery modules, and the vent-run configuration.
H́nh 5 diễn tả một sơ đồ khác của hệ thống
MOCVD reactor gồm có on-off valve, gas delivery system, vent-run
valve nhằm đưa các luồng carrier gases, hydrides và alkyl sources
vào buồng phản ứng. [10].
3-4 Vài thí dụ về hệ thống MOCVD
Trong ṿng 20 năm nay, kỹ
thuật liên quan đến MOCVD phát triễn rất nhanh: một phần lớn là v́
nhu cầu của blue LEDs , blue LDs và những linh kiện quang điện tử khác;
một phần khác nhờ sự tiến bộ vượt bực của công nghệ computers và
công nghệ sensors. Hệ thống MOCVD đă trờ thành phức tạp hơn
với những thiết bị tự động như
load-lock, automatic wafer /susceptor handling systems; một số hệ
thống c̣n được trang bị với robots. Hiện có khoảng 17 hăng chế tạo
hệ thống MOCVD, nhưng Aixtron và Veeco .chiếm trên 90% tổng số lượng
MOCVD system sản xuất trên thế giới. Chúng tôi xin giới
thiệu vài hệ thống MOCVD của hai hăng
này:

3-4-1 MOCVD của hăng Aixtron
H́nh 6:
Một hệ thống MOCVD (tài liệu từ Aixtron và
Samsung Advanced Technology Institute).
Có nhiều động cơ để xúc tiến tự động hóa
MOCVD . Đứng trên phương diện thực tiễn,
một khi lợi ích của việc giảm tổn phí đạt
được với thời gian tiết kiệm lúc chât/dỡ những tấm wafer nhiều hơn
tiền phí tổn ban đầu để thiết lập hệ thống tự động hóa, th́ tự
động hóa trở nên có giá trị về phương diện kinh tế. Chẳng những có
thể tiết kiệm thời gian, tự động hóa
cũng có thể gia tăng phẩm lượng của quy tŕnh chế tạo màng mỏng đưa
đến gia tăng hiệu suất sản lượng (yields).
Môt hệ thống MOCVD tiêu biểu của
Aixtron được biểu hiện ở H́nh 6. Gần đây,
Aixtron phát triễn MOCVD để h́nh thành hợp chất thuộc nhóm III-V
trên 200- 300 mm silicon wafers dùng trong các ứng dụng CMOS. H́nh 7
diễn tả a cluster MOCVD với hệ thống tự động .
Hệ thống này gồm có 300mm wafer handler
dạng thông thường với FOUP (a front-opening unified pod) , EFEM
(equipment front-end module) nối liền với hai MOCVD modules [ H́nh
7]. Với hệ thống tự động, thí dụ như với Aixtron
G5 HT reactor , người ta có thể thay đổi số lượng và tầm kích
của wafers ở mỗi process run; chẳng hạn như 56x2” wafers có thể
được thay bằng 14x4” hay 8x 6” wafers. Điều này chỉ xảy ra
khi nhiệt độ trong pḥng phản ứng hạ
xuống (cooled down) với chất khí trơ đến nhiệt độ thích hợp . Với
hệ thống tự động, chúng ta có thể dỡ (unloading) wafers ở nhiệt độ
có thể cao đến 600 C. Aixtron dùng robots và thời gian để chất/dỡ
(loading/unloading) wafers mất khoảng vài phút [H́nh 8]. Ngoài việc
gia tăng khả năng chứa đựng wafers (wafer capacity) cho mỗi lần
processing, pḥng phản ứng c̣n được thiết kế để việc chế tạo màng
mỏng sẽ xảy ra liên tục mà không cần làm sạch (cleaning)
, nung nóng (baking) hay thay đổi bộ phận giữa hai quy tŕnh
chế tạo màng mỏng nối tiếp nhau và khả năng cung cấp ty suất h́nh
thành màng mỏng cao (high growth rates) và ít có sự biến đổi về quy
tŕnh chế tạo. V́ thế tự động hóa có
triển vọng trong việc gia tăng throughput và giảm thiểu về cost of
ownership. Aixtron c̣n dùng cluster (nhiều
MOCVD process modules ) với phương tiện chuyển đổi tự động
(automatic transfer means) [H́nh 9]

H́nh 7.
Automated loading and unloading of an Aixtron G5 HT MOCVD reactor.
The transfer system picks up the entire wafer
platform satellite disk preloaded with wafers. (Tài
liệu từ Aixtron).

H́nh 8.
300mm MOCVD cluster tool with two process modules for materials of
III-V grups (tài liệu từ Aixtron).


H́nh 9:
. Single MOCVD module with automated transfer system (top)
and MOCVD cluster tool with two process modules (bottom) (Tài
liệu từ Aixtron).
Aixtron c̣n dùng các phương tiện phân tích/kiểm soát tự động trong
multiple MOCVD để điều khiển các bộ phận liên hệ, quản ly hệ thống
và phân tích dữ liệu ngay trong khi màng mỏng được h́nh thành (in
real time) theo h́nh thức fab integration để thích ứng với việc sản
xuất hàng loạt sản phẩm với chất lượng cao. Kiểm tra và phân tích dữ
liệu in situ có thể thực hiện chẳng hạn với
reflectometry (Filmetrics®) or Reflectance Anisotropy Spectroscopy (Epi-RAS®
).
3-4-2 MOCVD của hăng
Veeco
TurboDisc E475 As/P MOCVD system
Veeco’s E475™ As/P
MOCVD system được thiết kế để dùng trong việc sản xuất
với số lượng lớn những sản phẩm như HB-LEDs, HBTs, pHEMT và triple
junction solar cells.
Hệ thống này dùng công nghệ RealTemp® 200
để đo chính xác nhiệt độ các tấm wafer ; và dùng
fast gas switching để kiểm soát chính xác sự biến đổi đột ngột ở
mặt phân giới (interface abruptness) của hai màng mỏng lân cận .
Những đặc thù này đưa đến nhiều lợi điểm sau: uptime rất
cao , cost of ownership thấp ,
throughput cao , tài liệu bán dẫn với chất lượng tốt , yields và
process efficiency cao. Tính đồng nhất ưu việt
đạt được với Veeco’s
tunable FlowFlange™ và hệ thống chuyển đổi tấm wafers được thực
hiện ở 300 C và không cần phải thay các bộ phận giữa chừng.
Vào năm 2011, Veeco
đưa vào thị trường TurboDisc(R) MaxBright(TM)
Gallium Nitride (GaN) Metalorganic Chemical Vapor Deposition (MOCVD)
Multi-Reactor System [H́nh 10 & 11] . Hệ thống này trở thành thịnh
hành với nhiều khách hàng ở Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc. Hệ
thống MOCVD này có sản lượng cao với pḥng phản ứng thiết kế theo
lối modular two- or four-reactor cluster.

[H́nh 10] Veeco's TurboDisc MaxBright GaN
MOCVD
multi-reactor system offers industry-leading wafer capacity for
wafer sizes from 2" to 8" (tài liệu từ
Veeco)

H́nh 11 Special features are
incorporated in MaxBright MOCVD
to reduce the cost of ownership : high throughput, high capacity
and high footprint efficiency (tài liệu từ Veeco)
Pḥng phản ứng của MaxBright được thiết kế dựa vào mô h́nh của hệ
thống K465i với tính đồng nhất tốt (good uniformity), khả năng lập
lại cao (repeatability) và màng mỏng với chất lượng tốt . The
MaxBright
MOCVD
có khả năng cung ứng wafers với những tầm cỡ 216 x 2", 56 x 4", 24
x 6" or 12
x 8” (4- reactor) và 108x2”, 28x4”, 12x6” hay 6x8” (2-reactor)
. Một các tổng quát, so với K465i , MaxBright đă gia tăng
throughput khoảng 25% [11]
3-4-3 Những thành phần chính của hệ thống
MOCVD [4]
3-4-3-1 Exhaust
system:
Được
trang bị với:
-
Hệ thống bơm
như bơm cơ khí (two-vane rotary pump hay
dry pump) và hệ thống kiểm soát /chế ngự áp suất trong buồng phản
ứng.
- Hệ thống xử ly chất
khí : nhằm trừ khử những chất độc c̣n
dư sau khi phản ứng, chính nhất là những chất khí như arsine (AsH3)
và phosphine (PH3).
3-4-3-2
Scrubbers:
Mục đích chính của
thiết bị này là trừ khử và trung ḥa các chất khí có thể nguy hại
cho cơ thể con người và môi trường : (i) phản ứng hóa học giữa chất
lỏng (liquid) với các chất khí trong a counter- flow set up; (ii)
thông thường hệ thống này không phản ứng với carrier gas (i.e. H2
sẽ không được xử ly); và (iii) phản ứng nhanh thiết yếu trong việc
thực hiện một quy tŕnh trừ khử chất khí hữu hiệu.
3-4-3-3 Dry
pump:
Dùng để bơm các
chất khí nhằm thực hiện một độ chân không trung b́nh (medium range
vaccum)
3-4-3-4 Hệ thống dẫn gas
(Gas handling system)
Nhiệm vụ của hệ thống này là
hỗn họp và điều hợp các luồng gas dẫn vào buồng phản ứng: (i) thời
gian dẫn gas vào và thành phần chất khí sẽ quyết định cấu tạo
epitaxial (epitaxial structure) của màng mỏng tạo thành. (ii) hệ
thống gas phải leak- tight để tránh sự ṛ rĩ của các chất khí độc
và để tránh sự nhiểm bẩn với khí o-xy có thể ảnh hưởng đến chất
lượng của màng mỏng; (iii) fast switch cũng rất quan trọng trong
việc thực hiện sự biến đổi đột ngột ở mặt phân giới (abrupt
interface) và để tránh những chất gas c̣n sót lại trước khi thay
thế bằng chất khí khác ; và (iv) kiểm soát chính xác tỷ suất lưu
lượng (flow rate) và áp suất.
3-4-3-5 Run/Vent switch
Run/Vent
switch nối liền ngơ ra (outlet) của máy
sục khí (bubbler) với hoặc the run line (đường dẫn khí vào buồng
phản ứng) hoặc the vent line (đường dẫn đến chỗ thoát khí) . Cần một
Run/Vent switch cho mỗi precursor source. Để tránh có khác nhau về
áp suất khi switching , áp suất của
những line này phải giống như áp suất trong buồng phản ứng.
3-4-3-6 Gas cabinet
Buồng chứa b́nh gas (gas cabinet) được
nối liền với ống thoát khí (exhaust duct) . Môt hệ thống cảm biến
gas (gas sensors) dùng để đóng tự động
các van (valves) nếu chất khí độc bị ṛ rĩ.
Những
bức h́nh dưới đây cho một cái nh́n tổng quát về
một số thành phần chính của hệ thống MOCVD (tài liệu từ
Korean Institute of Advanced Technology and Georgia Institute of
Technology, Aixtron and Veeco)


Ebara dry pump Aixtox scrubbers





.

Run/Vent switch.

Gas Cabinet

Gas delivering system
4 . Các
loại buồng phản ứng
Hầu hết các buồng phản
ứng CVD thuộc về hệ thống luồng chất khí mở. Có
nghĩa là chất khí vận chuyển liên tục vào buồng
phản ứng trong lúc màng mỏng được h́nh thành. Phản
ứng chất khí thường được pha
loăng với hydro, nitơ hay argon.
Các chất khí dư được di chuyển ra khỏi buồng
phản ứng xuyên qua bộ lọc khí như trong trường hợp của các chất khí
nguy hiểm. Thông thường, hệ thống của gia đ́nh CVD có
những phần chính sau đây: (i) nguồn chất khí với cụm ống dẫn gas,
(ii) đường cung cấp chất khí, (iii) bộ điều chỉnh lưu lượng, (iv)
buồng phản ứng, (v) phương tiện nung nóng ḷ phản ứng; (vi) bộ cảm
biến nhiệt độ và (vii) hệ thống bơm chân không. Các thể loại của hệ
thống MOCVD được tóm tắt ở H́nh 12 & 13 :
H́nh 12(a) biểu hiện buồng phản ứng nằm ngang, bệ đỡ đặt nghiêng so
với vị trí của buồng phản ứng và các tấm wafers, ḍng gas đi từ bên
trái sang bên phải theo chiều mũi tên để
thải ra ngoài. Ở h́nh 12(b) ḷ phản ứng được đặt ở vị trí thẳng và
ḍng gas đi từ trên xuống dưới, bệ với các tấm wafers sẽ được quay
để tạo màng mỏng được đồng đều hơn. Một số
MOCVD dùng ḷ phản ứng của hai loại này. H́nh 12(c) là
mô h́nh của pḥng phản ứng ngang với
nhiều tấm wafers (đây cũng là mô h́nh dùng nhiều trong hệ thống
LPCVD). H́nh 12 (d) biểu hiện
buồng phản ứng Barrel thường được dùng
trong việc tạo màng mỏng epitaxy silicon.
Trong mô h́nh này, các tấm silicon được đặt trên
giá đỡ SiC với độ dẫn nhiệt tốt và ḍng gas chạy từ trên xuống dưới.

H́nh 12: Mô h́nh của các thể loại: (a)
– Buồng phản ứng nằm ngang, (b) -
Buồng phản ứng với bệ thẳng (c) – Buồng phản ứng ngang với nhiều
tấm wafers, và (d) – Buồng phản ứng Barrel [8,12]
Triển khai chi tiết hơn, các
buồng phản ứng của MOCVD có thể diễn tả
ở H́nh 13. Buồng phản ứng ngang ở h́nh
12(c) không thịnh hành trong hệ thống MOCVD. Để đạt được độ đồng
đều và để duy tŕ chất lượng cao của
màng mỏng , hai đ̣i hỏi cần thiết nhất là : (i) các tấm nến hay
wafers và bệ để các tấm nến phải quay và (ii) bộ cảm biến nhiệt độ
phải cung cấp nhiệt độ rất chính xác hơn 1/10 của 1 C.

H́nh 13 :
Cái nh́n chi tiết hơn về các loại buồng phản ứng của hệ thống
MOCVD.
4-2 Cấu tạo
tổng quát của buồng phản ứng
Buồng phản ứng làm bằng các chất như
stainless steel hay quartz v́ những chất này không phản ứng với
các chất khí sử dụng và có thể chịu đựng được nhiệt độ cao. Buồng phản
ứng gồm có tường , lớp lót (liner), bệ để các tấm
nền (susceptor), gas injection units, và đơn vị kiểm soát nhiệt độ
(temperature control units). Lớp lót thường được làm bằng loại
kính đặc biệt hay quartz và được đặt giữa buồng phản ứng và
susceptor. Bệ để tấm nền thường được làm bằng các chất không phản
ứng với chất khí như graphite.
Tấm nền được đặt trên cái bệ ở một nhiệt độ được
kiểm soát (controlled temperature).
The susceptor thường dùng hoặc là
a face-down type
or a planetary type với phương tiện quay
và tốc độ quay riêng. Một thí dụ điển h́nh diễn tả sự phân phối
của các chất khí trong buồng phản ứng của MOCVD được biểu hiện ở
h́nh 7. Luồng khí hydrides (màu đỏ) và luồng khí alkyls (màu xanh
lá cây) được đưa vào từ phần trên của pḥng phản ứng , rồi phân phối
trên tấm nền ở phía dưới – tấm nền quay theo chiều mũi tên màu tím.

H́nh
14 : Sơ đồ diễn tả sự phân phối của các
chất organometalic với hydrides trong buồng phản ứng của MOCVD [Veeco,
13])
H́nh
15 diễn tả một cách chi tiết hơn, chẳng hạn như
alkyls TMGa (group III) và hydrides (group (V) được đưa vào
vào buồng phản ứng. và phân phối trên tấm nền . Tấm nến này có thể
được nung nóng bằng đèn IR hay nhiệt điện
trở.
Sự
phân phối chất khi được diễn tả rơ rệt hơn ở H́nh 15,

H́nh 15
Và chi tiết hơn ở
h́nh 16.

H́nh 16.
Schematic diagram of MOCVD
reactor system for III-V semiconductor [4]
4-3 Vài mô
h́nh biến đổi để thích hợp với việc chế
tạo blue LEDs và LDs.


H́nh 17 Schematic representation
of a two flow MOCVD [14]
Khoảng đầu 1990,
Nakamura et al.[14] đưa ra mô h́nh two-flow reactor để có thể cải
tiến chất lương của màng mỏng dùng trong blue LEDs và blue LDs [
H́nh 17]. Nguồn chất khí chính (main flow) )
được đưa vào theo vị trí nằm song song với bề mặt của tấm nền,
tương tự với conventional horizontal reactor. Trong khi đó, nguồn
chất khí thứ hai (sub flow) gồm có số
lượng N2 và H2 bằng nhau được đưa vào ở vị
trí thẳng góc cới bề mặt của tấm nền để khống chế sự đổi lưu nhiệt
(thermal convection) gây ra do tấm nền đun nóng tới 1,000°C) và
để mang các chất phản ứng (reactants) đi về hướng bề mặt của tấm
nền.
Watanabe et.al.,[15] đưa ra mô h́nh separate
flow reactor (Fig.18) nhằm cung cấp GaN với chất lượng tốt và để
tránh tiền phản ứng của Ga(CH3)3
với NH3
xa khỏi
tấm nền . Trước khi những chất khí chính được đưa
vào buồng phản ứng, nguồn chất khí được
chia thành hai nguồn; một nguồn dành cho chất khí thuộc group III ;
và một nguồn dành cho các chất khí thuộc group V. V́ vậy, buồng
phản ứng có thể kiểm soát một cách hữu hiệu số
lượng những chất khí chính vào tấm nền.

H́nh .18 Two separate flow MOCVD
H.X.Wang et al.,[16]
đưa ra mô h́nh three- flow reactor (Fig.19). Hai nguồn carrier
–gas của Group-III and NH3 song
song với nhau và ngăn cách bởi một tấm
thạch anh chảy vào song song với tấm nền . Trong khi đó N2
được dùng như a sub- flow , chảy vào ở vị trí thẳng góc với
tấm nền; nơi đó ba nguồn gas gặp nhau.
Với mô h́nh này, hổn hợp (mixtures) của hai
groups III-V ở bề mặt của vật nền được cải thiện do nguồn N2
sub-flow. Fig.19 Three separate flow
MOCVD[16]
4-4 Vài thí dụ về buồng phản ứng

H́nh 20.
Buồng phản ứng dùng cho 8 x 4 “ wafers
(from Aixtron).
H́nh 20 diễn tả pḥng phản
ứng cùng cho 8 x 4 “ wafers với các thành phần tiêu biểu :
main susceptor disk, rotating stallite, wafer handler và collector
ring .
Pḥng phản ứng với tầm kích và số lượng wafers
hay vật nền khác nhau có thể thể hiện ở h́nh 21.
Màng mỏng có thể tạo thành trên wafers
từ 49 x 2” đến 7x 6 “

H́nh 21:
Buồng phản ứng với số lượng wafers với tầm kích khác nhau.
Buồng phản ứng của Aixtron’s có thể
chất (load) 12x 4” hay 49x2” planetary
reactor [H́nh 22(a) & (b)]
dùng trong việc chế tạo LEDs. Nếu tính trên
diện tích màng mỏng tạo thành (growth area), tổng số diện
tích 150 inch2 có thể đạt được. Kết quả này đưa
đến một sự gia tăng khoảng 50% (12x4“)
và 40 % (49x2”) so với tầm kích thiết kế tiêu chuẩn cho 8x4 inch và
35x2” [H́nh 17 & 21] . Ở tầm
kích lớn rộng hơn, pḥng phản ứng có thể load tới 16x4”
hay 69x 2” như ở trong hệ thống Aixtron CRIUS II-L được đưa
ra thị trường vào năm 2010. Theo TS
Rainer Beccard, Vice President
Marketing at Aixtron, hệ thống
này cũng được thiết kế với mục đích triển
khai độ lớn của wafers từ 2 inch đến 8 inch. Pḥng phản ứng,
với khả năng 56 x 2" and 14 x 4" có thể
dùng trong việc chế tạo high-brightness light-emitting diodes (HB-LEDs).

(a)
(b)
H́nh 22 (a)
Aixtron’s latest design uses
either a 12 x4” configuration to deliver growth on substrates with
a combined area of 150 inch2.
(b)
Aixtron’s fully loaded 49x2” planetary reactor can produce epiwafers
with
uniformity suitable for
LED manufacturing [17]

H́nh
23 . Automated loading and unloading of
an Aixtron G5 HT MOCVD reactor.
The transfer system picks up the entire wafer platform satellite
disk pre-loaded with wafers.
The reactor shown here is opened for demonstration purposes only.
Ngoài pḥng phản ứng với những mô h́nh trên, có
trường hợp buồng phản ứng có h́nh năm ngang như biểu hiện ở h́nh 24..

H́nh 24: Buồng phản
ứng với dạng nằm ngang
Trong số tới , chúng
tôi thảo luận về các chất khí dùng trong hệ thống MOCVD.
Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/LED-Part-5.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/PECVD-072013.htm
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Hienthuong-Nakamura.htm
[4] From Russell D.
Dupuis, Georgia Institute of Technology
[5] [11] S. Nakamura, IEEE, Circuits and Devices, May, 19 (1995).
[6] T. Matsuoka, H. Okamoto, M. Nakao, H. Hiama, and E. Kurimoto,
Appl. Phys. Lett. 81, 1246 (2002).
[7] R.D.Dupuis Journal of
Crystal Growth 178 (1997) 56.
[8] Thin film deposition, ed. by K. Seshan,
Noyes Publications, 2011
[9] Nang Tran : Thin
film deposition, University of Sciences, 2009.
[10] R. D. Dupuis, L. A. Moudy, and P. D.
Dapkus, “Preparation and properties of Ga1-xAlxAs-GaAs
heterojunctions grown by metallorganic chemical vapor deposition,”
in Inst. Phys. Conf. Ser., no. 45, ch. 1, 1978, pp.
1–9.
[11]
http://www.led-professional.com/products/led-production-test-equipment/veeco-introduces-maxbright-mocvd-multi-reactor-system
[12] J.L.Vossen et al.
Thin film processes, Academic Press, 1991.
[13] http://www.ledmarketresearch.com/blog/Aixtron_Regains_Q4_LED_Lead
[14] S.Nakamura, et al.,
Appl. Phys. Lett., 58 (1991) 2021
[15] S. J. Bass et al J.
Cryst. Growth, vol. 44, pp. 29–33,
1978.
[16] [29] H.X. Wang et al. Journal of Crystal
Growth 218 (2000) 148
[17]
http://www.electroiq.com/articles/sst/2012/01/aixtron-sells-multiple-mocvd-reactors-to-hb-led-maker.html
Lake Elmo mùa Vu Lan
2013
Trần Trí Năng