TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY

Nguyên Tác: Kawabata Yasunari

Dịch: Nguyễn Nam Trân

TẬP III
 

 

35. Người vợ trong gió thu (AKIKAZE NO NYOBÔ, 1933)

Hắn vừa tiễn chân người đàn bà quí phái ấy xong. Vì thấy khu hành lang và gian đại sảnh của khách sạn quá đìu hiu với mặt sàn bóng như tấm kính đang phản chiếu hình ảnh những đám mây thu nhàn nhạt và nếu cứ thế mà leo thẳng lên phòng mình ở tầng hai thì lại làm một quyết định không ổn nên hắn đã tần ngần ở lưng chừng cầu thang và rút một cuốn sách nằm tận cùng bên phải của giá sách ven tường. Giả sử từ đó có một con dế theo cuốn sách phóng ra ngoài thì điều đó cũng chẳng làm cho hắn giật mình. Quyển sách ấy là một từ điển bách khoa. Hắn mở trúng ngay trang có mục nói về “Nữ sĩ Gió Thu” (Akikaze no Nyobô) (1):

“Bà là cháu gái nhà thơ cuồng ca (2) Yoshiwara Daimonjiya Bunrô thời Edo và là vợ của người tên Kabocha Motonari. Nhân bà từng viết bài cuồng ca “Akitatsu wo / kaze ga shirasu ya / fumidzuki no / fuji wo kiri no / hitoba chirashite” (3) nên được người đời tặng danh hiệu ấy. Ngoài ra, bà còn giỏi về thơ Waka.” ...Ối chà chà, lại ba cái chuyện lẩm cẩm!

Hắn không hiểu ý nghĩa của bài cuồng ca này cho lắm. Chuyến du lịch này đã buồn tẻ rồi, nhớ thêm chi những điều thừa thãi. Nghĩ thế, hắn bèn trở về phòng.Thoảng đâu đây mùi thơm đồ trang điểm của phụ nữ. Trong chiếc giỏ để rác vụn trên bàn trang điểm, hắn thấy có vài dúm tóc nhỏ được vất chung vào đấy.

Chắc bà ta cũng kinh ngạc khi thấy tóc mình rụng nhiều

-Ôi chao, sao tóc rụng lắm thế. Tội nghiệp chưa!

Hắn nhặt chúng lên và nhìn. Chắc người đàn bà ấy cũng kinh ngạc khi thấy tóc mình rụng nhiều như vậy nên đã thử cuộn nó chung quanh ngón tay và ngồi ngắm. Có lẽ vì thế món tóc mới có hình vòng tròn nhỏ.

Hắn ra ngoài bao lơn. Trên con đường lớn như một vệt trắng, hắn thấy chiếc xe của người đàn bà đó đang chạy. Hắn nhắm con mắt phải và áp cái món tóc cuộn tròn ấy vào bên mắt trái như tròng kính rồi nheo lại, nhìn đuổi theo bóng chiếc xe đang xa dần và có cảm tưởng nó là một đóa hoa giả hay món đồ chơi bằng kim loại. Hắn thấy mình thích thú như một đứa trẻ. Thế nhưng về cái mùi của món tóc thì phải nói là lâu ngày bà ta không có dịp gội đầu. Trong món tóc ấy, hắn thấy có mùi của sự lao khổ. Phải chăng bây giờ đã đến thời tiết mà khi ôm đầu con người ấy trong vòng tay, ta phải giật mình trước cái lạnh lẽo của vầng tóc.

Liên hệ giữa hắn và người đàn bà quí phái đó sở dĩ có là vì hắn đã cho bà ta mượn căn phòng mình khoảng chừng 30 phút. Chồng bà mắc bệnh lao nên được đưa về khách sạn này để thay đổi không khí. Ông ta xưa nay vẫn là người tự hào về sức mạnh tinh thần của mình và luôn luôn tin tưởng sẽ chiến thắng bệnh tật bằng ý chí. Bà lại luôn luôn ở bên ông, không rời một bước.Thế nhưng giờ đây cái chết đã gần kề, ông chỉ còn hai, ba ngày nữa. Bà phải trở về nhà mình ở Tôkyô để sửa soạn hậu sự. Có lẽ là chuyện tiền nong hay một vấn đề phức tạp nào đó. Vì thế bà đã phải kín đáo đem quần áo đến căn phòng mượn của hắn, thay đồ và sửa soạn tóc tai thật chỉnh tề trước khi rời khỏi khách sạn.

Cuộc sống của bà là như thế nên thường ngày hắn vẫn thấy bà mặc bộ quần áo làm bếp màu trắng, bước trong hành lang khách sạn với nét mặt buồn rười rượi. Vào vụ hè hay vụ đông, có rất nhiều người Tây phương đến cái khách sạn huyên náo và tươi vui này nhưng đối với hắn, chỉ có cái dáng dấp bình dị đời thường của bà mới là một nét đẹp thấm được vào lòng.

Chiếc xe hơi đã bị mũi đất che khuất.

-Mummy! Mummy!

Có giọng nói trong vắt của một đứa con gái người Anh độ bốn năm tuổi, nó phóng ra ngoài bãi cỏ và gọi mẹ. Đằng sau lưng nó là người mẹ đang dắt theo hai con chó kiểng giống Bắc Kinh (4). Cái dáng dịu dàng thánh thiện của đứa bé con làm hắn nghĩ ngay rằng những bức tranh vẽ các thiên thần không thể nào là vật chỉ có trong tưởng tượng. Thảm cỏ đã khô héo hãy còn sót lại phía dưới một chút màu xanh đã gợi cho hắn hình ảnh yên lặng của một tu viện khi mà các nhà nữ tu đã bỏ đi. Đàn chó và đứa bé chạy ngã lên ngã xuống rồi mất hút vào bên trong khu rừng tùng. Đáng lẽ mặt biển phải hiện ra như một cái băng vải màu xanh trên khu rừng, ấy thế mà chỉ có hai năm kể từ lần hắn ghé qua đây, những ngọn tùng hình như đã đã vươn cao và che mất hết biển.Trên nền trời từ phía biển nơi mà hắn không nhìn thấy, có những đám mây đang vần vụ kéo tới. Hắn dợm lui về phòng thì bỗng nghe tiếng nhạc khiêu vũ nổi lên. Lúc này là giờ thiên hạ uống trà.

Thế nhưng không thấy ai đến uống trà trong gian đại sảnh đã bắt đầu lên đèn. Nhìn qua bên kia khung cửa sổ, hắn thấy người quản lý khách sạn và bà chỉ huy các cô hầu phòng đang làm thành một cặp nhảy Waltz (5). Bà ấy béo, mặc một bộ đồ Tây phương không được gọn cho lắm ở phía hông. Cách họ nhảy cũng buồn tẻ.

Từ bao lơn, hắn trở về phòng mình, lên giường quành tay làm gối rồi cứ thế mà thiếp đi. Khi bừng mắt ra thì đã nghe có tiếng lá rụng đuổi nhau trong sân sau và tiếng cửa kính rung bần bật. Tất cả là tín hiệu của một cơn giông mùa thu đang kéo đến. Lòng lo lắng, hắn tự đặt câu hỏi

-Người bệnh bây giờ ra sao nhỉ, mà không biết bà vợ đã về chưa?

Hắn định quay số bàn tiếp tân của khách sạn để hỏi thăm tin tức nhưng thấy như từ dưới đáy sâu của mùa thu có một con mắt đang nhìn mình và ngược lại, hắn bất chợt nhận ra lòng mình cũng đang dậy lên một tình cảm quyến luyến khác thường với người đàn bà ấy.

(Dịch ngày 4 tháng 9 năm 2018)

(1) Nyôbô có 2 nghĩa: nghĩa thông thường là người vợ, nghĩa lịch sử là chức danh “người có phòng riêng” như các nữ quan (văn sĩ) cung đình thời Heian. Do đó, trong văn mạch này, xin tạm dịch theo nghĩa thứ hai. Cách gọi Akikaze no Nyôbô nhằm ca tụng một người có tài thơ đã làm ra câu thơ hay có chữ Akikaze, một quí ngữ (kigo) chỉ mùa thu.

(2) Cuồng ca (Kyôka) một thể loại thi ca Nhật Bản ngắn như tanka, có tính hài hước và thông tục.

(3) Fumidzuki (văn nguyệt = tháng của văn chương) nhằm chỉ tháng 7 âm lịch. Ý câu thơ là : “Gió đã nổi báo ta hay thu đã về. Tháng 7 phong kín văn chương nên nay mới có được một bài thơ (một tờ thư, một chiếc lá ngô đồng)”. Dĩ nhiên là bài cuồng ca này đã khởi hứng từ câu thơ cổ “Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu” nhưng với tinh thần hài hước, lợi dụng tính đa nghĩa của chữ Fumidzuki.

(4) Pekinese. Loại chó nhỏ (chó kiểng).

(5) Waltz hay Valse (luân vũ).

 

Xem tiếp : [ 36. Người đàn ông không cười ̉  ]

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com