TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY

Nguyên Tác: Kawabata Yasunari

Dịch: Nguyễn Nam Trân

TẬP III
 

 

36. Người đàn ông không cười (WARAWANU OTOKO, 1929)

Da trời xanh như nước men ngày càng thắm lại của một món đồ sứ đẹp. Từ nơi mình nằm, tôi lặng ngắm dòng nước con sông Kamo (1) đang dần dần nhuộm màu bầu trời mai.

Chỉ mười hôm nữa diễn viên thủ vai chính của cuốn phim này sẽ đóng tuồng trên sân khấu. Thành thử đoàn quay phim chỉ còn một tuần cuối và phải thức trắng đêm liên tục để kết thúc mọi việc. Dù chỉ có vai trò nhẹ nhàng của một người viết kịch bản nhưng tôi cũng đã mệt mỏi đến độ môi khô nẻ và mắt không còn dám mở khi đứng bên cạnh ánh đèn các-bon bùng cháy trắng lòa. Những đêm như vậy, tôi chỉ về đến nhà trọ khi những vì sao đã tắt.

Thế nhưng màu xanh men sứ của bầu trời đã làm cho tôi sảng khoái và còn khiến tôi nghĩ rằng tình cảm ấy biết đâu sẽ chẳng gợi cho mình một hình ảnh hư cấu đẹp đẽ nào đó.

Cảnh vật hiện ra trong đầu tôi trước nhất là cái khu Shijô (1). Ngày hôm qua, tôi đã ăn cơm trưa ở một hiệu cơm Tây tên là Kikusui (Cúc Thủy) ở gần cầu Ôhashi (1). Từ cửa sổ tầng ba của tiệm ăn, tôi có thể nhìn thấy màu xanh của lá mới trên Higashiyama (1). Từ giữa đại lộ Shijô mà nhìn được ngọn núi hiện ra trước mắt là chuyện hầu như đương nhiên đối với dân Kyôto nhưng với một kẻ đến từ Tôkyô như tôi thì đó là một cảm giác tươi tắn đến kinh ngạc. Hình ảnh tiếp đến là nụ cười của cái mặt nạ tuồng mà tôi đã thấy trưng bày trên cánh cửa sổ của một cái tiệm bán đồ cổ ngoạn.

-Chao ôi, mình đã nghĩ ra được một cảnh tượng đẹp quá thể!

Miệng lẩm bẩm mà lòng vui rộn ràng. Tôi lấy ra mấy trang giấy dùng để viết bản thảo và tóm tắt cái hình ảnh vừa bắt được ấy bằng ngòi bút. Tôi dùng nó để chỉnh lại cái xen chót đã dự trù cho kịch bản phim. Xong xuôi, tôi viết thêm một bức thư dặn riêng người đạo diễn:

“Trong đầu, tôi hình dung ra được cái last scene (xen cuối) (2). Tôi quyết định nó phải mang hình ảnh nụ cười đầy bình yên thoải mái của một cái mặt nạ. Trong phần cuối của cuốn phim đen tối này, người viết kịch bản tưởng mình đã đem đến được một nụ cười tươi sáng như chủ ý của tác giả (trong nguyên tác) nhưng vì không thành công nên mới tính dùng nụ cười xinh đẹp của chiếc mặt nạ để bao phủ lên toàn cảnh đó”.

Tôi cầm bản thảo trong tay và đến phim trường.Trong văn phòng chỉ có mấy tờ báo ra buổi sáng. Bà phụ trách căng-tin một mình đang hốt mớ rác vỏ bào trước gian phòng chứa đạo cụ.

-Chắc ông đạo diễn còn ngủ. Bác để bức thư này ngay bên đầu nằm ông ấy giúp tôi nghe!

Cuốn phim lần này lấy bối cảnh nhà thương khoa tâm thần. Tôi rất xót xa khi mỗi ngày đều phải chứng kiến nơi phim trường khung cảnh sinh hoạt đầy thống khổ của những người mắc bệnh. Vì lý do đó mà tôi đã cảm thấy nếu mình không kết thúc cuốn phim bằng một hình ảnh tươi sáng thì không ổn. Cho đến nay, nếu không tìm được một happy end (kết luận có hậu) (2) chắc cũng vì cái bản tính bi quan của mình.

Mặt nạ Hyottoko vả Okame

Do đó khi nghĩ được giải pháp mặt nạ, tôi mới vui như thế. Tôi khoái chí nghĩ đến cái cảnh những bệnh nhân tâm thần nằm trong nhà thương - không sót một ai - đều đeo cái mặt nạ có nụ cười kia.

Lúc ấy, cái mái làm bằng kính của studio (phim trường) (2) đã ánh lên một màu xanh lục. Vì ánh nắng nên màu xanh men sứ của bầu trời nhòa đi thấy rõ. Tôi yên tâm, trở lại nhà trọ và đánh một giấc thật say.

Người có nhiệm vụ đi mua mặt nạ đã quay về phim trường vào quãng mười một giờ đêm.

-Từ sáng sớm, tôi đã lái xe chạy lòng vòng thành phố Kyôto, ghé mấy tiệm bán đồ chơi nhưng không nơi nào có một cái mặt nạ cho ra hồn.

Ngay khi mở cái bao giấy ra xem, tôi đã không ngăn được nỗi thất vọng nên mới nói:

-Cố kiếm cho nhanh mặt nạ đó đi chú nhá! Chứ cái thứ này thì ...

-Đúng đấy. Cái này không dùng được đâu. Cứ tưởng rằng mặt nạ đâu mà chẳng có và hơn nữa, mình đã đi hết các cửa tiệm. Thế mà suốt một ngày chỉ được bấy nhiêu.

-Cái mà tôi muốn là một mặt nạ kiểu tuồng Nô. Nếu nhìn mà thấy không toát ra được phong cách nghệ thuật thực sự thì khi lên màn ảnh, nó chỉ tổ làm cho khán giả phì cười.

Cầm lấy cái mặt nạ kết bằng giấy bồi chỗ lồi chỗ lõm như mặt nạ hyottoko (3), tôi thiếu điều bật khóc.

-Trước tiên, cái mặt nạ này xám xịt. Nếu không phải là một nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt trắng trẻo sáng láng, tất không xong...

Cái lưỡi đỏ của nó đang thè ra khỏi một khuôn mặt màu nâu.

-Bây giờ ngoài văn phòng người ta đang thử tô một lớp sơn trắng lên để xem sao đấy.

Phim vừa quay xong được một đoạn độc lập, người đạo diễn bước ra khỏi cái phông thiết kế khung cảnh bệnh viện, ngắm mặt nạ rồi cười với mọi người. Sáng mai đã phải quay last scene (cảnh cuối) rồi mà đoàn vẫn chưa tìm ra cách thu thập đủ số mặt nạ cần thiết. Mặt nạ đồ chơi thì coi như không xài được, nếu như đến mai mà không góp lại được một số mặt nạ kiểu cổ thì buộc lòng phải dùng tới những thứ làm bằng celluloid (nhựa dẻo) đã có sẵn.

-Không tìm ra được những mặt nạ có tính nghệ thuật thì dẹp việc này đi còn hay hơn.

Chẳng biết có phải vì thông cảm với sự thất vọng của tôi không mà một người trong nhóm phụ trách kịch bản đã lên tiếng:

-Hay là mình thử đi tìm lần nữa xem sao! Bây giờ mới 11 giờ tối thôi, xóm Kyôgyoku (1) có nhà còn thức đấy!

-Bác có đi hộ được không?

Chúng tôi vội vã lên xe hơi, phóng thẳng một lèo dọc theo con đê sông Kamo. Từ ngôi bệnh viện đại học ở bờ bên kia, những ngọn đèn thật sáng đang hắt qua khung cửa sổ và chiếu xuống mặt nước. Tôi không thể nào hình dung là bên trong vô số những cánh cửa sổ đó những con bệnh đang sống đời khổ não lại đông đảo như thế. Nếu không tìm ra loại mặt nạ thích hợp, chắc tôi phải đưa lên màn ảnh những cánh cửa sổ sáng ánh đèn của một bệnh viện tâm thần mất thôi!

Chúng tôi bắt đầu bước đi kiếm từng cái tiệm một của khu Shin-Kyôgyoku (1) nơi có bán đồ chơi. Các tiệm đã bắt đầu đóng cửa. Chúng tôi cầm chắc mình đang làm một việc bất khả nhưng rốt cuộc đã mua được hai mươi cái mặt nạ kiểu Okame (4). Thấy thì cũng xinh xắn đấy nhưng chẳng toát ra được một chút xúc cảm nghệ thuật nào. Đại lộ Shijô giờ thì đã ngủ cả.

-Chờ một chút!

Người bạn trong ban soạn kịch bản thốt lên khi rẽ vào một con đường hông.

-Con đường này có nhiều tiệm đồ cổ chuyên môn bán đồ thờ Phật. Tôi nghĩ họ cũng có một số dụng cụ dành cho tuồng Nô.

Thế nhưng trên con đường đó chẳng có tiệm nào còn thức.Tôi thử đưa mắt nhưng qua khe hở của vài cánh cửa tiệm.

-Thôi để sáng mai chúng mình tới đây vào khoảng 7 giờ. Bề gì tối nay làm sao ngủ được nữa.

-Cho tôi đi theo với. Nhớ đánh thức tôi nhé.

Tôi nói như vậy nhưng người đó bảo anh muốn thì cứ tự ý đi riêng thôi. Khi tôi tỉnh dậy, người ta đã bắt đầu quay đoạn phim nói về mặt nạ. Họ đã kiếm đâu được năm cái mặt nạ kiểu Kogaku (5). Tôi dự trù phải có tất cả hai hay ba mươi mặt nạ cùng một loại nhưng khi nhìn thấy nụ cười phiêu diêu tự tại nở trên khuôn mặt của năm chiếc mặt nạ Kogaku, tôi cảm thấy yên lòng. Tình cảm của tôi khi ấy là coi mình đã hoàn thành trách nhiệm đối với đám con bệnh tâm thần.

-Giá cao lắm, bọn tôi không mua nỗi nên chỉ mượn đỡ. Nhỡ mà vây bẩn sẽ không trả lại được đâu. Cẩn thận giùm nhé.

Nghe nói như thế, bọn tôi đã phải coi mấy cái mặt nạ này như của báu, mỗi lần nhìn ngắm cứ phải rửa tay cho sạch sẽ rồi mới dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng nâng lên.

Mặt nạ kiểu Kogaku

Thế nhưng không hiểu lý do gì mà sau khi đoạn phim đã quay xong, có một chiếc mặt nạ đã bị bút vẽ rây vàng lên má.

-Rửa thì sạch ngay chứ gì?

-Thôi, để tôi mua đứt luôn.

Thực ra tôi cũng muốn có nó. Tôi cứ nghĩ vẩn vơ rằng nếu trong tương lai, thế giới muốn có được một sự hòa điệu đẹp đẽ thì mỗi con người chúng ta đều phải có cùng một khuôn mặt thanh thản giống y như cái mặt nạ ấy.

Khi về đến nhà ở Tôkyô, tôi bèn trực chỉ đến bệnh viện là nơi vợ tôi đang nằm.

Bọn con nít nhà tôi thay nhau đeo chiếc mặt nạ ấy lên và cười đùa ầm ĩ. Không biết sao tôi cảm thấy vui vui.

-Bố thử mang mặt nạ cho chúng con xem nào!

-Thôi mà.

-Mang đi!

-Thôi thôi.

Thằng con thứ đứng dậy dí sát cái mặt nạ vào ngay mặt tôi.

-Có đẹp không nào?

Vợ tôi vào cuộc để cứu chồng:

-Thôi, để mẹ đeo thử!

Giữa tiếng cười đùa của lũ trẻ, tôi tái mặt nói:

-Ô kìa, mình đang ốm cơ mà?

Trên giường bệnh mà lại có một con bệnh đang nằm đó với vẻ mặt tươi cười, hỏi có gì đáng sợ hơn?

Khi gỡ chiếc mặt nạ xuống bỗng hơi thở của vợ tôi dồn dập, ngắt quãng. Nhưng đó không phải là điều làm tôi ngạc nhiên. Chỉ vì vừa gỡ chiếc mặt nạ xuống, khuôn mặt bà trở nên xấu xí làm sao. Khi ngắm khuôn mặt kiệt lực ấy, tôi bỗng nổi da gà.Tôi ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên được chứng kiến những nét kỳ dị này trên gương mặt vợ mình. Cái nụ cười thanh thản đẹp đẽ đã che khuất nó trong 3 phút đồng hồ nên bây giờ là lần đầu tôi mới thấy vẻ xấu xí đó. Không hẳn là sự xấu xí. Đúng hơn nó chỉ là hình ảnh của khổ muộn và suy nhược. Bị cái mặt nạ đẹp đẽ che lấp, bây giờ cuộc đời bi thảm ấy mới lộ diện đấy thôi.

-Bố đeo mặt nạ xem nào!

-Đến lượt bố phải đeo đấy nhé!

Bọn con nít lại nhao nhao ép uổng.

-Không được!

Tôi bèn đứng dậy. Nếu tôi đeo mặt nạ vào rồi gỡ nó xuống, có lẽ vợ tôi sẽ nhìn thấy cái mặt xấu như quỷ sứ của tôi. Cái mặt nạ xinh đẹp kia làm tôi khiếp hãi. Sự khiếp hãi ấy không phải đã đến từ cái mặt nạ của bà vợ, người lúc nào cũng tỏ ra tươi cười và hiền dịu bên cạnh tôi sao? . Nó khơi dậy trong lòng tôi một mối nghi ngờ: nụ cười của một người phụ nữ phải chăng cũng chỉ là một tác phẩm nghệ thuật như cái mặt nạ này!

Trăm thứ tội đến từ mấy cái mặt nạ. Trăm thứ tội chỉ vì nghệ thuật.

Tôi thảo một tờ điện tín để gửi cho phim trường ở Kyôto.

“Cắt hết chỗ liên quan mặt nạ”.

Nhưng một lần nữa, tôi cầm tờ giấy ấy lên và xé vụn.

(Dịch ngày 7 tháng 9 năm 2018)

(1) Tất cả địa danh từ đây trở xuống đều nằm trong khuôn viên thành phố Kyôto.

(2) Những danh từ này dều được viết theo âm tiếng Anh dưới dạng Katakana.

(3) Hyottoko, từ chữ Hi-otoko (Hỏa nam). Mặt nạ hài hước trình bày một người đang chu mồm phun lửa, được dùng để chọc cười trong các lễ hội.

(4) Okame-men là mặt nạ đàn bà có khuôn mặt phèn phẹt.

(5) Mặt nạ nhạc công mang khi tấu Kogaku (cổ nhạc cung đình và tự viện) thời xưa nên mang tên ấy

 

Xem tiếp : [ 37. Địa Tạng O-Shin   ]

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com