|
35. Người vợ trong gió
thu (AKIKAZE NO NYOBÔ, 1933)
Hắn vừa
tiễn chân người đàn bà quí phái ấy xong. Vì thấy khu hành
lang và gian đại sảnh của khách sạn quá đìu hiu với mặt
sàn bóng như tấm kính đang phản chiếu hình ảnh những đám
mây thu nhàn nhạt và nếu cứ thế mà leo thẳng lên phòng
mình ở tầng hai thì lại làm một quyết định không ổn nên
hắn đã tần ngần ở lưng chừng cầu thang và rút một cuốn
sách nằm tận cùng bên phải của giá sách ven tường. Giả sử
từ đó có một con dế theo cuốn sách phóng ra ngoài thì
điều đó cũng chẳng làm cho hắn giật mình. Quyển sách ấy
là một từ điển bách khoa. Hắn mở trúng ngay trang có mục
nói về “Nữ sĩ Gió Thu” (Akikaze no Nyobô) (1):
“Bà là
cháu gái nhà thơ cuồng ca (2) Yoshiwara Daimonjiya Bunrô thời
Edo và là vợ của người tên Kabocha Motonari. Nhân bà từng
viết bài cuồng ca “Akitatsu wo / kaze ga shirasu ya / fumidzuki
no / fuji wo kiri no / hitoba chirashite” (3) nên được người đời
tặng danh hiệu ấy. Ngoài ra, bà còn giỏi về thơ Waka.” ...Ối
chà chà, lại ba cái chuyện lẩm cẩm!
Hắn không
hiểu ý nghĩa của bài cuồng ca này cho lắm. Chuyến du lịch
này đã buồn tẻ rồi, nhớ thêm chi những điều thừa thãi.
Nghĩ thế, hắn bèn trở về phòng.Thoảng đâu đây mùi thơm đồ
trang điểm của phụ nữ. Trong chiếc giỏ để rác vụn trên bàn
trang điểm, hắn thấy có vài dúm tóc nhỏ được vất chung
vào đấy.

Chắc bà ta cũng kinh
ngạc khi thấy tóc mình rụng nhiều
-Ôi chao,
sao tóc rụng lắm thế. Tội nghiệp chưa!
Hắn nhặt
chúng lên và nhìn. Chắc người đàn bà ấy cũng kinh ngạc khi
thấy tóc mình rụng nhiều như vậy nên đã thử cuộn nó chung
quanh ngón tay và ngồi ngắm. Có lẽ vì thế món tóc mới có
hình vòng tròn nhỏ.
Hắn ra
ngoài bao lơn. Trên con đường lớn như một vệt trắng, hắn
thấy chiếc xe của người đàn bà đó đang chạy. Hắn nhắm con
mắt phải và áp cái món tóc cuộn tròn ấy vào bên mắt
trái như tròng kính rồi nheo lại, nhìn đuổi theo bóng chiếc
xe đang xa dần và có cảm tưởng nó là một đóa hoa giả hay
món đồ chơi bằng kim loại. Hắn thấy mình thích thú như một
đứa trẻ. Thế nhưng về cái mùi của món tóc thì phải nói
là lâu ngày bà ta không có dịp gội đầu. Trong món tóc ấy,
hắn thấy có mùi của sự lao khổ. Phải chăng bây giờ đã đến
thời tiết mà khi ôm đầu con người ấy trong vòng tay, ta phải
giật mình trước cái lạnh lẽo của vầng tóc.
Liên hệ
giữa hắn và người đàn bà quí phái đó sở dĩ có là vì
hắn đã cho bà ta mượn căn phòng mình khoảng chừng 30 phút.
Chồng bà mắc bệnh lao nên được đưa về khách sạn này để
thay đổi không khí. Ông ta xưa nay vẫn là người tự hào về
sức mạnh tinh thần của mình và luôn luôn tin tưởng sẽ chiến
thắng bệnh tật bằng ý chí. Bà lại luôn luôn ở bên ông,
không rời một bước.Thế nhưng giờ đây cái chết đã gần kề,
ông chỉ còn hai, ba ngày nữa. Bà phải trở về nhà mình ở
Tôkyô để sửa soạn hậu sự. Có lẽ là chuyện tiền nong hay
một vấn đề phức tạp nào đó. Vì thế bà đã phải kín đáo
đem quần áo đến căn phòng mượn của hắn, thay đồ và sửa
soạn tóc tai thật chỉnh tề trước khi rời khỏi khách sạn.
Cuộc sống
của bà là như thế nên thường ngày hắn vẫn thấy bà mặc bộ
quần áo làm bếp màu trắng, bước trong hành lang khách sạn
với nét mặt buồn rười rượi. Vào vụ hè hay vụ đông, có
rất nhiều người Tây phương đến cái khách sạn huyên náo và
tươi vui này nhưng đối với hắn, chỉ có cái dáng dấp bình
dị đời thường của bà mới là một nét đẹp thấm được vào
lòng.
Chiếc xe
hơi đã bị mũi đất che khuất.
-Mummy!
Mummy!
Có giọng
nói trong vắt của một đứa con gái người Anh độ bốn năm
tuổi, nó phóng ra ngoài bãi cỏ và gọi mẹ. Đằng sau lưng
nó là người mẹ đang dắt theo hai con chó kiểng giống Bắc
Kinh (4). Cái dáng dịu dàng thánh thiện của đứa bé con làm
hắn nghĩ ngay rằng những bức tranh vẽ các thiên thần không
thể nào là vật chỉ có trong tưởng tượng. Thảm cỏ đã khô
héo hãy còn sót lại phía dưới một chút màu xanh đã gợi
cho hắn hình ảnh yên lặng của một tu viện khi mà các nhà
nữ tu đã bỏ đi. Đàn chó và đứa bé chạy ngã lên ngã xuống
rồi mất hút vào bên trong khu rừng tùng. Đáng lẽ mặt biển
phải hiện ra như một cái băng vải màu xanh trên khu rừng, ấy
thế mà chỉ có hai năm kể từ lần hắn ghé qua đây, những
ngọn tùng hình như đã đã vươn cao và che mất hết biển.Trên
nền trời từ phía biển nơi mà hắn không nhìn thấy, có
những đám mây đang vần vụ kéo tới. Hắn dợm lui về phòng
thì bỗng nghe tiếng nhạc khiêu vũ nổi lên. Lúc này là giờ
thiên hạ uống trà.
Thế nhưng
không thấy ai đến uống trà trong gian đại sảnh đã bắt đầu
lên đèn. Nhìn qua bên kia khung cửa sổ, hắn thấy người quản
lý khách sạn và bà chỉ huy các cô hầu phòng đang làm
thành một cặp nhảy Waltz (5). Bà ấy béo, mặc một bộ đồ
Tây phương không được gọn cho lắm ở phía hông. Cách họ nhảy
cũng buồn tẻ.
Từ bao lơn,
hắn trở về phòng mình, lên giường quành tay làm gối rồi cứ
thế mà thiếp đi. Khi bừng mắt ra thì đã nghe có tiếng lá
rụng đuổi nhau trong sân sau và tiếng cửa kính rung bần bật.
Tất cả là tín hiệu của một cơn giông mùa thu đang kéo đến.
Lòng lo lắng, hắn tự đặt câu hỏi
-Người
bệnh bây giờ ra sao nhỉ, mà không biết bà vợ đã về chưa?
Hắn định
quay số bàn tiếp tân của khách sạn để hỏi thăm tin tức
nhưng thấy như từ dưới đáy sâu của mùa thu có một con mắt
đang nhìn mình và ngược lại, hắn bất chợt nhận ra lòng
mình cũng đang dậy lên một tình cảm quyến luyến khác
thường với người đàn bà ấy.
(Dịch ngày 4
tháng 9 năm 2018)
(1) Nyôbô có 2
nghĩa: nghĩa thông thường là người vợ, nghĩa lịch sử là
chức danh “người có phòng riêng” như các nữ quan (văn sĩ)
cung đình thời Heian. Do đó, trong văn mạch này, xin tạm dịch
theo nghĩa thứ hai. Cách gọi Akikaze no Nyôbô nhằm ca tụng
một người có tài thơ đã làm ra câu thơ hay có chữ Akikaze,
một quí ngữ (kigo) chỉ mùa thu.
(2) Cuồng ca (Kyôka)
một thể loại thi ca Nhật Bản ngắn như tanka, có tính hài
hước và thông tục.
(3) Fumidzuki (văn
nguyệt = tháng của văn chương) nhằm chỉ tháng 7 âm lịch. Ý
câu thơ là : “Gió đã nổi báo ta hay thu đã về. Tháng 7 phong
kín văn chương nên nay mới có được một bài thơ (một tờ thư,
một chiếc lá ngô đồng)”. Dĩ nhiên là bài cuồng ca này đã
khởi hứng từ câu thơ cổ “Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ
cộng tri thu” nhưng với tinh thần hài hước, lợi dụng tính đa
nghĩa của chữ Fumidzuki.
(4) Pekinese.
Loại chó nhỏ (chó kiểng).
(5) Waltz hay
Valse (luân vũ).
Xem tiếp : [ 36.
Người đàn ông không cười ̉ ] |