|
Trận động đất kinh hoàng lay
động địa bàn Tokyo và Yokohama ngày mồng 1 tháng 9 năm 1923 đă làm
điêu đứng đất nước Nhật và mang đến những hâu quả lịch sử theo sau
nó - Joshua Hammer[1]

Cơn sốc đầu lúc 11 giờ 58 phút AM do động đất xảy
ra 6 dậm dưới sàn biển vịnh Sagami, nằm 30 dậm phía Nam Tokyo. Một
mảng vỏ trái đất dưới đái biển Phi Luật Tân có kích thước khoảng
60x60 dậm vuông đă tụt và đâm vào mảng vỏ đại lục Âu Á (Eurasian),
nhả ra năng lượng địa chấn vô lường. Dọc theo bến cảng Yokohama -
một cửa sổ chính của Nhật bản nh́n ra Âu Tây, hàng trăm khách tiển
đưa đang vẫy tay chào từ giả chiếc tàu hành khách hơi nước đài các
"Impress of Autralia" dài 187.5 met xuất phát hàng hải hướng về
Vancouver. Ellis M. Zacharias - một sĩ quan trẻ của hải quân Mỹ c̣n
nhớ - "nụ cười chợt biến mất, mọi người như chết đứng một nơi". "Rồi
có tiếng gầm khủng khiếp", sự rung động làm cho anh té trên cầu tàu,
xong người và xe cộ rơi xuống biển khi cái cầu sụp đổ.
Đây là trận động đất vô tiền khoáng hậu của Nhật
Bản - một xứ quá quen thuộc với thiên tai loại nầy, xảy ra vào ngày
mồng 1 tháng 9 năm 1923 và được gọi là "Trận động đất vĩ đại
Kanto"[2]. Vài phút sau chấn động Sóng thần (tsunami) cao đến 12 met
đập vào bờ. Sóng mang đi hàng ngàn sinh mạng. Kế đến là hỏa hoạn -
lửa đốt cháy hết nhà cửa xây bằng gỗ và người đông nhít của Yokohama
và thủ đô Tokyo. Số tử thương ước lượng khoảng 140,000 người, trong
đó có 44,000 đă bị hỏa thiêu khi đi tránh nạn dưới con sông Sumida
vài giờ trước đó bỡi cơn cuồng phong "hỏa long" (rồng lửa). Trận địa
chấn nầy đă thiêu hủy 2 thành phố lớn nhất và làm đảo điên xứ Nhật,
đồng thời nó cũng làm cao vương tinh thần dân tộc và tính kỳ thị
chủng tộc của họ. Trận động đất làm cho phái quân phiệt mạnh dạng
hơn trong lúc nước Nhật đang phân vân giữa ngả ba đường - một hướng
về khuếch trương quân bị, một hướng về dân chủ hóa theo Tây phương.
Thế rồi chỉ cần có 18 năm sau đó Nhật đă nhảy vào tranh bá trong thế
chiến thứ II.
Trận động đất với chấn độ 9.0 vùng diên hải Đông
Bắc đảo Honshu tháng 3 (2011) vừa qua có lẽ sẽ không tác động mạnh
vào lịch sử Nhật Bản. Nhưng có sự tương đồng giữa 2 như sau. Như năm
1923, động đất mang đến thảm họa thứ hai sau nó - "Tsunami" (Sóng
thần) đă cuốn đi mấy mươi làng mạc, làm lỡ đất, hỏa hoạn và gây hư
hại ḷ hạch nhân số một của nhà máy phát điện Fukushima cho rỉ phóng
xạ vào không khí - một tai nạn hạt nhân trầm trọng vô cùng kể từ sau
vụ nổ của nhà máy Chernobyl - Nga năm 1986. Hậu quả của động đất và
"tsunami" 2011 đă làm thiệt mạng cho 30,000 người và số ngân khoảng
tổn hại có thể lên đến 310 tỷ đô la. Nhiên liệu, nước uống, thức ăn
rất là thiếu thốn vài tuần lễ sau khi động đất xảy ra. Chính phủ NB
chấp nhận là đă không chuẩn bị đủ để đối phó với thiên tai vào mức
độ nầy. Nguyên thủ tượng trưng cho truyền thống quốc gia đă đến úy
lạo nhân dân - 88 năm trước với Thái Tử Hirohito, năm 2011 với Thiên
Hoàng Akihito.
Trước trận động đất lớn vùng Kanto nước Nhật đang
tràn đầy lạc quan. Không nơi nào tượng trưng cho điều đó bằng
Yokohama - cũng được gọi là "Thành phố tơ lụa", nơi định cư đầu tiên
cho ngoại kiều trên xứ Nhật từ 1859, chỉ 5 năm sau khi Đề đốc Mỹ
Matthew Perry buộc Shogun mở cửa nước Nhật cho Tây Phương vào mậu
dịch. Yokohama đă trở thành một đô thị sầm uất với dân số gần nửa
triệu người. Theo một văn sĩ Nhật tả:"thành phố vương lên như một ảo
ảnh trên sa mạc" - đây là nơi tập hợp của doanh gia, dân đào tẩu,
lường gạt, mật thám và tha hương từ các nẻo đường của thế giới. Dọc
theo đường tản bộ bến tàu - thường được gọi là "Bund", vách núi hay
xóm trên đồi nhiều ngoại kiều cư ngụ là nơi Đông gặp Tây - Những tư
tưởng tự do như "dân chủ", "quyền kết hội đoàn", "nam nữ b́nh đẳng"
đă làm cho người ta say mê hấn hở. Sống ở Yokohama 2 năm khi ngồi
viết kịch bản phim, nhà văn mấy lần được chọn cho giải thưởng Văn
chương Nobel Tanizaki Jun-ichiro [3] có lần miêu tả : "một sự xáo
trộn cực kỳ của màu sắc và mùi hơi Tây phương - khói thuốc ci-ga,
mùi sô-cô-la, mùi bông hoa, dầu thơm lẫn lộn... " .
Chỉ cần một buổi trưa trận động đất lớn Kanto đă
xóa hết những dấu tích đó. Theo lời những người sống sót: "trong 14
giây, trận địa chấn đă đủ sức làm sụp đổ tất cả những cao ốc của
Yokohama trên nền đất mền lỏng lẻo". Nhà 3-tầng Grand Hotel - một
biệt thự nguy nga cất theo kiểu Victorian, nơi đă từng đón tiếp
Rudyard Kipling (thi văn sĩ), W.Somerset Maugham (tiểu thuyết gia)
và William Howard Taft (tổng thống Hoa kỳ) sụp và chôn sống hàng
trăm khách và nhân viên của lữ quán. Hai mươi khách tha hương thường
xuyên của quán ba Yokohama United Club đă bị đè bẹp dưới bê-tông khi
quán nầy đổ. Otis Manchester Poole – 43 tuổi, giám đốc của 1 hăng
buôn Mỹ có kể lại sau khi ông may mắn chạy ra khỏi văn pḥng lúc đó
c̣n khá nguyên vẹn gần "Bund": " Bên ngoài mọi vật đều tráng một lớp
bụi trắng dày. Xuyên qua màn sương bụi trong không khí, một màu vàng
chói như đồng, sự điêu tàn hoang vắng làm cho ta sững sờ ớn nhợ
...". Hỏa hoạn bắt đầu do ḷ nấu bếp đổ ngă, thêm vào khí đốt rỉ từ
ống dẫn dưới đất, được quạt thêm bởi gió trốt, chẳng bao lâu thành
phố trở thành một biển lửa.
Đồng thời một bức tường nước vọt lên từ vùng lỡ
ngoài khơi đổ vội về bờ biển Honshu. Một đợt sóng cao 12 thước đă
rửa sạch Kamakura [4]- một cố đô của Nhật Bản mang theo 300 sinh
mạng. Kư giả Henry W. Kinney của tạp chí Trans-Pacific tại Tokyo
viết rằng: "Sóng thần đă cuốn đi nhiều làng mạc gần biển. Chính mắt
tôi đă thấy một chiếc thuyền tam bản dài khoảng 10 thước bị cuốn lên
khỏi nóc nhà xiêu vẹo. Phần lớn đồi đất gần bờ đă chùi xuống biển...".
Mặc dù sức chấn động có phần nào yếu đi khi lan
đến Tokyo qua vùng Kanto, các xóm nghèo cất trên vùng đất rủn phía
Đông của con sông Sumida - 17 dậm phía Bắc Yokohama, đă sụp đổ chỉ
trong vài giây. Giống như Yokohama sau đó th́ hỏa hoạn tung hoành do
nhà cất bằng gỗ và gió bạo tiếp tay. Động đất gây hư hại cho hệ
thống dẫn nước của thành phố, làm tê liệt sở cứu hỏa. Theo tin của
sở cảnh sát , đến lúc 12:15 hỏa hoạn đă xảy ra ở 83 địa điểm. Mười
lăm phút sau lan đến 136 địa điểm. Người ta đổ chạy tránh nạn về
phía sông Sumida, hàng trăm người chết đuối khi cây cầu sụp xuống.
Hàng vạn dân lao động đến tị nạn ở những băi trống gần bờ sông. Lửa
cháy tứ phía. Vào 4 giờ chiều một cơn cuồng phong lửa "fire tornado"
cao gần 100 mết quét qua vùng nầy. Trong 44 ngàn người tị nạn nơi
đây chỉ c̣n có 300 sống sót sau đó.
Rốt cuộc cho đến khi đóm lửa cuối cùng dập tắt
ngày 3 tháng 9, 45 phần trăm Tokyo đă bị thiêu hủy.
Buổi chiều ngày hôm đó - Kinney ghi lại: "Yokohama
một thành phố với dân số gần nữa triệu, đă trở thành một cánh đồng
cháy, đỏ bỏng. Những mảng lửa vô t́nh giỡn cợt chập chờn. Dấu tích
của hỏa hoạn khắp nơi, nhà cửa điêu tàn, chỉ c̣n vài mảng vách đứng
sựng đó đây như những tảng đá đen giữa cánh đồng hoang, không c̣n
nhận ra được..." .
Trước một thảm cảnh ḷng hào hiệp cũng được nhóm
dậy chẳng ngập ngừng. Ở Yokohama, Thomas Ryan - 22 tuổi, một thiếu
úy Hải quân Mỹ đă moi một phụ nữ bị đè găy hết 2 chân dưới bê-tông
của Grand Hotel, cơng ra khỏi ṭa nhà sụp đổ chỉ vài giây phút trước
khi hỏa hoạn lan đến nơi. Samuel Robinson, người Gia nă đại, thuyền
trưởng của chiếc tàu hành khách Empress of Australia đă cứu vớt mấy
trăm nạn nhân, tổ chức đội cứu hỏa để chống lại băo lửa lan đến bến
tàu, xong lèo lái con tàu bị thiệt hại đến chổ an toàn ngoài khơi.
C̣n thêm Yonemura Taki, người kỷ sư trưởng của đài
vô tuyến quốc gia ở Iwaki, một thành phố nhỏ cách Tokyo khoảng 152
dậm về phía Bắc. Vài giờ sau địa chấn, ông Yonemura bắt được tín
hiệu báo cáo rất yếu từ một trạm truyền tin hải quân gần Yokohama
cho biết về thảm họa. Ông gửi một ḍng tin ngắn 19 chữ cho đài RCA ở
Hawaii: "Sau trận động đất tàn khốc ở Yokohama trưa nay, cả thành
phố đang cháy, giao thông bế tắt".
Liên tiếp 3 ngày sau đó, ông Yonemura gửi tin báo
động Thế giới về cái thiên tai bi thảm xảy trên đất Nhật. Theo tờ
báo New York time: "Nhà viễn thông đă đánh điện qua đại dương với
một tốc độ của ánh sáng. Ông tường thuật sự thiệt hại vô lường, nhà
cửa cháy lụi, sóng thần cuốn hết làng mạc...cướp giựt xảy ra, hỏa
hoạn ngun ngút, cầu sụp ".
Những bài tường thuật của Yonemura đă dẫn đến làn
sóng cứu trợ quốc tế do Mỹ quốc dẫn đầu, cố làm diệu bớt sự khổ đau
của bao vạn người đang hoạn nạn hay chờ chết. Hơn một chục quân hạm
Mỹ nhổ neo chiều ngày 2 tháng 9 từ cảng Trung Quốc. Chỉ trong một
tuần cảng Yokohama đă bốc đầy đồ tiếp tế như gạo, thịt ḅ họp, chiếu,
săng. Ngày 3 tháng 9 tại thủ đô Hoa thịnh Đốn Tổng thống Calvin
Coolidge đă dẫn đầu nước Mỹ: "một thiên tai tàn khốc đang làm điêu
đứng dân chúng nước bạn Nhật Bản của chúng ta". "Tokyo, Yokohama và
nhiều làng mạc xung quanh vùng đó đă bị tàn phá gần hết, nếu không
phải là hoàn toàn, do động đất, hỏa tai và lụt lội. Người chết vô số
kể, cấp bách và tuyệt vọng cần được chúng ta giúp đỡ tức thời". Hội
Hồng thập Tự Hoa kỳ do TT Coolidge thúc đẩy đă quyên góp trong nước
được 12 triệu đô la cho nạng nhân thiên tai.
Nhưng rồi t́nh thân hữu giữa 2 nước chẳng kéo dài
được bao lâu do sự kết tội của mỗi bên: Nhật Bản tỏ vẻ hối tiếc đối
với người cứu trợ Tây Phương. Nhóm mị dân Hoa kỳ cho rằng Nhật đă
bạc ơn đối với sự giúp đỡ của ḿnh.
Động đất cũng cho ta thấy cái đen tối của ḷng
người. Chỉ vài giờ sau thảm họa, người ta đồn rằng Hàn kiều đă bỏ
thuốc độc vào viếng nước và âm mưu lật đổ chính phủ Nhật (Nhật Bản
chiếm đóng Triều tiên năm 1905, sáp nhập lảnh thổ năm sau đó rồi cai
trị xứ nầy với bàn tay sắt). Băng đảng Nhật đi lùng khắp vùng hỏa
họan Yokohama và Tokyo, lập trạm chận xét, rồi thủ tiêu người Triều
Tiên. Người ta ước lượng số bị tàn sát lên đến 6 ngàn người [5].
Theo chỗ tôi nghĩ (1) - qua sự giảm thiểu của số
ngoại kiều Âu châu ở Yokohama và sự chấm dứt thời kỳ lạc quan tượng
trưng cho thành phố nầy, trận động đất Kanto đă đẩy nước Nhật vào
đường quân phiệt và chiến tranh. Kenneth Pyle một học giả về Nhật
Bản của đại học Washington cho rằng: trong khi giới đặc quyền bảo
thủ lo lắng khi nh́n phong trào dân chủ đă nổi dậy trong xă hội, "v́
động đất làm cho nhóm có chí hướng dân chủ được bắt đầu từ sau Thế
chiến thứ I trở nên dè dặt... Nó tạo cơ hội cho nhóm quân phiệt ái
quốc bành trướng nhanh và làm nền tảng cho cái được gọi là phát xít
Nhật". Peter Duus, một giáo sư danh dự ngành sử học Stanford có nhận
xét là không phải tại động đất nhóm lửa cho phe quân phiệt, nhưng
"do sự bành trướng của đại đô thị và sự xuất hiện của cái mà phe cực
hữu cho là thứ vô t́nh, chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa cá nhân và
văn hóa vật chất đồi trụy". Ông nói thêm: "cái hậu quả nghiêm trọng
về sau của địa chấn là người ta bắt tay ngay vào kế hoạch tái kiến
Tokyo cho ra một đại đô thị hiện đại. Đưa Tokyo vào hàng độ thị của
thế giới".
Sử gia J.Charles Schencking của đại học Melbourne
xem việc tái kiến của Tokyo là dẫn cứ cho cái ǵ to lớn hơn. Ông có
viết là: "trước cái không khí bi đát do động đất mang đến, đàng sau
nó là cơ hội cho chính trị và ư thức, sau những đắn đo, để xây dựng
lại niềm tin, giới hữu trách chẳng những chỉ dành riêng cho Tokyo,
họ c̣n muốn tái dựng cả nước Nhật và nhân dân Nhật Bản".
Mặc dù có điểm dị đồng về hậu quả của nó, các sử
gia đều đồng ư là sự tàn phá của 2 trung tâm dân cư đă nói lên điều
mà ở Nhật bản người ta cho rằng việc đeo theo cái suy đồi của Tây
Phương đă mang đến sự trừng phạt của trời đất. Hoặc giả như triết
gia kiêm xả hội b́nh luận gia Fukasaku Yasubumi (深作安文) [6] có tuyên
bố một thuở: "Ông trời đă đập một búa to" lên đầu nước Nhật.
Huỳnh văn Ba dịch và chú
Ghi chú
[1] Joshua Hammer - chủ biên của tuần báo
Newsweek. Bài nầy đăng trên tạp chí "Smithsonian" số tháng 5, 2011
[2] Ngưới Nhật gọi là "Kanto Dai shinsai"
(関東大震災・Quan Đông đại chấn tai), tức động đất lớn ở vùng Kanto cũng
được gọi là "động đất Taisho" v́ xảy ra trong thời đại của Thiên
Hoàng Taisho (大正・đại chánh)
[3] Tanizaki Jun’ichiro (谷崎潤一郎・cốc kỳ nhuận nhất
lang) - bài của Hammer viết lầm là Tanizaki "Junicho" và được giải
Nobel về Văn chương. Sự thật ông Jun’ichiro chỉ được đề cử mấy lần
nhưng chưa nhận giải thưởng. Tanizaki là nhà văn lăng mạng t́nh dục
táo bạo thời Taisho (大正・đại chánh) rất được ái mộ trong xă hội Nhật,
có lẽ chỉ đứng sau Natsume Soseki (夏目漱石・Hạ mục sấu thạch)thôi. Nhiều
tiểu thuyết của ông đă được dich ra Anh (ngoại) ngữ, thí dụ như
"Naomi" (English title; 痴人の愛・chijin no ai - "t́nh yêu của kẻ si mê"),
"Fumiko's legs (富美子の足・fumiko no ashi - "bàn chân Fumiko" -
anh
Nguyễn Nam Trân đă dịch ra tiếng Việt đăng trên ERCT.com),
"Quicksand"(卍・manji - chữ "Vạn"), v.v.
[4] Kamakura là một cố đô của Nhật (1185-1333).
Nơi đây có tượng Phật bằng thanh đồng to ngồi ngoài trời. Xưa kia có
mái chùa che nhưng sau nhiều trận động đất và sống thần đánh sụp nhà
chùa, ngày nay chỉ c̣n Phật lộ thiên. (Xem thêm Kamakura xin
click vào đây)
[5] Ngoài việc sát hại Hàn kiều, nhóm quân phiệt
và côn đồ cũng nhân dịp nầy giết cả người Nhật đối lập, người Trung
hoa và Okinawa. Ngày nay đền thờ kỷ niệm Hàn kiều bị giết hại được
xây trong khu Sumida – Tokyo
[6] Fukasaku Yasubumi (深作安文・Thâm tác an văn) - Nhà
đạo đức đầu thế kỷ 20 của NB muốn xây dựng một nước Nhật trên một
nền tảng luân lư. Ông cho rằng, để được thế giới chấp nhận lâu dài,
"người Nhật phải biết bao dung và sùng bái đạo đức con người"
(吾々は国民として生活すると同時に、人類の一部として生活して居ります。故に今後、世界に雄飛する国民は、脚を自国に立てて、飽く迄、世界的思想を有し、博大な包容的精神と崇高な人道的観念とを有するを要する(略)我国民の世界的思想の涵養は、我国家の占めつつある世界的位置を確保する上に缺くべからざるものであります)
|