
Hiện tượng
Nakamura
Trần Trí Năng
(Univ. of Minnesota & Ecosolar International)
Mặc dù chủ yếu của những loạt bài chúng tôi viết chuyên về các
kỹ thuật về màng mỏng trong thế giới cực nhỏ ; tuy nhiên thỉnh
thoảng chúng tôi cũng sẽ giới thiệu những câu chuyện, nhân vật, đề
tài tổng quát liên quan đến lănh vực này gọi là “để thay đổi không
khí”. Trong ba số vừa qua, chúng ta thảo luận về IC, chất khí và
plasma ; những đề tài tương đối khô khan
. Trong số này chúng tôi xin giới thiệu sự thành công của một nhà
nghiên cứu người Nhật (đề tài gần gũi hơn với anh chị em Exryu’s
ḿnh hơn!) và hy vọng cho chúng ta một vài điều để suy nghẫm : GS
Shuji Nakamura của University of California – Santa Barbara (UCSB) .
Ông được cộng đồng khoa học và kỹ thuật xem như một “trụ cột lớn”
trong việcđưa đến thành công các sản phẩm thương mại blue LEDs
(light emitting diodes) và blue LDs (laser diodes) dựa trên GaN. Đề
tài nghiên cứu của ông có liên quan rất nhiều về khoa học vật liệu
(materials science), vật ly về linh kiện
điện tử (device physics) nói chung và màng mỏng nói riêng. Trong
những linh kiện điện tử này, multi
quantum wells và superlattice với hàng chục màng mỏng với chiều dày
khoảng 5 nm (1 nanometer /nm bằng một phần tỉ của một mét) được
dùng.
Tôi xin mạo muội gọi “Hiện tượng Nakamura” để nói về sự thành
công của ông v́ phần lớn sự thành công này đi ngược lại với “mô
h́nh tiến thân thông thường tại Nhật” : ông tốt nghiệp ở một trường
đại học nhỏ, làm ở một hăng nhỏ ở một thành phố nhỏ, nghiên cứu
hầu nhự một ḿnh với thiết bị phần lớn tự ḿnh
lắp đặt lấy và với đề tài nghiên cứu nhiều người trên thế
giới không c̣n quan tâm đến v́ nghĩ là không có triễn vọng. Trong sự
“cô lập” và “gần như tuyệt vọng”, ông đă làm việc hăng say để vượt
qua những khó khăn ; và với ông kết quả thí nghiệm là người bạn dẫn
dắt ông đi qua khỏi “đám bầy nhầy “ ông đang đối diện hàng ngày
trong pḥng nghiên cứu. Ông đă đạt được những thành quả liên quan
đến linh kiện bán dẫn mà những “cây đại thụ/ titans” của Nhật và thế
giới về “high tecs” như Sony, Matsushita,
Stanley Electric, Sharp,
Sanyo, Sumitomo, Toshiba, Toyoda Gosei, NEC, Hewlett-Packard, Xerox
và Philips
không thể đạt được. Sáu năm sau khi lấy bằng PhD từ
University of Tokushima, ông được bầu vào Viện Hàn Lâm Khoa Học Mỹ
(National Academy of Sciences) năm 2000. Năm 2002, ông nhận giải
the Benjamin Franklin (giải ngày xưa
Max Planck, Albert Einstein and Stephen
Hawking đă nhận) .
Năm 2006, ông lại nhận được giải thương
Millennium Technology– giải
thưởng lớn nhất về engineering với một số tiền thưởng 1 triệu
Euros. Với cái đà phát triễn về kỹ thuật blue light (blue
light technology) này, chúng tôi nghĩ chuyện lảnh giải Nobel nằm
trong tầm tay của ông (not bad for someone who didn’t expect to
succeed ! S. Nakamura [1]). Sự thành công
của ông tùy thuộc phần lớn vào sự quyết tâm, nỗ lực vượt bực, óc
sáng tạo cao, ḷng yêu thích ngành nghề, thái độ không chịu chạy
theo trào lưu của ông, hoàn cảnh đưa đẩy đến làm việc ở một hăng
nhỏ nhưng có môi trường tốt để óc sáng tạo có thể phát huy, có
người lănh đạo tốt ít quan liêu, cộng thêm với ước mơ thực hiện
“American dream” và sự “thở hít và sống trong không khí và môi
trường nghiên cứu” tại Mỹ. Chúng tôi cũng sẽ phân tích về “hiện
tượng Nakamura” một phần dựa trên nguyên ly “cơ duyên”, “vận may”,
“nguy cơ” và góp vài cảm nghĩ về giáo dục và hướng đi nhằm đào tạo
những nhân tài trong tương lai đặc biệt về ngành khoa học vật liệu.
Trong số tháng tới, chúng tôi sẽ thảo luận về
cấu tạo và vai tṛ của màng mỏng trong việc chế tạo blue LED’s và
LD’s, hai kỷ thuật bán dẫn non-IC mà ông đă và đang đóng góp tích
cực cho xă hội và con người.
Keywords: blue light emitting diodes (blue LEDs), blue laser
diodes (blue LD’s), blu-ray disc, HD-DVD, LED
TV, LED displays, MOCVD, Bridgeman technique, liquid phase
epitaxy, GaAs, GaP, GaAlAs.
“What I have managed to achieve shows that anybody with
relatively little special experience in the field, no big money and
no collaborations with universities or other
companies can achieve considerable success alone when he
tries a new research area without being obsessed with conventional
ideas and knowledge..”
Shunji Nakamura
Hôm Black Friday, Ken- cậu con út của tôi
mang về một màn h́nh tinh thể lỏng Westinghouse 50” LCDTV 1080 p (1,920x1080
pixels) để giữa pḥng đưới basement . Tôi hỏi con muốn làm
ǵ với cái “electronic toy” mới này ; Ken trả lời “ con muốn kết
nối Play Station 3 với màng h́nh LCD này rồi xử dụng dĩa Blu –Ray
để xem h́nh rơ nét hơn”. Hai chữ blu-ray
disc gợi tôi nhớ lại những kỷ niệm liên quan đến LED’s, blue LD’s,
blu-ray disc , HD-DVD, và phosphors trong khoảng thời gian tôi làm
việc ở Imation/3M trong quá khứ: những ngày “vật lộn” với chất SiC
để làm blue-green LED’s ; những lúc làm pixelized phosphors cho
solid state medical x-rays detectors dùng phosphors từ hăng Nichia;
cái hôm Paul I. kéo tôi sang pḥng lab. “bắt” tôi góp y về phẩm
chất của h́nh ảnh do dĩa blu-ray phát ra trên màn h́nh HDTV mà anh
ta đang thẩm định ; buổi chiều mưa Hwa C. với khuôn mặt mừng rỡ kéo
tôi đi dọc theo hành lang về lab để cho tôi xem cái
photoluminescence peak rất sắc nét của ZnSe blue green*) laser
diode LD’s đầu tiên trên thế giới do nhóm anh làm ra và buổi du
thuyền cho nhóm và bạn bè trên ḍng sông St Croix v́ sự đột phá
này. Tôi lại nhớ đến mấy tấm h́nh trong tờ báo Yomiuri về Kobe
Luminairie 2011 mà tôi được xem trên Internet năm ngoái . Rồi tôi nghĩ đến người đứng phía sau sự
thành công của blue LED’s và blue LD’s :
GS Nakamura [h́nh 2] và hăng Nichia, nơi tôi thường mua phosphors.
Nếu không có những linh kiện bán dẫn này, th́
những sản phẩm nói trên sẽ không tồn tại. Những
linh kiện bán dẫn blue LED’s và blue
LD’s này có nhiều ứng dụng trong
nhiều lănh vực khác nhau chẳng hạn như blu-ray optical storage như
blu-ray disc, HD-DVD [h́nh 3, ref. 1], LED TV**),
LED displays***) [h́nh 4 &5,
ref. 2], outdoors lighting [h́nh 6], medicine, traffic signals,
laser printers, laser displays [h́nh 7] và lọc nước (water
purification) . Blue light có thể hỗn họp với
màu đỏ và màu xanh lá cây (green) cho ra nhiều màu kể cả màu
trắng. Những đèn LED’s này có thể thay thề bóng đèn
incandescent theo kiểu Thomas Edison và
fluorescent lamps v́ những lợi điểm sau: dùng ít năng lượng hơn (có
thể tới 90 % ít hơn), xài lâu hơn (100.000 giờ so với 1.000 giờ
của bóng đèn tungsten), không bị ô nhiễm thủy ngân, đa dạng về màu
sắc, và có hiệu suất phát sáng cao hơn (luminous efficiency) [h́nh
8]. Thị trường lớn nhất của LED’s là các dấu hiệu ngoài trời
(outdoors signs) và các bảng LEDs
(display boards) như màn hiển thị LED ở Sydney Olympic Games năm
1994 với LEDs của Nichia, bảng ghi điểm số (score displays) hiện
đang dùng ở Dallas Cowboys New Stadium do Mitsubishi Electric
Diamond Vision chế tạo và thiết lập [H́nh
4] . Riêng ở Nhật và một số các nước Á Châu, LEDs ở nhan nhăn khắp
nơi : các nhà ga, dấu hiệu đèn đi-ốt
phát quang có thể lập tŕnh (programmable LED’s sign)
sẽ có thể thay thế giấy quăng cáo paper (paper advertisements
) . Trong tương lai LEDs có thể dùng ở các tiểm pachinko và thay thế
đèn neon, loại đèn chúng tôi đă đề cập trong bài
viết tháng trước [3].
Về lưu trữ dữ liệu (data storage) cho
dĩa blu –ray và HD-DVD, giảm chiều dài
bước sóng (wavelength) của tia laser sẽ tăng mật độ lưu trữ
(recording density) RD theo công thức :

RD= mật độ lưu trữ,
NA= khẩu số (numerical aperture); λ= chiều dài bước sóng
Theo công thức này,
mật độ lưu trữ RD sẽ tăng gấp 4 lần khi chiều dài bước sóng λ của
tia laser giảm xuống một nửa. Dung lượng lưu trữ (storage capacity)
của HD-DVD với tia sáng laser có chiều dài bước sóng 405 nm có thể
lên đến 30 gigabytes (Gbytes) tùy theo chức năng
và cấu tạo [Bảng 2 – bảng 1 dùng để tham khảo ].

H́nh 1:
Kobe
Luminairie .
H́nh chụp vào ngày 13/12/2011 (tài
liệu từ Yomiuri Shinbun và ERCT website)

H́nh 2: Hiện là
professor & director
of the Solid State
Lighting and Display Center, University of California, Santa Barbara.
Blue LED’s (h́nh bên phải) .
Photos : Randall Lamb, UCSB.

H́nh 3
: HD DVD
và blu-ray disc dùng blue LD’s [1]

H́nh 4: LED displays
at Dallas Cowboys New stadium.
72 ft x 160 ft với 10.5 millions LEDs
[Mitsubishi Electric Diamond Vision] [2]

Bảng 1 : CD vs
DVD

Bảng 2 : HD-DVD với blue LD’s

H́nh 5.
Công trường
Time
Square thắp sáng với đèn LEDs (tài liệu từ UCSB)

H́nh 6: Star Light Garden in
Tokyo với đèn blue LEDs
(tài liệu từ
http://www.flicker.com/photos/sabra 100/ )

H́nh 7. 75” LaserVue
TV (Mitsubishi Electric Visual Solutions).
Trong loại hiển thị này, laser diodes
với ba màu red, green và blue quét (scan) trên tấm nàn h́nh bởi hệ
thống polygon-mirror.
http://www.cedailynews.com/2012/02/75-inch-laservue-tv-receives-2012-most-efficient-energy-star-award.html#
H́nh 8 :
Hiệu suất phát sáng (luminous efficiency) của các loại đèn (tài liệu
từ UCSB và
www.lempteck.co.uk]
Lịch sử khai phát
LED’s và blue LD’s
Sau 10 năm làm việc ở Nichia, năm 1988, GS Nakamura qua Mỹ một năm
nghiên cứu về MOCVD ở University of
Florida . Sau khi trở về nước ông bắt đầu khai phát và nghiên cứu
blue LEDs và LDs dùng group III-nitride và MOCVD với một số tiền
nghiên cứu khá nhỏ và thành phần nghiên cứu chỉ có một ḿnh ông lo
mọi chuyện từ A đến Z
Thực ra theo nguyên ly th́ cả hai LED’s
và LD’s trong cấu tạo cơ bản đều gồm có hai lớp vật liệu với những
tạp chất (impurities) khác nhau , i.e,
n-type và p-type để cho hạt electrons và holes. Bằng cách đặt ḍng
điện ở hai đầu điện cực, ḍng điện ép hạt electrons và holes chạy về
vùng tiếp hợp (junction)
giữa hai lớp bán dẫn . Sự khác nhau giữa
LED’s và LD’s là ở trường họp của LD’s, tia
sáng được khuếch đại (amplified)
ở trong buồng cộng hưởng (cavity)
của LD’s . Ở phần cuối của buồng cộng hưởng , có thiết lập phần
gương (mirrors) để phản chiếu (reflect)
phôton (photons) di chuyển qua
lại nhiều lần, khiến cho hạt phôton va chạm với hạt electrons, bị
kích thích và kết quả là thêm nhiều hạt phôton phóng ra và ánh sáng
được khuếch đại .
LED dựa trên GaN đầu tiên được nghiên cứu bởi TS
J.I. Pankove và cộng sự viên của ông tại hăng RCA vào thập niên
70’s [4], nhưng không thể làm sản phẩm thương mại được v́ không thể
chế tạo p-type GaN với chất lượng tốt. Ít nhất ba vấn đề cần phải
giải quyết để có thể thành công trong việc chế tạo sản phẩm GaN LEDs:
(i) thiếu sự điều hợp mạng tinh thể (lattice-matching) thích hợp với
vật nền (substrate) ; (ii) nhiệt đổi lưu (thermal convection) ở nhiệt
độ sinh trưởng màng mỏng (growth temperature) cao (khoảng 1.000C) v́
dùng phương pháp MOCVD và (iii) p-type doping. Hiện tại hầu hết dùng
vật nền bằng sapphire (sapphire substrate) với lattice matching với
GaN cao, khoảng 15%. GS. Akasaki (Nagoya University) và GS
Nakamura đă triễn khai được kỹ thuật chế tạo lớp đệm (buffer-layer
technologies) để tạo GaN vời mật độ khiếm khuyết (defect density)
thích hợp [5, 6]
Đầu năm 1990, GS Isamu Akasaki (Nagoya University)
và nhóm của ông đă t́nh cờ khám phá ra được phương pháp chế tạo
p-type GaN với chất lượng tốt bằng cách chiếu xạ Mg-doped GaN với
tia điện tử (electron beam irradiation) từ kính hiển vi điện tử [7];
tuy nhiên phương pháp chế tạo này không thích hợp trong việc sản
xuất hàng loạt và cơ cấu vật ly chưa được hiểu rơ. Sau đó, GS
Nakamura đă giải quyết vấn đề của p-type GaN một cách thỏa đáng hơn:
ông nhận thấy những nhà nghiên cứu ở nhiếu nơi trong quá khứ nung
(annealed) GaN trong khí ammonia (NH3 ); làm cho ammonia
bị phân ly ở nhiệt độ trên 500 C, phóng thích hydrogen – chất sau
này (hydrogen) thụ động hóa (passivates) các acceptors. Thế nên,
giải pháp của ông Nakamura là annealing Mg doped GaN trong một môi
trường khí nitơ sạch ở 400 C và ông đă thành công trong việc chế
tạo p-type GaN với chất lượng tốt – một phần do sự thụ động hóa bằng
hydrogen (hydrogen passivation) [8]. Kết quả nghiên cứu này đưa
đến sự thành công trong việc thương mại hóa blue GaN LED’s [1] với
độ sáng rất cao. Để giải quyết vấn đề nhiệt đổi lưu ở 1.000 C, ông
khai thác hệ thống MOCVD với hai ḍng khí (two flow MOCVD) (h́nh 11,
sẽ thảo luận nhiều sau). Trong hệ thống này, nguồn chất khí phụ
(auxiliary stream of gases ) như N2 + H2 thổi
thẳng góc với vật nền đẩy các chất khí phản ứng (reactant gases)
trong nguồn khí chính (primary stream of gases) TMG + NH3
+ H2 về phía vật nền và kết quả là màng mỏng GaN với
chất lượng tốt được tạo thành. Thêm vào đó,
ông dùng kỹ thuật “lateral
overgrowth” nhằm tạo một lớp silicon dioxide để giảm defect
density trong InGaN.
GS Nakamura đă khai phát thành công blue- green , white LED’s và
blue LD’s dựa trên group III- nitride vào năm 1993 và
vào ngày 12 tháng 12 năm 1995, blue LDs phát sáng ở
nhiệt độ pḥng ra đời 1995. [9-11] .
Đây dược xem như
một khám phá rất quan trọng trong lănh vực khoa học vật liệu
(materials science) trong ṿng 30 năm nay v́ tia laser phát sáng ở
nhiệt độ trong pḥng chớ không phải ở nhiêt độ thấp nữa. Màng mỏng
chính (active layers) của linh kiện LD này là multi-quantum- well
với 26 lớp cấu tạo theo chu kỳ In0.2 Ga0.8N
/ In0.05 Ga0.95 . Điện
thế giới hạn (threshold voltage) và ḍng điện giới hạn (threshold
current) của LDs này khá cao, không thích hợp
cho sản phẩm. Thế nên, ông giảm số màng mỏng
trên và v́ thế điện thế và ḍng điện
giảm xuồng c̣n 35 V và 1.7 A. Rồi với sự cải tiến thêm về cấu tạo
của LDs với InGaN MQW (h́nh 9 ), những con số này giảm thêm nữa
xuống c̣n 5.8 V (threshold voltage), 25 mA (threshold current) và
phát sáng liên tục 35 giờ ở 100 C [1]. Linh kiện LD lúc này có thể
hoạt động tới 2 giờ ở nhiệt độ pḥng với chu kỳ hoạt động (duty
cycle) của ḍng điện nhịp mạch (pulsed current)
bằng 20%. Trong sáu tháng, tuổi
thọ (lifetime) của blue LDs ở nhiệt độ trong pḥng đă tăng từ 300
giờ đến vài ngàn giờ ; và cuối năm đó, ông ta đă có thể tăng tuổi
thọ của LD’s đến 10.000 giờ, một điều kiện cần thiết cho sản phẩm
bán trong thị trường.
Năm 1999, Nichia bắt dầu bán 5 mW blue
LDs. Đồng thời trong pḥng thí nghiệm, GS Nakamura và group của
ông (bây giờ có khoảng 20 người) tiếp
tục cải thiện LDs để gia tăng công suất (power) tới 30 mW. Ở thời
điểm ông rời Nichia, sản phẩm của Nichia
chiếm 40% của thị trường $300 M của nitride LEDs. Lịch sử nghiên
cứu và phát triễn của GaN được biểu hiện ở h́nh
10 .

H́nh 9.
Cấu tạo của LD with InGaN MQW.
Linh kiện LD này có threshold voltage 5.8 V, threshold
current 25 mA, và tiếp tục phát sáng (CW)
35 giờ ở 100 C [1]

H́nh 10 :
Lịch sử các hoạt động R&D về GaN

H́nh 10.
Lịch sử các hoạt động R&D về GaN (cont’d)
Chúng Tôi xin mạo muội gọi sự thành công về blue LED’s và blue LDs
này là “hiện tượng Nakamura“v́ nó ít khi xảy ra, nhất là ở một xă
hội bài bản và “quan liêu” như Nhật khi mọi chuyện phải tiến hành
theo quy củ và thứ tự: tốt nghiệp trường lớn đưa đến công việc làm ở
hăng lớn ; rồi từ đó làm nghiên cứu ở những pḥng nghiên cứu với
thiết bị tối tân và cơ hội tiếp xúc với những nhà nghiên cứu hàng
đầu trong nghành; từ đó đưa đến những thành công trong việc nghiên
cứu. Trường hợp của GS Nakamura đă
“thách thức” cái mô h́nh này. GS Nakamura tốt nghiệp ở trường đai
học Tokushima, một đai học tương đối nhỏ năm 1977 vào lúc ông 24
tuổi ; năm 1979 bắt đầu làm việc ở một hăng nhỏ lúc đó có khoảng
hai trăm nhân viên tên là Nichia Chemical Industries ở một thành
phố nhỏ tên là Anan thuộc đảo Shikoku. Nichia
là một hăng chuyên chế tạo phosphors cho màn h́nh TV do ông Nobuo
Ogawa thành lập vào năm 1956. Theo ông Eiji -con của ông
Nobuo và là giám đốc của hăng từ năm 1989: “ở Nichia không có người
quản ly, không có người kinh doanh chuyên nghiêp
. Mọi
người ở đây làm việc như là thú vui. Và khi làm sản phẩm
Nichia rất hănh diện về những lối giải quyết không
theo quy chế thông thường của mọi người.
Từ khi hăng được thành lập, chúng tôi
luôn luôn có cái mà người Nhật thường gọi là hesomagari (twisted
navel). Chúng tôi không copy người khác và
thường th́ dùng các phương pháp có khác hơn mọi người để giải quyết
vấn đề”.
Chúng tôi xin phân tích các động cơ đưa đến sự thành công lớn này
của GS Nakamura dựa theo sự tổng họp của bốn nguyên ly
chính : (i) “cơ duyên” và “vận may”; (ii)
thiên thời, địa lợi, nhân ḥa; (iii) từ “nguy cơ” . Những nguyên
ly này đôi khi lẫn lộn với nhau, bổ túc cho nhau
và khó tách rời riêng biệt.
Cơ Duyên và vận may
Trong ḍng đời “vô thường” này, có những “cơ duyên” mà con người
không thể đoán trước được và “sự đưa đẩy số phận” này có khi cũng là
“vận may”.
(a) Nichia là một hăng nhỏ, nhưng có truyền thống sáng tạo
(innovation và thành tích chế tạo sản phẩm thị trường cần. Sau
khi học xong BS và MS về electronic engineering vào năm 1977 & 1979
ở University of Tokushima, GS Nakamura muốn
theo đuổi ngành chuyên môn ở những hăng lớn như Sony & Toshiba.
Nhưng giáo sư của ông khuyên ông đừng đi v́ ở những thành phố lớn,
vật giá đắt đỏ, khó có tiền để mua nhà; vă lại lúc đó ông đă lập gia
đ́nh với đứa con đầu ḷng sắp ra đời và vợ ông lại là người ở
Tokushima. V́ thế, ông quyết định ở lại Shikoku
“một cách miễn cưỡng”.
GS của ông giới thiệu ông đến làm hăng Nichia ở Anan, mặc
dù lúc đó ông hoàn toàn không biết hăng này lớn nhỏ ra sao và làm về
lănh vực nào . Hăng lúc bấy giờ có 200 nhân viên với tiền thu
nhập hàng năm khoảng $US 30 millions qua
việc buôn bán phosphors và bắt đầu muốn nhảy vào thị trường LEDs.
R&D department của hăng lúc bấy giờ gồm
có GS Nakamura, boss của ông và một nhân viên nữa phụ trách về phần
marketing. GS Nakamura là người độc nhất với cấp
bằng MS trong hăng. Công tác đầu tiên của ông là nghiên cứu
tinh thể GaP (gallium phosphide crystals) dùng
trong việc chế tạo red and yellowish-green LED’s. V́ là hăng nhỏ,
ông được nhiều tự do trong việc nghiên cứu và không phải đối diện
nhiều với “corporate politics” và phải va chạm
với những “expert opinions” ở những hăng lớn.
Sau này ông thú nhận “If I
had gone to a big company, it would have been very difficult for me
to do research freely. At a big
company, say Sony, there are very, very good researchers. So I would
have to ask them what I could do.” (nếu
lúc đó tôi đi làm cho hăng lớn, rất khó cho tôi làm công tác nghiên
cứu với sự tư do. Ở một hăng lớn, chẳng hạn như Sony, có rất nhiều
chuyên gia có khả năng tốt . Và v́ thế tôi chắc phải hỏi họ những
ǵ tôi có thể làm).
Trong gần 10 năm đầu ở Nichia, ông khai phát được ba
sản phẩm (GaP crystals, GaAs crystals và GaAlAs crystals) và một sự
trùng họp ngẫu nhiên là thời gian làm công tác khai phát là 3 năm
cho mỗi sản phẩm. Ông kể lại công tác nghiên cứu của ông trong
khoảng thời gian này như sau :
Ông dùng phương pháp Horizontal Bridgeman để sản
xuất tinh thể gallium phosphide. Kim thuộc gallium (Ga) và phosphous
(P) nóng chảy ở nhiết độ 1.500 C trong ḷ hydrogen-oxygen và phản
ứng trong một pḥng chứa chân không. Lúc đó, ông chẳng những phải
lắp đặt ḷ (furnace) mà c̣n phải hàn thạch anh (quartz), một công
tác tương đối khó và cần nhiều mẹo vặt . Thử thách chính là sau khi
dụng cụ này được chế tạo xong. Mỗi buổi sáng vào lúc 8:00 giờ, ông
chuẩn bị cái ḷ và nguyên liệu; 10;;00- 11:00 AM : các chất phản
ứng (reactants) được cho vào ḷ đặt sau một tấm màn che
dùng để ngăn cách pḥng lab với office của ông (nói một
cách nôm na, văn pḥng của ông cũng là pḥng thí nghiệm). Rồi ông
gia tăng nhiệt độ trong ḷ tới 1.100 C; đến khoảng 2:00- 3:00 PM,
các phản ứng bắt đầu. Mỗi ngày, ông dùng khoảng hết hai b́nh chứa
cao có oxygen và hydrogen. Cứ khoảng 3 lần một tháng, bộ phận thạch
anh bị nứt, dẫn oxygen vào và phản
ứng với photphorơ (phosphorous), gây ra phản ứng nổ. Chuyện này
luôn luôn xảy ra lúc 5:00 PM lúc mọi người bắt đầu đi ra xe đậu ở
băi xe, nằm khoảng 150 mét từ pḥng thí nghiệm. Khói dày màu
trắng dày phát ra từ hướng cửa sổ của văn pḥng ông. Cười thoải
mái, ông hồi tưởng lại “ Lúc đầu người ta c̣n đến hỏi chuyện ǵ xảy
ra thế? Ông vẫn c̣n sống sao?”. Sau lần thứ năm hay thứ sáu, không
ai c̣n quan tâm đến hỏi ông nữa”. Mỗi lần có nổ (explosion) là ông
xịt nước vào trong ḷ để giữ cho phosphorơ khỏi bắt cháy. Sau khi
khói bay đi hết, ông phải ngồi lại viết bản báo cáo. Boss của ông
không hài ḷng. “Tôi cứ nghĩ đời của tôi chắc cứ măi măi sống như
thế này ?”.
Sau ba năm, cuối cùng ông chế tạo được tinh thể
gallium phosphide (GaP) với phẩm chất tốt tương đương với sản phẩm
của những hăng khác trong thị trường. Điều không may là mặc dù chất
lượng sản phẩm tương đương với nhau, khách hàng thường có khuynh
hướng thích mua các tinh thể (crystals)
từ những hăng lớn có tên tuổi hơn ; và rốt cuộc Nichia chỉ có
bán được $10.000 mỗi tháng với loại tinh thể GaP này. Thất vọng,
người quản ly kinh doanh đề nghị Nichia thử chế tạo tinh thể
gallium arsenide (GaAs) dùng trong LED’s. Thế nên, từ năm 1983,
ông bắt đầu khai phát GaAs . Vẫn cùng kinh nghiệm như lúc làm việc
với GaP, có điều khác hơn là lần này khi cái ḷ bị nổ, chất rỉ ra
là arsenic oxide, một chất độc hại người. Lần này th́ ông dời pḥng
lab tới một pḥng biệt lập với văn pḥng của ông. Ông đợi sau khi
khói tan biến hết rồi ông mặc bộ dồ “space suit” với mặt nạ pḥng
hơi độc (respirator) đi vào pḥng lab lo công việc lau chùi [12].
(Chú thích/TTN: Cứ tưởng tượng nếu GS Nakamura
làm việc ở những hăng lớn như Sony hay Matsushita, th́ chuyện này
chắc đâu có thể xảy ra được?!)
(b) Cơ duyên đi “du học” ở University of Florida
tại Mỹ . Chuyến đi xa này đă “đổi đời”ông
với sự thay đổi trong hướng nh́n trong chiều hướng nghiên
cứu của ông. Ông đến University of
Florida là để học về phương pháp chế tạo màng mỏng dùng hệ thống
MOCVD (methaloorganic chemical vapor deposition). Mọi
chuyện không tiến hành như dự định. Pḥng thí nghiệm của GS
nơi ông làm việc phải chuyển nhượng cả ba hệ thống MOCVD sang pḥng
nghiên cứu của một GS khác cùng trường và chỉ c̣n những bộ phận để
có thể làm một bộ máy MOCVD khác. Và ông
lại được “vinh hạnh” giao phó trách nhiệm lắp đặt chiếc máy
này bắt đầu lại từ đầu. V́ không có PhD
và không có bài viết nào đăng trên các tạp chí chuyên môn, người
ta xem ông như một engineer chớ không phải là một người nghiên cứu
[13] . Ông làm việc 7 ngày một
tuần, 16 giờ mỗi ngày (chưa bao giờ làm
việc nhiều như thế này ngay cả lúc c̣n ở Nhật).
Sau 10 tháng ông hoàn thành bộ máy MOCVD.
Sự
kiện “không mấy vui”
này cho ông
hai hướng nh́n có lợi cho con đường
nghiên cứu của ông sau này : (i) một nhà nghiên cứu phải có PhD và
đăng bài báo (technical papers) trên các tạp chí chuyên môn.
Ông bắt đầu viết papers sau khi trở về
Nhật và nhân bằng PhD cùng đai học Tokushima vào năm 1994. Ông tâm
sự “"The
most important thing I learned at the University of Florida is that
a Ph.D. and writing papers are very important in the United States."
(điều quan trọng nhất tôi học được ở University of Florida là cấp
bằng PhD và viết technical papers rất quan trọng cho người nghiên
cứu ở Mỹ) [13].
và (ii) với kinh
nghiêm lắp đặt MOCVD ông thu nhập được lúc ở U. Florida, ông có thể
sửa đổi nhanh chóng hệ thống MOCVD
ông mua từ hệ thống với một ḍng chất khí (one flow system) sang hệ
thống với hai ḍng chất khí ( two flow system) giúp ông thành công
trong việc chế tạo blue LED’s với độ sáng rất cao chưa từng thấy
trước đây. (Chú thích/TTN: Nếu ông không bị “coi thường”
và nếu hệ thống MOCVD có lúc ông đến, th́ có thể ông không cần
phải làm việc rất nhiều để viết bài chuyên môn và cũng không đủ khả
năng và kinh nghiệm để chuyển bộ máy MOCVD theo chiều hướng thích họp
cho việc nghiên cứu của ông )
Thiên thời, địa lợi, nhân ḥa
Đây là ba yếu tố chính để thành công như ông
cha ḿnh thường nói.
(a) Thiên thời. Thời điểm ông bắt đầu nghiên cứu blue
LEDs & blue LDs là giai đoạn chín mùi v́
nhu cầu cần thiết hai linh kiện bán dẫn này. Điễn h́nh là lưu trữ
dữ liệu (data storage) với mật độ cao, màn hiển thị LED displays,
đèn incandescent mau cháy c̣n đèn fluorescent th́ ô nhiễm với thủy
ngân; và nhóm nghiên cứu ở 3M đă thành công chế tạo lần đầu tiên
blue- green LD’s dùng ZnSe. Một khía cạnh khác
là GaP và GaAs ông làm ra cho Nichia không bán được nhiều trong thị
trường.
(b) Địa lợi. Mặc dù Nichia là một hăng nhỏ, nhưng có
truyền thống làm những nghiên cứu “không
theo thời”. Sự thành công của hăng này trong
việc thương mại phosphors là một thí dụ điễn h́nh. Khác với
các hăng lớn với nhiều khuynh hướng khác nhau v́ có nhiều
nhóm cạnh tranh nhau và nhiều nhà nghiên
cứu có nhiều kinh nghiệm và kiến thức, người nghiên cứu khó có cơ
hội được làm theo điều mính muốn nhất là nghiên cứu những đề
tài cộng đồng khoa học không chú y đến và cho là không thành công
(c) Nhân ḥa. Ở Nichia, ông giám
đốc đồng y bỏ tiền trong việc nghiên cứu blue LED’s của GS
Nakamura v́ ông biết GS Nakamura là người co tài. . Ông có cơ hội đi
làm nghiên cứu ở University of Florida tại Mỹ
và khai phát trong lănh vực LED’s và LDs.
Quan niệm “nguy cơ”
Từ “Nguy cơ” góp lại từ hai chữ Hán Việt “nguy”-nguy hiểm và “cơ”-
cơ hội ; họp chung với nhau có nghĩa là khủng hoăng (tiếng Nhật gọi
là kiki và tiếng Anh gọi là crisis).
(a) Từ “nguy”. Nói về trường họp của ông
Nakamura, sau 10 năm làm việc ở Nichia với nhiều thành công về kỹ
thuật nhưng không mang đến cho hăng lợi nhuận mong muốn.
Ông đă chế tạo thành công tinh thể GaP, GaAs với
phẩm chất tốt để dùng cho red và infrared LEDs. Rồi bắt đầu
từ năm 1985, hăng quyết định tham gia vào thị trường LED’s. Ông cũng
đă tự chế tạo hệ thống liquid-phase epitaxy (LPE), phương pháp
thường dùng để chế tạo màng mỏng LED và sau một thời gian cố gằng
nghiên cứu, ông đă thành công trong việc chế tạo red và infrared
LED’s bằng cách chế tạo gallium aluminium arsenide trên vật nền
(substrate) GaAs. Phẩm chất của LEDs ông chế tạo tốt ngang hàng với
sản phẩm của Sanyo, Sharp, Stanley,
Panasonic, Toshiba và những hăng khác tại Nhật. Lúc
đó, ông đảm nhiệm “multi-task” vừa nghiên
cứu khai phát, vừa làm công tác kinh doanh và vừa đi bán sản phẩm
của ḿnh như một “saleman”. Ông không bán được
nhiều v́ khách hàng không tin tưởng “chất lượng lâu dài/
stable quality” của sản phẩm từ một hăng nhỏ như Nichia. Thất vọng
với số tiền thu nhập dựa trên những sản phẩm này và với áp lực từ
phía quản ly, ông đề nghị với ông “boss” của ông xin nghiên cứu về
blue LED’s v́ ông nghĩ đây là “holy grail” của kỹ nghệ quang điện tử
(optoelectronics) và sản phẩm đặc thù (nich products) cho những hăng
như như Nichia . Lúc đó, người quản ly
phụ trách R&D của ông trả lời : “ bộ
anh khùng sao? Tất cả những hăng lớn và đại học
chưa thể làm được chuyện này. Sao anh nghĩ anh có thể thực
hiện được ở một hăng nhỏ như chúng ta?”.
Không thuyết phục được boss của ḿnh, vào tháng 1 năm 1988, ông đi
thẳng đến gặp ông Nobuo Ogawa, CEO và là
chủ hăng Nichia với danh sách một đề nghị : ông muốn $3.3 million
tiền nghiên cứu về LED’s và một năm sang làm việc tại University of
Florida để học về hệ thống chế tạo màng mỏng MOCVD, một kỹ thuật
chế tạo màng mỏng có triễn vọng sản xuất các chất bán dẫn với
phẩm lượng tốt dùng trong blue LED’s. Lần này
ông quyết “liều một phen” v́ có thể ông sẽ bị thôi việc. Đây
cũng là lần đầu tiên sau 10 năm v́ kể từ khi vào làm việc ở Nichia
đến giờ, ông chỉ là một “yes man “ không bao giờ dám đ̣i hỏi điều ǵ
về thiết bị, đề tài và tiền nghiên cứu cả. Ông sẵn sàng chấp nhận
hậu quả của việc làm này ngay cả việc phải nghỉ hăng “I wanted to
quit Nichia. I
didn’t care about anything. It was OK for them to fire me. I
was not afraid of anything”. Ông rất ngạc nhiên khi ông Ogawa đồng y
ngay với tất cả yêu cầu của ông có
lẽ v́ ông Ogawa biết GS Nakamura là một nhà nghiên cứu có tài. Bây
giờ mọi chuyện được như y, ông Nakamura
lại đối diện với một t́nh huống khác khó khăn hơn có thể đưa đến
sự thất bại về kỹ thuất.
Vào năm 1989, có hai chất bán dẫn có thể dùng trong việc chế tạo
blue LED’s và LD’s : ZnSe và group III
nitride . V́ chất ZnSe có rất ít defects (103/cm3
), nên hầu hết các pḥng nghiên cứu tại Nhật và trên
thế giới dồn năng lực vào công tác nghiên cứu ZnSe cho việc khai
thác sản phẩm cho hai linh kiện bán dẫn trên. Sự chú trọng càng tăng
lên nhanh khi vào năm 1991, khi một group
ở 3M thành công trong việc chế tạo blue-green LDs lần đầu tiên trên
thế giới sau bao năm chờ đợi và đă thổi một nguồn sinh khí mới
cho cộng đồng chuyên môn [14,15] . Nhưng LDs dựa
vào ZnSe hoạt động tốt ở nhiệt độ liquid nitrogen và chỉ
phát tia sáng liên tục trong vài chục giây ở nhiệt độ pḥng ; Sony
sau này triễn khai thêm và LDs có thể hoạt động liên tục trong 9
phút. Trong hoàn cảnh này. GS Nakamura
chọn GaN (với defects khoảng 1010/cm3 ) v́ :
(i) ông sợ sự cạnh tranh (nếu chọn ZnSe) v́ ông ta nghĩ rất khó
cạnh tranh trong việc khám phá thành quả mới để phát biểu và ngay
cả thành công cũng khó cạnh tranh với những hăng lớn trong việc chế
tạo và thương mại hóa sản phậm LED’s và LDs như trong những trường
hợp đă xảy ra trong quá khứ với Nichia ; (ii) GaAs, GaP đă được
nghiên cứu nhiều tại Nhật [16] . Trong niềm “tuyệt vọng” [13] v́
bị dồn vào ngơ bí và đối diện với thực trạng đang làm ở một hăng
nhỏ không có liên hệ với đại học, cơ quan nghiên cứu của chính phủ
nào; ông đă chọn đề tài nghiên cứu về GaN mà ngay cả chính ông nghĩ
là không thể thành công . Một ly do nữa đưa ông đến sự chọn lựa
này, mặc dù ông không nói rơ rệt và theo thiễn y của chúng tôi,
là y định muốn có bằng PhD và viết nhiều
bài nghiên cứu sau khi trở về Nhật từ Mỹ. V́ ít người nghiên cứu
GaN, nên cơ hội t́m những thành quả mới để viết bài phát biểu về đề
tài này cũng dễ hơn. Chính ông đă xác nhận :”I
desperately selected GaN to write papers. I never thought that I
could invent blue LEDs, using GaN” [1]
(b) Từ “cơ”. Ông tự khai phá chất group III nitride không
dùng những phương pháp thông thường (unconventional)
. Điều trước tiên, ông mua một hệ thống
MOCVD (metal organic chemical vapor deposition) bán trên thị trường
để chế tạo màng mỏng GaN. Nhưng hệ thống này chỉ có một ḍng chất
khí (one gas flow) và khó có thể chế
tạo màng mỏng trên vật nền. Ông tự phát
triễn một hệ thống mới mà ông gọi là two-flow MOCVD dựa vào kinh
nghiệm ông học được lúc ở University of Florida. Trong hê thống này,
chất khí phản ứng (reactive gas) được thổi vào song song với
substrate, kiềm chế được độ nhiệt đổi lưu lớn (large thermal
convection) khi các tinh thể được tạo thành ở nhiệt độ 1.000 C. Với
hệ thống này, ông có thể chế tạo tinh thể GaN với độ di động
(mobility) 200, kỷ lục thế giới lúc bấy giờ, mặc dù dislocation
density vẫn c̣n cao, khoảng 1010 /cm3 [h́nh
11].

H́nh 11 : A two-flow MOCVD system [17]
Với hệ thống two-flow MOCVD này, ông có thể chế tạo LEDs với độ
chiếu sáng 100 lần cao hơn độ chiếu sáng của sản phẩm blue LED’s dựa
trên SiC trên thị trường lúc bấy giờ và với lifetime từ 50.000 –
100.000 giờ. Ông đă làm một điều mà những người khác nghĩ là không
thể nào khả thi được. Đúng là “Thời thế tạo anh hùng và anh hùng
nổ lực để biến đổi thờ thế”.
Rời Nichia và chuyển sang
University of California Santa Barbara (UCSB) để thực hiện “American
dream”
Khi ông Yasuhiko Arakawa, trưởng biên tập của JSAPI, hỏi ông về ly
do ông sang Mỹ, GS Nakamura cho biết là ông không thích lối làm việc
không trọng người tài của Nhật . GS Nakamura nói: “Another reason
was that in Japanese companies, no matter what you have
accomplished, neither your position or your salary change very
much … The workers are all treated more or less the same” [18]. Sau
thời gian ở University of Florida, ông đă trải nghiệm được cái mà
ông gọi “American freedom” và ông nhận thấy cơ hội tiến thân tốt hơn
ở Mỹ . Nên sau khi xong công tác khai thác thành công LED’s và
LD’s, ông xin chuyển sang UCSB vào năm 2000. Ban đầu ông không muốn
đi vào đai học mà chỉ muốn đi vào kỹ nghệ, nhưng v́ sợ xung đột pháp
ly với Nichia nếu ông làm trong kỹ nghệ, nên ông xin vào đại học.
Có hơn trên 10 trường đại học ở Mỹ và Âu châu và nhiều hăng xưởng
muốn nhận ông với “offer that is hard to refuse”; nhưng sau cùng ông
chọn UCSB có lẽ v́ nơi đây khí hậu hiền ḥa dễ chịu và cảnh sắc đẹp.
Hiện GS Nakamura là giám đốc của the
Solid State Lighting and Display Center. Ông đang chủ tŕ
nhiều chương tŕnh nghiên cứu về nitride materials & devices.
Ước mơ lập hăng đă thành hiện
thực:
Ông sáng lập hăng đầu tiên tên là Kaai sau đó đổi tên thành Soraa
cùng với hai đồng nghiệp Steven Denbarrs và James Speck của UCSB
vào năm 2008.
Hăng này được Khosla
Ventures và NEA tài trợ và có cơ sở tại Silicon Valley và UCSB.
Vụ kiện
Nakamura-Nichia nổi tiếng ở Nhật
Ngay sau khi GS Nakamura chuyển sang UCSB vào năm 2000, Nichia đă
kiện ông về việc vi phạm “trade secret”. Đúng là “tránh vỏ dưa, gặp
phải vỏ dừa”, tưởng rằng làm việc ở đại học được yên chuyện, ai ngờ!
Bất măn và bực tức Nichia về vụ kiện này, năm 2001 ông kiện ngược
lại (counter suit) Nichia v́ ở Nhật có điều khoản là nhân viên được
chia phần lợi về những phát minh mang lại lợi nhuận [19]. Vào năm
2004, ṭa án vùng (district court) ra lệnh cho Nichia trả GS
Nakamura 188.7 triệu USD [20], nhưng khi Nichia khiếu nại lên Ṭa
án tối cao pháp viện (the supreme court), số tiền này giảm xuống
cón 8.1 triệu USD . Vụ kiện này không phải đặc thù. Trước đó có
“landmark case” Olympus vs. Tanaka vào năm 2004 đă thay đổi lớn xă
hội Nhật, nơi mà sự kiện cáo không thịnh hành. Trong vụ kiện này,
ṭa án tối cao đă đồng cho phép nhân viên có quyền đ̣i hỏi được
chia lợi nhuận với hăng trong việc buôn bán những sản phẩm dựa trên
phát minh của người ấy mà không bị ràng buộc bởi các hợp đồng và
quy chế trong hăng “ The Supreme Court made it clear that
inventors can sue their companies for larger shares of the profits
from a successful invention, irrespective of employee agreements
and internal rules.” [21]. Cũng xin ghi nhận ở đây là từ năm
2006, luật về bằng sáng chế ở Nhật có tu chỉnh phần nào có lợi cho
các hăng xưởng bằng cách yêu cầu ṭa án phải tôn trọng các hợp đồng
giữa hăng và nhân viên (employee agreements).
Ngoài ra chúng tôi c̣n có một số “cảm nghĩ bên lề” xin được mạn phép
tŕnh bày cùng độc giả về trường họp của GS Nakamura:
Sức cố gắng phi thường, sự yêu
thích điều ḿnh muốn làm và quan niệm độc lập trong nghiên cứu
Làm việc ở một hăng nhỏ không đủ nhân sự, tài chánh và thiết bị, GS
Nakamura đă làm việc rất nhiều để hoàn thành những điều ông muốn
thực hiện. Khi ở Mỹ, ông c̣n có cái biệt danh là “slave Nakamura” v́
ông làm việc 16 giờ một ngày, 7 ngày một tuần để lắp đặt MOCVD, một
hệ thống ông sẽ cần trong việc nghiên cứu LEDs khi ông trở về Nhật .
Trong thời gian 10 năm đầu tiên ở Nichia, ông đọc sách, bài phát
biểu khoa học, bằng sáng chế liên quan đến ngành chuyên môn rất
nhiều. Nhựng sau đó ông quyết định không đọc nhiều sách, tài liệu
phát biểu từ người khác . Ông nghĩ làm như thế chỉ “bắt chước” người
ta mà thôi chớ không thể “sáng tạo” được. Ông rất “handy” từ
những công việc từ lắp đặt, bảo tŕ, chạy máy đến phân tích . Ông
tùy thuộc vào kết quả thí nghiệm để hoạch định bước đi kế tiếp của
ḿnh .
Không nên tin tưởng nhiều
kiến của chuyên gia
Có những người làm công tác khoa học thường đi theo khuynh hướng
chung của mọi người và v́ thế đôi khi mất cơ hội t́m được điều mới
lạ. Một số không ít những người gọi là “chuyên gia” lấy y kiến
từ sách vở, hội nghị và ít có “hands-on experience” về đề tài
chuyên môn. Thêm vào đó, ở nhiều hăng xưởng, thành phần lănh đạo
thường thích “đi theo chiều gió”, nghe theo expert opinion và chọn
hướng đi an toàn để sau này “rủi” thất bại vẫn c̣n ly do để bào
chửa.
Trở lại trường họp của GS Nakamura, các experts đều nghĩ nghiên cứu
GaN cho blue LED’s và LD’s là “nonsense” v́ bề mặt và góc cạnh của
vật liệu này rất “ragged” (gồ ghề). Ai ngờ đâu sau này ông t́m ra là
tính chất “ragged” đă giúp GaN có một độ sáng tốt khác thường.
Lợi điểm của việc làm ở hăng
nhỏ
Trong trường họp của GS Nakamura , làm hăng nhỏ không phải là điều
không hay. Sau khi từ Florida về, ông quyết tâm viết bài nghiên cứu
để đăng báo. Khổ nỗi là ông Ogawa, CEO của Nichia không muốn nhân
viên ông viết bài đăng báo hay nói chuyện tại các hội nghị chuyên
môn nhưng thích có nhiều bằng sáng chế cho hăng (vào thời điểm GS
Nakamura vào làm ở hăng, Nichia đă có khoảng 200 bằng sáng chế !).
. Ông Nakamura, v́ thế, viết bài đăng trong những tạp chí chuyên môn
cỡ “bậc trung (mediocre)” để không ai trong hăng biết.. Chiến lược
của ông là viết bài phát biểu và xin bằng sáng chế (patent
applications) cùng một lúc càng nhiều càng tốt v́ hai lợi điểm sau :
(i) viết bài phát biểu mà không có bằng sáng chế chỉ là làm “công dă
tràng”; (ii) rủi bị phát hiện c̣n có cớ là đang xin bằng sáng chế.
Khó khăn ở đây là tốn khoảng 3 ngàn USD để xin một bằng sáng chế nên
không được hăng chấp thuận. Bị từ chối vài lần, ông mới nhờ một
nhân viên trẻ copy mấy “patent applications” ông đang có và gửi đi
“ cứ làm thế đi, tôi sẽ chịu tất cả trách nhiệm về việc này”. V́ ông
ở hăng trên 10 năm rồi, nên nhân viên trẻ này nghe theo lời ông
(the senority system in Japan worked nicely in this case!). . Từ
năm 1991 trở đi, trung b́nh mỗi năm GS Nakamura viết 5 bài báo cáo
gửi đến các tạp chí chuyên môn và 20-30 patent applications (ngay
cả ở những hăng lớn, nhân viên cũng khó có thể làm được như thế!),
Hầu hết các bài viết của ông “thoát” được tầm mắt của những người
hăng Nichia tuy nhiên ông cũng bị “bắt gặp” vài lần v́ người bên
ngoài Nichia điện thoại vào hỏi và ông hứa sẽ tuân theo quy luật
của hăng. Nhưng rồi “chứng nào tật nấy”, ông vẫn âm thầm gửi bài
đăng báo Thế nhưng trong khoảng thời gian từ 1991 đến 1999, ông đă
viết (authored hay co-authored) 146 bài báo, 6 quyển sách và 10 book
chapters. Thực sự với lối làm việc “không theo quy luật” này, sau
cùng Nichia cũng có lợi: Nichia làm chủ 68 bằng sáng chế tại Nhật và
13 bằng sáng chế tại Mỹ và nhiều sáng chế đang xin (pending
applications) nữa. Với thành tích này, Univ. of Tokushima ban cho
ông học vị PhD. It’s not bad for both parties after all!.
Ngược lại ở những hăng lớn như 3M hay lớn hơn như Sony, cơ cấu chính
trị trong hăng (corporate politics) và quan liêu (bureaucracy) đă có
thể làm ngưng trệ cho sự phát triễn của blue LD’s dựa trên ZnSe như
trong trường họp này. “Breakthrough” về ZnSe blue LD’s ở 3M vào năm
1991 đă tạo ra một momentum khá lớn cho cộng đồng đang khát khao
Blue light technology sau nhiều năm chờ đợi. Một năm trôi qua với
hội nghị khoa học, hàng loạt khách thăm viếng từ nhiều nơi trên thế
giới, ban lănh đạo của 3M vẫn chưa biết sẽ làm ǵ với phát minh này
v́ 3M không phải là hăng làm chips. Rồi năm 1993, nhóm nghiên cứu ở
3M vẫn chưa t́m được giải pháp để giữ blue LD’s tiếp tục phát quang
sau hơn 3 phút ở nhiệt độ pḥng, chương tŕnh nghiên cứu bị đóng cửa
và “mỗi đứa mỗi nơi”. Trường hợp Sony cũng tương tự như vậy, nhóm
nghiên cứu của hăng này có thể giữ ZnSe LD’s phát sáng khoảng 9 phút
ở nhiệt độ pḥng và hy vọng có thể giải quyết vấn đề kỹ thuật liên
hệ để blue LD’s phát sáng lâu hơn. Ông Yoshifumi Mori, director of
laser research của Sony lúc bấy giờ tuyên bố là ông rất lạc quan
về triễn vọng đưa ZnSe blue LD’s ra thị trường . Nhưng rồi với tiến
bộ của nhóm Amazaki và Nakamura trong việc chế tạo p-type GaN với
chất lượng tốt (một trong những thành phần cơ bản trong việc chế
tạo blue LDs), Sony “jump on the GaN bandwagon”. Ông Nakamura thú
nhận “ my luck was I worked for a tiny company and nobody bothered
me” [8].
(Chú thích/TTN: Nên nhớ Nakamura gặp phải trường họp
tương tự về GaN vào năm 1989 nhưng Nichia để ông tiếp tục theo đuổi
giấc mơ của ông. Nếu thế cờ đặt ngược lại, có thể các nhóm ở 3M và
Sony đă có sản phẩm blue LD’s dựa trên ZnSe với lifetime khoảng
10.000 giờ vào thời điểm này!).
Vài suy nghĩ về hướng đi cho
sinh viên và công tác giáo dục
Khổng Tử (551 BC- 479 BC) có dạy “I hear and I forget. I see
and I remember. I do and I understand”.
(a) Làm việc ở các hăng “start-up”. Môt số sinh
viên giỏi ở Mỹ sau khi tốt nghiệp thích đi làm việc ở những
“start-up” để thực hiện “American dream”. D́ nhiên sự thiếu thốn
phương tiện và tài chánh sẽ đ̣i hỏi sinh viên phải làm mọi chuyện từ
A đến Z nhưng chính v́ thế mà sinh viên có cơ hội học hỏi được
nhiều kinh nghiệm từ kỹ thuật đến kinh doanh . (Trường họp của
GS Nakamura, mặc dù ông đến làm ở Nichia một cách miễn cưởng nhưng
nói chung Nichia là một “start-up” từ năm 1956 ; và ông Nobuo Ogawa
đă tạo lập ra hăng này với tinh thần sáng tạo và thành công với
lượng phosphor chiếm một nửa thị trường của thế giới hiện nay).
(b)
GS mở hăng “start-up”. Một số GS ở một
số đại học Mỹ thường có
business riêng và dùng thiết bị và sinh viên để làm công tác nghiên
cứu. Nếu thành công, hăng sẽ trả tiền “royalty” cho nhà trường về
việc “license” bằng sáng chế và mướn sinh viên vào làm nhân viên.
Hướng đi này có lợi cho trường, cho GS và cho sinh viên v́ mọi người
đều có “động lực” để làm việc “hết ḿnh”.
(c) Cạnh tranh giữa các đai học. Các đại học ở Mỹ rất cạnh
tranh với nhau trong
công tác giáo dục, xin tiền nghiên cứu, viết bài phát biểu và lấy
bằng sáng chế. Một số lớn tiền thu nhập mỗi năm từ một số đại học
lớn nhận từ bằng sáng chế. Mỗi trường có một số ngành nổi tiếng khác
nhau.
(d) Cần vài thay đổi ở đại học. Theo thiễn nghĩ của chúng
tôi, đại học là nơi hun đúc óc sáng tạo, khả năng suy nghĩ
và phân tích, kiến thức cơ bản và tinh thần tuân theo quy luật. Đại
học không phải là nơi để giáo dục“từ chương”. Cấp bằng đại
học chỉ là bước đầu tiên và sự thành công sẽ tùy thuộc rất nhiều
vào khả năng và nổ lực của mỗi cá nhân sau này. Nói chung th́
khoảng 10-20% kiến thức học ở đại học được dùng trong kỹ nghệ; c̣n
lại các hăng xưởng sẽ huấn luyện trở lại nhân viên của họ để thích
hợp với nhu cầu hiện có. Trường họp ở Mỹ, kết quả thi cử và thu
nhận sinh viên vẫn c̣n tùy thuộc rất nhiều vào SAT/ACT/GPA (cho
sinh viên trung học muốn vào đại học) và GRE & GPA (cho sinh viên
khoa học kỹ thuật muốn vào graduate schools). Theo kinh nghiệm của
chúng tôi, sinh viên nào học “gạo” th́ phần lớn sẽ gặt hái được
thành tích tốt trong những kỳ thi này ; thế nên một số sinh viên có
óc sáng tạo cao, khiếu phân tích tốt có thể sẽ bị loại bỏ nếu họ
không học /hay “chịu” học hành “chăm chỉ” hay v́ họ bận rộn “vật lộn”
với công việc mưu sinh hàng ngày. Vài năm trước, chúng tôi có một
sinh viên thường hay đến lớp trễ và đôi khi c̣n ngủ trong lớp nữa.
Có một hôm hơi ṭ ṃ tôi mới hỏi : “bộ em thường đi làm thêm lắm
phải không?”; cậu ta đáp : “ em phải hoàn thành cái robotics project
mà em phải giao cho khách hàng tuần sau. Em có hăng riêng và khi nào
thầy rănh vào website của hăng em xem cho vui.” Những em như thế
này làm sao lấy điểm A trong kỳ thi mặc dù tôi biết em có rất nhiều
kiến thức và thực lực về chuyên môn. Gần đây tôi được biết sau khi
tốt nghiệp, em ấy lên Cali. và hiện đang làm chủ một hăng nhỏ với 50
nhân viên ở vùng Silicon Valley.
Theo chiều hướng này, có thể trước khi vào đại học, sinh viên phải
trải qua một thời gian làm công tác kỹ thuật & khoa học để “quen với
tay nghề’ và biết ḿnh muốn học ǵ trên đại học hay ở các trường cao
đẳng. Về cấp đại học, sinh viên sẽ dành năm cuối để làm đề án tốt
nghiệp (senior project) như phần lớn các đại học ở Mỹ hiện đang làm.
Sinh viên nên có cơ hội tự ḿnh thiết kế/ lắp ráp và thực hiện
project của ḿnh. Nhờ vậy mà sinh viên mới có “hands-on experience”
và có thể học hỏi được nhiều hơn nhất là trong lănh vực khoa học
thực nghiệm. Ngoài ra, có “mess around” với sự vật, mới thấy thích
điều ḿnh làm và óc sáng tạo sẽ bắt đầu manh nha. Về điều kiện nhận
vào đại học hay cao học, song song với thành tích học, nhà trường
cũng nên xét khả năng sáng tạo, óc phân tích và kinh nghiệm “tay
nghề” của sinh viên.
Cái lẽ vô thường của vạn vật:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai
(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai)
(Thiền sư Măn Giác)
Ngày xưa khi GS Nakamura phải ở lại làm việc cho hăng Nichia là một
chuyện “bất đắt dĩ”, một cái “rủi”, nhưng ông đâu có ngờ vận mệnh
đưa đẩy, việc này trở thành cái “may”. Trong ḍng “vô thường” hôm
nay, chuyện “rủi may” đi đôi với nhau như h́nh với bóng. Trong cái
khó khăn gần như tuyệt vọng chọn cho ḿnh một hướng nghiên cứu đi
ngược lại với “common knowledge” của cộng đồng chuyên môn và cái cảm
giác “bị khinh khi” khi trở về từ Mỹ v́ không có PhD và không có bài
nghiên cứu; ông đă t́m ra cho ḿnh một “cành mai” và trong cái” thất
vọng bao trùm”, có một mầm “hy vọng” vừa mới trổi mầm. Với 10 năm
trong kỹ nghệ với cấp bằng MS, ngay cả cho đến năm 1989, ông chỉ là
một “tên vô danh tiểu tốt” chưa biết viết bài báo khoa học, không đi
hội nghị khoa học; mà ngay cả ông có đi chắc cũng ngồi một chỗ không
ai “thèm điếm xỉa”. Rồi năm 1995, cả thế giới, nhất là ở Nhật, kinh
ngạc với cái tin GaN blue LDs phát sáng ở nhiệt độ trong pḥng từ
Anan, một thành phố miền quê nước Nhật mà ngay cả nhiều người Nhật
không biết. Bây giờ nhiều người muốn “làm quen” với ông v́ ông quá
nổi tiếng. Ông đă trở thành một “super star” . Những năm tháng khó
khăn đă trôi qua như con gió thoảng…
Nói tóm lại sự thành công hiếm có của GSTS Shuji Nakamura về lănh
vực blue LED’s và blue LD’s đă cho chúng ta một số đề tài để suy
ngẫm: (i) yêu thích điều ḿnh làm và không để bị “cuốn theo chiều
gió” theo những quan điểm và y kiến của experts; (ii) kiên tŕ làm
việc hết sức ḿnh “mưu sự tại nhân và thành sự tại thiên”; (ii) khó
khăn nào cũng có con đường vượt qua và đôi khi khó khăn này là “bàn
đạp” tốt để con người nhảy xa và cao hơn trong những điều họ muốn
làm.
Trong bài tháng tới, chúng tôi sẽ giới thiệu cấu tạo của blue LEDs
và blue LDs và mối liên hệ của những linh kiện bán dẫn này với công
nghệ màng mỏng.
Trần Trí Năng
(Univ. of Minnesota & Ecosolar International)
*) Lư do của cách gọi mơ hồ này (blue green) v́ trong phổ điện từ
(electromagnetic spectrum), green chấm dứt ở 500 nm và blue bắt đầu
ở 490 nm . Cái đỉnh (peak) của màu blue nằm ở 450 nm. Tia sáng GaN
laser dùng ở dĩa blu-ray hay HD-DVD đúng ra là “blue- violet” với
cái đỉnh ở 405 nm.
**) LED TV là một loại LCD TV khi LED’s được dùng để thay thế cho
standard fluorescent backlight. Loại TV này phần lớn rất mỏng, dùng
ít power hơn, h́nh ảnh tốt hơn và đắt hơn LCD TV. Mặc dù loại TV
này được nhiều người biết năm rồi nhưng nó đă xuất hiện trong nhiều
tiệm bán đồ điện tử từ năm 2007 bắt đầu với
Samsung's
LN-T4681F .
***) LED display là một loại
display LED thật với red, green và blue LEDs.
References
[1] S. Nakamura:in a talk to high
school students, 2007, CA
S. Nakamura. Materials Science
and Engineering B50 (1997) 277-284.
[2] http://stadium.dallascowboys.com/assets/pdf/mediaVideoBoardRelease.pdf
[3] T.T.Năng:
Plasama
trong việc chế tạo màng mỏng .
[4] J. Pankove et al. RCA
Rev. 32, 383 (1971).
[5] H. Amano et al.
Appl. Phys. Lett. 48, 353
(1986)
[6] S. Nakamura : Jpn. J.
Appl. Phys. 30, L1705 (1991).
[7] H. Amano et. Al. J.
Lumin. 4041, 121 (1988).
[8] S. Nakamura et. Al.
Jpn. J. Appl. Phys. 31, 1258 (1992).
[9] S. Nakamura et al. Jpn. J. Appl. Phys. 30,
L1998 (1991), ibid. 34, L797 (1995)
[10] S. Nakamura et al. ibid. 35, L74 (1996)
[11] S. Nakamura et al. Ibid. 35, L217 (1996).
[12] S. Nakamura : ISAP International, vol.1, January 2000
[13] S. Nakamura: Commomorative lecture
at the 21st Honda Prize awarding ceremony, Nov. 17, 2000.
Tokyo.
[14] M. Haase et al.
Appl. Phys. Lett. 63,25 Oct. 1993
[15] M. Haase et al.
US patent 5,291,507..
[16]
Opto & Laser Europe
May 2002
[17] S. Nakamura et
al. “Novel metaloorganic
chemical vapor deposition system for GaN growth”, Applied Phys. Lett.
58, 2021 (1999).
[18] Y. Arakawa: JSAPI International ,
No.2, July 2000.
[19] R. Taplin: Newsletter from Thomson Scientific, July 2007. Also
http://www.scientific.thomson.com/newsletter
[20] http://www.compoundsemi.com/documents/articles/news/3692.html
[21] Kyoto News và Nihon Keizai
Shinbun, Jan. 12, 2005 .
http://www.nytimes.com/2005/01/12/business/worldbusiness/12light.html