|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi Người dịch : Đặng Lương Mô Chương XI : Ikeda Hayato Sự
thực hiện một đại cường
quốc kinh tế Con
đường tới "gấp đôi thu
nhập" Người
thứ 11 trong "Mười hai người
lập ra nước Nhật," là Ikeda Hayato. Nói
tới Ikeda Hayato, ai nấy đều biết
đó là thủ tướng Nhật Bản
từ năm 1960 (niên hiệu Chiêu ḥa thứ 35)
tới 1964, tức là năm Nhật Bản đứng
ra đăng cai Thế vận hội Tokyo. Trong
biết
mấy đời thủ tướng thời
hậu chiến, tại sao lại chỉ chọn
một ḿnh Ikeda Hayato làm một trong "Mười
hai người lập ra nước Nhật?" Lư
do: Ông là người đă dẫn dắt
Nhật Bản thời hậu chiến trở thành
đại cường quốc kinh tế. Không
cứ ǵ thành tích ông đă đạt được
về sự tăng trưởng kinh tế, điểm
quan trọng nhất là ông đă thảo ra
"Kế hoạch gấp đôi thu nhập"
trong đó ông đă dương cao lư tưởng
đưa Nhật Bản lên hàng "đại cường
quốc kinh tế." Lư
tưởng cho một nước có nhiều
thể loại: Nước được toàn
thế giới tôn trọng về mặt chính
trị, nước được vị nể và
nương tựa về sức mạnh quân
sự, nước được ngưỡng
mộ về mặt văn hóa, nước
được mỗi người yêu thích v́ con
người vui nhộn, v.v.. Thế mà Ikeda Hayato
đă đặt cho Nhật Bản lư tưởng
là trở thành đại cường quốc kinh
tế, rồi ông thuyết phục được
mọi người đồng ư với ông. Nghĩa
là, nội các Ikeda đă tuyên bố "dốc
toàn lực cho chính sách gấp đôi thu
nhập" và đă được toàn dân
ủng hộ mạnh mẽ. Việc
này một mặt đóng góp vào sự phát
triển kinh tế ngày nay, mặt khác đă sinh
ra quan niệm coi đồng tiền là trên
hết, và như vậy đă tạo ra "xă
hội trọng quyền lực của đồng
tiền[1]." Cũng có thể nói, nó đă làm
nẩy sinh ra cấu tạo công nghiệp sản
xuất đại trà theo quy cách, cấu tạo
địa phương kiểu đô thị
tập trung, hay đă biến Nhật Bản thành
xă hội chức tước bổng lộc hay
"xă hội chức lộc", trong đó toàn
dân Nhật trở thành "người xí
nghiệp." Với
ư nghĩa trên, Ikeda Hayato đáng được
coi là có công lao lớn nhất trong các thủ tướng
Nhật Bản trên phương diện quyết
định ư nghĩa và luân lư của xă hội
Nhật Bản. Trong
số các Thủ tướng Nhật Bản
thời hậu chiến, người ta thường
hay kể đến bốn người: Yoshida
Shigeru, Ikeda Hayato, Sato Eisaku, rồi Tanaka Kakuei. Trong
bốn người, Yoshida Shigeru là một nhân
vật lớn, nhưng hầu hết những
quyết định trọng yếu của ông
đều đă xuất phát từ quân đội
chiếm đóng, tức là từ MacArthur. Trong
khi đó, Ikeda Hayato với sáng kiến riêng, đă
để lại ảnh hưởng lớn đối
với lối sống của người
Nhật, hay đúng ra, đối với thực
trạng xă hội Nhật Bản ngày nay. Trước
hết, như thường lệ, hăy xét qua lai
lịch nhân vật này. Một
công chức (quan liêu) thành đạt muộn Ikeda
Hayato sinh năm 1899 (niên hiệu Minh Trị thứ
32) tại tỉnh Hiroshima. Như thế ông có
tuổi chẵn bằng số năm của
thế kỷ thứ XX[2]. Năm
1925, ở tuổi 25, ông tốt nghiệp Trường
Đại học luật, thuộc Đại học
quốc gia Kyoto. Như vậy, ông đă tốt
nghiệp đại học chậm từ 2
tới 3 năm. Có lẽ ông không phải là
loại học giỏi. Một phần là v́
sức khỏe không được tốt, măi
tới 18 tuổi ông mới vào trường Đệ
ngũ Cao đẳng[3].
Rồi để tiến lên Đại học Kyoto,
ông đă phải mất 4 năm trong khi đáng
lẽ chỉ mất 3 năm thôi. Không thể nói
như vậy là ông học kém, nhưng nếu so
sánh với người tiền nhiệm của ông,
tức là Thủ tướng Kishi Nobusuke, một
người đă từ Đệ nhất Cao đẳng
tiến lên Đại học Quốc gia Tokyo rồi
tốt nghiệp trong thời hạn ngắn
nhất, th́ phải nói là ông đă bị
vất vả lắm trong kỳ thi tuyển sinh. Tốt
nghiệp đại học xong, ông lập tức
vào làm công chức Bộ Kho bạc. Hai năm sau,
27 tuổi, ông đă lấy người con gái
thứ ba của Bá tước Hirosawa Kinjiro, tên là
Naoko. Người chủ hôn là Bộ trưởng
Kho bạc đương thời Inoue Junnosuke.
Cứ nh́n tên tuổi những người này, ta
có thể thấy ông là công chức êlít (ưu tú),
được đánh giá cao trong Bộ Kho
bạc. Nhưng
chẳng bao lâu, năm 1932, Naoko đă vi vă qua
đời v́ bệnh tim mạch. Năm trước
đó, chính Ikeda Hayato cũng bị bệnh,
phải xin nghỉ việc để dưỡng
bệnh. Nghe nói đó là một bệnh nan y
(một bệnh phát ban). V́ thế, ông đă cùng
mẹ đi hành hương 88 linh địa trên
đảo Shikoku[4]. Khỏi
bệnh, năm 1934, ông trở lại Bộ Kho
bạc làm việc. Năm sau, tái hôn. Người
vợ sau tên là Machie. Cuộc
chiến Thái b́nh dương bùng nổ[5],
rồi năm 1942, ở tuổi 42, ông được
thăng trưởng pḥng Pḥng Thuế số 1,
Cục Thuế. Thời
đó trưởng pḥng Thuế số 1 có hàm cán
bộ cấp ba. Ở tuổi 42 mà c̣n lẹt
đẹt ở địa vị này, là quá
muộn. Chắc tương lai cũng không có
triển vọng nào. Năm
1944, ông được thăng chức cục trưởng
Cục Tài vụ Tokyo. Nhưng chức này cũng
chỉ là cán bộ cấp hai. Thời ấy,
đáng lư ông phải lên tới chánh văn pḥng
bộ trưởng, mới xứng. Địa
vị của ông như vậy cũng tương
tự như ngày nay đă đến tuổi 56,
57 mới lên được tới chức
cục trưởng một cục địa phương.
Nói cách khác, ông đă đi chệch quỹ đạo
danh vọng. Tóm
lại, xem lư lịch Ikeda Hayato cho tới đây,
dù bị bệnh đến phải nghỉ
việc, nhưng xét ra ông đă phải phấn
đấu khá gian nan với cuộc đời công
chức. May
thay, năm 1945, ông đă được thăng
chức cục trưởng Cục Thuế. Là
cục trưởng Cục Thuế rồi, ông có
thể có cơ hội làm tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế quốc gia. Như vậy là
ông đă trở lại được quỹ
đạo danh vọng. Vừa lúc ấy, cuộc
chiến tranh chấm dứt, rồi bộ
Tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng
bắt đầu cuộc thanh trừng "công
chức"[6]. Cán
bộ cao cấp Bộ Kho bạc nhiều người
bị thanh trừng. Không biết có phải v́
vậy không, năm 1947, ở tuổi 47, Ikeda Hayato
bỗng được nâng lên làm chánh văn pḥng
Bộ Kho bạc. Có thể nói là bản thân Ikeda
dẫu muốn cũng khó được địa
vị này. Thật đă tới buổi hạnh
vận của Ikeda vậy. Thế
nhưng, năm sau 1948, ở tuổi 48, ông đă
từ quan. Nghe nói lư do là sự bất đồng
ư kiến với nội các liên hiệp Katayama -
Ashida. Thực tế là thế nào th́ không rơ. Năm
sau, 1949, nhân có cuộc tổng tuyển cử
Hạ nghị viện ngày 23 tháng 1, ông ứng
cử và ngay lần đầu tiên đă đắc
cử. Rồi ngày 26 tháng 2, nhân thủ tướng
Yoshida Shigeru thành lập nội các lần thứ
ba, ông đă một bước nhẩy vọt lên
chức bộ trường Bộ Kho bạc.
Cuộc thanh trừng công chức cao cấp làm
thiếu hụt nhân tài khiến ông đă
được đắc dụng, rồi lại
nhờ thói quen độc tài của Thủ tướng
Yoshida, ông bỗng dưng nhẩy vọt từ chánh
văn pḥng lên bộ trưởng Kho bạc
chỉ trong ṿng vài tháng. Thời
nay, phải là 57, 58 tuổi mới lên tới chánh
văn pḥng. Sau đó, ứng cử nghị viên,
nếu đắc cử cũng phải ba hay
bốn nhiệm kỳ sau mới mong được
cất nhắc lên làm bộ trưởng.
Ấy là chưa kể bộ trưởng Kho
bạc là vị trí trọng yếu[7],
không dễ ǵ giành được. Nhờ
có cuộc chính biến[8]
nên đă được làm bộ trưởng
Kho bạc rất sớm, là trường hợp
đảng trưởng Takemura Masayoshi của Đảng
Sakigake. Ấy thế mà ông này trước đó
cũng đă làm thủ hiến tỉnh hai
nhiệm kỳ, đă đắc cử nghị viên
ba nhiệm kỳ và đă 60 năm tuổi. Nhưng,
ở thời ngay sau chiến tranh mà nghị viên
mới đắc cử lần thứ nhất
đă được chọn làm bộ trưởng,
cũng không đáng ngạc nhiên. Thời ấy,
tuổi 49 là tuổi lăo thành hơn thời nay,
đồng thời v́ cuộc thanh trừng công
chức nên rất nhiều người trẻ
tuổi đă được nâng lên chức
trọng quyền cao. Đó là "thế hệ
thứ nhất hậu chiến." Ikeda
đă từ chánh văn pḥng nhẩy vọt lên làm
bộ trưởng Kho bạc. Hơn thế
nữa, trong nội các Yoshida lần thứ ba,
bộ trưởng Kho bạc lại kiêm luôn
cả bộ trưởng Thương mại
quốc tế và công nghiệp. Nghĩa là ông
đă chiếm vị trí trung khu của các bộ
trưởng liên quan tới kinh tế. Đến
đợt nội các Yoshida lần thứ tư,
ông cũng giữ chức bộ trưởng Thương
mại quốc tế và công nghiệp kiêm bộ
trưởng Quy hoạch kinh tế. Sau đó, ông
đă giữ chức chủ nhiệm Ủy ban
điều hợp chính sách[9],
nghĩa là nghiễm nhiên đóng vị trí trung tâm
của chính giới Nhật Bản. Trong
thời kỳ nội các Yoshida đợt thứ
năm, ở Nhật Bản đă xẩy ra
một vụ xcăngđan về tiền trợ
cấp cho kế hoạch đóng tàu. Vụ này
gọi là vụ xcăngđan đóng tàu[10]. Một
người nữa được coi là rất sáng
giá dưới trướng Thủ tướng
Yoshida, tức tổng thư kư Sato Eisaku, lúc
ấy có trát bắt giữ. Nhưng bộ trưởng
Tư pháp lúc ấy, Inukai Takeru, đă sử
dụng quyền chỉ huy đối với
viện trưởng Viện Kiểm sát để
cản lệnh bắt giam Sato Eisaku. Đây là lần
đầu tiên trong lịch sử xcăngđan
của chính giới Nhật Bản thời
hậu chiến mà quyền chỉ huy đă
được sử dụng. Việc
sử dụng quyền chỉ huy như vậy,
bị người đời chỉ trích là
lạm quyền, Inukai Takeru phải từ chức
bộ trường Tư pháp, nội các đổ,
nhưng Sato Eisaku thoát khỏi bị bắt. Lúc
đó, chỉ có trát bắt giam đối
với Sato Eisaku thôi, nhưng tin đồn là Ikeda
Hayato cũng có nghi vấn. V́ quyền chỉ huy
đă được sử dụng, Sato Eisaku
đă thoát khỏi bị bắt, mà Ikeda Hayato cũng
không thấy có trát đ̣i nữa. Nhân
vụ bê bối đóng tàu đó, ngày 28 tháng 2
Ikeda đă ra điều trần trước
quốc hội với tư cách người tham
khảo[11]. Nhưng năm tháng sau, ông nhậm
chức tổng thư kư đảng Tự do. Xem
như vậy đủ thấy bầu không khí chính
trị bất chấp dư luận của
những năm đầu thời hậu
chiến. Nghĩa là, vụ bê bối đóng tàu
này đă không để lại dấu ấn
xấu nào đối với lư lịch chính
trị của cả Sato Eisaku lẫn Ikeda Hayato. Từ
đó về sau, Ikeda Hayato trở thành nhân vật
số một sành sỏi vấn đề tài chính,
nên trong nội các Ishibashi, nội các Kishi đợt
một, ông đă giữ chức bộ trưởng
Kho bạc, rồi bộ trưởng vô nhiệm
sở trong nội các Kishi đợt hai, bộ trưởng
Thương mại quốc tế và công
nghiệp trong nội các Kishi cải tổ.
Thế rồi, nhân vụ rối loạn v́
cuộc đấu tranh phản đối Hiệp
ước an ninh Nhật - Mỹ năm 1960,
nội các Kishi tổng từ chức, Ikeda Hayato
liền có cơ hội lập nội các nắm
lấy chính quyền. Đó là ngày 19-7-1960. Cho
tới lúc đó, Ikeda Hayato mới đắc
cử nghị viên Hạ nghị viện
được năm lần. Nếu là thời
nay, th́ như vậy ông mới chỉ được
chức "bộ trưởng dự tiệc[12]."
Trước nay, ông chỉ được thế
gian coi là "học tṛ giỏi của trường
Yoshida," một đàn em đắc lực
của Yoshida, nhưng nay ở tuổi 60, Ikeda
Hayata mới bắt đầu phát huy bản lănh
của ḿnh. Bắt
đầu tôn thờ GNP (Tổng sản phẩm
quốc dân) Đến
đây, tưởng cần nhắc qua nội các
Kishi, tức là nội các trước nội các
Ikeda. Năm
1951, đồng thời với Ḥa ước San
Francisco, Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ cũng
được kư kết với thời hạn là
mười năm. Năm 1961 là lúc hiệp ước
hết hạn mười năm đó, và từ
năm này trở đi, nếu muốn,
"mỗi bên đều có thể thông báo cho bên
kia ư định hủy bỏ hiệp ước
một năm trước khi thực sự
hủy bỏ." Tháng
2 năm 1957, nhậm chức thủ tướng,
Kishi Nobusuke đă sửa đổi hiệp ước
cho tương xứng với hai nước độc
lập và t́m cách kéo dài hiệp ước thêm mười
năm. Nghĩa là ông muốn "cố định
hóa thể chế hậu chiến" v́ theo ông,
Nhật Bản đương nhiên nên đứng
vào phe tây phương. Nhưng, một cuộc
lộn xộn vĩ đại đă diễn ra
quanh vấn đề này. Đó là cuộc đấu
tranh "phản đối Hiệp ước An
ninh Nhật - Mỹ năm 60." Đúng
lúc đó, "thể chế năm 55" cũng
đă đứng vững, Nhật Bản đang
mạnh tiến trên con đường công
nghiệp hóa từ một "Thụy Sĩ
ở Viễn đông" kiểu MacArthur. Một
biểu hiện rơ rệt của sự mạnh
tiến này là sự hợp lư hóa (cụ thể
hơn là "lưu thể hóa") năng lượng.
Tức là, động thái đổi nguồn năng
lượng từ than đá (chất rắn)
nội địa sang nguồn năng lương
dầu mỏ (lưu thể) nhập cảng. Trong
quá tŕnh này, sự thu nhỏ công nghiệp than
đá là tất yếu. Đến nỗi,
mỏ than lớn nhất Nhật Bản, là Mitsui
Mi’ike, cũng bắt đầu giảm bớt công
nhân. V́ thế, phản đối sự việc
này, công đoàn đă mở cuộc tranh nghị
lớn. Đó là cuộc đấu tranh Mitsui Mi’ike,
thường gọi là "cuộc đối
đầu giữa tổng tư bản và
tổng công đoàn." Trong
t́nh thế hỗn
độn như vậy, nội các Kishi tháng 5 năm
1960 đă cương quyết cho biểu quyết
Dự án Sửa đổi Hiệp ước An
ninh Nhật - Mỹ tại Hạ nghị viện,
rồi ngồi chờ cho Hiệp ước
được thành lập tự nhiên[13]
để tổng từ chức. Nội
các Ikeda tiếp nối nội các Kishi. Có thể
nói là nội các này đă được thành
lập vào lúc sự đối lập tả
hữu trong nội bộ Nhật Bản, tức là
sự phản ánh cấu tạo chiến tranh
lạnh đối lập Đông - Tây, đă lên
tới tột điểm. Lúc đó, lực lượng
cánh tả đă thấm mệt v́ cuộc đấu
tranh kéo dài, dân chúng th́ chán ngấy biểu t́nh
và míttinh. Ikeda đă khéo léo lợi dụng t́nh
trạng tâm lư ấy. Hiệp
ước an ninh Nhật - Mỹ là vấn đề
chính trị quốc tế trọng đại
đến nỗi nội các Kishi bị đổ.
Thế mà, thủ tướng Ikeda Hayato, người
kế vị, lại không hề đả động
ǵ tới vấn đề này cả. Ông chỉ
một ḷng hướng về những vấn
đề kinh tế thôi. Ngày
19 tháng 7 nội các ra đời, th́ chỉ
một tháng rưỡi sau, tức là ngày 5 tháng
9, ông đă tuyên bố "Kế hoạch
gấp đôi thu nhập." Chính phủ chính
thức quyết định bằng nghị
quyết của nội các là ngày 27 tháng 12 năm
ấy. Nghĩa là trong sáu tháng kể từ khi
nội các Kishi đổ cho tới lúc nội các
quyết nghị "Kế hoạch gấp đôi
thu nhập," ông đă cố ư dập tắt
ư thức đối với vấn đề chính
trị quốc tế và sự đối lập
công nhân - giới chủ, đă hướng
sự quan tâm của dân chúng vào vấn đề
tăng trưởng kinh tế. "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập," chính sách
trung tâm của nội các Ikeda, chính sách đă có
ảnh hưởng trọng yếu đối
với Nhật Bản, thực ra bắt nguồn
từ "Kế hoạch gấp đôi lương
tháng" của nội các Kishi. Nội
các Kishi một mặt xúc tiến việc sửa
đổi Hiệp ước an ninh Nhật -
Mỹ, mặt khác tiến hành "Kế
hoạch gấp đôi lương tháng" coi như
là chính sách kinh tế của ḿnh. Sáng kiến này
đúng về mặt lịch sử, nhưng
vụng về mặt chính trị. Như
thấy trong cuộc đấu tranh Mitsui Mi’ike
đă kể trên, sự hợp lư hóa ngành
nghề và sự quốc tế hóa kinh tế
(nhập cảng nguyên liệu dầu thô rẻ
tiền) là điều không tránh khỏi trong
đường lối tăng trưởng kinh
tế cao độ. Điều này có nghĩa là
phải hội nhập vào phe kinh tế tự do
của tây phương. Nói cách khác, tăng trưởng
kinh tế bị coi là "kẹo ngọt[14]
của đường lối theo đuôi
Mỹ." Thành ra trong cơn vũ băo của làn
sóng phản đối Hiệp ước an ninh
Nhật - Mỹ, chính sách tăng trưởng kinh
tế cao độ cũng bị lu mờ đi. Nhưng,
Ikeda Hayato đă nắm vấn đề từ
quan điểm chuyên gia, đă tuyên bố chính sách
"gấp đôi tổng sản phẩm quốc
dân (GNP)," một ngôn từ khó hiểu ngay
với chuyên gia thời đó chứ đừng
nói ǵ tới thường dân. Nói
"gấp đôi lương tháng" và nói
"gấp đôi thu nhập" th́ nội dung
khác nhau. "Kế hoạch gấp đôi lương
tháng" là làm cho thu nhập cá nhân tháng tháng tăng
lên gấp đôi, một chuyện gần gũi
dễ hiểu đối với quốc dân. Nhưng
cũng v́ thế nó có màu sắc chính trị rơ
rệt và do đó bị coi là "kẹo
ngọt để đổi lấy Hiệp ước
an ninh." So
với trên, "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" của nội các Ikeda có mục tiêu
làm tăng GNP lên gấp đôi, và như vậy
mang tính chất tổng tư bản hơn. Nghĩa
là Ikeda và các cố vấn của ông nghĩ
tới nền kinh tế quốc dân hơn là
tới sinh hoạt hàng ngày của mỗi người.
Việc này khá phức tạp phải là chuyên gia
kinh tế mới thảo luận khúc chiết
được. Đồng thời, cũng khó
"tḥ đuôi" ra cho người ta tóm
lấy. Cái
may của Ikeda là thời đó, "thể
chế năm ’55" đă xác lập, đông
đảo quốc dân đă trở thành "người
xí nghiệp." Nhờ thế, nói "gấp
đôi thu nhập" được cả
giới kinh doanh lẫn giới làm công hưởng
ứng, ủng hộ, hơn là nói "gấp
đôi lương tháng."
Gặp
dịp phồn thịnh chưa từng thấy
từ thời Jinmu "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập" của
nội các Ikeda rất được hoan nghênh.
Chẳng mấy chốc, GNP đă trở thành
lời cửa miệng của mỗi người
Nhật Bản. Nội các Ikeda đă đặt
mục tiêu mười năm (từ 1960 tới
1970) tăng GNP lên gấp đôi. Không những
chỉ đưa ra kế hoạch tổng
thể, mà cả những kế hoạch thực
thi tỉ mỉ cũng lần lượt
được công bố. Ví
dụ, dựa vào Luật khai thác tổng hợp
toàn quốc, "Kế hoạch phát triển
tổng hợp toàn quốc Nhật Bản"
với mục tiêu chỉnh đốn từng
địa vực, đă được hoạch
định năm 1962. Từ sau đó, kế
hoạch này đă được làm lại thành
"Kế hoạch phát triển tổng hợp toàn
quốc mới" năm 1969, rồi "Kế
hoạch Phát triển tổng hợp toàn quốc
đợt ba," " Kế hoạch phát
triển tổng hợp toàn quốc đợt
bốn." Cái
khéo của Ikeda Hayato là, bằng những kế
hoạch phát triển như vậy, ông đă
mở rộng hoạt động xây dựng công
cộng, rồi bằng những "đô
thị công nghiệp mới" ông đă tập
trung được sự phát triển vào
từng nơi một cách hiệu quả, làm cho
giới công nghiệp và dân chúng toàn quốc
đều kỳ vọng. Hiệu quả kinh
tế đă cao, hiệu quả chính trị càng
cao hơn v́ nó làm cho mỗi người phải
nương tựa vào Đảng Dân chủ tự
do. Rồi,
từ xuất cảng, nhập cảng tới công
kỹ nghệ và nông lâm thủy sản
nghiệp, nhất nhất đều được
chỉ rơ bằng "chỉ tiêu kinh tế
chủ yếu trong kế hoạch gấp đôi
thu nhập quốc dân." Ông lần lượt
cho công bố kế hoạch chi tiết: Ngành
nghề nào th́ làm thế nào sẽ đạt
chỉ tiêu. Đồng thời trợ cấp cho
những ngành nghề như vậy trong khi làm theo
kế hoạch. Cũng
may là, sau khi kế hoạch gấp đôi thu
nhập được công bố, nền kinh
tế Nhật Bản đă bước vào
thời kỳ phồn thịnh. Trong thập niên
1950, kinh tế Nhật Bản cùng với hiệu
quả của phiêu ngữ "đuổi
kịp" để phục hưng, đă tăng
trưởng cao độ với tỉ lệ b́nh
quân hàng năm là 9,6%. Sang đến thập niên
1960, tỉ lệ này là 10,3%. Nhất
là, trong bốn năm đầu của nội các
Ikeda, tức là kể từ hậu bán năm 1960
trở đi cho tới hết Olympic Tokyo mùa Thu năm
1964, Nhật Bản gặp được lúc làm
ăn phát đạt như chưa từng
thấy, nên đă có câu "dịp phồn
thịnh kể từ thời Jinmu[15]."
Sự hâm mộ cuồng nhiệt đối
với "vua kinh tế Ikeda" quả đă có
điều kiện cơ sở để đứng
vững. Thế
mà, chỉ đến cuối năm 1964, cổ
phiếu bỗng sụt giá, thị trường
đượm màu sắc kinh tế suy sụp.
Ikeda, lợi dụng phong thái chất phác của
kẻ lận đận đường công danh
như ḿnh, hay dùng câu nói cửa miệng "Tôi
không nói dối đâu," nhưng thị trường
cổ phiếu sụt giá đă làm tổn thương
đến thanh danh của ông rất nhiều.
Từ cuối năm 1964, người ta lật ngược
câu nói cửa miệng của Ikeda thành câu nói
bỡn cợt "Ikeda nói dối." Tuy nhiên,
may hay rủi th́ không biết, nhưng Ikeda đă
mắc bệnh ung thư cuống họng,
khiến ông phải từ chức thủ tướng
tháng 11 năm ấy, rồi ngày 13 tháng 8 năm
sau, 1965, ông mất. Ikeda
Hayato làm thủ tướng vẻn vẹn có 4 năm
3 tháng. So với Yoshida Shigeru (5 năm 2 tháng) hay
Sato Eisaku (6 năm 8 tháng) th́ thời gian làm
thủ tướng của ông ngắn hơn.
Thế nhưng, trong khoảng thời gian ngắn
đó, tư tưởng kinh tế ưu tiên do ông
cấy trồng và cơ chế quan liêu lănh đạo
để thực hiện tư tưởng đó,
th́ ngày nay cũng không hề suy suyển. Bởi
v́ "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" do Ikeda Hayato hoạch định và
thực hiện đă thành công vĩ đại. Thành
công vượt xa kế hoạch "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập" thành công
lớn là v́ đă đi đúng con đường
tốt nhất mà toàn dân mong chờ. Trước
nhất, về thành tích kinh tế, thành quả
đạt được đă vượt xa
mục tiêu. Để tăng GNP lên gấp đôi
trong 10 năm, mỗi năm phải đạt
được sự tăng trưởng kinh
tế 7,2%. Thế mà trong thập niên 1960, tốc
độ tăng trưởng kinh tế b́nh quân
của Nhật Bản là 10,3%. Với tốc độ
này, chỉ cần 6 năm rưỡi để tăng
GNP lên gấp đôi. Nghĩa là tới năm
mục tiêu của kế hoạch (năm 1970) th́
kế hoạch vượt hơn hẳn mục tiêu
quá xa. Một
điểm nữa là khi "Kế hoạch
gấp đôi thu nhập" này được công
bố có rất nhiều ư kiến lo lắng và
phản đối. Nhất là các đảng
đối lập đă phê phán quyết liệt.
Nhưng lời phê phán của họ
không trúng một chút nào cả. Họ
nói, nếu "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" được thực thi, người
giầu sẽ càng giầu hơn, và người
nghèo sẽ càng nghèo hơn. Nghĩa là họ lo
sợ khoảng cách thu nhập sẽ ngày một
gia tăng. Nhưng thực tế là trong khoảng
thời gian đó, khoảng cách thu nhập
mỗi ngày một thu nhỏ lại. Họ
c̣n nói, nếu áp dụng chính sách khuếch đại
một cách quá đáng với mục đích tăng
trưởng kinh tế, th́ lạm phát sẽ hoành
hành. Quả vật giá có tăng lên, nhưng tính
bằng số phần trăm hàng năm th́
sự gia tăng cũng chỉ trong ṿng an toàn mà
thôi. Họ
phản đối là nếu áp dụng chính sách
ưu đăi xí nghiệp để xúc tiến phát
triển kinh tế một cách mạnh bạo, th́
sẽ gây ra nhiều "rạn nứt." Nghĩa
là đó đây sẽ xẩy ra nạn
"giảm biên chế," nạn thất
nghiệp sẽ tràn lan. Hơn nữa, thành
thị sẽ bành chướng một cách vô
trật tự, tội phạm sẽ hoành hành,
khiến cho thế t́nh trở thành bất an. Nhưng,
thực tế là tỷ lệ thất nghiệp
giảm đi, tỷ lệ tội phạm cũng
xuống thấp. Tóm
lại, những phê b́nh, phê phán của các
thế lực đối lập đối
với "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" của nội các Ikeda, đă không trúng
một chút nào cả. Nếu
chỉ coi những vấn đề đă
được bàn đến khi "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập" được
công bố, th́ ư nghĩ của Ikeda đúng. Nhưng,
ở góc cạnh hoàn toàn khác, góc cạnh mà chính
các phe phái đối lập cũng không hề
đoán ra, đă nẩy sinh nhiều vấn đề
rắc rối. Đó là vấn đề ô nhiễm
môi trường, vấn đề dân số quá
đông đúc và quá thưa thớt. Những nhà
phê b́nh "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" cũng không đoán trước
được ảnh hưởng này, nhưng
tới năm 1970, tức là năm mục tiêu
của kế hoạch, th́ t́nh trạng đă
trở nên nguy kịch lắm. Ư
nghĩa của câu nói "người nghèo hăy
ăn lúa mạch" Vậy,
Ikeda Hayato là người có tư tưởng như
thế nào, hành động ra sao và đă để
lại ảnh hưởng ǵ đối với người
Nhật ngày nay? Trước
hết, Ikeda Hayato để lại một
"tập ngôn từ" đầy phóng ngôn
kỳ ngôn. Thử nghe câu sau đây: "Người
nghèo hăy ăn lúa mạch!" Câu
này ông đă nói ra khi làm bộ trưởng Kho
bạc trong nội các Yoshida đợt ba (1950).
Thật ra, chi tiết câu nói của ông là như
sau: "Hăy
trở lại tập tục xưa nay... Người
thu nhập ít ăn nhiều lúa mạch, người
thu nhập nhiều ăn toàn gạo. Tôi chỉ
muốn làm theo nguyên tắc kinh tế như
vậy." Câu
nói là như vậy, nhưng đă bị dịch
ra thành ngôn ngữ báo chí như trên. Một câu
nữa như sau: "Dăm
mười kẻ buôn bán bất chính mà có
bị phá sản rồi tự sát th́ cũng
đành vậy thôi!" Lời
phóng ngôn như vậy khi loan truyền ra, đă
bị người đời chỉ trích gắt
gao. Đúng ra, để trả lời câu hỏi
về nguy cơ phá sản của những xí
nghiệp vừa và nhỏ, ông đă trả
lời như sau: "Những
người buôn bán trái với những nguyên
tắc chính đáng, như đầu cơ tích
trữ, th́ dẫu dăm mười người
có bị phá sản th́ điều đó cũng
là bất khả kháng." Ông
nói mềm dẻo như vậy, không hề đả
động tới "tự sát." Ikeda
Hayato không hề nổi giận mỗi khi báo chí
bóp méo lời nói của ông một cách khôi hài.
Điều này làm ông được báo chí ưa thích. Năm
1949, khi Ikeda nhậm chức bộ trưởng Kho
bạc trong nội các Yoshida đợt ba, th́
đó là lúc bắt đầu của thời
kỳ làm ăn khó khăn và cái gọi là Đường
lối Dodge[16]
được công bố. Trong
thời chiến tranh, ngân sách lớn đă
được tiêu dùng cho quân bị quân trang. Sau
chiến tranh, tiền cũng đă được
rải ra nhiều cho binh sĩ giải ngũ.
Thế rồi lại phải tiêu nhiều
tiền cho công cuộc phục hưng. Nghĩa là
tiền đă được rắc ra rất
nhiều. Kết quả là sự lưu thông
tiền tệ gia tăng và nạn lạm phát ác
tính đă phát sinh. Để chặn đứng t́nh
trạng này, chỉ c̣n một cách là siết
chặt lưu thông tiền tệ. V́ vậy, không
tránh khỏi t́nh trạng làm ăn khó khăn, buôn
bán tŕ trệ. Chỉ
đạo chính sách siết chặt lưu thông
tiền tệ là công sứ Dodge. Ông này trước
là thống đốc Ngân hàng Detroit ở Mỹ,
được MacArthur mời và đă được
chính phủ Mỹ cử sang Nhật Bản. Ông
đă áp dụng chính sách siết chặt không thương
tiếc. Nhờ vậy, nạn lạm phát
được chặn đứng và vật giá
ổn định lại. Nhưng cũng v́
thế tiền tệ lưu thông bị tắc
nghẽn khiến cho các xí nghiệp vừa và
nhỏ nối đuôi nhau phá sản. Trong
hoàn cảnh đó, bộ trưởng Kho bạc
Ikeda Hayato chủ trương rằng, với chính
sách tài chính siết chặt Dodge như vậy,
nếu có dăm mười xí nghiệp vừa và
nhỏ phá sản, hoặc nếu người nghèo
có phải ăn lúa mạch, th́ âu cũng không
thể tránh khỏi. Xem
như thế đủ thấy cái tư tưởng
tiềm ẩn trong lời nói của Ikeda Hayato là
"tuân theo nguyên lư kinh tế." Nghĩa là
theo nguyên lư kinh tế, nếu có người
bị phá sản th́ đó là chuyện không tránh
được. Người có tài, có vận, có
nỗ
lực mà trở nên giầu có, được
ăn gạo, được tiêu xài nhiều, c̣n
người không được như vậy
đành chịu ăn lúa mạch, đành chịu
tiêu xài ít. Sự cách biệt như thế cũng
là chuyện đương nhiên. Lời
nói đầu tiên khi lên làm bộ trưởng
Kho bạc đă là sự khẳng định nguyên
lư kinh tế như vậy, cho nên, điểm này
có ư nghĩa trọng yếu trong vấn đề
t́m hiểu tư tưởng của Ikeda. Năm
1956 Ikeda Hayato lại làm bộ trưởng Kho
bạc trong nội các Ishibashi Tanzan (nội các kéo
dài trong 2 năm 1956 - 1957). Lúc này, quân đội
chiếm đóng không c̣n nữa , và "thể
chế năm ’55" đă xác lập. Ikeda đă
tự ḿnh đưa ra và tiến hành chính sách tài
chính tích cực. Chính sách như vậy là ngược
hẳn lại Đường lối Dodge của
nội các Yoshida đợt ba. Thời
đó có câu "Một trăm tỷ giảm
thuế, một trăm tỷ đầu tư."
Nghĩa là tăng chi phí xây dựng công tŕnh công
cộng một trăm tỷ Yen, th́ cũng
giảm thuế một trăm tỷ Yen. Một trăm
tỷ Yen thời đó có giá trị khác xa
với một trăm tỷ Yen thời nay, bởi
v́ lúc đó nó gần bằng một phần mười
tổng ngân sách quốc gia. Nếu là thời nay,
câu nói phải là "bảy ngàn tỷ giảm
thuế, bảy ngàn tỷ đầu tư." Đó,
Ikeda thi hành chính sách tài chính tích cực như
vậy đó. Dẫu có phải viết hàng
chữ đỏ trong sổ tài chính, ông vẫn
tiếp tục phục hồi sự phồn
thịnh, phát triển kinh tế. Nhờ thế
số thuế thu gia tăng, nhà nước
giầu có hơn, và kinh tế Nhật Bản tăng
trưởng lên. So
với chính sách thắt lưng buộc bụng
"người nghèo ăn lúa mạch"
thời nội các Yoshida, chính sách tài chính
của ông trở nên khác hẳn. Song tựu trung,
chúng có một điểm chung là, Ikeda chỉ làm
theo nguyên lư kinh tế. Có
một điều nên chú ư là Ikeda làm theo nguyên lư
kinh tế, là trong bối cảnh quan liêu chỉ
đạo, chứ không phải trong bối
cảnh kinh tế thị trường tự do.
"Kế hoạch gấp đôi thu nhập"
của Ikeda là tiến hành phát triển kinh tế
theo kế hoạch do quan liêu chỉ đạo sao
cho đúng với nguyên lư kinh tế. Nói cách khác,
ông đă đổi từ nền kinh tế
chỉ huy thời tiền chiến sang nền kinh
tế kế hoạch chỉ đạo. Thế
mà, năm 1960, khi nội các Ikeda được thành
lập, sắp sửa đưa ra "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập," Thủ tướng
Ikeda đă đưa ra chủ trương đầu
tiên của ông là "Khoan dung và nhẫn
nại." Nghĩa là, đối với các phe
đối lập, nội các ông phải biết
khoan dung, phải biết nhẫn nại đối
thoại thuyết phục họ. Đây chính là
"tư thế thấp," là thái độ
"nhũn như con chi chi." Vị thủ tướng
kế tiếp là Sato Eisaku đă tiến xa hơn
một bước, lấy khẩu hiệu là
"Khoan dung và hài ḥa." Câu này đă trở
thành danh ngôn, và được đảng Dân
chủ tự do tiếp tục dùng để
biểu hiện tư thế chính trị của ḿnh. "Tư
thế thấp" của Thủ tướng
Ikeda chính là phản đề của lời tuyên
bố lúc trước "Người nghèo hăy
ăn lúa mạch." Tuy nhiên, đây không
phải là lời nịnh bợ, lời nói
lấy ḷng suông. Ông thực sự đă xúc
tiến ba chính sách kinh tế cột trụ:
giảm thuế, bảo đảm xă hội và xây
dựng công cộng. Hướng
tia mắt nh́n của quốc dân vào nước
Mỹ giầu có Nh́n
vào toàn thể nội các Ikeda, người ta
thấy trọng điểm thứ nhất là kinh
tế, thứ nh́ cũng là kinh tế. Về
mặt ngoại giao, ông triệt để theo gót
Mỹ như phương châm của MacArthur nghiêm
chỉnh thực thi đường lối
Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ do nội
các Kishi đă xác lập. Ngay từ đầu,
thủ tướng Ikeda không hề có ư định
lấy điểm bằng chính sách ngoại giao. Các
đời thủ tướng trước đều
giải quyết những vấn đề
ngoại giao trọng đại: Thủ tướng
Yoshida kư Ḥa ước San Francisco (chấm dứt
t́nh trạng chiếm đóng Nhật Bản
bởi Quân đội Mỹ)[17],
Thủ tướng Hatoyama kư Hiệp ước
Nhật - Xô (phục hồi bang giao với Liên Xô),
Thủ tướng Kishi sửa đổi Hiệp
ước an ninh Nhật - Mỹ (đảm
bảo an ninh quốc pḥng). Sau Thủ tướng
Ikeda, Thủ tướng Sato Eisaku thu hồi
được các quần đảo Ogasawara và
Okinawa[18], rồi thủ tướng kế
tiếp là Tanaka Kakuei th́ phục hồi quan hệ
ngoại giao với Trung Quốc. Ông nào cũng
hoạt động mạnh về mặt ngoại
giao. Chỉ có Thủ tướng Ikeda Hayato là không
quan tâm tới vấn đề nào khác ngoài
vấn đề kinh tế cả. Cũng có
thể v́ ông muốn cho thấy Nhật Bản là
quốc gia coi trọng kinh tế nên đă cố
ư không nhúng tay vào bất cứ vấn đề
ngoại giao nào. Khi
Thủ tướng Kishi định sửa đổi
Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, th́
ở Nhật Bản có nhiều ư kiến khá
mạnh cho rằng Nhật Bản nên phế
bỏ Hiệp ước này, nên tách khỏi
khối tây phương, nên bước gần
tới khối Liên Xô hay trở thành nước
trung lập. Chính
v́ thế mà cuộc đấu tranh phản đối
Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ đă
trở nên kịch liệt và nội các Kishi
phải đổ. Đối lại, nội các Ikeda
chủ trương Nhật Bản nên giữ im
lặng trong khuôn khổ Hiệp ước an ninh
Nhật - Mỹ. Ngoài điều này ra, không nên
suy nghĩ ǵ khác cả. Ikeda đă khéo léo hướng
tia mắt quốc dân chú ư tới vấn đề
kinh tế, đến nỗi chủ trương vô
vi vô sách về ngoại giao như vậy đă
được mỗi người đồng t́nh. Khi
ra nước ngoài, Thủ tướng Ikeda lúc nào
cũng dương cao mục tiêu tăng trưởng
kinh tế 9%. V́ thế, các nước khác đă
gọi ông là "ông chín phần trăm."
Tổng thống Pháp De Gaulle th́ nói rằng: "Ông
ta (Ikeda) chỉ là một anh lái buôn transistor
chứ ǵ." Dưới mắt một người
chỉ miệt mài đi t́m vẻ vinh quang của
nền chính trị Pháp như Tổng thống De
Gaulle, Thủ tướng Ikeda chỉ nói về
kinh tế, hẳn bị coi là hạng tiểu nhân
(lái buôn transistor). Nhưng
xét cho cùng, chẳng phải Ikeda không làm ǵ có tính
chính sách ngoại giao đâu. Từ quan điểm
kinh tế ưu tiên, ông đă thành công trong
việc đổi hẳn h́nh ảnh nước
Mỹ trước con mắt người Nhật
thời đó. Thật
thế, Thủ tướng Ikeda nắm chính
quyền là ngay sau cuộc đấu tranh phản
đối Hiệp ước an ninh Nhật -
Mỹ. Cho nên cảm t́nh của người
Nhật đối với nước Mỹ hăy c̣n
khá phức tạp. Ngay
sau chiến tranh, MacArthur đă ghi vào con mắt người
Nhật ấn tượng tốt về nước
Mỹ: Mỹ tốt, Mỹ là cường
quốc, Mỹ là quốc gia thể hiện chính
nghĩa. Nhưng
kể từ sau khi kư kết Hiệp ước An
ninh Nhật-Mỹ, người Nhật trở nên
có mặc cảm sâu sắc đối với
Mỹ. V́ thế, đô vật wrestling chuyên
nghiệp người Nhật Rikidozan[19]
xuất hiện với những pha đ̣n
ngoạn mục vật ngă đối thủ người
Mỹ, đă làm cho người Nhật cảm
thấy vô cùng khoái trá. Bởi v́ chỉ
những lúc đó họ mới cảm thấy hơn
người Mỹ. Tay bơi Furuhashi Hironoshin hay vơ
sĩ quyền Anh Shirai Yoshio chắc cũng
vậy. Nhưng,
từ cuộc phản đối Hiệp ước
an ninh Nhật - Mỹ, ở người Nhật
bỗng nẩy ra một t́nh cảm mâu thuẫn
vừa là ác cảm về mặt chính trị
vừa là sự thèm khát về mặt vật
chất. Cuộc lộn xộn phản đối
Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ đă làm
cho người Nhật nghĩ rằng "Mỹ
không phải là quốc gia của chính nghĩa, mà
ngược lại Mỹ chỉ là một
thế lực chiến tranh lợi dụng
Nhật Bản thôi." Ư nghĩ này đă
được báo chí thổi phồng lên. Trong
bối cảnh như vậy, Thủ tướng
Ikeda lên nắm chính quyền, đă không đả
động ǵ tới vấn đề Mỹ có là
chính nghĩa không, mà chỉ nhấn mạnh vào
mặt kinh tế phong phú của Mỹ thôi.
Thời đó, có một từ rất phổ
biến là "sinh hoạt kiểu Mỹ (American
life)." Đó là sự mơ ước một
cuộc sống phong túc nhộn nhịp, có nhà
ở ngoại ô, đầy đủ tiện nghi
điện hóa, có xe ôtô riêng, hàng ngày vui thú
thể thao. Lập
trường ngoại giao của Thủ tướng
Ikeda là đánh giá cao sự phong túc vật
chất này, và Nhật Bản cũng sẽ
trở nên sung túc nếu kết hợp với
cuộc sống đó. Muốn vậy, Nhật
Bản phải có Hiệp ước an ninh
Nhật - Mỹ. Nếu không xích lại gần
Mỹ, kỹ thuật và đầu tư của
Mỹ cũng sẽ không có, xuất cảng hàng
hóa sang Mỹ cũng không được. Như
vậy ông đă thuyết giảng rằng sự
liên kết với Mỹ là thiết yếu,
Hiệp ước An ninh Nhật Mỹ là cần
thiết, và như vậy đă biến hiệp
ước này thành một phương tiện
để phát triển kinh tế. Để
đạt mục tiêu, ông đă tuyên truyền
cổ súy sự giàu có vật chất của
Mỹ, đă mỹ hóa cuộc sinh hoạt Mỹ
hơn cả thực tế. Lư luận của ông
là, duy tŕ cuộc sinh hoạt như vậy là
nền công nghiệp nặng và công nghiệp hóa
chất, cho nên Nhật Bản cũng phải phát
triển những công nghiệp này. Lại
nữa, nền công nghiệp ôtô phát triển
đă lôi kéo theo những công nghiệp khác. Cho nên
Nhật Bản muốn tăng trưởng kinh
tế cao độ, tất phải xây dựng
đường cao tốc và phát triển công
nghiệp ôtô. Nói
cách khác, ông xây dựng lư luận bằng cách
đưa kinh tế toàn diện ra trước,
rồi mới cài chính trị theo sau, để chính
đáng hóa đường lối theo đuôi
Mỹ. Với Ikeda, Hiệp ước An ninh
Nhật Mỹ cũng là một điều
kiện thiết yếu cho "Kế hoạch
gấp đôi thu nhập" của ông. Xây
nhà máy trước nhất để phát
triển địa phương Xét
lịch sử, người ta thấy những nhà
tài chính được quốc dân ngưỡng
mộ th́ rất hiếm. Những người hô
hào thôi chiến tranh v́ chiến tranh làm tài chính
bị khốn đốn, đều bị chê cười.
Ngược lại, tướng lănh thắng
trận th́ ở đâu cũng được hâm
mộ cả. Ở
Nhật Bản ngày xưa, Kato Kiyomasa chủ trương
đánh Triều Tiên đă được mỗi
người hâm mộ, nhưng Konishi Yukinaga
vận động chấm dứt chiến tranh,
mở mang thông thương, đă bị mỗi
người chê bai. Ở
bên Trung Quốc cũng vậy, đời Tống
có tướng Nhạc Phi chủ trương
đánh nước Kim của dân du mục phương
bắc, th́ được mỗi người tán
thưởng. Hiện nay c̣n miếu thờ
Nhạc Phi ở khắp Trung Quốc. Trong khi đó,
Tần Cối chủ trương nhượng
bộ cầu ḥa để duy tŕ sự ổn
định kinh tế, v́ t́nh trạng tài chính không
cho phép chiến tranh, th́ bị mọi người
ghét. Thậm chí, ở một góc những
miếu thờ Nhạc Phi, người ta đều
thấy có tượng đá vợ chồng
Tần Cối bị trói hai tay lại sau lưng,
để cho người đi lễ nhổ nước
bọt lên trước khi ra về. Nhờ
đường lối tài chính mà được
quốc dân hâm mộ là chuyện hi hữu.
Thủ tướng Ikeda được quốc dân
hâm mộ có thể quy tất cả vào đường
lối kinh tế tài chính của ông. Ông đă hướng
xă hội Nhật Bản tới trạng thái tâm
lư chấp nhận điều đó. Ông
đă làm thế nào để được như
vậy. Trước nhất, ông đă áp dụng
chính sách tài chính tích cực gồm ba cột
trụ "giảm thuế, bảo đảm xă
hội và xây dựng công cộng." Nhờ
thế, thày thuốc, hiệu thuốc, nhà
thầu xây dựng làm ăn phát đạt có
lời to, các công ty sản xuất đồ
điện và chế tạo ôtô đă phát
triển lớn. Quốc dân thời đó đều
muốn có đồ điện gia dụng và xe
ôtô. Thứ
hai, ông đă chuyển đổi cấu tạo
từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp
nặng: giảm bớt sản phẩm xuất
cảng chủ yếu của Nhật Bản
thời đó là hàng may dệt và tạp hóa, tích
cực tập trung đầu tư vào hoặc cho
vay tiền những ngành nghề chế tạo công
nghiệp nặng như sắt thép, ôtô, điện
máy v.v.. Đồng
thời xúc tiến chỉnh trang đất đai
cho công nghiệp nặng và hóa chất. Cụ
thể, là trong "Kế hoạch tổng hợp
khai thác toàn quốc," ông chỉ định nơi
thành lập những "đô thị công
nghiệp mới," hay "khu vực đặc
biệt để triển khai công nghiệp,"
rồi trợ cấp tài chính cho xây dựng công
cộng như san lấp mặt bằng, làm
đường xá, chỉnh trang bến cảng,
v.v.. Trong
không khí coi công nghiệp dẫn đầu sự
phát triển địa phương như
vậy, các đơn vị hành chính địa
phương đều đua nhau thu hút nhà máy
về địa phương ḿnh. Những nhà máy
như vậy đă đóng góp lớn lao vào
sự phát triển công nghiệp của Nhật
Bản qua sản xuất đại trà theo quy cách. Nhờ
đất đai được chỉnh trang
thuận tiện cho sự xây dựng nhà máy công
nghiệp nặng và hóa học, những thành
phố như Yokkaichi, Mizushima, Kashima, ... đă
biến thành những đô thị công nghiệp
mới trên toàn quốc. Nhờ thế, những
ngành công nghiệp chế tạo, nhất là công
nghiệp nặng và hóa học, đă mua
được đất rẻ để xây nhà
máy, công nhân viên dễ mua được nhà
ở gần nơi làm việc, thậm chí
việc chuyên chở dầu thô, quặng sắt
từ ngoại quốc vào cũng thuận
lợi. Đó
là lư thuyết về tính dẫn đầu
của công nghiệp nặng. Muốn phát
triển địa phương, trước
hết hăy thu hút đầu tư vào các nhà máy
chế tạo quy mô lớn. Những cơ sở
chế tạo nhỏ và các ngành nghề phục
vụ như bán lẻ sẽ tự động phát
triển theo. Khi những nhà máy công nghiệp quy mô
được xây dựng rồi, th́ tự nhiên
phố phường buôn bán sầm uất nhờ
việc mua sắm của công nhân viên nhà máy. Trường
học tăng thêm số lượng học sinh,
bệnh việc đông khách hơn, tiệm ăn
và khách sạn đều đắt khách lên. Lư
thuyết là như vậy. Thời
nội các Ikeda, các tỉnh trưởng hay
thị trưởng đều tin rằng muốn
cho địa phương ḿnh phát triển,
họ phải đi vay tiền chỉnh trang khu công
nghiệp, lắp đặt hệ thống nước
công nghiệp, xây đắp đường xá,
sửa sang bến cảng. Họ đă không
tiếc tiền đổ vào chỉnh trang đất
công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ
tầng, với mục đích thu hút đầu tư
nhà máy chế tạo công nghiệp nặng và hóa
chất. Lư
thuyết về tính dẫn đầu của công
nghiệp nặng như trên, là hoàn toàn sai, sai
cả về mặt lịch sử lẫn sai
về mặt lư luận. Các đô thị trên
thế giới phần lớn được h́nh
thành từ một ngành thứ ba[20]. Không phải không có thành phố
xuất phát từ một nhà máy, nhưng rất
ít, và quy mô nhỏ. Thế
mà, "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập" lại lư giải khả năng
dẫn đầu của công nghiệp nặng
bằng lư luận "trước hết là nhà
máy." Cơ quan hành chính địa phương
đều đổ xô vào xây dựng nhà máy công
nghiệp nặng và hóa chất. Nhờ đó
việc hiện đại hóa sản xuất
đại trà theo quy cách đă hoàn thành nhanh chóng. Bộ
Thương mại quốc tế và công
nghiệp tuyên truyền phổ cập nhăn
hiệu JIS (quy cách công nghiệp Nhật Bản:
Japanese Industrial Standard), đồng thời bộ Nông
lâm cũng đưa ra nhăn hiệu JAS (quy cách nông
nghiệp Nhật Bản: Japanese Agricultural Standard).
Gạo, rượu sake, nhất nhất cái ǵ cũng
quy cách hóa. Nhiều mặt hàng đă bắt
đầu từ thời trước chiến
tranh, nhưng trong "Kế hoạch gấp đôi
thu nhập," chủng loại sản phẩm
đă được giảm bớt đi để
dễ tiến hành sản xuất đại trà.
Việc làm như vậy được coi là chính
đáng. Cơ
cấu lưu thông hàng hóa và h́nh thức bán
lẻ cũng được cải cách cho phù
hợp với sản xuất đại trà theo
quy cách. Nhiều siêu thị quy mô lớn xuất
hiện để bán thật nhiều sản
phẩm theo quy cách. Không chỉ có thế. Thông
tin, tin tức về sản phẩm cũng
được phát ra tập trung từ Tokyo.
Mỗi thông tin nếu xuất phát từ Tokyo th́
lập tức sản phẩm theo đúng quy cách
liền được lưu thông ra khắp
cả nước, tạo ra một xă hội
đồng chất trên toàn quốc. Nói
tóm lại, nội các Ikeda đă coi năng
suất là chính nghĩa xă hội tố cao. Quy
cách hóa con người và tập trung dân số vào
thành thị Vấn
đề quy cách hóa con người và giáo
dục đại trà theo quy cách cũng được
nghĩ ra và thực hiện. Giáo tŕnh giáo dục
được ấn định, bản chỉ
đạo giáo dục được soạn ra và
trường học trên toàn quốc nhất
loạt giảng dạy cùng một nội dung.
Việc chỉ đạo học sinh chủ
yếu là làm mất khuyết điểm đi, hơn
là chú trọng tới phát triển ưu điểm.
V́ thế, tất cả học sinh đều
trở thành tương tự như nhau, không có
sở trường cũng không có khuyết điểm,
tất cả đều trở thành những con
người "tṛn trĩnh," nghĩa là không
"gai góc," không bướng bỉnh. Áp
dụng phép chấm điểm năm bậc, th́
học sinh giỏi đều được điểm
5 cho mỗi môn học, học sinh trung b́nh
được điểm 3. Năng lực
của người ta được đo
bằng độ lớn của khuyên tṛn. Khuyên
tṛn là nói trị giá thiên lệch trong thống kê
năng lực của học sinh. Nghĩa là
chỉ một khuyên tṛn như vậy đủ
đánh giá con người! Ở
Mỹ hay ở châu Âu, người ta chú trọng
tới phát triển cá tính. Cho nên học sinh có
đứa giỏi thể thao nhưng dốt toán,
có đứa giỏi toán sau này có khả năng
làm giáo sư đại học được nhưng
kém về thể thao. Có một dạo bộ phim
Forest Gamp khá được hâm mộ ở
Nhật Bản. Forest Gamp đỗ vào đại
học được v́ là cầu thủ bóng
đá Mỹ[21]
chứ chữ cũng chưa viết được
ra hồn (về sau bỏ ngang). Nhưng
ở Nhật Bản, dù cho giỏi thể thao
đến mấy, nhưng nếu không khá toán,
quốc văn, Anh văn th́ không sao vào đại
học được. Ngay vào đại học
Mỹ thuật để học vẽ, cũng
phải học toán. Sở dĩ như vậy là
từ khi có pháp lệnh về trường
học quốc dân trong thời chiến tranh,
rồi nội các Kishi làm chặt chẽ hơn, và
nội các Ikeda thực thi triệt để. Đó
là ư tưởng tạo ra con người thích
hợp cho sự sản xuất đại trà theo
quy cách. Mặt
trái và mặt phải của sự việc đă
được thể hiện rơ rệt trong
sự tập trung dân số vào các đô thị.
Song song với tiến độ triển khai
sự chế tạo đại trà, lớp
trẻ đă tập trung vào các thành thị. Kết
quả là thôn quê trở thành vắng người.
Người ít tuổi ra thành thị, làm việc
trong nhà máy chế tạo đại trà, bán hàng
cho các siêu thị lớn. Ở thôn quê chỉ c̣n
lại lớp người trung cao niên mà thôi. Nội
các Ikeda có phần khuyến khích t́nh trạng này
để có lực lượng lao động cho
đô thị. Chính phủ xúc tiến xây dựng
những khu chung cư quanh đô thị để
cung cấp nhà ở cho đám người từ
nông thôn ra thành thị làm việc cho những xí
nghiệp sản xuất đại trà. Đồng
thời, chính phủ cũng cho chỉnh trang
hệ thống đường sắt chuyên
chở mau chóng và rẻ tiền. V́ coi năng
suất là hàng đầu, cho nên nội các Ikeda
đă xúc tiến đường lối
đưa đến sự tập trung thái quá và
sự thưa thớt thái quá của dân số.
Đó là phản ánh của tư tưởng quán
triệt nguyên lư kinh tế vậy. Người
dân Nhật nhờ "Kế hoạch gấp
đôi thu nhập" đă mau chóng trở nên
giầu có. Điều lo lắng về khoảng cách
giầu nghèo, đă không xẩy ra, nhưng
vấn đề quá đông và quá vắng
của dân số, đă xẩy ra. Thế rồi,
nơi quá đông người phát sinh vấn
đề ô nhiễm môi trường, mà ngay
những người chê bai kế hoạch cũng
không nghĩ ra lúc ban đầu. Tăng
cường thể chế chỉ đạo
của quan liêu (công chức) Thêm
một ảnh hưởng trọng đại
nữa của chính trị gia Ikeda Hayato là sự
cấu kết của ba giới: chính trị, quan
liêu và kinh tài, qua sự tăng cường
thể chế chỉ đạo của giới
quan chức. Cho
đến khoảng 15 năm sau chiến tranh,
tức là với những nội các Yoshida, Hatoyama
và Kishi, tư tưởng và cơ chế dân
chủ do MacArthur vun trồng c̣n giữ được
một phần. Chứ tới nội các Ikeda
với "Kế hoạch gấp đôi thu
nhập," cơ chế quan liêu chỉ đạo
càng mạnh. Tầng lớp quan chức có
quyền lực lớn qua kiểm soát quy cách và
quản lư xây dựng công cộng. Đám
chính trị gia xuất thân từ quan trường
như Thủ tướng Ikeda, cùng đám quan
chức đương nhiệm ở các bộ
sở trung ương đă nắm tay nhau, xúc
tiến kiến thiết đường bộ,
đường sắt, chung cư, thiết bị
đô thị. Các chính trị gia như Ikeda đă
đồng t́nh ủng hộ và rót tiền vào
những dự án do quan liêu thảo ra để
nuôi dưỡng mô h́nh sản xuất đại
trà theo quy cách của công nghiệp nặng và hóa
chất. Như
thế, đô thị cũng như địa phương,
tất cả đều trở thành giống nhau
nhất loạt không có cá tính ǵ cả nữa.
Trường học cũng vậy, trở thành
đồng chất không c̣n đặc điểm
ǵ nữa. Việc không làm được ngay
cả trong thời kỳ chiến tranh, đă làm
xong dưới thời Thủ tướng Ikeda. Tổ
chức quan liêu được thêm sức
mạnh như vậy đă kết hợp với
đảng Dân chủ tự do. Đồng thời,
dưới sự chỉ đạo của quan liêu,
các đoàn thể ngành nghề cũng được
tăng cường. Ví
dụ, các xí nghiệp trong Liên minh sắt thép bàn
bạc với nhau, rồi quyết định phân
chia ḷ luyện thép với nhau, chẳng hạn, Công
ty A ba ḷ, Công ty B hai ḷ, Công ty C một ḷ, v.v..
Rồi quyết định như vậy
được đem đến Bộ Thương
mại quốc tế và công nghiệp tŕnh
bẩm: "Như vầy được chăng?"
Các quan bèn phán: "Như thế hơi nhiều.
Cắt bớt một ḷ đi." Trong quá tŕnh
chỉ đạo như vậy, quyền hành
của quan liêu ngày một mạnh hơn lên. Một
h́nh thức khen thưởng đă được
lợi dụng để tăng cường
sự chỉ đạo của quan liêu, là huân chương.
Thời MacArthur, huân chương đă bị
bỏ đi, nhưng sau lại phục hồi, và
được dùng làm đón bẩy cho sự
chỉ đạo của quan chức. Khi một
doanh gia trở thành chủ tịch của một
đoàn thể ngành nghề, th́ có chính sách khen
tặng huân chương hạng nhất. Đương
nhiên, nếu thuận theo sự chỉ đạo
của quan liêu, th́ dễ trở thành chủ
tịch như vậy. Cho nên, các doanh gia ham
muốn huân chương đă ngoan ngoăn nghe theo
quan chức. Quan
chức làm trung tâm, giật dây điều
khiển một bên là đám chính trị gia
thuộc đảng Dân chủ tự do, một bên
là các đoàn thể ngành nghề, tạo ra
một thể chế ḥa hợp do quan chức
chỉ đạo. Có thể nói, thể chế như
vậy đă được xác lập là vào
thời kỳ nội các Ikeda. Từ
giới doanh nghiệp, tiền cúng cho chính trị
gia đă được đổ ra. Để bù
lại, chính trị gia đóng vai truyền đạt
ư hướng của giới doanh nghiệp
tới quan liêu. Quan chức suy nghĩ đắn
đo. Chính trị gia lại lợi dụng
sự suy nghĩ đắn đo như vậy
của quan chức. Nghĩa là, một h́nh tam giác
hỗ trợ lẫn nhau đă thành h́nh, gọi là
"tam giác chính trị - quan chức - doanh
nghiệp." Trong
tam giác đó, quan chức có sức mạnh
nhất. Luật pháp cấm chính trị gia không
được hoạt động cho một xí
nghiệp cá biệt, cho nên họ phải hoạt
động với danh nghĩa cho toàn thể
giới doanh nghiệp thông qua các bộ sở
trung ương để được ủng
hộ tiền hoạt động chính trị. Có
câu nói "chính tri gia nào bị quan chức ghét
th́ không mở mặt được." Câu này
là biểu hiện một truyền thống do
nội các Ikeda và bè phái Ikeda trong đảng Dân
chủ tự do tạo ra. Cái
thể chất tiền và quyền như vậy
khiến cho kinh tế tăng trưởng, tích
cực xúc tiến xây dựng công cộng và phát
triển công nghiệp nặng. Thể chất này
mỗi năm một được tăng cường.
Đến nỗi,
người ta quan niệm rằng, chỉ có
nhờ các nghị viên đảng Dân chủ
tự do mới có tiền tài trợ, chứ các
đảng khác th́ không xong. Do đó, đảng
Dân chủ tự do mỗi ngày một vững vàng
hơn. Thậm chí, tiến thêm một bước
nữa tới "thời đại phe phái
lớn" trong đảng Dân chủ tự do. Sức
mạnh của Hội Hoằng Ch́[22]
trong việc thâu góp tiền ủng hộ Lịch
sử phe phái trong nền chính trị Nhật
Bản bắt đầu từ thời cuối
nội các Yoshida, từ sau khi các chính trị gia
thoát khỏi lệnh thanh trừng công chức.
Những người như Hatoyama Ichiro, Miki
Takeyoshi đă được phục quyền sau
khi lệnh trên hết hiệu lực. Họ
lập ra phe phái để chống lại h́nh
thức độc tài của thủ tướng
Yoshida. Đến thời nội các Kishi, th́ xung quanh
những chính trị gia có máu mặt, có khả năng
quyên tiền lớn đă kết tụ thành phe
phái. Khi nội các Hatoyama đợt thứ ba
từ chức và nội các Ishibashi thành lập,
người ta đă thấy những phe nhóm như
phái Ono, phái Kono, v.v., hoạt động mạnh
mẽ. Kết quả vận động của
những phe phái này, là ba người đă ra
ứng cử chức chủ tịch đảng Dân
chủ tự do. Đó là Kishi, Ishibashi và Ishii. Kishi
được nhiều phiếu nhất, nhưng
người thứ nh́ Ishibashi và người
thứ ba Ishii hợp lực lại, đánh
bại Kishi bằng 7 phiếu và do đó Ishibashi
đă đứng ra lập nội các (Ngay sau
đó, ông ngă bệnh). Việc này để
lại vết rạn nứt làm cho các phe phái
đối lập nhau măi. Cho
tới đó, đại biểu phe phái đều
là những nhân vật có sức quyến rũ cá
nhân và săn sóc đàn em chu đáo. Nhưng
kể từ nội các Ikeda trở đi, phe phái
trở thành một tổ chức mạnh vượt
ra ngoài tầm của cá nhân người đại
biểu. Khi Ikeda qua đời, Hội Hoằng Ch́
vẫn không v́ thế mà tan ră. Tức thời,
Maeo Shige-Saburo kế thừa. Maeo từ chức, th́
Ohira Masayoshi thế chân. Ohira mất đi, th́
Suzuki Zenko kế tiếp. Sau Suzuki là Miyazawa Ki’ichi[23].
Nghĩa là phe phái trở nên một tồn
tại tách rời khỏi cá nhân của người
đại biểu. Khác
với phái Ikeda kể trên, những phái khác như
phái Ono, phái Kono và phái Kishi đă phân tán rồi
hợp nhất với phe khác mỗi khi lănh
tụ qua đời hay thay đổi. Thế
rồi phái cực lớn do Thủ tướng
Sato Eisaku lập ra, khi Sato nghỉ hưu, cũng tách
ra làm hai, là phái Fukuda và phái Tanaka mới ổn
định. Phái Kono được Thủ tướng
Nakasone Yasuhiro kế thừa, đổi thành phái
Nakasone cũng hoạt động thành một
tổ chức hợp nhất. Cuối cùng là
một phái "nhỏ nhưng lâu đời"
do Thủ tướng Miki Takeo lập ra. Như
vậy, là h́nh thành đầy đủ phe phái
trong đảng Dân chủ tự do: bốn phái
lớn và một phái nhỏ, thường nói là
"bốn sư đoàn cộng với một liên
đội.[24]" Tại
sao khác với phái Kono và phái Ono, phái Ikeda (Hội
Hoằng Ch́) lại xác lập thành một tổ
chức chắc nịch được? Đó là v́
họ kết hợp với giới kinh doanh nên
nhận được tiền ủng hộ đều
đều. Đó cũng là nhờ sự nh́n xa trông
rộng của cố thủ tướng Ikeda nghĩa
là, sau khi ông mất rồi, người kế
vị ông vẫn thu thập được
tiền ủng hộ của giới kinh tài. Tóm
lại, khi t́m hiểu thể chế hậu
chiến của Nhật Bản, người ta
thấy Ikeda Hayato và "Kế hoạch gấp
đôi thu nhập" do nội các của ông làm
ra, quả là có ư nghĩa trọng yếu đặc
biệt. Trong
thập niên 1990 này, điều mà Nhật Bản
đang cần phải giải quyết, chính là
cải cách "cấu tạo gấp bội thu
nhập." Cấu tạo như vậy lấy
tiền đề là kinh tế tăng trưởng,
xí nghiệp lớn ra, thu nhập của cá nhân tăng
lên. Đương nhiên, như vậy thuế cũng
tăng lên. Giá đất và giá cổ phiếu
phải tăng đều đều lâu dài. Xí
nghiệp đầu tư trước để
khuếch đại quy mô sản suất, th́
chắc chắn có lời. Dù không có lời thường
niên hay lời doanh nghiệp ngay, th́ "tài
sản theo thời giá" tăng lên, thành ra cũng
như có lời. Người từ thôn quê ra
tỉnh thành đông đúc, cho nên phải đầu
tư vào chung cư, vào đường xe điện
ngầm. Như vậy, giá đất đai
tất sẽ lên cao. Thành ra, người nào mua nhà
sớm ắt có lời. Phủ
nhận sự bất an chính trị và tư tưởng
cách mạng, hướng con mắt quốc dân nh́n
vào vấn đề kinh tế, cái ǵ cũng nghĩ
theo chiều hướng tích cực. Đó là tư
tưởng hậu chiến được nuôi dưỡng
từ thời đại "gấp đôi thu
nhập" vậy. "Kế
hoạch gấp đôi thu nhập" không
những chỉ đẻ ra sự tăng trưởng
kinh tế. Nó c̣n làm cho kỹ thuật tiến
bộ và xí nghiệp lớn lên. Do đó, giá
đất và giá cổ phiếu tăng. Tương
lai th́ nhuốm màu hồng, cho nên xí nghiệp
hễ đầu tư trước là có lời.
Xí nghiệp v́ thế chăm lo cuộc sống
của công nhân viên, trong khi công nhân viên th́
thấy cuộc đời quy thuộc vào xí
nghiệp là an tâm, là có lợi. Nhờ đó
"xă hội chức lộc" đă xác
lập. Thế
nhưng điều kiện cơ bản hiện
nay đă làm cho cơ chế xă hội
"gấp đôi thu nhập" và niềm tin tâm
lư do Ikeda Hayato cấy vào người Nhật
Bản, đă dần dần biến đổi.
Người ta phải có can đảm nh́n
thẳng vào hiện thực như vậy. [1] Nguyên văn là Kinken, tức "Kim quyền" nếu đọc âm Việt Nam của từ Hán Nhật gốc. Kim quyền là quyền lực phát sinh ra từ đồng tiền, quyền lực nhờ có tiền mà có được. [2] Sách này xuất bản vào gần cuối thể kỷ thứ XX nên viết như vậy cho người ta dễ tính tuổi tác của nhân vật nói đến. Nhưng, nay đă sang thế kỷ thứ XXI, nên phải hiểu rằng: "số tuổi chẵn của ông bằng số năm của thế kỷ thứ XXI cộng với 100." Nói cách khác, nếu Ikeda Hayato c̣n sống th́ năm 2003 tuổi ông là 103. [3] Học chế của Nhật Bản thời trước chiến tranh khác với ngày nay. Thời đó, trường tiểu học là 6 năm, trường trung học 5 năm (trừ vài năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới lấn thứ hai, được rút lại thành 4 năm). Ở trên trường trung học này là trường "cao đẳng," với thời gian học 3 năm. Tất cả có 5 trường cao đẳng được thiết lập, với tên gọi theo số thứ tự từ Đệ nhất cho tới Đệ ngũ. Trường "cao đẳng" như vậy thực chất là trường dự bị đại học. Đại học Quốc gia theo chế độ cũ là 3 năm. Như vậy tổng cộng thời gian từ tiểu học tới hết đại học là 17 năm, tức là dài hơn hiện nay 1 năm. V́ thế, người ta thường coi những người tốt nghiệp đại học thời trước chiến tranh tương đương với bậc Cao học (Thạc sĩ). [4] Shikoku là một trong bốn ḥn đảo lớn tạo thành quần đảo Nhật Bản. Xưa, một cao tăng tên là Không Hải (Hoàng Pháp Đại sư) đă tu hành ở đảo đó. Người này đă từng sang Trung Hoa đời nhà Đường (năm 804) học đạo, rồi về Nhật Bản lập ra một giáo phái Mật tông gọi là Shingonshu. 88 linh địa là những chùa chiền có vết chân vị thánh tăng này. Người Nhật, khi muốn cầu xin điều ǵ, chẳng hạn làm ăn phấn chấn, trị bệnh nan y, v.v., thường hay đi hành hương 88 linh địa này. [5] Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản khai chiến với Mỹ bằng cách oanh tạc Pearl Harbour (Chân Châu Loan. Ở Việt Nam, địa danh này quen goi Trân Châu Cảng. Chân Châu Loan là tên Nhật đọc âm Hán-Việt). [6] "Công chức" ở đây là những chức vụ công cộng, như nghị viên, quan liêu (công chức, theo nghĩa hẹp), hoặc những địa vị lănh đạo trong giới chính trị, giới kinh tài, giới ngôn luận, v.v.. Một trong những chính sách dân chủ hóa do bộ Tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng Nhật Bản của MacArthur thực thi, là năm 1946, cấm không cho những người theo chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa quốc gia làm "công chức." Số người như vậy là khoảng 200 ngàn. Tháng 4 năm 1952, sau khi Ḥa ước San Francisco bắt đầu có hiệu lực, th́ lệnh cấm này hết hiệu lực. [7] Ở Nhật Bản, tổ chức nào cũng có một thứ tự rơ rệt cho sự xếp đặt vị thứ các thành viên. Với nội các, thủ tướng đứng đầu là lẽ đương nhiên, nhưng dưới thủ tướng các bộ trưởng xếp hàng ra sao th́ có thứ tự hẳn hoi. Theo truyền thống, đứng đầu là bộ trưởng Tư pháp, rồi đến bộ trưởng Ngoại giao, bộ trưởng Kho bạc, v.v.. Xem như vậy th́ vị trí bộ trưởng Kho bạc trong nội các là vô cùng trọng yếu. [8] Năm 1993, lần đầu tiên trong gần 40 năm liên tục nắm giữ chính quyền, đảng Dân chủ tự do đă phải nhường chính quyền cho một nội các liên hiệp do thủ lănh một đảng Bảo thủ, là Hosokawa Morihiro cầm đầu. Takemura là thủ lănh một đảng trong nội các liên hiệp, nên đă được giữ ghế bộ trưởng Kho bạc. [9] Một trong bộ ba cán bộ lănh đạo của đảng Dân chủ tự do Nhật Bản. [10] Vụ này xẩy ra năm 1954, trong đó giới công nghiệp đóng tàu và đảng cầm quyền bị nghi ngờ có sự lén lút đưa và nhận hối lộ. Bộ trưởng Tư pháp Inukai Takeru đă sử dụng quyền chỉ huy chấm dứt cuộc điều tra của viện Kiểm sát, khiến vụ việc bị ém nhẹm đi không bao giờ phơi bày ra ánh sáng nữa. [11] Người ra điều trần trước Quốc hội có hai h́nh thức: Người làm chứng và người tham khảo. Người làm chứng th́ phải tuyên thệ và nếu khai man sẽ bị xử theo luật định. Người tham khảo không phải tuyên thệ. [12] Nguyên văn là Banshoku Daijin, tức là bộ trưởng chưa có thực lực, chỉ làm "cảnh" trong những bữa tiệc thết đăi khách quư mà thôi. [13] Thủ tục thông qua một dự án hiệp ước hay dự án luật ở quốc hội Nhật Bản là như sau. Trước hết Hạ nghị viện thảo luận rồi biểu quyết. Sau đó mới đến Thượng nghị viện thảo luận và biểu quyết. Nếu Thượng nghị viện không thông qua, dự án được trả về cho Hạ nghị viện thảo luận lại. Tuy nhiên, dù cho Thượng nghị viện có biểu quyết nghịch, th́ biểu quyết thuận của Hạ nghị viện vẫn là ưu tiên. 30 ngày sau khi Hạ nghị viện đă thông qua, th́ dự án thành lập một cách tự nhiên. [14] Nói chung, các chính trị gia khôn khéo thường áp dụng mánh lới "kẹo ngọt và roi vọt." Để thực thi một chính sách cứng rắn (sửa đổi Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ, roi vọt), người ta ghép đôi nó với một chính sách khác mềm dẻo (gấp đôi lương tháng, kẹo ngọt). [15]
Jinmu là Thiên hoàng đầu tiên, một người
trong thần thoại của Nhật Bản.
Theo truyền thuyết th́ ông lên ngôi vua năm
660 trước Công nguyên. Từ thời Jinmu là
nói từ lúc khai thiên lập địa. [16] Joseph Morrell Dodge (1890-1964), doanh gia ngân hàng, tới Nhật Bản năm 1949 làm cố vấn cho bộ Tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng Nhật Bản. Đường lối Dodge là chính sách ông vạch ra nhằm mục tiêu ổn định và tự lập cho nền kinh tế Nhật Bản. Đường lối này nói chung là đường lối siết chặt lưu thông tiền tệ. [17] Năm 1951, tức là 6 năm sau khi Nhật Bản đầu hàng, Ḥa ước San Francisco đă được kư kết, chấm dứt sự chiếm đóng Nhật Bản bởi Quân đội Đồng minh. Tuy nhiên, để thay thế, Nhật Bản và Mỹ đă kư kết Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ theo đó quân đội Mỹ tiếp tục đồn trú tại Nhật Bản, song không c̣n với tư cách quân đội chiếm đóng nữa, mà chỉ là quân đội đồng minh bảo vệ an ninh quốc pḥng theo Hiệp ước An ninh đó. [18] Việc thâu hồi chủ quyền những phần đất đă bị mất bởi chiến tranh bằng thương lượng không tốn một viên đạn, đă được đánh giá cao và thủ tướng Sato Eisaku đă được Giải Nobel Ḥa B́nh năm 1975. [19] Người Nhật gốc Triều Tiên, tên thật là Momota Mitsuhiro, vốn là đô vật Sumo, chuyển sang vơ vật Wrestling chuyên nghiệp, nhiều lần đoạt chức vô địch thế giới của môn vơ vật này. [20] Kỹ nghệ thứ ba (tertiary industries) là các ngành nghề phục vụ (services industries) như khách sạn, siêu thị, nhà hàng ăn uống, công ty du lịch,... [21] American football, một môn thể thao dùng bóng dẹt, rất hung bạo, khác với bóng đá Anh, gọi là soccer. [22] Hội Hoằng Ch́ là tên gọi của phái Ikeda trong đảng Dân chủ tự do. Hoằng là to lớn, Ch́ là ao, là chuôm. Vậy Hội Hoằng Ch́ là Hội Ao Lớn. Sở dĩ lấy tên như vậy là v́ tên thủ tướng Ikeda nếu viết chữ nho là Ch́ Điền, tức là Ao Ruộng, cho nên nhóm nghị viên ủng hộ ông họp thành một phái lấy một chữ trong tên ông đặt tên phái là Hội Hoằng Ch́. [23] Chỉ trừ Maeo, c̣n cả ba ông Ohira, Suzuki và Miyazawa đều đă làm thủ tướng. [24] Đây là h́nh ảnh đảng Dân chủ tự do Nhật Bản vào khoảng năm 1997. Người ta nói, chính trường Nhật Bản là sân khấu "ly hợp tụ tán," cho nên h́nh ảnh hiện nay của đảng này không phải là như thế này nữa.
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
..........
|