|
|
4. Đôi chim hoàng yến
(KANARIYA, 1924)
Thưa bà,
Tôi buộc
ḷng phải phá lời giao ước để một lần nữa gửi thư cho bà. Đôi chim
hoàng yến bà tặng hồi năm ngoái, tôi không thể nuôi được nữa. Gần
đây, tôi đă để cho vợ tôi một tay chăm sóc. Công việc duy nhất của
tôi chỉ là đứng ngắm. Mỗi lần nh́n chúng, ḷng tôi chạnh nhớ bà.
Bà có lần
nói thế này, nhớ không?
-Anh là
trai có vợ. Em là gái có chồng. Thôi ḿnh chia tay nhau nhé! Phải
chi anh chưa vợ! Đôi chim hoàng yến này, xin giữ lấy làm kỷ niệm về
em. Này anh xem, chúng nó là một cặp vợ chồng đấy. Thật ra, một
người buôn chim nào đă tự tiện bắt một con trống và một con mái ở
đâu đó rồi đem nhốt chúng vào chung một lồng. Hai con hoàng yến làm
sao hiểu chuyện. Dầu vậy, khi nh́n đôi chim này, hăy nhớ đến em nghe
anh. Đem những c̣n vật sống làm quà kỷ niệm, nghĩ cho cùng, cũng hơi
ngược đời. Thế nhưng nhờ vậy mà kỷ niệm của hai đứa ḿnh lúc nào
cũng sống động. Đôi chim hoàng yến ngày nào đó sẽ chết đi thôi. Cũng
vậy, kỷ niệm về mối t́nh hai đứa chúng ḿnh đang giữ trong tim cũng
sẽ chết như đôi chim. Lúc ngày đó đến, ḿnh cứ để mặc cho nó chết,
anh nhé!
Hai con
hoàng yến này có vẻ sắp chết tới nơi. Bởi v́ người nuôi chúng đă
không c̣n nữa. Một anh họa sĩ nghèo lại biếng nhác như tôi không thể
nuôi nổi đôi chim mảnh mai thế này. Tôi xin thưa thật: vợ tôi, người
từ trước đến nay chăm sóc đôi chim, vừa qua đời. Đă mất vợ, c̣n sắp
mất cả đôi chim hoàng yến, trời ạ! Nhưng bà ơi, nghĩ mà xem! Có phải
người đă giúp tôi ǵn giữ được kỷ niệm của bà đối với tôi chính là
vợ của tôi không?
Tôi đă nghĩ
đến việc phóng sinh hai con hoàng yến. Thế nhưng tôi nhận thấy rằng
từ khi vợ tôi mất đi, đôi chim nhỏ này yếu hẳn, xơ lông rũ cánh. Tệ
hơn nữa, chúng chưa bao giờ biết đến khung trời rộng. Ở trong khu
rừng nhỏ gần chốn đô hội như nơi đây, chắc làm ǵ có lấy một con
chim bạn để đôi vợ chồng chim có thể họp đàn bay theo. Nếu chúng bay
mỗi con mỗi hướng th́ trước sau ǵ, v́ lẻ bạn, hai con sẽ lần lượt
chết cả. Tuy bà có lần cho biết là một gă hàng bán chim nào đó đă
bắt chim trống và chim mái mỗi con một nơi rồi tự tiện đem nhốt
chúng vào một cái lồng chung đấy thôi.
Nói thế chứ
tôi không đành đem chúng bán cho cửa hàng buôn chim đâu. Bởi v́
chúng là đôi chim tôi đă nhận từ bà. Tôi cũng không muốn đem chúng
trả lại bà. Bởi v́ chúng là đôi chim vợ tôi từng nuôi nấng. Hơn nữa,
có lẽ làm như thế tôi lại quấy rầy bà v́ có khi bà đâu c̣n nhớ ǵ
đến chim hoàng yến này kia.
Tôi xin
phép tŕnh bày thêm lần nữa. Chính nhờ có vợ tôi mà đôi chim hoàng
yến - và cũng là kỷ niệm về bà - sống sót đến ngày nay. V́ vậy, thưa
bà, tôi muốn cho đôi chim được chết theo vợ tôi. Để tôi đỡ phải sống
măi trong kỷ niệm. Tại sao đến nay tôi vẫn được phép yêu một người
như bà, nếu chẳng phải là nhờ tôi có một người vợ như vợ tôi ư? Vợ
tôi là người đă giúp tôi quên hết những nỗi thống khổ trong cuộc
sống hàng ngày và nàng đă cố ư không nh́n vào phân nửa cuộc đời khác
của tôi. Nếu không có vợ tôi, th́ khi đứng trước một người đàn bà
như bà, tôi sẽ chỉ biết lảng đi chỗ khác hay không dám ngước nh́n.
Thưa bà,
chắc bà cũng bằng ḷng cho tôi giết đôi chim hoàng yến và đem chúng
ra chôn ngoài mộ của vợ tôi, có phải không bà?
(Dịch ngày
18/05/2008)
Xem tiếp : [ 5.
Bến cảng ] |
|