|
Blue lighting technology với LEDs và LDs –
phần III
Cơ cấu hoạt động
Trần Trí
Năng
(Univ. of Minnesota & Ecosolar
International)
Trong
những số trước [1,2], chúng tôi đă giới thiệu với độc giả GS Shuji
Nakamura của University of Santa Barbara (UCSB), người đă đưa ra thị
trường sản phẩm đi -ốt phát quang màu xanh (blue light emitting diodes
hay LED’s) và laze đi- ốt màu xanh (blue laser diodes hay LDs). Đây
là một thành công lớn với nhiều ứng dụng
trong nhiều lănh vực khác nhau chẳng hạn
như blu-ray optical storage như blu-ray disc, HD-DVD, LED TV, LED
displays , outdoors lighting medicine, traffic signals, laser
printers, laser displays và lọc nước. Chúng tôi cũng đă giới thiệu sơ
qua sự khác nhau về cấu tạo giữa hai linh kiện bán dẫn
này : Về cấu tạo, cả hai LEDs và LDs đều
được chế tạo dựa trên multi quantum wells (MQW) với nhiều lớp màng
cực mỏng thuộc dạng nanotechnology [3]. Thực ra theo nguyên ly th́ cả
hai LED’s và LD’s trong cấu tạo cơ bản đều gồm có hai lớp vật liệu
chính với những tạp chất (impurities) khác nhau ,
i.e, n-type và p-type để cho nhiều hạt electrons và holes. Bằng cách
đặt ḍng điện ở hai đầu điện cực, ḍng điện ép hạt electrons và holes
chạy về vùng tiếp hợp (junction)
nằm giữa hai lớp bán dẫn. Sự khác nhau
giữa LED’s và LD’s là ở trường hợp của LD’s, tia
sáng được khuếch đại ở trong buồng cộng hưởng của LD’s. Ở phần cuối
của buồng cộng hưởng , có thiết lập phần gương để phản chiếu phôton
di chuyển qua lại nhiều lần, khiến cho phôton va chạm với hạt
electrons, bị kích thích và kết quả là thêm nhiều hạt phôton phóng ra
và cường độ ánh sáng được khuếch đại. Trong bài viết tháng này, chúng
tôi sẽ triển khai rộng hơn nguyên lư hoạt động của LEDs và LDs.
Từ khóa
: multi
quantum well (MQW), band gap, conduction band, valence band, Fermi
level, spontaneous emission, stimulated emission, population
inversion, optical confinemen, quantum efficiency.
1.
Thay lời tựa
Những năm đầu thời sinh viên ở
Nhật, tôi rất thích bài hát “Blue Light Yokohama” do nữ ca sĩ Ishida
Ayumi và bài “Yokohama tasogare/ hoàng hôn Yokohama”
do nam ca sĩ Itsuki Hiroshi hát khoảng đầu
thập niên 70’s. Một phần có lẽ hai bài này có những nét “trữ t́nh” và
thơ mộng về một thành phố cảng với bóng
đèn màu xanh blue; một phần cũng có lẽ bài này cho tôi sống lại những
chuỗi ngày “c̣n mài đũng quần” trên ghế học tṛ ở thành phố cảng Qui
Nhơn với ánh đèn Néon đủ màu rực sáng về đêm. Tôi có đến Yohohama vài
lần ; đi qua khu Motomachi và khu Chukagai
(China town). Yokohama tuyệt đẹp với ánh sáng màu
“ Machi no akari ga tottemo kireine Yokohama”. Tôi đi một ḿnh
dọc theo cảng khi chiều xuống, ngang qua
các tiệm quán, nh́n khói thuốc (tabako no kemuri ) loăng tan theo
bóng đêm trong khi nghe tiếng đờn guitar réo rắt điệu t́nh (atenai
koiuta nagashi no gitaa). Tôi đi thật chậm, mơ màng
theo ḍng suy tư. Tôi
cứ lê chân đi, tiếp tục bước đi như con thuyền nhỏ trôi theo
ḍng (aruite mo, aruite mo kobune no yooni). Đi để t́m về kỷ niệm, để
thấy thấm thía sự mất mác của một chuyến ra đi :
Người ấy đă đi mất rồi (anohito wa itte shimatta), như một cánh chim
hải âu bay về phía đèn hải đăng (Uminari toodai ichiwa no kamome).
Rồi bay xa… xa măi… Có một lần tôi về thăm lại
Yokohama, gặp phải cơn mưa vào lúc ngày sắp tàn. Nh́n những
giọt mưa tung tăng trong vũng nước phản
chiếu ánh đèn néon như những ngọn đèn bé nhỏ màu xanh đang tung tăng
trong điệu múa :
“…Mưa ră rich
bước chân dài trong phố,
Màn đêm buông lơi trên hàng quán bên đường
Vũng nước lăng tăng những giọt thắm yêu
thương
Ngàn đóm xanh tung tăng trong điệu múa …”
TBA
Rồi thời gian cứ trôi qua;
“hành tŕnh ngược xuôi đi học, đi làm kiếm sống” đă khiến tôi
rời Tokyo, Chiba và đưa tôi về những thành phố xa, rất xa. Lâu lắm
rồi tôi chưa có cơ hội về thăm lại Yokohama,
thành phố cảng thân thương ngày nào. Yokohama giờ chắc khác nhiều;
những bóng đèn xanh “blue light” trong bài hát của Ishida Ayumi ngày
nào chắc đă thay thế bằng đèn nhỏ LEDs;
khu phố, con đường ngày xưa giờ chắc tấp nập hơn... Nhưng dù đèn Neon
hay đèn LED’s, đối với tôi màu xanh lúc nào cũng dễ
chịu, nhẹ nhàng và quyến rũ…(nhờ ḍng sông
màu nắng hết xanh xao; nhờ màu trời màu xanh thành hy vọng ; cám ơn
đời tôi sống trọn bao năm – TBA).
2.
Muôn sắc màu rực rỡ
“…Đỏ, vàng, xanh lộng lẫy
Tươi thắm rộn ḷng người
Bên em chiều biển vắng
Dă tràng theo sóng vơi…”
TBA
LEDs và LDs
cho những màu sắc khác nhau. H́nh 1 biểu
hiện màu xanh blue của LDs và màu
ultraviolet của LEDs do GS Nakamura và nhóm ông chế tạo lúc ông c̣n
làm ở Nichia.

H́nh 1 : On the left:.
Blue light emission from a GaN-based electrical
carrier injection laser diode. [Photo: Nichia Chemical
Industries, ref. 4]; on the right: LED’s with UV light [5]
H́nh 2 tóm lược danh sách những
chất bán dẫn dùng trong LEDs với chiều
dài bức sóng khác nhau và v́ thế cho những màu sắc khác nhau từ đỏ,
sang vàng đến xanh blue [6]. Chẳng hạn LED cho màu ultraviolet ở
h́nh 1 được chế tạo từ GaInN có chiều dài bức sóng 370 nm; trong khi
đó LED với màu xanh blue dùng GaInN với chiều dài bức sóng 450 nm.

H́nh 2: Những chất bán dẫn dùng
trong LEDs cho những sắc màu khác nhau [6]
3.
Cấu tạo và nguyên ly hoạt động của blue LEDs & LDs
3-1
Vài nét về LDs
Trong những số trước, chúng tôi
tŕnh bày khái niệm và lịch sử khai phát
LEDs. Trong số này, chúng tôi sẽ thảo luận vài nét
đặc thù của LDs trước khi thảo luận về cơ cấu vận hành của hai linh
kiện bán dẫn light emitting diodes (LEDs) và laser diodes/hay laze
(LDs). Laser viết tắc từ Light
Amplification by the Stimulated Emission of
Radiation. Vận hành của linh kiện bán dẫn này dựa trên sự tổng hơp
của ba cơ cấu : phát xạ kích thích
(stimulated emission), tập hợp nghịch chuyển (population inversion)
và phản hồi dương trong buồng cộng hưởng (positive feedback in the
cavity). LEDs và LDs cả hai đều có cấu
trúc với multi quantum wells (MQW), như đă tŕnh bày ở số tháng ba
[3]. QW dùng để kiềm chế hạt electrons và
holes theo hướng thẳng góc với bề mặt của màng mỏng. The quantum
well (hay double-heterostructure như thường được biết) đầu tiên được
đề xuất hầu như cùng một lúc vào năm 1963 bởi Herber Kroemer [7] ở Mỹ
và các Zh. I. Alferov and R.F. Kazarinov ở Nga [8]. Hai
ông Alferov và Kroemer chia giải thưởng
Nobel về vật ly năm 2000 về sự khám phá này. Charles Henry & D.
Dingle của Bell Laboratories lần đầu tiên thành công trong việc chế
tạo quantum well laser có thể hoạt động vào năm 1974 [9].
Hai ông nhận được bằng sáng chế tựa đề “Quantum Effects in
Heterostructure Lasers” sau đó vào ngày
21, tháng 9, 1976 với phần tóm lược như sau :” A quantum well
laser is a
laser diode
in which the active region of the device is so narrow that
quantum
confinement occurs. The wavelength of the light emitted by
a quantum well laser is determined by the width of the active region
rather than just the
bandgap
of the material from which it is constructed. This means that much
shorter wavelengths can be obtained from quantum well lasers than from
conventional laser diodes using a particular semiconductor material.
The efficiency of a quantum well laser is also greater than a
conventional
laser diode
due to the stepwise form of its
density of
states function…”. Khái
niệm về discrete energy levels được biểu
hiện ở H́nh 3.

H́nh 3: Khái niệm về discrete
energy levels ở quantum well laser [6].
MQW laser hữu hiệu hơn LEDs và
những semiconductor lasers khác về công suất đầu ra (output power).
Chẳng hạn như, với LEDs, ḍng điện 150 mA cho ra công suất 1 mW
power; trong khi đó với LD thông thường, 10 mA cho ra 1 mW và với QW
lasers 10 mA cho ra công suất đầu ra từ 3 mW- 100 mW.
3-2
Ôn lại vài định nghĩa cơ bản làm nền tảng
cho việc cắt nghĩa nguyên ly hoạt động của LEDs và LDs
3-2-1
Băng dẫn (conduction band) Ec
và băng hóa trị (valence band) Ev
Băng dẫn là
nơi có nhiều hạt electrons trong khi đó hầu hết holes nằm ở băng hóa
trị (h́nh 4 a). Những ṿng tṛn nhỏ tô đậm chỉ
định nồng độ đỉnh của hạt electrons nằm gần cạnh biên của băng dẫn
Ec. Tương tự như vậy, các ṿng tṛn trống chị định nồng độ
đỉnh của holes gần cạnh biên của băng hóa trị Ev.

(a)

(b)
H́nh 4: (a) Sơ đồ về sự phân
phối của hạt electrons và holes ở băng dẫn Ec và băng hóa
trị Ev ; (b) Vị trí của băng dẫn (conduction band) Ec,
băng hóa trị (valence band) EV , mức Fermi (Fermi level)
EF , mức trung tính Ei trong ba trạng thái bán
dẫn : intrinsic (không pha tạp chất), n-type (với tạp chất thuộc nhóm
V) và p-type (với tạp chất thuộc nhóm III trong bảng tuần hoàn)
[10]
3-2-2
Mức trung tính (intrinsic level) Ei và
mức Fermi (Fermi level) EF
Mức trung
tính Ei nằm giữa băng dẫn Ec và băng hóa
trị Ev ; trong khi đó mức Fermi được dùng như mức tham khảo
để chỉ định xác xuất số lượng hạt electrons hiện hữu. Khi mức Fermi
EF nằm ở trên mức trung tính
Ei (đường chấm chấm trong h́nh), chúng ta có chất bán dẫn
thuộc dạng n-type : ở trạng thái này, có nhiều hạt electrons (hay nói
một cách khác : hạt electrons là hạt tải đa số/majority carriers) và
ít holes (hạt tải thiểu số/ minority carriers). Trường họp ngược lại
có thể áp dụng khi mức Fermi EF
nằm dưới mức trung tính Ei. Tham khảo
h́nh 4 (b).
3-2-3
Tiếp hợp p-n (p-n junction)
Giờ chúng ta thử mang
chất bán dẫn p-type (h́nh 5 a) tiếp hợp với chất bán dẫn n-type, mức
năng lượng của hai bên sẽ điều hợp với nhau bằng cách mang mức
Fermi EF đến ngang với nhau đưa đến trang thái thằng
bằng (h́nh 5 b); kết quả là tạo nên sự khác nhau về năng lượng Vbi
giữa băng dẫn EC của p-type và n-type (h́nh 5 c). Ở
t́nh trạng này như chỉ định trên biểu đồ
băng (band diagram), hạt electrons từ phía n-type phải có năng lượng
hoặc bằng hoặc lớn hơn Vbi đủ để chuyển sang phía p-type
và để cho ḍng điện bắt đầu chạy. Nếu không đủ năng lượng đ̣i
hỏi th́ hạt electrons không thể tham gia
vào hoạt động dẫn điện và linh kiện bán dẫn sẽ không hoạt động.


(c)
H́nh 5: Biểu đồ băng (band
diagram) của tiếp hợp p-n. [10]
Như thế nếu không đủ năng lương để vượt qua bức tường năng
lượng Vbi , những
hạt electrons sẽ phải quay ngược trở lại theo chiều mũi tên về
phía bán dẫn n-type của h́nh 6a. Trường hợp tương tự
sẽ xảy ra cho holes theo chiều mũi tên đi
về phía bán dẫn p-type. Để cho sự di động của hạt electrons từ phía
n-type sang phía p-type được dễ dàng hơn, chúng ta có thể đặt một
điện thế dương (positive voltage VA hay gọi nôm nà là
forward bias) để làm giảm chiều cao của bức tường năng lương xuống
c̣n Vbi – VA như được biểu hiện ở h́nh 6 b.

H́nh 6 (a)
: Band diagram of p-n junction at VA =0 (thermal
equilibrium). The total current is the sum
of the individual electron omponents (electron diffusion component +
electron drift component) and hole components (hole diffusion
component + holedrift component). The n vs E curve in the inset
indicates the distribution of carrier
concentration n as a function of energy E [from
A. Doolittle- Georgia Tech]
Ở
h́nh 5 (a) khoảng cách giữa băng
dẫn EC
và băng hóa trị EV gọi là vùng cấm (energy gap)
hay bandgap. Khoảng cách này càng nhỏ, th́ năng lượng đ̣i hỏi càng ít
cho hạt electrons nhày từ băng hóa trị EV
lên đến băng dẫn EC. Trên quan điểm vật liệu, th́
bandgap này tỉ lệ nghịch với chiều dài
bước sóng λ (chiều dài này quyết định màu sắc phát quang) theo công
thức dưới đây :
(1)
Eg : bandgap; h= hằng số Plank
(Plank’s constant),
= tần số
ánh sáng (frequency of light) và λ= chiều dài bước sóng
(wavelength).

H́nh 6 b
: Forward bias với điện thế dương VA đặt ở hai
đầu điện cực của tiếp hợp p-n làm giảm bức tường năng lượng xuống c̣n
Vbi – VA và v́ thế sự di chuyển của hạt electrons và holes
được dễ dàng hơn [from A. Doolittle-
Georgia Tech].
Để có nhiều hạt
electrons nợi băng dẫn và nhiều holes ở
băng hóa trị, chúng ta có thể “heavily dope/ thêm rất nhiều tạp chất”
để cho nhiều donors (cho hạt
electrons) hay acceptors (nhận hạt
electrons) hơn. Trong trường họp này, mức Fermi EF nằm
trong băng dẫn – gọi là EFC ; và khi mức Fermi EF
nằm trong băng hóa trị – gọi là EFV . Khi hạt
electrons chuyển từ mức năng lượng cao
kết hợp với holes ở mức năng lượng thấp, số năng lương dư sẽ được
phóng thích ra dưới dạng nhiệt hay ánh sáng.
3-2-4
Phát xạ tự phát (spontaneous emission), phát xạ
kích thích (stimulated emission) và tập hợp nghịch chuyển
(population inversion)
3-2-4-1 Mô h́nh tổng quát
H́nh 7
biểu
hiện mô h́nh tổng quát của các qui tŕnh : phát xạ tự phát,
hấp thụ (absorption) và phát xạ kích thích.
Phát
xạ tự phát của ánh sáng gây ra do sự tái kết hợp phát xạ
( radiative recombination) của đi-ốt. Hiện
tượng này thường được biết là
điện phát quang (electroluminescence hay EL).
Từ “electroluminescence”
được dùng khi phát quang được tạo ra với tác động của điện trường.
Trong trường hợp này,
mặc dù
sự tái kết hợp có thể xảy ra trên toàn cấu trúc của đi-ốt v́ “hạt
tải/carriers” có khuynh hướng khuếch tán xa khỏi vùng tiếp hợp,
phần lớn
ánh sáng phát ra từ vùng tiếp hợp của p-n đi- ốt.
Số lượng
tái kết hợp phát xạ và vùng phát xạ trong cấu trúc tùy thuộc vào chất
bán dẫn và phương pháp chế tạo linh kiện bán dẫn.

H́nh 7:
Mô h́nh tổng quát biểu hiện các hiện
tượng phát xạ tự phát (spontaneous emission), hấp thụ (absorption) và
phát xạ kích thích (stimulated emission).
Phát xạ tự phát xảy ra khi hạt
electrons từ băng dẫn EC tái kết hợp với holes ở băng hóa
trị EV; trong khi đó, sư hấp thụ (absorption) là kết quả
đạt được khi hạt electrons nhảy từ băng hóa trị lên đến băng dẫn, để
lại holes nơi băng hóa trị EV.
C̣n phát xạ kích thích là do
sự kích thích bởi một lượng năng lượng
khác.
3-2-4-2 Phát xạ
tự phát (spontaneous emission)
Phát
xạ tự phát diễn tả một quy tŕnh nơi mà
hạt electrons từ một trạng thái kích thích (excited state) rơi xuống
trạng thái an định (ground sate). Năng lượng của phô-ton/ quang tử
(photons) sinh ra bởi quá tŕnh này được
định nghĩa như là sự khác biệt năng lượng giữa trạng thái kích
thích (the excited state) E2 và trạng thái an định
E1 (h́nh 8)
(2)
H́nh 8
cắt nghĩa chi tiết hơn về quá tŕnh này
tuần tự theo thứ tự ở ba giai đoạn : trước khi tái kết hợp, lúc tái
kết hợp và sau khi tái kết hợp xảy ra. Ở giai đoạn ba, pho-tôn
được phát ra.

H́nh 8: Phát xạ tứ phát (spontaneous
emission)
3-2-4-3 Stimulated emission
Phát xạ kích thích
( stimulated emission) xảy ra khi chúng
ta có nghịch chuyển về tập hợp hay nồng độ hạt tải (population
inversion). Nói một cách khác, khi chúng ta đưa vào chất bán
dẫn hạt tải thiểu số nhiều đến nỗi ở vài
vùng trong cấu trúc có nhiếu “excited carriers” (hạt electrons) hơn là
“ground state carriers” (holes). Nói một cách khác, phát xạ tự
phát là một qui tŕnh nơi đó hạt electrons
“relax” khi rơi từ trạng thái kích thích. Phát xạ kích thích ngược
lại là một qui trính xảy ra khi pho-tôn
tới (incident photons) kích thích sự hồi phục (relaxation) của hạt
electrons từ trạng thái kích thích E2 rơi xuống trạng thái
an định E1 .
Kết quả cho ra hai phô-ton có cùng năng lượng (nên
cùng bức sóng), cùng hướng (direction) và
cùng pha (phase). Sự liên kết pha ( phase
coherence) dẫn đến sự phân kỳ tối thiểu (minimal divergence) của tia
quang học và đưa đến nguồn ánh sáng định hướng (directed light
source). Nguồn ánh sáng này có cùng trạng thái lượng tử và v́ thế được
gọi là coherent light (h́nh 9).

H́nh 9: Phát xạ kích thích
(stimulated emission)
.
3-2-4-4 Tập
hợp nghich chuyển (population inversion)
Ở chất bán dẫn, sự nghịch chuyển
về dân số hay nồng độ hạt tải (population inversion) có thể đạt được
bằng cách cho một số lượng lớn hạt tải (high carrier injection) vào
vùng hoạt động mỏng ( thin active region ~ μm) thuộc heavily doped p+-n+
junction hay double heterostructure (chất bán dẫn có bandgap nhỏ nằm
giữa hai chất bán dẫn có bandgap lớn) , đưa đến t́nh trạng kích thích
tự phát hạt electrons và holes ở cùng một không gian. Kết quả đưa đến
một số lượng lớn và bằng nhau của hạt electrons và holes ở băng dẫn
và băng hóa trị Lúc đó, những hạt electrons “chuyển tiếp xuống
/downward transitions” từ băng dẫn. Những pho-tôn tạo ra thay
phiên kích thích nhiều hạt electrons và
kết quả là nhiều chuyển tiếp sẽ xảy ra, dẫn đến hiện tượng khuếch đại
(amplification) và đưa đến pho-tôn có cùng pha.
3-3
Working mechanism of LEDs vs LDs
LEDs và LDs sẽ được cắt nghĩa
dựa vào những khái niệm căn bản chẳng hạn như band gap, phát xạ kích
thích, phát xạ tự phát, MQW, tập hợp nghịch chuyển và kiềm chế quang
học (optical confinement) mà chúng ta đă thảo luận trong số tháng
hai [2]. Về cấu tạo cả hai đều thuộc dạng
đi-ốt với heavily doped semiconductors ; ở đó sự tái kết hợp xảy ra
trong vùng hoạt động khi ḍng điện bắt đầu chạy vào linh kiện bán
dẫn. Forward bias dùng để giảm bức tường điện thế nằm ở vùng tiếp hợp
p-n; và hạt electrons ở băng dẫn kết hợp với holes ở vùng băng hóa trị
tạo năng lương đủ để phóng ra tia sáng.
3-3-1
LED’s
LEDs được tạo thành với những
chất bán dẫn hỗn hợp như gallium arsenide (GaAs), gallium phosphide (GaP),
gallium arsenide-phosphide (GaAsP), silicon carbide (SiC) and gallium
indium nitride (GaInN).
Việc chọn chất bán dẫn sẽ quyết
định chiều dài bức sóng của đỉnh phát xạ
(peak emission) của phôton và v́ thế sẽ ảnh hưởng đến màu sắc của
ánh sáng phát ra. Tia sáng của LEDs đạt
được do phát xạ tự phát, do sự tái kết hợp của hạt electrons và holes
trong vùng hoạt động khi đi-ốt đặt ở forward bias. Lúc này tia sáng
được phóng ra theo nhiều hướng. Chất bán
dẫn dùng, thường thuộc nhóm III-V
compounds, có direct band gap để bảo đảm hiệu xuất lượng tử cao (high
quantum efficiency).
LED phóng ra photon không liên
kết pha (incoherent), không cùng hướng (non-directiona)
và không phân cực (unpolarized).
Những photon tự phát này sẽ không bị khuếch
đại bới phát xạ kích thích.. Thêm vào đó LED không có ḍng
điện giới hạn (threshold current).
H́nh 10 biểu hiện cấu tạo tổng
quát của LEDs : (a) phía p –type nằm trên bề mặt nới ánh sáng phát ra
; thường rất hẹp (khoảng vài microns) để phôton có thể thoát ra mà
không bị hấp thụ trở lại; (b) phía n-type pha rất nhiều với tạp
chất (heavily doped) để bảo đảm sự tái kết hợp sẽ xảy ra ở phía
p-type; (c) phôton phóng ra về phía n-type hoặc bị hấp thụ hoặc
bị phản chiếu ngược lại từ phía phân giới với vật nền, tùy thuộc vào
chiều dày của vật nền và cấu tạo của LEDs. Biểu đồ
băng và cơ cấu vận hành của LEDs được biểu
hiện ở h́nh 11; cơ cấu vận hành thực ra giống như cơ cấu ở h́nh 6
(a) và (b).

H́nh 10.
Schematic illustration of typical planar surface emitting LED devices.[6]

H́nh 11.
Band diagram and working mechanism of LEDs [6]
H́nh 12 biểu hiện biểu đồ băng
(band diagram) của trường hợp tiếp hợp p+-n+
có rất nhiều chất pha tạp (heavily doped p+-n+
junction). (a) ở trạng thái thăng bằng
nhiệt và (b) với điện thế đặt ở hai đầu điện cực của tiếp hợp p+-n+
để làm giảm bức tường năng lượng.
Để có nhiều hạt
electrons nợi băng dẫn và nhiều holes ở
băng hóa trị, chúng ta có thể “heavily dope” chất bán dẫn p-type và
n-type để cho nhiều donors (cho hạt
electrons) hay acceptors (nhận hạt
electrons) hơn. Trong trường họp này, mức Fermi (Fermi level) EF
nằm trong băng dẫn – gọi là EFC ; và khi mức
Fermi EF nằm trong băng hóa trị – gọi là EFV
; và EFC và EFV đều hợp với nhau để có thể
nằm ở cùng một mức năng lượng ngang nhau (h́nh 12 a ).


.H́nh 12 (a) Heavily doped
p+-n+ junction in thermal equilibrium; (b) heavily doped p+-n+
junction under forward bias.[6]
When the forward
bias > Eg, với high
injection carrier density, vùng hoạt động được h́nh thành gần vùng
tiếp hợp p-n.
Khi hạt electrons
chuyển từ mức năng lượng cao kết hợp với
holes ở mức năng lượng thấp, số năng lương dư sẽ được phóng thích ra
dưới dạng nhiệt hay ánh sáng (h́nh 12b).
Một thí dụ về biểu đồ băng với
quantum well QW được biểu hiện ở h́nh 13 ;
ở đây, chất bán dẫn trong cấu trúc của LED’s có direct bandgap.
Hạt tải đa số tiêm nhập vào phía đối
diện của LED trở thành hạt tải thiểu số và tái kết hợp, phát sinh
ra phôton. QW dùng để bẫy (trapped) hạt
electrons và holes và v́ thế tăng độ kết hợp (recombination. rate).

H́nh
13 : LED’s with MQW (from A. Doolittle-
Georgia Tech)
Như có thể biểu hiện ở
h́nh 14, công xuất quang học gia tăng với số QWs dùng trong LEDs,
thường th́ con số này giới hạn trong ṿng 3-5.
 
H́nh 14:
Light output của LEDs tăng lên với số QW
dùng.
3-3-2 LDs
Khác với LEDs,
LDs dùng phát xạ kích thích để cho ra tia
sáng cùng pha (coherent light) và cần một số lượng lớn phôton để tạo
phát xạ kích thích. Khi năng lượng đặt trên chất bán dẫn lớn hơn
bandgap, hai trường hợp có thể sẽ xảy ra: phôton bị hấp thụ trong
chất bán dẫn, kích thích hạt electron; electrons sẽ di chuyển từ
băng hóa trị đến băng dẫn; hoặc năng lượng này kích thích sự tái
kết hợp phát xạ của hạt electrons và holes, hay gọi là phát xạ kích
thích. Nếu phôton thứ hai này (second photon) có
cùng tần số và định hướng như phôton thứ nhất, hai photons sẽ tạo tia
sáng cùng pha (coherent light). Tập hợp nghịch chuyển xảy
ra khi hạt tải thiểu số của p-n tiếp hợp
vượt quá số hạt tải đa số. Điều này có thể xảy ra
khi dùng kích thích quang (optical excitation) hay bằng cách
dùng tiêm nhập điện (electrical injection) với mật độ ḍng điện cao .
Với blue LD’s, ḍng điện thuận (forward
current) tăng lên tới mức độ tới hạn (critical level) lúc mà tập
hợp nghịch chuyển xảy ra.. Ở trong trường họp này, sẽ
có nhiếu holes hơn là hạt electrons ở băng
dẫn và nhiều hạt electrons hơn holes ở vùng băng hóa trị. Nói một cách
khác một số lượng rất lớn hạt electrons và
holes có khả năng kết hợp với nhau để phóng ra phôton. Và khi t́nh
trạng này xảy ra, những hạt phôton mới tạo ra có thể bị khởi động
(triggered) bởi những xung đột ngẫu nhiên (random collisions) của
hạt electrons và holes, tùy thuộc vào ảnh hưởng của những hạt
photons chạy ngang qua. Những photons này có khả năng kích
thích thêm và gia tăng sự sản xuất ra
nhiều photons hơn.
Điều quan
trọng thực hiện được ở đây
là photons bị khởi động bởi những phôton có cùng chiều dài bức
sóng và cùng pha với nhau. Nói một cách khác, những photon này đồng
bộ hóa với nhau (synchronization) và tạo thành
lớp sóng liên tục của phát xạ cùng pha (continuous wave
coherent radiation). Phần gương được đặt ở
hai đầu của đi-ốt để tạo ra pḥng cộng hưởng quang và để lượng
phôton trong vùng hoạt động gia tăng cho đến khi lượng phát xạ từ
phát xạ kích thích cao hơn lượng phát xạ từ phát xạ tự phát. Để cho
ra ánh sáng, một trong hai phần gương
phài hoặc là một nửa trong suốt hay có lỗ nhỏ trên đó.
Với sự hiện diện của buồng cộng hưởng,
phôton có thể di chuyển qua lại nhiều lần từ đầu bên này đến đầu bên
kia của buồng, khởi động nhiều hơn nữa lượng photons đồng bộ với nhau.
Kết quả là có nhiều coherent light được
phát ra. Và v́ hai đầu của buồng cộng hưởng không hoàn
toàn phản xạ (thường khoảng 90-95%), một
số coherent light rời laser chip để tạo luồng áng sáng phát ra bên
ngoài. Một điểm nữa cần đề cập là một
lượng lớn hạt tải mang điện cần thiết ở vùng hoạt động có thể gây ra
sự co lại trong lớp bán dẫn. Một cách để giải quyết vấn
đề này là dùng heterostructure ở đó
n-type và p-type chung quanh có bandgap lớn hơn và kết quả là hạt tải
bị kiềm chế ở vùng giữa (như đă tŕnh bày trước).
LDs có hai dạng: dạng nằm ngang
(horizontal type) với ánh sáng phóng ra
từ đầu được mài nhẵn của con chip, và dạng thẳng đứng (vertical
type) . Cà hai dạng đều vận hành theo nguyên ly đă được cắt nghĩa
trên ; sự khác nhau chính nhất nằm ở vùng
hoạt động phát sinh ánh sáng và ở buồng cộng hưởng. Bởi v́
LDs vận hành với mật độ ḍng điện cao và
có điện trở thuận rất thấp khi lasing, LDs dễ bị phá hủy do độ không
ổn định nhiệt ( thermal runaway). Cường độ của tia
sáng có thể tăng lên đến độ làm phần gương bị nóng chảy.
Thế nên, chúng ta cần phải thận trọng khi vận hành
LDs hơn là LEDs. Có nghĩa là ḍng điện phải điều chỉnh và
optical feedback thường được dùng để bảo đảm độ an
toàn cho phần phát quang ở đầu ra.
3-3-3
Hệ mạch điện
3-3-3-1 LEDs
Về
cấu tạo, đèn LED gồm có thấu kính epoxy màu (colored epoxy lens), màng
kính nơi ánh sáng từ LED chip xuyên qua, hộp kim loại,
LED chip, metal header và lớp cách điện
bằng kính (glass insulator) [h́nh 15].
LED chip được gắn trên phần trong nơi có
dây dẫn điện cực catốt bằng một chất xi-măng dẫn điện. Đầu điện cực
catốt này thường được h́nh thành dưới
dạng vật phản xạ h́nh đĩa nhỏ theo phương cách thích họp để cho
nhiều ánh sáng phát ra ở phần trên của đèn. Một dây ghép nối
nhỏ dùng để kết nối đầu anốt với điện
cực nằm ở phần trên của con chip. Sau khi hoàn thành, bộ phận lắp ráp
được bọc kín với nhựa epoxy trong hoặc có màu nước (water clear)
hay có màu thích hợp với đỉnh phát sáng của LEDs.
Thường th́ có khoảng 15.000
LEDs trên 2” (5 cm) wafer với kích cỡ của
mỗi con chip là 0.35 mm x 0.35 mm. Đặc tính quang học của chất bán
dẫn sẽ quyết định màu phát sáng của LEDs : chẳng hạn nhự AlGaAs,
AlGaInP cho màu đỏ đến màu vàng/xanh lá cây (yellow/green); và InGaN
cho màu xanh lá cây/xanh đậm (green/blue)
 
H́nh 15:
Cấu tạo cơ bàn của đèn LEDs [11]
(a) (b)
H́nh 16 (a) Circuit for running
LED from a DC source;
(b) two ways of running LED from an AC supply. [12]
Khi LED vận hành ở
DC mode, điện trở Rs được dùng để thiết
lập ḍng diện thuận (forward current) của mạch điện vận hành ở một
mức độ thích hợp nằm trong khoảng 5-20 mA (h́nh 16 a). Điện trở Rs
được tính dựa theo công thức :
Rs= (VS-VF)/IF
VS
= điện thế nguốn ; VF = điện
thế thuận
Mặc dù LEDs thường dùng ở
forward conduction mode và không được đặt ở điện
thế nghịch. Thường thường người ta giữ điện thế
nghịch chỉ tiêu (reverse voltage rating) vào khoảng -5V
pḥng ngờ trường hợp có sự kết nối nghịch (reverse connection) bất
trắc xảy ra.
Trường hợp LED vận hành với
nguồn AC, để tránh sự kết nối với điện cực
nghịch không xảy ra, mạch điện B có thể dùng (Fig.16b). Ở đây
silicon đi-ốt kết nối theo hướng nghịch
được kết nối trực tiếp ở hai đầu của LED để giới hạn điện thế nghịch
vào khoảng 0.6 V (điện thế phân giới của silicon đi-ốt).
Như thế LED
sẽ được bảo vệ; nhưng sẽ gặp vấn đề là ánh sáng từ LED chỉ phát
ra ở nửa chu kỳ (AC). Thế nên, lượng ánh
sáng ra và hiệu xuất sẽ bị giảm một nửa. Phương pháp (Wheatstone
Briege) biểu hiện ở H́nh 16 b có thể giải
quyết vấn đề này và duy tŕ được lượng ánh sáng phát ra và hiệu xuất
cao hơn. Người ta cũng dùng short pulse
cycle- short duty cycle (on/off ratio) trong trường hợp ánh sáng đầu
ra nhiều hơn. Trong trường hợp này, ánh sáng ở đầu ra có thể gia tăng
nhiều với mạch xung (pulses), trong khi đó vẫn c̣n có thể duy tŕ mức
điện trung b́nh và công xuất sinh ra nằm trong phạm vi đ̣i hỏi bởi
chỉ tiêu.
3-3-3-2 LDs
Package của
LD được biểu hiện ở H́nh 17 với đi-ốt dùng để để kiểm soát công
suất.

(a) (b)
H́nh 17 [12]
LDs vận hành ở mật độ ḍng điện
cao và có điện trở thuận rất thấp khi
phát quang lasing xảy ra, LDs v́ thế rất có thể bị hủy hoại v́ độ
không ổn định nhiệt. Mật độ phát sáng có thể tăng lên đến
mức mà lớp kính ở hai đầu có thể bắt
đầu nóng chảy.
Thế có nghĩa là chẳng những ḍng
điện của LDs phải được điều chỉnh bằng
một mạch điện nhất định hơn là chỉ bằng điện trở thôi; và đồng thời
phản hồi quang tiếp ngược (optical negative feedback) thường cũng
phải dùng luôn để bảo đảm việc duy tŕ đầu ra quang (optical output)
ở một mức độ nhất định. Để dễ dàng hơn trong việc thực hiện phản hồi
quang này, hầu hết các LDs có silicon PIN photodiode đặt ngay
trong hệ thống điều chỉnh; dàn xếp thế nào mà photodiode này sẽ
nhận một cách tự động một lượng quang tương đương với lượng quang từ
đầu ra của LDs. Output này của photodiode sau
đó được dùng để kiểm soát lương điện cung cấp qua LDs bởi một mạch
điện nhất định để giữ sự vận hành an định và đáng tin cậy.
H́nh 17 (b)
biểu hiện một hệ thống điều chỉnh ḍng điện đơn giản dùng để
vận hành LDs. Mạch điện dùng cho LDs gồm có diodes dùng để kiểm
soát ḍng điện vận hành và ánh sáng phát ra. Đi -ốt
dùng trong việc kiểm soát “shunt” the base forward bias ở
tranzito Q1; và emitter voltage của tranzito này được giữ ở mức độ
nhất định bởi Zener diode. Kết quả là với sự điếu chỉnh điện trở
VR, ḍng diện của LD được giữ ở
mức độ ổn định
3-3-3-3 So sánh hiệu suất và công suất giữa LEDs
và LDs
Cả hai LEDs và LDs có cấu trúc p+-n+
của direct bandgap semiconductor vận hành với forward bias.
LED không có điện thế giới hạn (threshold voltage);
phát quang khi ḍng điện tiêm nhập (injection current) chạy qua
vùng tiếp hợp. Tia sáng của LEDs đạt được là do
sự tái kết hợp phát xạ của electrons-holes trong vùng hoạt
động của linh kiện đi-ốt này. LEDs cho ra phôton tự phát không cùng
pha, không độ chỉ hướng và không phân cực (incoherent, không
non-directional và unpolarized spontaneous photons).
Những photons này sẽ không được khuếch đại
bởi sự phát xạ kích thích như LDs. Trường hợp của LDs th́ khác : LD là
một linh kiện bán dẫn khuếch đại quang (semiconductor optical
amplifier). Sự phản hồi quang học ( optical
feedback) của LDs được thực hiện bằng cách cleaving chất bán dẫn dọc
theo trục kết tinh của tài liệu bán dẫn này. Sự khác nhau rơ rệt giữa
tinh thể và môi trường chung quanh làm cho
cleaved surfaces đóng vai tṛ như tấm gương phản xạ. Thêm vào đó, sự
khác biệt rơ rệt của hai linh kiện bán dẫn LEDs và LDs nằm ở công
suất đầu ra (output power) : công suất đỉnh (peak power) của LDs được
đo bằng đơn vị watt (W) trong khi đó công suất của LEDs chỉ ở vào
khoảng milliwatts (mW). Ngoài ra LEDs có 50% chu
tŕnh hoạt động (duty cycle); có nghĩa là ON 50% và OFF 50% bất luận
vận hành ở tầng số nào.
Khi vận hành dưới threshold,
LDs tạo phát xạ tư phát và tương tự như
LEDs. LDs có tính năng tốt hơn v́ hiệu
suất chiết xuất (extraction efficiencies) ήe khoảng trên
10% trong khi đó hiệu suất chiết xuất của LEDs ở vào khoảng vài %.
Điều này manh nha từ sư kiện LDs vận
hành trên căn bản phát xạ kích thích. Vă lại, LDs
phóng ra nhiều nhiệt hơn, nên cần có bộ hấp thụ nhiệt để phân tán
nhiệt. So với LEDs, LDs nhỏ hơn, cho nhiều ánh
sáng, có tuổi thọ dài hơn và có thể mở/ đóng với tốc độ cao
hơn. Một điều nữa là bởi v́ tia sáng LDs
có cùng pha (coherent) và v́ thế ít tạp âm (noise) hơn; băng thông
(bandwidth) cũng hẹp và rơ ràng hơn LEDs.

(a) (b)
H́nh
18 : Liên hệ giữa laser region (coherent
emission) và LED region (incoherent emission) : (a) light output vs
current và (b) optical power vs. current. [12]
Nếu dùng ḍng điện giới hạn
(threshold current) là điểm tham khảo trong đồ thị
output power hay light output. vs.
current (h́nh 17), vùng dưới ḍng điện giới hạn ith là
LED và vùng trên ith thuộc về LD. Ở đây, hiệu suất phát xạ,
tỷ số điều biến (modulate rate) và hiệu xuất kết nối với cáp quang
(optical fibers) cao hơn.
Bảng 1 biểu
hiện sự so sánh giữa LEDs và LDs. Độc giả có thể tham khảo thêm ở
reference [13].

Bảng
1. So sánh cơ cấu và đặc tính của LEDs và
LDs.
Trong
số tháng trước và tháng này, chúng tôi đă thảo luận những thông số căn
bản về lượng tử và cơ cấu vận hành của LEDs và LDs. Trong số tới,
chúng tôi sẽ tŕnh bày một hệ thống chế tạo màng mỏng dùng trong việc
h́nh thành hai linh kiện điện tử quan
trọng này : metal-organo chemical vapor deposition hay thường gọi nôm
na là MOCVD.
Tài
liệu tham khảo
[1]
http
://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Hienthuong-Nakamura.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/LEDs-V2.htm
[3]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/LEDS-PART-2.htm
[4] S.
Nakamura : Science, vol. 272, 21 June 1996,
p. 1751
[5] S.
Nakamura : JSAP International No.1, Jan.
2000, p.5
[6]
S. Nakamura. Bài nói chuyện với high
school students, California, 2007
[7]
H. Kroemer, "A proposed class of
heterojunction injection lasers," in Proc. IEEE, vol. 51, 1963, p.
1782.
[8] Zh. I. Alferov and R.F. Kazarinov,
Authors Certificate 28448 (U.S.S.R) 1963
[9]
C. Henry & D. Dingle, US
Patent No. 3,982,297.
"the active layers are thin
enough (e.g., about 1 to 50 nanometres) to separate the quantum levels
of electrons confined therein. These lasers exhibit wavelength
tunability by changing the thickness of the active layers. Also
described is the possibility of threshold reductions resulting from
modification of the density of electron states."
[10] R.F.
Pierret: Semiconductor device fundamentalsAddison Wesley Publishing
Inc., 1996
[11] S. Nakamura et al. Apply. Phys. Lett. 67,
1868 (1995).
[12]
Electus Distribution reference data sheet 2001.
[13]
Physics of Optoelectronics, Michael A. Parker, CRC
Taylor and Francis, pp.47-78
Lake
Elmo 9 tháng 4, 2013
|