|
Blue lighting technology with LEDs
và LDs :
Phần 2 – Multi quantum wells
Trần Trí
Năng
(Univ. of Minnesota & Ecosolar International)
Trong số những
tháng trước [1,2] , chúng tôi đã giới thiệu với độc giả GS Shuji
Nakamura của University of California- Santa Barbara (UCSB), người đã
đưa ra thị trường sản phẩm đi -ốt phát quang màu xanh (blue light
emitting diodes hay gọi tắc là blue LED’s) và laze đi- ốt màu xanh
(blue laser diodes hay blue LDs). Đây là một thành công lớn với
nhiều ứng dụng trong nhiều lãnh vực khác
nhau chẳng hạn như blu-ray optical storage
như blu-ray disc , HD-DVD, LED TV , LED displays , đèn thắp sáng
ngoài trời đặc biệt là đèn trắng, đèn giao thông , đèn xe, laser
printers và laser displays.
Chúng tôi cũng đã giới thiệu một số cơ bản về
những yếu tố lượng tử cần thiết trong nguyên ly hoạt động của LEDs và
LDs.
Trong số này, chúng tôi sẽ thảo luận
khái niệm cơ bản về multi quantum wells (MQW) – một cấu trúc nano với
nhiều giếng lượng tử (quantum wells hay QWs) và
tường lượng tử (quantum barriers hay QBs) cực mỏng có đơn vị
nanometers (nm). MQW với nhiều chu kỳ của
InGaN với lượng In khác nhau hay InGaN/GaN đóng vai trò như vùng hoạt
động giữa hai chất bán dẫn n-type và p-type GaN trong cấu tạo của LEDs
và LDs. Nói chung,
quantum wells có những lợi điểm sau: (i) tự do trong
việc thiết kế, cho nhiều loại bán dẫn khác
nhau (bandgap engineering); (ii) có hiệu xuất phát xạ cao; (iii) laser
threshold thấp với mật độ dòng điện giới hạn thấp; và (iv) sự tái kết
hợp của hạt tải trên bề mặt ít quan trọng đối với QW hơn là đối với
bulk materials.
Keywords :
heterostructures, bandgap engineering, quantum confinement,
superlattice, multi quantum well (MQW), quantum well, quantum
barrier, bandgap, bandgap , GaN, InGaN, optical confinement.
Quantum wells
(QW) and superlattices (SL) đã và đang trở thành kỹ thuật quan trọng
trong lãnh vực vi điện tử và quang điện tử một phần lớn là nhờ
những ưu thế chưa từng có trước đây trong kỹ nghệ chế tạo màng mỏng (MBE
và MOCVD) như kiểm soát rất đích xác chiều dày tới mức nanometers
(nm), phân giới giữa các màng mỏng , và thành phần các chất và pha
tạp chất .
1.Cấu tạo
của linh kiện bán dẫn LEDs & LDs
Cả hai LEDs và LDs có
cấu trúc p+-n+ với
chất bán dẫn có năng lương vùng cấm trực tiếp (direct bandgap
semiconductor) phát ra ánh sáng khi phân cực thuận (forward bias) được
áp đặt ở hai đâu điện cực. LEDs không có điện thế
giới hạn (threshold voltage). Thường LEDs phát quang khi dòng
điện tiêm nhập (injection current) chạy qua vùng tiếp hợp (junction)
. Ánh sáng của LEDs được sinh ra do sự
tái kết hợp phát xạ (radiative recombination) của electrons-holes
trong vùng hoạt động (active region) khi forward bias đặt trên linh
kiện bán dẫn này. LEDs vì thế cho ra tự
phát photôn không điều hợp cùng pha, không có độ chỉ hướng và không
phân cực (nonincoherent, non-directional and unpolarized spontaneous
photons) . Trong khi đó, Laze là một linh kiện bán dẫn thuộc dạng
khuếch tán quang (semiconductor optical amplifier) như đã trình bày ở
những số trước [1,2] .
Sự khác biệt chính nhất giữa LEDs và LDs
là ở trường hợp của LDs, tia sáng được
khuếch đại ở trong buồng cộng hưởng của LDs . Ở phần cuối của buồng
cộng hưởng, có thiết lập phần gương (mirrors)
để phản chiếu phôton di chuyển qua lại nhiều lần, khiến cho phôton
va chạm với hạt electrons , bị kích thích và kết quả là thêm nhiều
hạt phôton phóng ra và ánh sáng được khuếch đại . Sự phản hồi
quang học (the optical feedback) của LDs
được thực hiện bằng cách tách rẽ chất bán dẫn dọc theo mặt kết tinh
(crystal planes). Sự khác nhau rõ nét về hệ số khúc xạ giữa tinh
thể (~ 3.5) và các môi trường chung quanh
làm cho bề mặt tách rẽ của tinh thể đóng vai trò như một tấm phản
chiếu.
Laze đi-ốt dựa trên
nitride (nitride diode laser), vận hành ở bức sóng gần 420 nm, được
thực hiện vào năm 1995 bởi TS Nakamura và nhóm ông tại hãng Nichia,
Nhật bản. Laze đi-ốt dựa trên nitride này lúc đầu chỉ có thể vận hành
ở điều kiện mạch xung (pulsed conditions) với
một mật độ dòng điện giới hạn (threshold current densities ) khoảng
vài chục kA/cm2 . Nhưng chức năng của linh kiện bán dẫn
này đã được cải thiện khá nhanh sau đó: ngoài sự vững chắc của các
chất liệu dùng , vào năm 1998 laze đi-ốt dựa trên nitride này đã
vượt qua laze dựa trên các chất bán dẫn II-VI về độ dài của thời gian
hoạt động ở điều kiện sóng liên tục (continuous wave mode hay CW
mode) . Đặc biệt nhất là nhóm nghiên cứu ở Nichia
đã thành công trong việc nâng thời gian hoạt động của mẫu thử
đi-ốt (prototyped diodes) lên tới 10.000 giờ; cái mốc đòi hỏi trước
khi có thể tung sản phẩm này ra thị trường [3]. Sau đó , nhiều nhóm
khác ở Nhật như Sony, Fujitsu, Xerox, NEC, Matsushita, and Toyoda
Gosei cũng chế tạo được blue LDs vận hành ở mode liên tục CW – mặc
dù chưa đạt được thời gian hoạt động kỷ lục như Nichia.
Dưới đây chúng
tôi xin đơn cử vài cấu tạo điển hình của hai linh kiện bán dẫn LEDs và
LDs:
1-1 Sự liên hệ
giữa các đơn vị dùng trong công nghệ màng mỏng
Màng mỏng có chiều dày
rất nhỏ, chỉ trong khoảng từ 0,002 đến 1 micron (trong khi đường kính
của sợi tóc con người khoảng 50-100
micron). Trong lĩnh vực này,
chúng ta không thể dùng những đơn vị quen thuộc như mét (m), centi-mét
(cm), milli-mét (mm) , mà phải dùng
những đơn vị nhỏ hơn hàng triệu lần (micrometer) hay nhỏ hơn một tỉ
lần (nanometer) của một mét, như
được biểu hiện ở Hình 1. Ba đơn vị thường dùng trong công nghệ này là
micrometer (µm), nanometer (nm) và Angstrom (A) [4] .Đặc biệt
trong số này, chúng tôi sẽ dùng
nhiều đơn vị nanometer để miêu
tả chiều dày của các lớp màng mỏng trong cấu trúc LEDs và LDs. .

Hình 1: Sự liên hệ giữa
nanometer (nm), Angstrom (A) và micrometer (µm),
ba thông số thường
dùng nhất trong công nghệ màng mỏng.
1-2 Vài thí dụ về LEDs :
Hình 2 diễn tả cấu tạo của tiếp hợp p-n LEDs với giếng điện tử
(quantum wells) dùng trong vùng hoạt động.
Bởi vì vật nền saphia (sapphire substrate) không dẫn điện, hai điện
cực của LEDs phải nằm cùng một phía về hướng đối diện với vật nền.

Hình 2: Cấu tạo của tiếp hợp p-n
blue LED’s
(tài liệu của TS Ian Watson, Univ. of Strathclyde,
2007, reference 5).
Ở một cấu tạo khác của
LEDs biểu hiện ở Hình 3 (a và b) , tường chắn (barrier) Mg doped GaN
được dùng để gia tăng cường độ phát quang (photoluminescence
intensity), độ an định nhiệt (thermal stability) , and hiệu xuất
lượng tử nội bộ IQE (internal quantum efficiency) của LEDs. Sự cải
thiện về công suất đầu ra (output power) là do sự gia tăng về lượng
hole tiêm nhập vào các lớp trong giếng lượng tử với tường chắn
Mg-doped. Độ giảm về mức độ khiếm khuyết (defect
density) và độ gồ ghề RMS (RMS roughness) được xác nhận bởi hình AFM.
Thêm vào đó, người ta cũng xác nhận được sự giảm độ khiếm khuyết với
Mg (magiê) từ 109 cm-2 (không thêm tạp chất
Mg) xuống còn 106 cm-2 (với Cp2 Mg
: 0.04 sccm) và cuối cùng còn 0 (với Cp2 Mg : 0.2 sccm).
Điều này chứng tỏ rằng thêm tạp chất magiê
vào trong cấu trục giếng lượng tử có thể cải thiện tính chất quang học
của linh kiện bán dẫn quang học dựa trên GaN. Giếng lượng tử (MQW’s)
trong hình này gồm có giếng lượng tử (quantum wells-QWs) InGaN và
tường chắn lượng tử (quantum barriers-QBs)
GaN.

Hình 3: Cấu tạo của LED với giếng lượng
tử MQW được thành lập với 5 chu kỳ
gồm có
undoped-GaN (2 nm) / Mg-doped GaN (4 nm) / GaN (2 nm) [6].
Một thí dụ nữa về
giếng lượng tử MQWs với GaInN ở những
thành phần khác nhau cho cả hai quantum wells (QWs) and quantum
barriers (QBs) như ở hình 4 (a) . Cấu tạo với GaN (QB) /GaInN (QW)
biểu hiện ở Hình 4 (b) dùng để tham khảo.

Hình 4: Sơ đồ cấu tạo epitaxy của (a) GaInN/GaInN
MQW LED (GaInN/GaInN LED)
và (b) GaInN/GaN
MQW LED (để tham khảo) [10].
LEDs với cấu tạo
ở Hình 4 được hình thành trên vật nền
saphia có c-plane (0001), dùng một hệ thống MOCVD do hãng Aixtron (Đức)
chế tạo. Cấu tạo này gồm có một lớp undoped GaN (2 µm) đặt nằm trên
lớp đệm GaN (30 nm), một lớp a Si-doped n-type GaN (3 µm) , vùng
hoạt động giếng lượng tử MQW với ba chu kỳ GaInN/GaInN (3 nm/12 nm)
hay GaInN/GaN (3 nm/16 nm) , một lớp undoped GaN dùng làm miếng đệm
(spacer) , một lớp chắn electron (electron blocking layer EBL) Mg-
doped p-type Al0.13 Ga0.87N (35 nm) , và lớp
contact a Mg- doped GaN (50 nm). Để dễ dàng trong việc tham khảo,
chúng tôi gọi cấu tạo ở Hình . 4(a) “GaInI/GaInN
LED” và cấu tạo ở Hình 4(b) “reference LED” .
Đối với tường chắn lượng tử GaN QBs ở Hình .
4(b), lớp GaN layer (LT-GaN QB, 2 nm) trước tiên được tạo ra ở nhiệt
độ at 720 C; đây cũng ở cùng nhiệt độ dùng cho QW’s để bảo vệ GaInN
khỏi phải bị nhiệt phân giải trong suốt thời gian gia tăng nhiệt độ
tạo thành màng mỏng nói trên. Tiếp theo, lớp GaN QB (HT-GaN QB, 14 nm)
được hình thành ở 790 C nhằm để bảo đảm phẩm chất của tinh thể. Hơn
nữa, GaInN QB’s được hình thành mà không cần lớp bảo vệ GaN đặt giữa
QWs and QBs và ở nhiệt độ hình thành thấp hơn HT- GaN QBs. Lớp GaInN
QBs mỏng hơn lớp GaN QBs để duy trì chất lượng tinh thể tốt. Thành
phần của In trong GaInN QWs và GaInN QBs theo thứ tự là 20% và 10%
để cho ra tia sáng màu blue và để giảm thiểu độ phân cực không điều
hợp (polarization mismatch) giữa QW and QB. Lớp GaInN (2.5 nm) được
dùng như tường chắn lượng tử QB sau cùng ,
tiếp theo bằng GaN spacer layer ( 2.5 nm) dùng cho GaInN/GaInN
LED. Lớp LT- GaN ( 2 nm) được dùng như
lóp QB đầu tiên , theo sau bằng lớp GaN spacer layer (5 nm) dùng cho
“reference LED”. Trong cả hai cấu trúc này, trừ
trường hợp của QBs, điều kiện tạo thành cho tất cả các màng mỏng khác
đều giống nhau.
Dấu hiệu đầu tiên liên
quan đến phẩm chất của vật liệu tạo thành là cả hai mẫu linh kiện đều
có bề mặt giống như mặt kính . Sau khi
wafers được nung nóng ở 800 C trong 1 phút trong môi trường nitrogen
để kích thích độ doping trong p-type GaN, cả hai linh kiện LEDs được
cắt thành mẫu nhỏ LEDs có tầm kích 300 x 300 µm2 dùng
phương pháp chế tạo LEDs tiêu chuẩn .
Ti/Al/Ti/Au và NiZn/Ag điện cực được dùng theo thứ
tự cho n-type and p-type Ohmic contact, [6].
1-3
Vài
thí dụ về LDs
Linh kiện bán dẫn này hoạt động liên tục ở 100 C với công xuất 35 mW
và.được
tạo thành trên vật nền saphia c- face (0001) ở áp xuất khí quyển
tiêu chuẩn dùng hệ thống two-flow MOCVD [7,8,9] . Laze đi-ốt dựa
trên InGaN MQW này gồm có GaN buffer layer (30 nm) tạo ở 550 C, lớp
n-type GaN:Si (3 µm), n-type In0.05Ga0.95N:Si (0.1 µm), n-type Al0.08
Ga0.92 N:Si (0.6 µm), n-type GaN:Si (0.1 µm), an In0.15
Ga0.85 N/In0.02 Ga0.98 N MQW
n-type GaN:Si (0.1 µm) , an In0.15 Ga0.85 N/In0.02
Ga0.98 N MQW với ba chu kỳ có Si-doped In0.15Ga0.85N
(3.5 nm) QW/ Si-doped In0.02Ga0.98N QB (7nm) , p-type Al0.2Ga0.8N:Mg
(20 nm) , p-type GaN:Mg (0.1 μm) ,
p-type GaN: Mg (0.1 μm),
p-type Al0.08Ga0.92N:Mg (0.6 μm) , và p-type GaN:Mg (0.3 μm). Ở đây,
hai lớp n-type and p-type GaN (0.1 μm) được
dùng cho light-guiding và lớp p-type Al0.08Ga0.92N (0.6 μm) dùng như
cladding layers trong việc kiềm chế hạt tải (carriers) và ánh sáng
phát ra từ vùng hoạt động của cấu trúc InGaN MQW [10]

Fig. 5.
The lifetime of the InGaN
multi-quantum-well (MQW) structure LDs
have
been improved to 35 hrs under RT-CW operation [7,8]
Mốt cấu tạo khác của la-ze đi-ốt tương tự như cấu tạo ở Hình 5 ở trên
được biểu hiện ở Hình 6 .


Hình 6
Typical structure of
an edge emitting blue multiple quantum well (MQW) diode laser.
(a) Schematic of the layered heterostructure for electronic and
optical confinement, with electrical contacts. (b) Energy band
representation of the active region, with InGaN quantum wells
separated by GaN barriers. Injected electrons and holes are trapped in
the MQW, where they radiatively recombine.
Lớp kiềm chế electron
AlGaN dùng để không cho hạt electrons rời
vùng hoạt động. Cấu tạo của the edge-emitting
laser diode được biểu hiện ở Hình 6 (a). Vùng hoạt động, nơi
mà the optical gain cần thiết để giữ tình
trạng lasing , gồm có MQW với chu kỳ InxGa1–xN (QW) /GaN
(QB) với chiều dày 3-4 nm cho mỗi lớp. Cấu trúc
MQW này được đặt nằm giữa tiếp hợp p-n với QWs có bandgap hẹp
hơn QBs. Biến đổi giữa vùng dẫn (conduction band
) và vùng hóa trị (valence band) [12]
được biểu hiện ở Hình 6 (b). Hạt electrons và holes khi vào MQW
bị mắc bẫy (trapped) trong giếng lượng tử .
Khi kết hợp, chúng cho ra photôn. Bằng
cách biến đổi tỉ số In/Ga , chúng ta có thể
điều chỉnh chiều dài bước
sóng phát ra từ 390 nm (violet) đến 450 nm (blue). Lớp GaN (100 nm)
dùng trong p-n tiếp hợp vừa đóng vai trò
như ống dẫn sóng (waveguide) dọc theo bề mặt của màng mỏng và vừa làm
nợi tồn trử electrons –holes để tiêm nhập vào vùng hoạt động. Nhiệm
vụ của waveguide sau cùng được hoàn
thành với AlGaN cladding layers với hệ số khúc xạ thấp hơn. [13].
2- Bandgap engineering
2-1 Double heterostructures
Vì superlattice và
multi quantum wells thảo luận ở các phần kế tiếp
có liên quan nhiều đến double heterostructures, nên chúng tôi
xin trình bày cấu trúc này trước để dễ dàng theo dõi hơn sau này.
Cứ tưởng tượng vì một
sự tình cờ thiên nhiên nào đó, có một cái giếng
nhỏ được tạo ra giữa hai khe nuối ; và nước mỗi ngày cứ chảy
vào cái giếng này. Vì cái giếng nằm dưới thấp, nên nước không thể chảy
ngược lại lên cao nên lượng nước trong
giếng càng ngày càng nhiều; và số nước này chỉ có thể thoát ra theo
hướng ngang hông nếu bức tường chắn mỏng hay có nhiều lỗ hở.
Cái giếng lượng tử (quantum well) cũng giống như cái giếng này trong
đó các hạt tải (carriers) là nước giếng. Hiệu xuất lượng tử
nội bộ (internal quantum efficiency IQE) có
thể được cải thiện nếu hạt tải bị kiềm chế, làm tăng thêm xác xuất tái
kết hợp phát xạ . Một cách để thực hiện điều này là dùng cấu trúc
không đồng chất đôi (double heterostructure), nơi mà chất bán dẫn có
vùng cấm năng lượng hẹp (narrow bandgap) được kẹp giữa hai lớp bán dẫn
có vùng cấm rộng hơn, như trường họp của InGaN đặt giữa GaN ở Hình
7. Hạt tải luôn luôn thích trạng thái năng lượng thấp (lower energy
states); thế nên hạt tải sẽ tập trung ở
vùng giữa (InGaN) ; và cho ra nhiều cặp electrons-holes sẵn sàng tham
gia vào quy trình tái kết hợp phát xạ.

Hình 7.
Energy band diagram of GaN/InGaN/GaN quantum well
with electrical carrier injection and radiative recombination.
Nếu vùng giữa
của cấu trúc này đủ nhỏ, nó có thể giới hạn sự di động của
hạt tải vào 2 chiều , và được biết như giếng lượng tử (quantum
well)—sẽ được trình bày sau. Trong InGaN LEDs, chiều rộng của giếng
lượng tử vào khoảng 3 nm. Sự kiềm chế
này đưa đến sự gia tăng IQE. Vì có một số
hữu hạn trạng thái năng lượng (energy states) cho mỗi giếng lượng tử
, MQW có thể dùng để ngăn chận sự đong đầy giếng (well filling),
ví thế sẽ tăng số tái kết hợp phát xạ từ băng này đến băng kia
(band-to-band radiative recombination). Sự kiềm chế hạt tải
và quang học trở thành rất hữu hiệu với
double heterostrcutures. Cấu tạo cơ bản của double heterostructures có
thể hoặc P-p-N hay P-n-N (the capital P , N
ám chỉ chỉ chất bán dẫn có bandgap rộng, trong khi đó p, n chỉ định
chất bán dẫn với bandgap hẹp hơn Hầu hết tất cả những hạt tải thặng
dư do dòng điện (current injection) tiêm nhập và kiềm chế ở vùng với
bandgap hẹp trong hình. Bởi vì lớp lớp có bandgap hẹp có hệ số khúc
xạ cao hơn hai lớp có bandgap rộng bên
ngoài , waveguide (ống dẫn sóng) được tạo thành ở double
heterostructure.
2-2 Bandgap engineering
Vì chiều dài bước sóng phóng ra tùy thuộc
vào bandgap của chất bán dẫn, nhiều nghiên cứu chú tâm vào kỹ thuật
điều chỉnh để đạt được bandgap mong muốn.
Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật biến đổi
năng lượng vùng cấm (bandgap engineering). Nói một cách khác,
bandgap engineering là quy trình tạo chất bán dẫn (gồm nhiều
lớp) với đặc tính điện và quang khác nhau bằng cách thay đổi chiếu dày
màng mỏng, thành phần của hợp chất trong các chất bán dẫn. Khái niệm
về kiềm chế lượng tử (quantum confinement) đã
dẫn đến hiệu quả quantum sizes (quantum size effects) trong quantum
well heterostructures và liên hệ mật thiết với superlattice (siêu
tinh thể) thông qua hiệu ứng tunen (tunneling phenomena). Trong cấu
tạo double heterostructures nơi chất bán
dẫn có bandgap hẹp hơn như GaAs được đặt kèm giữa chất bán dẫn có
bandgap rộng hơn như AlGaAs , sự kiềm chế (confinement) đạt được do
độ bất liện tục về năng lương ở vùng phân giới giữa hai chất bán dẫn ,
đưa đến sự biến đổi hình thái giữa vùng dẫn (CB) và vùng hóa trị
(VB).
Nghê thuật liên quan đến bandgap
engineering tùy thuộc nhiều về sự phát
triễn kỹ thuật về lãnh vực thành trưởng tinh thể . Tinh thể khối
(bulk crystals) tạo ra từ trạng thái lỏng thường
có nhiều tạp chất và mật độ khiếm khuyết cao. Thế nên, các
linh kiện bán dẫn quang điện tử thường
được chế tạo với những phương pháp epitaxy như là epitaxy pha lỏng
(liquid phase epitaxy LPE), epitaxy chùm phân tử ( molecular beam
epitaxy MBE) và ngưng đọng hơi hóa học MO ( metaloorganic
chemical vapor deposition MOCVD). Nguyên ly căn bản của epitaxy là
thành trưởng những lớp màng mỏng với độ
thuần khiết rất cao trên một tinh thể khối dùng làm vật nền. Hệ
thống này dựa trên tinh thể điều hơp
(lattice matching) khi hằng số tinh thể (lattice constant) của lớp
epitaxy và của vật nền đồng nhất. Sự điều hợp tinh
thể mặc dù có thể làm giảm lượng lệch
mạng tinh thể (dislocations) trong lớp epitaxy, nhưng đồng thời cũng
tạo nên những ràng buộc rất khắt khe về bandgaps của màng mỏng tạo
thành .
Sự phát triễn phát
quang đi-ốt LEDs và laze đi-ốt LDs dẫn đến sự chú tâm nhiều về các
chất bán dẫn GaN-based III-V nitrides trong cộng đồng nghiên cứu thế
giới. Những vật liệu thuộc thể loại gọi
là chất bán dẫn với năng lượng vùng cấm rộng (wide bandgap
semiconductors ) được thiết lập quanh trọng điểm GaN; một chất bán
dẫn có bandgap 3.4 eV (tương đương với chiều dài bước sóng 365 nm)
như được biểu hiện ở
Hình 8 (a) .
(a)
(b)
FIGURE 8
. Room temperature bandgap energy versus lattice
constant for the AlGaInN wide-bandgap semiconductor family, which has
a wurtzite structure, compared with the cubic zincblende GaAs -based
and ZnSe-based semiconductors. Sapphire and SiC, and other important
optoelectronic III-V materials are also shown here. [9, 10]
Thí dụ như, band gaps
của hợp chất InxGa1-xN
bao gồm phạm vi của chiều dài bước sóng từ InN (red) đến GaN (UV),
rất thích họp cho nhiều ứng dụng quang điện tử [10]. Những thành phần
hơp chất khác dùng trong cấu tạo phát quang heterostructures là AlxGa1-xN
(0.65 eV to 6.2 eV tương đương với độ dài bước
sóng 1.9 µm to 0.2 µm) và In1-xGaxN .Vì sự khác
nhau quá lớn khoảng 16% về độ điều hợp tinh thể giữa GaN và vật
nền saphia, AlN được dùng như buffer layer giữa hai vật liệu này.
Hình 8 (b) biểu hiện sự thành lập các hợp chất liên quan đến GaAs,
GaP, InP, AlAs và InAs với direct bandgaps và indirect bandgaps; nhưng
vì các chất bán dẫn không liên quan đến nitrides nên chúng tôi không
thảo luận nhiều ở đây. Để biết thêm chi tiết, xin
độc giả tham khảo tài liệu [11].
3.
Quantum confinement, superlattice and
multiple
quantum wells (MQW) in LEDs and LDs
3-1 Siêu tinh thể (superlattice)
Từ lúc đề xướng bởi Esaki*) & Tsu của IBM
vào năm 1970, superlattice [13] đã trở thành rất thịnh hành trong
nhiều nghiện cứu liên quan đến các cấu
tạo lượng tử dùng trong các linh kiện bán dẫn quang điện tử. Khi hai
chất bán dẫn với bandgaps khác nhau hình
thành xen kẽ trên nhau với độ dày 1- 10 nm , chúng ta sẽ tạo được
superlattice (Hình 9).

Hình 9 (a) An artificial structure consisting
of a stack of layers of two materials A and B of thicknesses d1
and d2 , with a periodicity d= d1 + d2
(b) spatial profile of the conduction band minimum and valence
band maximum, i.e., bandgap (or energy gap) , through a semiconductor
lattice. [12]
Tùy thuộc vào tính
chất của mỗi thành phần , superlattice có
thể thuộc dạng từ tính (magnetic), quang học (optical) hay bán dẫn .
Ngoài ra, theo tầm kích , superlattice có
thể thuộc dạng quantum wire hay quantum dot supperlattice.
Superlattice thường được phân loại dựa vào sự
kiềm chế năng lương của hạt electrons và holes. Thử khảo
sát hai chất bán dẫn A và B được sắp xếp
theo thứ tự B/A/B/A…, người ta có thể có những trạng huống biểu hiện
ở Hình 10.
Những hệ thống kiềm chế này thường có tên type I và
type II. Ở type I, hạt electrons và holes được kiềm chế
trong cùng lớp A với giếng thế năng (potential well)
cho cả hai electrons và holes. Một thí dụ điễn hình của Type I
là GaAs/AlxGa1-xAs. Với Type I,
phần dưới của vùng dẫn và phần trên của vùng hóa trị ở trong
cùng một lớp bán dẫn. nơi mà giếng lượng tử
(quantum wells) dành cho hạt electrons và holes nằm gối lên nhau. Thể
loại (Type IIA/staggered & IIB/misaligned) còn gọi là “spatially
indirect band gap” semiconductor, nơi mà hạt electrons bị kiềm chế ở
một lớp bán dẫn và holes thì nằm ở một lớp
khác. Ngoài ra còn có Type III gồm có sự
họp thành của lớp bán dẫn và lớp zero-gap semiconductor, chẳng hạn như
HgTe/CdTe superlattice. Sau cùng superlattice
cũng có thể được hình thành bởi hai lớp bán dẫn đồng nhất nhưng pha
(doped) với lượng tạp chất khác nhau. Chẳng hạn
như cấu tạo gồm có lớp A (n-type) và lớp B (p-type) được gọi
là doping superlattice.

Hình 10.
Schematic diagrams of three arrangements of
the confinement of electrons and holes formed by two semiconductors A
and B [14]
Một thí dụ với A=GaAs
và B= AlAs được biểu hiện ở Hình 11.
Trong trường hợp này, AlAs đóng vai trò QB và GaAs
là QW.
 
Hình
11.
The two
materials possess different band gaps. These leads
to discontinuities in both the conduction and the valence band.
We may neglect the valence band as the holes are much heavier than the
electrons and - in the case of doping - of much smaller number. Only
the conduction band thus has to be considered [15].
3-2 Sự khác nhau giữa a
multi-quantum well (MQW) và a superlattice (SL)
Ở cấu tạo superlattice
(Hình 12, bên phải) , QBs rất mỏng. Vì thế
tunneling xảy ra giữa hai QWs. Có nghĩa là sự vận chuyển hạt
tải dọc theo hướng thẳng góc với mặt
superlattice có thể xảy ra (phần sóng màu đỏ liên tục) . Đây là điểm
khác của SL đối với MQW , nơi hướng vận
chuyển hạt tải này ít hiệu quả , và phần sóng màu đỏ bị đứt khoản ở
QBs {Hình 12, bên trái}.

Hình 12.
Vận chuyển hạt tải ở MQWs và SLs [16].
Nhiều đặc tính của SL
và MQW giống nhau ( chẳng hạn như hiệu ứng
phát sáng cao, hiệu xuất bắt giữ hạt tải trong giếng lượng tử cao, ảnh
hưởng của bề mặt ít…)
Vì
trong MQW, QWs ngăn cách bởi các lớp QB’s dày, nên phân phối hạt tải
có thể trở thành không đều như có thể thấy ở Hình 13.
Bảng 1 thêm vào vài điểm chính khác nhau giữa MQW
và SL.

Hình 13
. Inhomogeneous carrier injection/ non-uniform carrier
distribution .
A SL avoids this
problem because the barriers are much
thinner thereby enabling tunneling [16].

Bảng 1.
Tóm lược vài nét chính khác nhau giữa MQW và SL.
3-3
Quantum confinement in nanostructures

Hình 14
A single GaAs/AlGaAs quantum well . Electrons are moved
freely in x & y directions and confined
in the z direction (one- dimentional quantization) .
Tương tự với hình 13,
single quantum well ở hình 14 dược tạo thành bằng cách để lớp GaAs bị
kẹp giữa hai lớp AlGaAs có bandgaps rộng hơn. Và sự di động của hạt
electrons trong lớp GaAs bị lượng tử hóa
theo hướng z, trong khi đó di dộng trong hướng x,y còn được tự do.
Tổng quan về quantum confinement trong
cấu trúc na-nô được biểu hiện ở Fig. 15. Thêm vào lượng tử hóa một
chiều (one-dimensional quantization) ở QWs, quantum wires với lượng tử
hóa hai chiều (2- dimensional quantization) và quantum dots với
lượng tử hóa ba chiều (3-dimensinal) có thể tạo thành như ở hình 15 và
bảng 2.

Hình 15
. Cấu trúc na-
nô của quantum well, superlattice, quantum
wire và quantum dot.

ảng 2
: Quantum confinement and
number of free dimensions of nanostructures.
3-4 Single quantum well and multi-quantum
wells
Quantum wells
(QW) and superlattices đã và đang trở thành kỹ thuật quan trọng trong
lãnh vực vi điện tử and quang điện tử. Quantum wells có những lợi điểm
sau: (i) tự do trong việc thiết kế, cho nhiều loại bán dẫn
khác nhau; (ii) có hiệu xuất phát xạ cao: QW có một thể tích nhỏ; vì
thế khi hạt tải tiêm nhập vào QWs, lượng hạt tải tự do sẽ cao, sự
chuyển di không phát xạ (non-radiative deep transitions) sẽ ít hơn và
hiệu xuất phát xạ sẽ cao; (iii) laser threshold thấp : vì thể tích
nhỏ, mật độ hạt tải cần thiết cho dân số nghịch chuyển (population
inversion) sẽ ít. Thế nên mật độ dòng điện
giới hạn (threshold current density) của QW sẽ thấp; và (iv) sự tái
kết hợp trên bề mặt (surface recombination) trở thành ít quan trọng
đối với QW hơn là đối với bulk materials. Hạt tải bị mắc bẫy bởi
QW và vì thế không thể đạt tới bề mặt được.
Thêm vào đó,
những kỹ thuất chế tạo màng mỏng như MBE
và MOCVD cho những ưu thế chưa từng có trước đây trong kỹ nghệ chế
tạo màng mỏng như kiểm soát chiều dày tới mức nanometers (nm) , thành
phần các chất và pha tạp chất (doping) và kỹ thuật kiệm soát đích xác
các đặc tính quang điện tử. Đây cũng là y do
tại sao quantum well lasers thực hiện những đặc tính tốt hơn những
loại semiconductor lasers khác.
.3.4.1
Single quantum well

Hình 16: Single quantum well
Khảo sát Hình 16. Hai
chất bán dẫn dùng trong single quantum well (SQW) với hai bandgaps
khác nhau : Eg,barrier (QB) và
Eg,well (QW). Nếu khoảng cách
LQW giữa hai chất bán dẫn nhỏ, size quantization sẽ xảy ra.
The absorption edge Eg,QW
giữa hai Fermi level sẽ liên hệ với Eg,well như sau:
Eg,QW = Eg,well
+ E0,e + E0,h =

Ở đây, E0,e
= quantized electron energy; E0,h = quantized hole
energy .
Theo công thức này, năng lượng phát xạ (emission
energy) của quantum well khác với năng lượng phát xạ của các bán dẫn
tạo thành . Vì thế QW
trở thành một chất liệu tổng hợp mới.
Sơ đồ của multi
quantum well (MQW) được biểu hiện ở hình 17. MQW
gồm có nhiều single quantum well (SQW). Thế nên MQW có nhiều
wells và có nhiều carriers hơn. MQW cũng được dùng để giải quyết một
số yếu điểm của SQWnhư băng bị đầy (band filling).
Nếu trường hợp này xảy ra, độ phát quang bão hòa sẽ xảy ra ở
mật độ dòng điện cao.
3-4-2 Multi-
quantum wells (MQW) vs single quantum well (SQW)
(i) A MQW duy trì
những ưu điểm của SQW. Thêm vào đó, MQW có vùng hoạt động với thể tích
lớn hơn và vì thế có công suất phát sáng
cao hơn ; (ii) A MQW laser có độ gain và mật độ dòng điện giới hạn
(threshold current density) lớn hơn SQW laser- low threshold laser;
(iii) Chiều dài tương giao (interaction length) của bộ điều biến
MQW (modulator) cần ngắn hơn chiều dài tương giao ở bộ điều biến SQW.
Chiều dài tương giao ở đây là độ dài qua
đó optical field tác động tương giao với QWs..


Hình 17.
AlGaN current –blocking layer in an AlGaN/GaN/GaInN
multi-quantum well LED structure. (a) band
diagram without doping. (b) Band diagram with
doping . The Al content in the
electron-blocking layer is higher than in the p-type confinement
layer. [16]
Trong số tới chúng tôi
sẽ trình bày cơ cấu vận hành của LEDs và LDs dựa vào những nguyên
lý
căn bản đã được trình bày trong số này và những số trước.
Tài liệu tham khảo
[1] http ://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Hienthuong-Nakamura.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/LEDs-V2.htm
[3] S. Nakamura, M. Senoh, S. Nagahama, N. Iwasa,
T. Yamada, T. Matsushita, H. Kiyoko, and Y. Sugimoto, Jpn. J. Appl.
Phys. 35, L74 (1996).
[4]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/THIN-%20FILMS-1.htm
[5] [5] TS Ian Watson, Univ. of Strathclyde, 2007
[6] Nakamura, Science, 281, (1998), 956; IEEE,
Circuits and Devices, May, 19 (1995).
[7] S. Nakamura: Appl. Phys. Lett.
58 (1999) 2021.
[8] S. Nakamura.
Materials Science and Engineering B50 (1997) 277-284.
[9] S. Nakamura, G. Fasol,
The Blue Laser Diode, Springer-Verlag,
Berlin, 1997.
[10]
W Lee , M.H.Kim, D. Zhu, A.N.
Noemaun, J.K. Kim and E.F. Schubert, J. Applied Phys. 107, (2010)
063102
[11]
N.M.Johnson et al. October 2000, Physics
Today 31.
[12]
R.F. Pierret: Semiconductor device
fundamentalsAddison Wesley Publishing Inc., 1996.
[13] L. Esaki, L.L. Chang and R. Tsu ,
Proceedings 12th International Conference on Low Temperature Physics,
Kyoto, Japan, September 1970. (Keigaku Publishing
Co., Tokyo, Japan) 551.
[14] L. Esaki and R.
Tsu, IBM J. Res. Dev. 14, 61 (1970)
*) Khám
phá Esaki tunnel diode vào cuối thập niên
50’s lúc ông làm việc tại Tokyo Telecommunications Co. (hiện tại là
Sony) . Lãnh giải Nobel về Vật ly năm 1973 về
electron tunneling in solids. Từ 1960, TS Esaki làm việc
ở IBM’s Thomas J. Watson , New York, nợi
đây ông và đồng nghiệp đã khám phá ra superlattice. Ông trở về Nhật
đầu 1990 , tham gia nhiều công tác cố vấn
và giảng dạy.
[15]
http://en.wikipedia.org/wiki/Superlattice
[16] F.Schubert, Rensselaer
Polytechnique Institute, 2003.
|