|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi Người dịch : Đặng Lương Mô Chương 10 : MacArthur Thí
nghiệm biến Nhật Bản thành một
"nước Mỹ lư tưởng" Tốt
nghiệp thủ khoa trường vơ bị Westpoint Nguyên
soái[1]
Douglas MacArthur đă được chọn làm người
thứ mười trong "Mười hai người
lập ra nước Nhật." Đây là người
ngoại quốc duy nhất được
chọn. Xét
nước Nhật hơn 50 năm sau chiến
tranh, người ta sẽ thấy ảnh hưởng
vô cùng lớn của quân đội chiếm
đóng Nhật Bản như tượng trưng
bởi MacArthur. Việc Douglas MacArthur, một quân
nhân Mỹ có cá tính cương cường,
tổng chỉ huy quân đội Liên hợp
quốc, đă thống suất Đại Bản
doanh chiếm đóng Nhật Bản, là sự
kiện đă mang lại ảnh hưởng không
nhỏ cho nước Nhật ngày nay. Trước
nhất hăy kể lại lư lịch của nhân
vật này. Douglas
MacArthur sinh năm 1880 tại Little Rock, bang Arkansas,
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Arkansas cũng là
bang xuất thân của Tổng thống Bill Clinton,
và Little Rock là thủ phủ bang này. Cha, Arthur
MacArthur, cũng là quân nhân lục quân, đă
hạ sinh Douglas trong khi đồn trú tại Little
Rock. Như
vậy, ông không là người miền Nam chính tông.
Trong sách tự truyện, MacArthur đă dài ḍng
kể rằng tổ tiên ḿnh thuộc ḍng dơi danh
gia thế phiệt Scotland. Sự kiêu hănh về
gia thế như vậy, đă ảnh hưởng
tới ngôn từ và phong cách rất đặc trưng
của ông. Thời
niên thiếu, cha ông đă giữ chức tổng
tư lệnh quân đội đồn trú
Philipines, lúc ấy mới trở thành thuộc
địa của Mỹ. Vào cuối thế
kỷ thứ XIX, Philippines đă được Tây
Ban Nha cát nhượng cho Mỹ làm thuộc địa,
do kết quả cuộc chiến tranh Mỹ - Tây
Ban Nha. Thời
đó, Philippines chưa được khai phá
mấy. Đó cũng là thời kỳ người
da trắng chiếm ưu thế và chủ nghĩa
thực dân đang độ phát triển mạnh
mẽ. Thiếu niên Douglas đă trưởng thành
trong bối cảnh như vậy, với tư cách
là con trai vị tổng tư lệnh quân đội
đồn trú Philippines. Douglas
lớn lên, vào học trường Sĩ quan
Lục quân Westpoint, rồi tốt nghiệp
thủ khoa với thành tích ưu tú một cách
kỷ lục. Trường vơ bị Westpoint là nơi
đă đào tạo ra hầu hết sĩ quan
của lục quân Hoa Kỳ. Thế mà thành tích
của Douglas đến nay vẫn c̣n được
truyền tụng. Nghe nói, ông đọc nhiều
biết rộng và có trí nhớ kinh dị. Năm
1905, nhân cha ông trở thành vơ quan quan sát cuộc
chiến tranh Nhật - Nga, c̣n ông đă là sĩ
quan trợ lư, và do đó đă ở Nhật
một thời gian ngắn. Đến
thời kỳ cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất, khi Mỹ tham chiến, ông
đă đề nghị thành lập sư đoàn
Rainbow (Cầu Vồng) gồm toàn binh sĩ đặc
biệt tinh nhuệ.
Đề nghị được chấp thuận, ông
đă đích thân làm tham mưu trưởng
chỉ huy sư đoàn này. Tên Cầu Vồng là
hàm cái nghĩa cầu nối giữa Mỹ
với Âu châu và phô trương một sư
đoàn tinh nhuệ như trong mộng. Nội
việc đề xuất sự thành lập
một sư đoàn tinh nhuệ, rồi đích
thân đứng làm tham mưu trưởng, cũng
đủ rơ cái ư thức êlít và ư muốn chơi
trội như thế nào rồi. Sau
đó, năm 1919, ở tuổi 39, ông đă
trở thành Hiệu trưởng Trường Sĩ
quan Lục quân và năm 1925, ở tuổi 45, ông
đă được phong Trung Tướng[2]
(Major General). Cả hai chức danh trên đều là
kỷ lục về độ tuổi thấp
nhất.
Điều này chứng tỏ ông là thành phần siêu
ưu tú của lục quân Mỹ vậy. Tuy
nhiên, cần chú thích ít nhiều về Douglas
MacArthur. Đó là, giai đoạn hoạt động
nhất của đời quân nhân của ông,
tức là những năm từ 1925 tới 1930,
lại rơi vào thời kỳ giải trừ quân
bị và đại khủng hoảng kinh tế. Từ
thập niên 1920 sang thập niên 1930, do Hiệp
ước Washington và Hội nghị giải
trừ quân bị London, Mỹ đă cắt
giảm quân số so với các nước khác.
Chỉ trong thời gian ngắn, chi phí quân sự
của Mỹ đă rút xuống tới khoảng
một phần trăm của tổng sản
phẩm quốc dân (GNP), nghĩa là chỉ tương
đương với chi phí cho lực lượng
pḥng vệ[3]
của Nhật Bản ngày nay. Hiệp
ước Washington hạn chế số tàu quân
sự. Nhật Bản thời đó, Anh quốc,
và những nước khác cũng chịu sự
hạn chế như vậy. Tuy nhiên, tổng
thống Mỹ Coolidge c̣n làm triệt để hơn,
bằng cách bán chiến hạm đang đóng cho
công ty điện ảnh, rồi cho quay phim
cảnh đánh ch́m. Đối với quân nhân, th́
đó không những là sự đau ḷng về
mặt kinh tế, mặt tổ chức, mà c̣n là
sự nhục nhă về mặt tinh thần
nữa. Lục
quân th́ b́ cắt giảm một số sư
đoàn, vơ khí quân trang cũng hầu như không
được trang bị mới nữa. Toàn
thế giới ch́m đắm trong bầu không khí
ḥa b́nh, nơi nơi đua nhau kư kết hiệp
ước bất chiến, lực lượng vơ
trang mỗi ngày một được thu nhỏ
lại. Trong xă hội, địa vị quân nhân
ngày một xuống thấp, cho nên, những
phần tử ưu tú không c̣n gia nhập quân
đội nữa. Ở
Nhật Bản c̣n có từ gọi thời đại
này là "Thời giải giáp Taisho." Người
mặc quân phục vào cửa hàng liền bị
chế diễu. Thậm chí, người ta c̣n nói
"quân nhân th́ không có ai chịu đến làm
dâu cả." Thời kỳ MacArthur hoạt động
với tư cách là Trung Tướng, tham mưu trưởng,
lại trùng với thời kỳ giải giáp dài
hơn thời giải giáp ở Nhật Bàn này, là
điểm đáng chú ư. Cha
là quân nhân, bản thân ḿnh cũng là quân nhân
ưu tú đậu thủ khoa Trường Sĩ
quan lục quân Westpoint, Douglas MacArthur hẳn đă
phải sống những ngày sầu muộn v́ chí
chẳng đạt. Đoạt
lại Philippines rồi chiếm đóng Nhật
Bản Cùng
với sự lớn mạnh của chủ nghĩa
dân tộc, phong trào đ̣i độc lập
ở Philippines cũng dâng cao. Năm 1935, Douglas
MacArthur trở thành quân nhân dự bị và
được cử làm cố vấn quân sự
xây dựng quân đội quốc gia Philippines. Cha
đă làm tổng tư lệnh bộ đội
Mỹ đồn trú ở đó, nay lại đến
lượt MacArthur theo sự cam kết của
tổng thống Roosevelt là sẽ trao trả độc
lập cho Philippines, nên MacArthur đă được
cử tới làm cố vấn quân sự, để
xây dựng quân đội mới cho nước
sắp độc lập này. Nhưng lần này,
khác với MacArthur cha, MacArthur con hẳn không
lấy làm phấn khởi bằng. Với
tư cách cố vấn sáng lập quân đội
Philippines, Douglas MacArthur đă tham gia vào sự
soạn thảo hiến pháp Philippines và đă
chuẩn bị nhiều phương án cùng
một lúc. Việc soạn thảo hiến pháp này
của ông đă có sự liên hệ tới bàn
thảo hiến pháp Nhật Bản. Nghĩa là, cái
lư tưởng mà MacArthur ôm ấp đă có
một sự liên tục nhất quán. Sau
khi hoàn thành xong vai tṛ cố vấn quân sự
ở Philippines, ông đă giải ngũ. Nhưng
tháng 7 năm 1941 (niên hiệu Showa thứ 16), trước
t́nh trạng Nhật Bản và Mỹ sắp giao
chiến, ông đă trở lại quân ngũ và
nhậm chức tư lệnh lục quân Mỹ
tại Viễn đông, đóng tại Philippines. Là
quân nhân Mỹ, MacArthur quả đă có duyên
với vùng Viễn đông. Thế rồi, năm
tháng sau th́ trận Chiến tranh Thái b́nh dương
nổ ra. Năm tháng sau nữa, trước
sức tấn công mănh liệt của quân đội
Nhật, ông đă rút lui qua đảo Mindanao, sang
tới Australia. Lúc đó, ông đă phát ra lời
nói đầu tiên "I shall return (Tôi quyết
sẽ trở lại)" nay đă trở thành
danh ngôn. Lời này h́nh như ông đă nói ra khi
đặt chân tới Australia chứ không phải
khi rời khỏi Philippines. Khi
t́nh huống chiến tranh trở bề có lợi
cho Mỹ, MacArthur bèn mở cuộc phản công mănh
liệt. Lúc đó Mỹ có hai phương án
phản công. Một
do đại tướng hải quân (đề
đốc) Chester William Nimitz (sau thăng Nguyên soái)
vạch ra, gồm tiến quân từ nhóm đảo
Mariana lên chiếm đảo Iojima để
tới Nhật Bản. Phương án này gọi
là "cuộc tiến công kiểu những
tảng đá dẫm chân." Nghĩa là không
đánh trên bộ nhiều, mà chỉ chiếm
đoạt các ḥn đảo để lập căn
cứ không quân, rồi từ đó triển khai
hàng không mẫu hạm ra phong tỏa từ ngoài
biển, làm tiêu hao chiến lực của
Nhật Bản đi. Phương
án thứ hai do đại tướng lục quân
Douglas MacArthur vạch ra. Ông này nôn nóng chiếm
lại Philippines, trù liệu tiến công từ
Australia lên phía bắc, trước hết
chiếm Tân Guinea, rồi từ Nam Thái b́nh dương
đánh sang đảo Leyte, từ đó đoạt
lại toàn lănh thổ Philippines, rồi đánh
qua Đài Loan, Okinawa và từ đó đánh vào
nội địa Nhật Bản. Nghĩa là ông
chủ trương chiếm đoạt một vùng
đất rộng lớn. Nếu
chỉ xét về mục đích của vấn
đề là đánh thắng Nhật Bản, th́
phương án của đề đốc Nimitz
tỏ ra rất có hiệu quả, v́ chi phí
thấp mà vẫn thắng được. Nhưng,
xét về chính trị, th́ phương án của
đại tướng MacArthur theo đó lần
lần giải phóng từ Tân Guinea, tới
Philippines, Đài Loan, có hiệu quả lớn làm sáng
tỏ chính nghĩa của trận chiến.
Cứ xem cách đánh trận, ta đủ
thấy cái ư đồ chính trị sâu xa của
MacArthur. Quân
đội Mỹ rút cục đă áp dụng
cả hai phương án, một mặt điều
động hải quân phong tỏa Nhật
Bản, một mặt điều lục quân
đánh chiếm Philippines và Okinawa. Trong khi tiến
hành chiến dịch này th́ năm 1944, đại
tướng MacArthur được thăng lên nguyên
soái (tướng 5 sao). Ngày
15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng.
Tức khắc, Nguyên soái MacArthur được
phong Tổng tư lệnh quân đội của
Liên hợp quốc chiếm đóng Nhật
Bản. Ông bay ngay tới Nhật Bản. Máy bay quân
đội chiếm đóng hạ cánh xuống căn
cứ không quân Atsugi lần đó là ngày 30 tháng
8. Lập tức, đại bản doanh được
đặt ở Sở quan thuế Yokohama (sau này
chuyển tới ṭa nhà Công ty Bảo hiểm Nhân
thọ Dai-ichi, ở bên bờ hào Hoàng cung Tokyo).
Sự chiếm đóng Nhật Bản thực
chất bắt đầu từ ngày đó. Ngày 2
tháng 9, lễ kư kết Văn kiện Đầu hàng
đă diễn ra trên chiến hạm Missouri, để
hợp thức hóa việc chiếm đóng này. MacArthur
để lại ảnh hưởng lớn
tại Nhật Bản, dĩ nhiên là v́ ông đă
đánh bại Nhật Bản, nhưng hơn
thế nữa, chính v́ chính sách ông đă
thực thi trong sáu năm chiếm đóng Nhật
Bản. Năm
1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
MacArthur liền nhậm chức tổng tư
lệnh quân đội Liên hợp quốc với
quân đội Mỹ làm ṇng cốt. Lúc ấy,
ngoài cương vị tổng tư lệnh quân
đội, MacArthur c̣n đối phó với
mỗi sự việc bằng chủ trương
chính trị của ḿnh nữa. Điều này đă
để lại ảnh hưởng trọng
đại đối với tương lai
của Nhật Bản. Trong
chiến tranh Triều Tiên, lúc đầu, miền
Nam tức là Hàn Quốc đại bại. Sư
đoàn 24 Mỹ đóng tại Nhật Bản
liền tới cứu viện. Nhưng gặp
phải sức mạnh của đoàn chiến xa
hạng nặng của Cộng ḥa dân chủ nhân
dân Triều Tiên, Sư đoàn 24 hầu như
bị tiêu diệt. Trung tướng sư đoàn
trưởng Dean bị bắt làm tù binh. Liên quân
Mỹ - Hàn bị dồn tới đường cùng
ở "Đầu cầu Pusan (Phẫu Sơn),"
tưởng như sắp bị quét xuống
biển. Nhưng,
được tăng viện bởi Lộ quân
1, MacArthur liền triển khai một chiến
dịch hào nhoáng. Ông cho đổ bộ lên
Inchong (Nhân Xuyên) rồi cùng với lộ quân
thứ 8 ở Đầu cầu Pusan, đánh
gọng ḱm phá được đối phương.
Cách đánh này chứng tỏ đường
lối diễn xuất nhằm hiệu quả chính
trị của MacArthur. Mùa
Thu năm 1950, khi liên quân Mỹ - Hàn dưới
quyền chỉ huy của MacArthur đánh lần
tới biên giới Trung Quốc ở phía bắc,
th́ một sự đảo ngược lại
diễn ra. Tháng 11 năm đó, ông công bố quan
điểm lạc quan rằng: "Cho đến
lễ Giáng sinh, sẽ cho hai sư đoàn về nước,"
chủ quan coi là "Đến lễ Giáng sinh
sẽ thắng." Nhưng,
quân t́nh nguyện Trung Quốc đă ồ ạt
kéo vào bán đảo Triều Tiên qua sông Áp
Lục Giang, lúc đó mùa đông nên đóng băng
cứng, đă phản kích mănh liệt, khiến
liên quân Mỹ Hàn bị thiệt hại nặng
nề, phải bỏ chạy. Đến nỗi
Thượng tướng Walker chỉ huy Lộ quân
thứ 8 bị tử trận, quân tướng và
vũ khí khí tài của Mỹ bị mất
gần hết. Rơi
vào cùng địa, MacArthur chủ trương oanh
kích miền Bắc Trung Quốc, nhưng tổng
thống Mỹ Truman lúc đó không muốn đối
đầu trực tiếp với Trung Quốc, nên
đă quyết định giải nhiệm Nguyên
soái MacArthur. Nguyên
soái MacArthur bị giải nhiệm năm 1951,
trở về tổ quốc. Lúc đó, tuổi
đă ngoài 70, diễn thuyết trước
Quốc hội Mỹ, ông đă để lại
danh ngôn "Old soldiers just fade away (Lính già chỉ c̣n
nước biến đi thôi)," rồi
giải ngũ và từ quan. Có một thời
gian, ông đă giữ chức Tổng giám đốc
Công ty Remington. Cuối đời, ông ở khách
sạn Vip Walt Astoria ở New York, vẫn duy tŕ
lối sống hào hoa của ḿnh. Năm 1964, ông
mất ở tuổi 84. Biến
thành kiểu mẫu cho một "nước
Mỹ lư tưởng" Chính
sách chiếm đóng Nhật Bản, do một quân
nhân có cá tính mănh liệt như kể trên
triển khai, đă để lại cho Nhật
Bản thời hậu chiến ảnh hưởng
vô cùng lớn lao. Sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức cũng
là nước chiến bại, nửa phía đông
th́ do Liên Xô kiểm soát, nửa phía tây do ba nước
Mỹ, Anh và Pháp chiếm đóng. Nguyên soái Dwight
Eisenhower (sau trở thành tổng thống Mỹ)
đứng làm tổng chỉ huy quân đội
chiếm đóng. Chính sách chiếm đóng
của ba nước Mỹ Anh Pháp là do văn quan
Cao ủy McLloyd chỉ đạo. Nhật Bản
th́ thực chất do Mỹ đơn độc
chiếm đóng, đồng thời Nguyên soái
MacArthur, với tư cách tổng chỉ huy quân
đội chiếm đóng, đă thi thố
mỗi quyền lănh đạo, từ chính
trị, kinh tế, tới cải chính hiến pháp,
nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi
việc đều do một tay MacArthur quyết
đoán cả. Lúc
đó, Nguyên soái MacArthur ôm ấp một giấc
mơ lớn đối với Nhật Bản dưới
sự thống trị của ông. Giấc mơ
đó trước kia ông đă ôm ấp đối
với Philippines và giờ đây là biến
Nhật Bản thành một quốc gia dân chủ
chủ nghĩa kiểu nước Mỹ. Điều
này đă được thể hiện một cách
rơ ràng trong "Thuyết Nhật Bản mười
hai tuổi," như sau: "Hiện
nay (nửa cuối thập
niên
1940), Nhật Bản mới được 12
tuổi, mới có tŕnh độ trung học
đệ nhất cấp (cơ sở). Nhưng
rồi đây, tốt nghiệp xong trung học
đệ nhất cấp, tiến lên bậc trung
học đệ nhị cấp (phổ thông), thành
người trưởng thành ra làm việc xă
hội. Cuối cùng, hẳn Nhật Bản cũng
sẽ thành một nước người lớn
bề thế như Mỹ. Quốc dân Nhật
Bản phải biết nhắm tới mục tiêu
ấy." Không
riêng ǵ MacArthur, những người tri âm của
Nhật Bản đời thứ nhất sau
chiến tranh, như Tiến sĩ Edwin O. Reischauer
(học giả Nhật Bản học, đại
sứ tại Nhật 1961-66), cũng có cùng quan
điểm: "Mỹ
và Nhật khác nhau ở nhiều điểm. Nhưng
đó là v́ Nhật Bản nghèo nàn về kinh
tế, và lạc hậu về văn hóa. Rồi
đây, Nhật Bản trở nên giầu có, văn
hóa phát triển, tŕnh đ dân chúng được
nâng cao lên, th́ ắt cũng thành một nước
như Mỹ. Sự khác nhau giữa Mỹ và
Nhật Bản chủ yếu là giai đoạn phát
triển khác nhau. Trong thời chiến tranh,
giới lănh đạo Nhật Bản đă có
những sai lầm, nhưng rồi đây, khi
Nhật Bản trở thành một nước dân
chủ, một nước công nghiệp giầu
mạnh, th́ cũng như nước Mỹ,
Nhật Bản cũng sẽ có nền văn hóa
tự do coi trọng sự lựa chọn của
cá nhân. Hơn thế nữa, Nhật Bản nên là
như vậy." Tư
tưởng trên đă được duy tŕ măi
về sau. Người ta tiếp tục nói
"Nếu Nhật Bản trở thành một nước
giầu có th́ hẳn sẽ như Mỹ trở
thành một nước dân chủ chủ nghĩa
và tự do kinh tế." Tuy
nhiên, MacArthur nói "Nhật Bản sẽ thành
một nước như Mỹ," th́ "nước
Mỹ" ở đây không phải là nước
Mỹ hiện thực bây giờ, mà là nước
Mỹ ông coi là lư tưởng, một "nước
Mỹ phải nên như thế." Như
đă kể, thời thiếu niên ông ở
Philippines cùng với cha, từ năm 1935 lại
đóng đồn ở Philippines, rồi trở
thành tổng chỉ huy quân đội chiếm
đóng Nhật Bản, nên MacArthur đă ở
hải ngoại nhiều hơn ở nước
nhà. V́ vậy, ông đă mỹ hóa Tổ quốc
hơn thực sự, đă có tư tưởng
lư tưởng hóa Tổ quốc. Thế rồi
ông t́m cách biến Nhật Bản thành "nước
Mỹ lư tưởng đó." Vậy,
"nước Mỹ lư tưởng của ông,"
mục tiêu Nhật Bản nên tiến tới, là
như thế nào? Hăy
là Thụy Sĩ của Viễn đông Trước
hết, về ngoại giao hăy rập theo Mỹ không
nên thắc mắc ǵ cả. Với tư cách
tổng tư lệnh quân đội chiếm
đóng, điều này là đương nhiên.
Nhất là năm 1949, sau khi chính quyền Tưởng
Giới Thạch bị đuổi khỏi đại
lục Trung Quốc, nước Cộng
ḥa nhân dân Trung Hoa ra đời, khiến cho khuôn
khổ chiến tranh lạnh được xác
lập ở vùng Viễn đông này, th́ ư đồ
biến Nhật Bản thành đồng minh có
thể lợi dụng được trong phe
Mỹ, lại càng trở nên mạnh. Trong
khuôn khổ chiến tranh lạnh, không phải ông
chỉ nghĩ biến Nhật Bản thành nước
đồng minh như một đàn em phục tùng
Mỹ. Hơn thế nữa, MacArthur tin rằng,
nếu Nhật Bản muốn được
hạnh phúc, th́ Nhật Bản phải nằm
trong khối Mỹ, phải hợp tác và tuân theo
Mỹ. Đây không những là nhiệm vụ
đương nhiên của một quân nhân
Mỹ, một quan cai trị do Mỹ gửi
tới Nhật Bản, mà đồng thời c̣n
là niềm tin cá nhân của MacArthur, người
đă lư tưởng hóa nước Mỹ. Sau
đó, về h́nh thức chính trị, ông đă
cho xây dựng chủ nghĩa dân chủ nghị
viện ở Nhật Bản, dựa trên h́nh
thức dân chủ do đầu phiếu của
Mỹ. Tuy nhiên, khác với Mỹ, ông đă không
áp đặt chế độ tổng thống, mà
đă nh́n nhận chế độ thiên hoàng tượng
trưng có một thủ tướng được
nghị viện bầu ra, nghĩa là, thiên hoàng
chỉ là tượng trưng, không được
tham gia vào chính trị. Chính trị là việc
của các nghị viên được bầu ra,
của thủ tướng do các nghị viên
bầu ra. Ở điểm này, ông đă không áp
dụng chế độ tổng thống
được trực tiếp bầu ra, mà
lại chọn chế độ nội các
nghị viện kiểu Anh quốc. Có thể ông
đă lo ngại nếu tổ chức bầu
cử tổng thống trên toàn quốc, th́
khả năng sẽ có một nhân vật
chống Mỹ đắc cử. Đồng
thời, ông coi trọng quyền tự trị
địa phương kiểu Mỹ và hi
vọng quyền này bén rễ vững chắc. Nhưng,
quan niệm về quyền tự trị của
Nhật Bản và Mỹ khác nhau nhiều lắm.
MacArthur h́nh như đă không hiểu rơ điều
này. "Con
người ta ai cũng muốn tự ḿnh cai
trị xóm làng ḿnh. Do đó, nếu phế
bỏ Bộ Nội vụ, cơ quan trung
ương thống chế các địa phương,
rồi trực tiếp bầu cử tỉnh trưởng,
th́ chính quyền địa phương sẽ
mạnh lên, sẽ có khả năng kiềm
chế chính phủ trung ương." MacArthur
hẳn đă nghĩ như vậy. Nghĩa là,
nếu hạn chế tố đa ảnh hưởng
của nhà nước trung ương th́ quyền
tự trị địa phương sẽ phát
triển, dân chúng hẳn mong muốn như
vậy. Ông đoán rằng quyền tự trị
địa phương như thế kết
hợp với nghị viện có quyền lực
lớn mạnh, hẳn sẽ biến Nhật
Bản thành một nước dân chủ. Về
kinh tế th́ sao? Ở đây, MacArthur cũng
đem mô h́nh kinh tế tự do cạnh tranh
kiểu Mỹ vào và nghĩ rằng những xí
nghiệp nhỏ và vừa không có khả năng
gắn liền với sức mạnh quân sự,
và nền nông nghiệp tự canh tác quy mô
nhỏ, là tốt. Ông không hề nghĩ tới
sức cạnh tranh quốc tế của những
ngành nghề chế tạo Nhật Bản lại
có thể lên tới mức 1 đôla xấp
xỉ 100 Yen. Sự
lầm lẫn này không phải riêng ǵ MacArthur.
Mỗi người Nhật cũng như mỗi
người Mỹ đều nghĩ sai như
vậy. Nếu MacArthur có sai, th́ đó là điểm
ông cho rằng người Nhật sẽ hài ḷng
dù cho mức độ kinh tế không được
cao lắm, nhưng nếu được sống
trong ḥa b́nh. V́ vậy, ông nghĩ rằng
Nhật Bản cần phải giải quyết ba
vấn đề: giải tán các nhóm tài phiệt
để cho xí nghiệp vừa và nhỏ dễ
phát triển, cải cách ruộng đất và
tổ chức công đoàn. Nguyên
soái MacArthur nghĩ rằng trước hết
phải triệt để cho cạnh tranh tự
do, phải giải tán những nhóm tài phiệt.
Rồi để cho các nhóm tài phiệt không thành
h́nh được nữa, phải có luật
cấm độc quyền như Mỹ. Như
vậy các xí nghiệp vừa và nhỏ sẽ có
cơ hội phát triển. Đồng thời,
phải giải phóng đất nông nghiệp, làm
cho những người thuộc tầng lớp
tiểu nông có ruộng đất canh tác trong tay.
Nông dân có ruộng đất sẽ bảo thủ hóa
và sự tập trung vào đô thị sẽ không
c̣n nữa. Nếu cả nước là nông thôn
với những gia đ́nh tiểu nông, rồi
rải rác có những xí nghiệp nhỏ và
vừa xen lẫn vào, th́ những xí nghiệp quân
sự sẽ không có cơ hội phát triển, và
Nhật Bản sẽ trở thành một nước
ḥa b́nh đẹp đẽ và không thể gây
hại cho thế giới được nữa.
Đây chính là lư tưởng của MacArthur về h́nh
ảnh một "Nhật Bản hăy là Thụy Sĩ
của Viễn đông. " Lư
do là, một nước có địa h́nh
phần lớn là núi đá với dân số vài
triệu người như Thụy Sĩ th́ không
sao gây dựng được đại xí
nghiệp. Nhưng, mức sinh hoạt quốc dân
lại rất cao. Nếu là một nước như
vậy th́ cũng tốt lắm chứ. Mỹ hóa
Thụy Sĩ, và tuy bỏ qua điều kiện
địa lư vốn có của Thụy Sĩ hay
chủ trương phát triển kinh tế đất
nước bằng du lịch của Thụy Sĩ,
song cái ư muốn cho Nhật Bản trở thành
một nước ḥa b́nh gồm có những
tiểu nông và những xí nghiệp vừa và
nhỏ, là ư tốt. Du
nhập nền luân lư coi trọng b́nh đẳng
và an toàn Về
cải cách ư thức xă hội, MacArthur coi
Nhật Bản là xă hội phong kiến cổ
hủ, nên phải quảng bá sự "b́nh
đẳng." Sự b́nh đẳng nam nữ,
xúc tiến tổ chức công đoàn, giải phóng
đất nông nghiệp, v.v., đều là hướng
tới mục đích đó. Cho tới cuộc
chiến tranh Triều Tiên, th́ thật sự ông
đă ủng hộ phong trào lao động cánh
tả. Việc này một phần cũng chịu
ảnh hưởng của phái chủ trương
chính sách "New Deal[4]"
dưới thời Tổng thống Roosevelt. Ông
cũng nghĩ rằng muốn thực hiện b́nh
đẳng th́ phải phế bỏ chế độ
đại gia tộc truyền thống của
Nhật Bản. Nguyên soái MacArthur cùng nhóm cộng
sự của ông cho rằng chế độ
đại gia tộc của Nhật Bản chính là
chế độ giai cấp g̣ bó dưới
quyền gia trưởng, ḍng trưởng, và chính
thể chế thiên hoàng đă làm cho chế độ
đại gia tộc đó bành trướng ra
khắp nước Nhật thời tiền
chiến. V́
vậy, không những ông chủ trương
phải bỏ chế độ đó, ông c̣n coi
trọng sự b́nh đẳng nam nữ, đồng
thời áp dụng chính sách bài xích "trật
tự già trẻ." Thứ
hai, ông dạy cái lẽ phải của sự
"an toàn." Trước nhất, an toàn
tức là "ḥa b́nh." Không có ǵ nguy hiểm
hơn là chiến tranh. V́ thế, ông đă tôn dương
sự chối bỏ chiến tranh, coi mỗi h́nh
thức chiến tranh đều là xấu hết.
Thêm vào đó, ông triệt để phủ
nhận bạo lực và vũ lực, thậm chí
nghiêm cấm không cho thày giáo hay cha mẹ dùng
"roi vọt yêu." Thứ
hai, an toàn là "sức khỏe." Trong nền
hành chính và giáo dục thời hậu chiến,
sức khỏe được chú trọng đặc
biệt, sâu bọ và kư sinh trùng được nỗ
lực khu trừ triệt để. Thời nay,
người ta mới coi phương pháp canh nông
bằng phân hữu cơ là tốt, chứ
thời kỳ ngay sau chiến tranh, tới 70
phần trăm người Nhật có kư sinh trùng,
cho nên thời đó phân hữu cơ bị coi là
không có ǵ xấu bằng, lại dơ bẩn
nữa. Người ta quan niệm nông nghiệp
hiện đại phải dùng phân bón hóa học
và thuốc trừ sâu. Nghĩa là toàn nước
Nhật đă được truyền bá ư
thức vệ sinh như vậy. Đây là cái ư nghĩ
của quân đội Mỹ thời đó đối
với t́nh h́nh vệ sinh của Nhật Bản.
Thậm chí, người ta đă loan tin rằng
rau Nhật Bản dơ bẩn, chớ có ăn. Ngày
nay, nh́n vào người Mỹ thường, người
ta khó có cảm tưởng là họ quá bận tâm
đến vệ sinh như vậy, nhưng quân nhân
Mỹ chiếm đóng Nhật Bản đă đ̣i
hỏi sự sạch sẽ hơn cả thực
tế. Cũng có lẽ sự nhấn mạnh vào
vấn đề vệ sinh, là họ muốn nói
rằng Nhật Bản dơ bẩn nên phải
coi chừng, đồng thời muốn phô trương
rằng người Mỹ sạch sẽ như
vầy kia. Thứ
ba, an toàn là "pḥng chống sự cố, tai
nạn." Sự nhấn mạnh vào vấn
đề an toàn để pḥng chống tai
nạn lao động, cũng đă có ảnh hưởng
tới luật về tiêu chuẩn kiến trúc,
luật pḥng cháy chữa cháy, đồng thời
đă đóng góp vào sự h́nh thành xă hội
quy chế và t́nh trạng giá cả cao của
Nhật Bản ngày nay. Sự
du nhập tư tưởng luân lư coi trọng an
toàn của MacArthur đă để lại ảnh
hưởng sâu đậm trong xă hội Nhật
Bản, khiến Nhật Bản không những
đă chối bỏ chiến tranh, mà c̣n phủ
nhận mọi h́nh thức bạo lực khác. Về
văn hóa th́ tuyên truyền văn hóa Mỹ là
tối cao không phải đắn đo một hai
ǵ cả. Hơn nữa, tượng trưng cho văn
hóa Mỹ được tuyên truyền là "3
S," tức là screen (điện ảnh), sports
(thể thao) và sex (tính dục). MacArthur
c̣n lợi dụng giáo dục học đường
để phổ cập văn hóa Mỹ. Trong
chế độ 6-3[5],
ông đă cho vào đó hoạt động gọi
là pḥng Homeroom[6]
và hội phụ huynh - thày cô (PTA: Parent Teacher
Association). Tuy
nhiên, về giáo dục, hẳn đă có nhiều
điều không được như MacArthur
muốn. Đây là v́ ông đă duy tŕ chế độ
giáo dục sơ đẳng (tiểu học) công
lập và chế độ phân chia học sinh theo
khu vực như các "trường quốc dân"
cũ, trong đó đặt nặng vấn đề
giáo dục đại trà và hủy diệt cá tính
cá nhân. Xem
ra các cộng sự viên của MacArthur đă
bỏ sót không thấy tinh thần hiếu học
của người Nhật ngay từ thời
mạc phủ Tokugawa. Chính MacArthur đă nh́n
nhận và kinh ngạc: "Trẻ em trai gái
Nhật đánh giầy cũng đọc báo." Cuối
cùng, MacArthur đă cố t́nh phủ nhận
chủ nghĩa tinh thần Nhật Bản, để
cho Nhật Bản không trở lại chủ nghĩa
quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc
nữa. Việc này, về một khía cạnh, là
một "ḍng chảy của sự hiện
đại hóa." Chủ
nghĩa hiện đại là coi trọng tính khách
quan và văn minh vật chất. Ở Tây Âu,
chủ nghĩa tinh thần thời Trung cổ
đưa tới sự tin tưởng vào sức
mạnh vạn năng của tôn giáo. MacArthur
đă nhân danh "hiện đại hóa"
phủ nhận chủ nghĩa duy tâm, và t́m cách
gieo trồng chủ nghĩa duy vật vào Nhật
Bản. Để làm cho Nhật Bản cảm
phục sự phong phú vật chất của
Mỹ rồi tin tưởng vào Mỹ, Mỹ
đă trọng dụng các học giả kinh
tế học, các quan chức ngành kinh tế,
để tuyên truyền quan niệm giá trị
của chủ nghĩa năng suất: "Hăy
học hỏi nước Mỹ giầu sang."
Nói cách khác, sau chiến tranh, năng suất đă
trở thành một "chính nghĩa" như b́nh
đẳng và an toàn vậy. Mặt
khác, MacArthur đă triệt để phủ
nhận truyện thần thoại Thiên tôn Giáng lâm
và "Tinh thần Nhật Bản." Quân đội
Mỹ đă cố t́nh tuyên truyền rằng
Nhật Bản đă thua Mỹ v́ kém về
mặt vật chất. Lư luận này dễ cho người
Nhật chấp nhận, v́ họ đă chiến
đấu dũng cảm mà vẫn thua, nên có
thể chịu thuyết phục như vậy. Tóm
lại, MacArthur một bên trưng bầy nền văn
hóa Mỹ lư tưởng hóa, bên kia để nguyên
nền văn hóa cổ của Nhật, rồi t́m
mỗi cách biến Nhật Bản thời hậu
chiến thành một nước sùng bái Mỹ. Chủ
nghĩa dân chủ đầu phiếu và nền
tự trị địa phương trở nên
trống rộng Ư
đồ như kể trên của MacArthur đă
trở thành hiện thực như thế nào? Kết
quả có nhiều mặt: Chỗ
th́ đúng như ư muốn, chỗ
th́ không như ư muốn, có chỗ
sau khi tiêm nhiễm tư tưởng MacArthur đă
diễn ra phản ứng hóa học biến thành
khác hẳn, v.v.. Trước
nhất, về
ngoại giao, ư đồ MacArthur đă hoàn toàn thành
công. Từ sau MacArthur, và không kể từ sau năm
1991 trở đi, ngoại giao Nhật Bản
chủ yếu là theo đuôi ngoại giao Mỹ.
Chỉ có một lần duy nhất, nó hơi
bị lung lay, là trong phong trào phản đối
Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm
1960[7].
Đối với Nhật Bản, sự phụ
thuộc phe Tây phương đă mang lại
lợi ích to lớn. Nhờ theo đuôi ngoại
giao Mỹ đúng như MacArthur đă định,
Nhật Bản đă được bảo đảm
an ninh một cách ít tốn kém, có nguồn
nhập cảng nguyên liệu và thị trường
xuất cảng ổn định, như thế
thực hiện được sự phát
triển cao độ về kinh tế. Trong
thể chế chính trị, th́ ư đồ
của MacArthur về chủ nghĩa dân chủ
kiểu đầu phiếu và nền tự
trị địa phương, đă bị
"trống rộng hóa" mau chóng, rồi
biến thành kiểu tập quyền vào quan liêu
ở trung ương. Tự
trị địa phương là do sự
khuếch đại của tinh thần tự
trợ cá nhân mà thành. Con người ta ai nấy
đều tự ḿnh giúp ḿnh đi t́m hạnh phúc
cho ḿnh. Tinh thần tự trợ như vậy
của cá nhân, nếu khuếch đại ra, chính
là sự tự trị địa phương
của Mỹ vậy. Tự
sức ḿnh đi t́m hạnh phúc cho bản thân ḿnh,
chính là cách sống nguyên lai của con người
ta. Do đó, tự ḿnh đóng cửa cài then,
tự ḿnh xua đuổi trộm cướp, là
tốt nhất. Nhưng, một ḿnh đơn
độc th́ không chống lại trộm cướp
được, nên phải thành lập đoàn dân
pḥng. Dân pḥng không thôi không đủ hiệu
quả, th́ bỏ tiền thuê "quan bảo an[8]." Như thấy trong những phim
kịch cao bồi, sự khuếch đại
của tinh thần tự trợ là quyền
tự trị địa phương, rồi
nhiều địa phương như vậy
kết tụ lại thành bang, nhiều bang hợp
nhất lại thành quốc gia. Đó chính là
Hợp chủng quốc Hoa kỳ. MacArthur trông
đợi Nhật Bản cũng phát triển theo
mô h́nh này. Thế
nhưng, tư tưởng tự trị vốn không
nẩy sinh ra từ cư dân địa phương
Nhật Bản. Hơn thế, trước đó
nữa, tinh thần tự trợ cũng không có
ở Nhật Bản. Truyền thống nông thôn
trồng lúa của Nhật Bản vốn là
chủ nghĩa tập thể. V́ thế, khi chính
quyền địa phương h́nh thành theo
chỉ thị của MacArthur, chúng liền
biến thành cơ quan được chính phủ
trung ương chia xẻ quyền hạn cho,
nhận trợ cấp để đại lư
quyền hành chính của nhà nước trung
ương. Trong
cuộc tranh luận về sự phân quyền
địa phương ngày nay, người ta cũng
chỉ nhiệt tâm thảo luận vấn đề
chính quyền địa phương sẽ
được chia xẻ những quyền hạn
ǵ và nguồn tài nguyên nào của nhà nước
trung ương. Thậm chí, có câu nói "ba mươi
phần trăm tự trị." Thật ra, đừng
nói ǵ tới ba mươi phần trăm, chính
quyền địa phương thực ra chỉ
muốn làm cơ quan thầu khoán cho khỏe
khoắn. Nhật Bản xưa nay là nước mà
mạc tướng ra lệnh cho các phiên tướng
di chuyển từ đất này sang đất khác.
Ở trong một nước có truyền thống
tập quyền trung ương như thế, lư tưởng
của MacArthur đă không nẩy nở được. Tiếp
đến, chủ nghĩa dân chủ kiểu
đầu phiếu cũng không được như
lư tưởng. Nghị viện (Quốc hội)
đă không trưởng thành được
về mặt quyền hạn, mà thực chất
đă chỉ biến thành cơ quan môi giới
nguyện vọng điều trần tới
cửa quan. Ở
Mỹ, mỗi khi tổng thống hay quan chức
trung ương làm điều bất chính, th́
lập tức Nghị viện mở cuộc điều
trần để điều tra. Làm chính trị
là việc của Phủ lập pháp (Nghị
viện), c̣n Phủ hành pháp (Chính phủ trung
ương) chỉ thi hành cho đúng chính sách
đó thôi. Tuy nhiên, ở Nhật Bản th́ t́nh
trạng là ngược lại. Trong
Hiến pháp Nhật Bản, MacArthur chấp
nhận Quốc hội là cơ quan quyền
lực tối cao, nhưng khác hẳn với
ở Mỹ, ông cũng đồng thời nh́n
nhận quyền đề xuất luật pháp
của chính phủ. Vấn đề then chốt
là ngân sách, th́ chỉ có chính phủ mới có
quyền đề xuất. Kỳ lạ thay,
Hiến pháp Nhật Bản quy định "ngân
sách là do chính phủ đề xuất."
Thậm chí không thấy viết "dự
thảo ngân sách" mà viết thẳng thừng
là "ngân sách." Sự kiện quan chức
chiếm ưu thế đă có từ thời Okubo
Toshimichi (Chương VIII). Thế mà, nay lại
để lại một chế độ chéo
cẳng ngỗng
như vậy, cho nên, sự tập trung quyền
lực vào tập thể quan chức trung
ương, là chuyện tất nhiên. Ở điểm
này, sự kỳ vọng và dự đoán của
MacArthur cũng đă bị phản bội. "Thể
chế năm ‘55 " đánh đổ chính sách
giải thể tài phiệt và giải phóng đất
nông nghiệp Trên
phương diện kinh tế, ư đồ
của MacArthur về một xă hội cạnh
tranh tự do giữa các trung tiểu xí nghiệp
và tiểu nông tự canh tác cũng mau chóng
trật đích. Thật ra, kể từ cuộc
chiến tranh Triều Tiên, ư đồ của
Mỹ (MacArthur) đă đổi thành ư muốn
Nhật Bản làm tiền đồn. Sau
khi thu hồi được độc lập,
Nhật Bản dần dần trở lại
thể chất "quan liêu chỉ đạo"
và "quan dân đề huề" như Okubo
Toshimichi (Chương VIII) và Shibusawa Ei-ichi (Chương
IX) đă quan niệm. Trong kinh tế và giáo
dục, "Thể chế Showa năm thứ 16
(1941)" đă sống lại. Một
điều "không may" cho MacArthur là t́nh
trạng thiếu thốn vật chất của
Nhật Bản trong thời kỳ bị chiếm
đóng. Thời đó, mỗi thứ đều
thiếu thốn. Từ thực phẩm, quần
áo, tới giấy in báo nếu không được
phân phát th́ không in báo được. Do đó
chế độ "bao cấp" đă không
thể tránh được. Và v́ vậy, MacArthur
đă không thể hủy bỏ cơ cấu quan
chức quan liêu thống suất được. Quan
chức quan liêu thống suất kiểu Nhật
Bản là trước khi chỉ định xí
nghiệp, họ để cho ngành nghề liên
quan nói chuyện với nhau đă. Ở đây, h́nh
thức ḥa hợp ("phe phen") kiểu
Shibusawa Ei’ichi đă len vào. Điện lực là như
vậy, may dệt cũng vậy, ngành nghề nào
cũng vậy. V́
thế, đoàn thể ngành nghề đă thành h́nh
một cách kiên cố. Đoàn thể ngành nghề
như vậy "bám dính" vào bộ sở
chủ quản, t́m cách cắt bỏ xí nghiệp
nào không chịu tuân theo ư kiến của đa
số. Từ đó phát sinh ra "thể chế
ḥa hợp trong đoàn thể ngành nghề dưới
sự lănh đạo của quan chức." Xí
nghiệp thực hiện sự hiện đại
hóa hay đại quy mô hóa dưới sự lănh
đạo của quan chức. Quan chức một
mặt hạn chế sự vào cuộc của xí
nghiệp mới, mặt khác lấy tiền công
quỹ đổ vào xí nghiệp cũ bằng
mọi h́nh thức như đầu tư, cho vay,
tài trợ, v.v.. Như
trên, khác với ư đồ của MacArthur
chỉ muốn Nhật Bản thành một
quốc gia phân tán làm nhiều mảnh nhỏ
cạnh tranh tự do với nhau, Nhật Bản
đă trở thành một cường quốc kinh
tế dưới sự lănh đạo của
quan chức. Trên thực tế, cái gọi là
"thể chế năm ’55" đă xác
lập. Trong đó, đại xí nghiệp đă
chỉ h́nh thành trong các ngành nghề chế
tạo, chứ nông nghiệp và lưu thông hàng hóa
th́ vẫn ở trạng thái quy mô nhỏ. Do
đó, ở mỗi địa phương đă
h́nh thành đủ loại tập thể lớn
nhỏ gom góp những thành phần nhỏ lại
thành "đoàn tàu hộ tống." Từ
đó, ngành nghề chế tạo, nhất là ngành
nghề chế tạo đại trà theo quy cách,
đă phát triển lớn mạnh. Đến nỗi
riêng các ngành nghề này th́ số lượng
xuất cảng ngày càng tăng. Họ
đă có sức cạnh tranh quốc tế có
thể chịu đựng được hối
suất 1 đôla bằng 100 Yen. Thế nhưng, các
ngành nghề duy tŕ quy mô sản xuất nhỏ như
lưu thông hàng hóa, nông nghiệp, hay những ngành
nghề được sự bảo hộ
của nhà nước như xây dựng, vận
tải, truyền thông, th́ giá thành lên cao đến
nỗi tỷ giá hối đoái lên tới từ
1 đôla bằng 200 Yen, có khi tới 400 Yen. Nghĩa
là so với các nước Âu Mỹ và các nước
châu Á khác, Nhật Bản đă trở thành
một xă hội khác hẳn về chế độ
giá cả. Với
ư nghĩa này, hầu như tất cả ư đồ
của MacArthur về mặt kinh tế đều
không thực hiện được điều ǵ
cả. Cơ chế do MacArthur lập ra để
biến Nhật Bản thành một nước có
cạnh tranh tự do, như luật cấm độc
quyền đă không hoạt động có
hiệu quả. Giải thể nhóm tài phiệt cũng
chỉ xong ở chỗ loại bỏ gia đ́nh
tài phiệt ra khỏi nhóm tài phiệt mà thôi. Luật
cấm độc quyền bị vô hiệu hóa
ở chỗ quan liêu làm như không biết đến.
Ủy ban giao dịch công chính mà có chủ
tịch là cựu quan liêu Bộ Kho bạc thuyên
chuyển xuống, sẽ không hoạt động
hiệu quả nữa. Thậm chí, Bộ Thương
nghiệp quốc tế và công nghiệp và Bộ
Kho bạc đă công nhiên chỉ đạo vi
phạm luật cấm độc quyền. Việc
giải phóng đất nông nghiệp và duy tŕ
nền nông nghiệp quy mô nhỏ, cũng chỉ
được một đời. Đất th́ khó
vứt bỏ đi được. V́ thế, nông
dân được cấp đất nhờ
sự giải phóng đất nông nghiệp,
vẫn tiếp tục canh tác quy mô nhỏ. Nghĩa
là, Nhật Bản đă trở thành "Thụy
Sĩ ở Viễn đông" với nhiều nông
gia quy mô nhỏ. Đây là mưu mô quỷ quái để
cảnh giới không cho Nhật Bản tái vũ
trang. Thế
nhưng, cùng với sự hoàn thành "thể
chế năm ’55," mưu mô trên cũng
bị thất bại. Những
nông dân quy mô nhỏ được cấp đất
trước kia vẫn cố thủ đất
đai và tiếp tục làm nghề nông, đúng
như MacArthur nghĩ. Bộ Nông nghiệp cũng
áp dụng chính sách ưu đăi tiểu nông. Nhưng,
con cháu những nông dân này, sau khi tốt
nghiệp trung học, đă đua nhau ra thành
thị đi làm công nhân cho xí nghiệp. Thành ra,
các tiểu nông trở thành già nua, đồng
thời kiêm thêm nghề khác. Hiện
nay, những người làm nghề nông ở
Nhật Bản tập trung ở lứa tuổi
60. Nghĩa là nông dân vào nghề trong ṿng 20 năm
từ sau chiến tranh, bây giờ vẫn làm ṇng
cốt cho nông nghiệp. Những người dưới
tuổi họ vào nghề nông rất ít. Khôi hài
thay, chính v́ giới trẻ nông thôn ra tỉnh thành
làm công nhân, mà những thói quen ít thông thoáng như
chế độ sống lâu lên lăo làng hay
chế độ làm công suốt đời đă
h́nh thành, có lợi cho sự khuếch đại
kinh doanh của các đại xí nghiệp.
"Thể chế năm ’55" đă có
lợi vô cùng cho xí nghiệp, v́ nhờ đó
họ đă có thể chỉ thuê lớp người
trẻ tuổi thôi. Sinh
ra nguyên nhân băng hoại chế độ gia
tộc Xét
về mặt xă hội, việc tạo ra giới
tiểu nông đă có lợi cho ư đồ
của MacArthur. Đó là sự giải thể
chế độ gia tộc. Nhờ cải cách
ruộng đất, cha mẹ ở lại nông thôn,
c̣n con cái sau khi tốt nghiệp trung học,
liền bỏ ra thành thị làm công nhân. Sự
kiện này chia rẽ nơi cư trú của cha
mẹ và con cái, và làm "hạt nhân hóa" gia
đ́nh. Chính
sách cải cách ruộng đất của MacArthur
nhằm mục đích phân tán lực lượng
lao động về nông thôn làm cho Nhật
Bản không thể trở thành nước công
nghiệp lớn được. Từ cuộc
chiến tranh Triều Tiên trở về trước,
Mỹ đă áp dụng chính sách này. Thế
nhưng kết quả là chỉ có lớp người
trung và cao niên ở lại nông thôn, c̣n lớp
trẻ mới tốt nghiệp th́ ra thành thị
làm công nhân, ở kư túc xá của xí nghiệp, và
v́ không phải nuôi gia đ́nh nên sẵn sàng làm
công với đồng lương thấp. Nghĩa
là một t́nh trạng ngược lại với
ư đồ của MacArthur đă xẩy ra. Một
mặt, MacArthur cho rằng chế độ cha anh
làm cốt lơi gia tộc, chính là nguyên mẫu
của quốc gia dân tộc chủ nghĩa
lấy Thiên hoàng làm đầu. V́ thế,
muốn phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân
tộc và chế độ Thiên hoàng, trước
hết phải đập bỏ chủ nghĩa
gia tộc theo chế độ cha anh làm trưởng
tộc. Đây chính là căn nguyên của xă hội
phong kiến Nhật Bản, ở đó người
ta có thể tấn công tự sát nếu
được Thiên hoàng xuống chiếu ra
lệnh. Nghĩa là, ông đă áp dụng
thuyết về "chế độ chuyên
chế châu Á" của những nhà xă hội
học cũ như Wittfogel[9]
vào trường hợp Nhật Bản. MacArthur cho
rằng nếu phá bỏ được chế
độ này, Nhật Bản sẽ trở thành
một nước ḥa b́nh dân chủ. Thực
tế là sự đập bỏ chế độ
gia tộc đă sinh ra rất nhiều "người
xí nghiệp," giúp thực hiện được
sự sản xuất đại trà theo quy cách. Nói
tóm lại, sự cải cách Nhật Bản
của MacArthur là thay đổi quan niệm luân lư
và ư thức thẩm mỹ, sửa đổi
chế độ gia tộc và cơ cấu địa
phương, đảo lộn tất cả giai
tầng xă hội đi. Nhưng, ông đă không
đả phá được thể chế quan liêu
chỉ đạo, mà ngược lại đă giúp
cho Nhật Bản thực hiện được
giấc mơ từ thời Minh Trị là h́nh thành
một xă hội công nghiệp hiện đại
với sản xuất đại trà theo quy cách.
Sự phủ nhận chủ nghĩa tinh thần
đă biến người Nhật thành "người
xí nghiệp," thành "súc vật kinh tế
." Cải
cách luân lư và ư thức thẩm mỹ Ở
Nhật Bản ngày nay, ảnh hưởng quan
trọng nhất do MacArthur để lại, là
cải cách luân lư và ư thức thẩm mỹ. Ba
điều được coi như đúng
tuyệt đối là "năng suất,"
"b́nh đẳng" và "an toàn." So
với bất cứ nước nào khác trên
thế giới, Nhật Bản coi ba điều này
là "chính nghĩa" một cách triệt để
hơn hết. Tuy nhiên, cái "b́nh đẳng"
ở đây không phải là "b́nh đẳng
về cơ hội" của cách mạng Pháp
hay nói trong bản Tuyên ngôn độc lập
Mỹ. "B́nh
đẳng về cơ hội" là "b́nh
đẳng trước pháp luật." Ai cũng
được dự kỳ thi tuyển sinh, ai cũng
được ứng cử, ai muốn làm
nghề ǵ cũng được. Nhưng,
dự kỳ thi tuyển sinh th́ phải có người
đậu, kẻ rớt. Cùng làm một nghề
th́ cũng có người thành công, kẻ
thất bại. Cùng có quyền trở thành
cầu thủ bóng chày, nhưng có người thành
siêu sao, có kẻ không thành ǵ cả. "B́nh
đẳng về cơ hội" đă sinh ra
"bất b́nh đẳng về kết
quả." Để làm nhẹ bớt "kết
quả bất b́nh đẳng," chế độ
đánh thuế lũy tiến đă được
áp dụng vào những "người thành công
về kết quả" và những "người
thất bại về kết quả" th́
được săn sóc tận t́nh bằng chính
sách phúc lợi xă hội. Nghĩa là sự khác
sai về kết quả cần phải được
tu chính. Nhưng,
chủ nghĩa dân chủ Nhật Bản thời
hậu chiến lại coi ưu tiên sự "b́nh
đẳng về kết quả" hơn là
"b́nh đẳng về cơ hội." V́
coi trọng sự "b́nh đẳng về
kết quả," nên người ta đă
kiềm chế "b́nh đẳng về cơ
hội." Không phải dùng thuế lũy
tiến hay phúc lợi xă hội để tu chính
sự "bất b́nh đẳng về cơ
hội," mà người ta đă hạn
chế "b́nh đẳng về cơ
hội" để tạo ra "b́nh đẳng
về kết quả" bằng chủ nghĩa
quan chức quan liêu thống suất. Hiến
pháp Nhật Bản do MacArthur để lại,
bảo đảm quyền "tự do nghề
nghiệp," nhưng lại hạn chế
sự vào nghề của người mới. Ví
dụ, mở hiệu thuốc th́ tự do nhưng
sự thật là bị hạn chế bởi
chế độ đăng kư. Trường
hợp cây xăng cũng tương tự. Như
nói ở chương trước, trong "b́nh
đẳng về kết quả," th́ "b́nh
đẳng chiều dọc" được coi
trọng ở Nhật Bản hơn là "b́nh
đẳng chiều ngang". Nhật
Bản ngày nay là nước đă thực
hiện được sự "b́nh đẳng
chiều ngang" nhất thế giới. Người
ta nói, muốn biết sự b́nh đẳng kinh
tế đă đạt được hay chưa,
th́ không ǵ thích đáng bằng so sánh "thu
nhập năm giai đoạn." Đó là sự cách
xa giữa thu nhập của một phần năm
số người có thu nhập cao nhất so
với một phần năm số người có
thu nhập thấp nhất. Con số này ở
Nhật Bản là 2,9, ở Mỹ là 9,4, ở Âu
châu ít nhất là Đức cũng là 6,0 c̣n các nước
khác đều hơn 10. Ở các nước
đang phát triển, con số này c̣n lớn hơn
nhiều. C̣n
"b́nh đẳng chiều dọc" th́ bây
giờ chỉ c̣n là vấn đề luân lư cá
biệt của Nhật Bản thôi. Trong cái "b́nh
đẳng" do MacArthur cổ súy, cũng có
phần nào cái khái niệm "b́nh đẳng
chiều dọc" từ thời mạc phủ
Tokugawa. Biểu hiện của điều này là
chế độ sống lâu lên lăo làng. Ví
dụ, cùng tốt nghiệp đại học
rồi cùng vào làm công ty, nếu hai mươi năm
sau mỗi người đều lên tới hàng
trưởng pḥng, th́ như vậy là có "b́nh
đẳng chiều dọc." Nông
gia trồng lúa từ hai mươi năm trước,
th́ sau này vẫn nên tiếp tục trồng lúa.
Bởi vậy để duy tŕ t́nh trạng này,
phải bảo hộ những nhà nông như
vậy[10].
Người bán lẻ bây giờ cũng vậy, cũng
nên tiếp tục bán lẻ hai mươi năm
sau. V́ thế, đă có đạo luật hạn
chế những nhà hàng bán lẻ quy mô lớn (siêu
thị). Nhưng,
nếu nhấn mạnh vào sự "b́nh đẳng
chiều dọc," th́ sức lao động
trở thành cứng ngắc. Thế nhưng,
nếu thế hệ đổi mới, mọi
thứ đều đổi hết. Ví dụ,
đời cha làm ruộng, nhưng người
kế nghiệp làm ruộng không nhất thiết
phải là con. Cha kinh doanh tiệm bán lẻ, nhưng
con không kế nghiệp cha. Nghĩa là, những người
cùng thế hệ c̣n làm việc với nhau th́
cấu tạo công ăn việc làm không thay đổi
lắm, nhưng khi thế hệ mới xuất
hiện th́ cấu tạo ấy thay đổi
hẳn đi. Tư
tưởng "b́nh đẳng" mà MacArthur
đem vào đă đẻ ra một thứ "b́nh
đẳng không có tự do" khác hẳn
với ư đồ của ông. Về
"an toàn," th́ Nhật Bản đă đi quá
xa so với ư đồ của MacArthur. Ông cho
rằng Nhật Bản đă đẻ ra "đội
đặc công quyết tử" th́ Nhật
Bản hẳn là "dân tộc không sợ
chết," không nghĩ ǵ tới an toàn cả.
V́ thế, MacArthur đă đặt nặng
vấn đề an toàn, cổ súy chủ nghĩa
b́nh đẳng, ư thức vệ sinh và xă hội
không sự cố, không tai nạn. Thế
nhưng, Nhật Bản đă đưa những
việc này lên tới mức cực đoan. Ngày
nay, người Nhật quan niệm rằng,
chiến tranh là xấu tuyệt đối bất
kể lư do là ǵ, ḥa b́nh là tốt tuyệt đối.
V́ thế, dù chỉ là gửi quân tham gia hoạt
động hậu phương trong chiến tranh vùng
Vịnh, hay tham gia lực lượng ǵn giữ ḥa
b́nh, nhưng lập tức có đông người
phản đối như một phản xạ
tự nhiên. Ư
thức vệ sinh cũng trở nên cực đoan.
Chẳng hạn, học tṛ tiểu học chơi
ở băi cát sợ bẩn tay nên đeo bao tay,
quần áo hàng hiệu sợ vấy bẩn nên không
chơi ở sân trường, v.v.. Thế
rồi, để cho sự cố khỏi xẩy
ra, quan liêu đă tăng cường tiêu chuẩn
quy cách, khắt khe hóa quy chế. Do đó, khi quan
chức (chuyên viên) nói "không chừng có
thể có sự cố" th́ quy chế khắt
khe nào cũng thông qua được. Những
sự việc như vậy đă làm tăng
quyền hạn của quan chức quan liêu trong
thập niên 1980, và để công tác quản lư
dễ dàng, quy chế và hạn chế độ
được tăng cường vô tội
vạ. Như đă viết, những vụ
việc, như vụ động đất
lớn Hanshin-Awaji, vụ ngộ độc vi
khuẩn O157, vụ khủng hoảng hệ
thống lưu thông tiền tệ, v.v., đă cho
thấy rơ quy chế tuy khắt khe mà thực
chất tính an toàn lại đạt được
rất thấp. Phủ
nhận tinh thần sinh ra sùng bái vật lượng
và tín ngưỡng số lượng Một
điều nữa là, do sự cổ súy ư
thức về giá trị của nền văn minh
vật chất, đồng thời phủ
nhận những giá trị tinh thần như
thần thoại Nhật Bản hoặc
"hồn Yamato," đă đưa Nhật
Bản tới sự sùng bái vật lượng và
tín ngưỡng số lượng một cách
kỳ lạ. Chẳng hạn, thứ bậc công
ty được xếp đặt theo quy mô kinh
doanh lớn hay nhỏ, công ty vừa và nhỏ
mặc dầu có truyền thống và kỹ
thuật tiên tiến đến đâu cũng không
được kính trọng. Xưa kia, chủ nhân
những công ty vừa và nhỏ cũng được
giới kinh tài kính trọng. Nhưng nay, những
nhà kinh doanh với doanh thu khoảng 100 tỷ Yen
(khoảng non 1 tỷ đôla không c̣n lọt vào
ghế Hội trưởng Pḥng thương công
Tokyo hoặc Osaka, hoặc Keidanren nữa. Ở
ngoại quốc, như ở Đức, người
ta thấy Hội trưởng liên hiệp công
nghiệp Đức (tương đương
với Keidanren Nhật Bản) là những người
như chủ công ty gọng kính Rosenstock hay giám
đốc công ty dao kéo Henkel. Công ty nào cũng
chỉ có số doanh thu khoảng từ 1 đến
2 tỷ đôla nghĩa là, người ta coi
trọng truyền thống và kỹ thuật
được người đời biết
đến, cũng như nhân cách của nhà kinh
doanh, hơn là quy mô kinh doanh của công ty. Nhưng
ở Nhật Bản, th́ tất cả đều
là số lượng. Thậm chí, tranh vẽ cũng
tính giá bằng kích cỡ, bằng cân nặng.
Số lượng đă thấm sâu vào xă
hội, khiến nẩy sinh ra tư tưởng
coi trọng kinh tế, sùng bái tiền bạc. Xem
như vậy đủ thấy sự phủ
nhận tinh thần đă đi quá trớn. Có
lẽ MacArthur không biết rằng Nhật Bản
là nước không có tôn giáo theo đúng nghĩa
của tôn giáo. Như
đă đề cập ở Chương I về
Thái tử Shotoku, quan niệm tôn giáo của
Nhật Bản là "hay đâu âu đấy."
Trong bối cảnh như vậy, sự phủ
nhận truyện thần thoại, bác bỏ tính
duy tâm đă khiến Nhật Bản có chủ nghĩa
duy vật thật là quái dị. Là
quân nhân đồng thời là nhà chính trị MacArthur
là quân nhân, đồng thời lại là nhà chính
trị. Là quân nhân, ông đă hoạt động
trong ba lần chiến tranh: chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, chiến tranh
thế giới lần thứ hai và chiến tranh
Triều Tiên. Đối với một quân nhân
Mỹ, như vậy ông đă ra trận khá
nhiều lần. Không những thế, khi ở
Philippines ông đă chuẩn bị bản hiến
pháp để xây dựng một nhà nước
mới. Ở Nhật Bản, ông đă lấn sâu
rộng vào chính sách chiếm đóng. Như
vậy, ông là nhân vật rất chú trọng
tới vấn đề chính trị. Hơn
hết tất cả, ông là người tự tôn
tự đại, có ư thức êlít mănh liệt. Nhất
là những cải cách của ông trong thời gian
chiếm đóng Nhật Bản, phải coi là
của một chính trị gia, hơn là của
một quân nhân. Mà là một chính trị gia độc
tài, chứ không phải kiểu chính trị gia
được quần chúng nhân dân ủng
hộ, hay kiểu chính trị gia đấu tranh
phe phái. Thông
thường, một nhà chính trị phải
vận động chiếm được sự
ủng hộ của người khác, đoạt
được phiếu trong tuyển cử hay
trong nghị viện. Nhưng MacArthur th́ có sức
mạnh quân sự nước ngoài ở sau lưng.
V́ thế, ông bất chấp các chính trị gia
khác, không cần thỏa hiệp với quan
chức, mà chỉ cần ra lệnh là được.
Nói cách khác, ông chỉ cần làm chính trị
kiểu đế vương. Năm
1952, MacArthur đă định ra tranh cử
tổng thống Mỹ với tư cách ứng
cử viên của Đảng Cộng ḥa, nhưng không
được. Lúc đó, người được
chọn làm ứng viên tổng thống của Đảng
Cộng ḥa rồi đắc cử tổng
thống, là Nguyên soái Eisenhower, tổng chỉ huy
mặt trận Âu châu, thuộc
lớp
đàn em của ông trong hàng ngũ quân nhân
lục quân. Xem như vậy đủ thấy
MacArthur không phải là nhà chính trị quyền mưu
thuật số, không phải là một người
khôn khéo trong vấn đề vận động
nghị viện. Thế
nhưng, trong khi làm chính trị ở Nhật
Bản, ông đă tỏ ra thích phô trương và
khéo léo. Đồng thời, để cho người
Nhật hiểu ông là một người Mỹ hào
hoa, ông đă diễn xuất rất tinh vi. Chẳng
hạn, nếu xem bức h́nh chụp cuộc
hội kiến giữa ông và Thiên hoàng Nhật
Bản, người ta thấy Thiên hoàng mặc
bộ lễ phục đuôi én, trong khi ông
mặc áo sơmi trần. Muốn cho thấy Thiên
hoàng chỉ là người thường chứ không
phải thần thánh, th́ đây quả là một
hành vi có hiệu quả. Trong cuộc chiến
tranh Triều Tiên, ông có thể từ từ
phản công đánh từ phía nam lên một cách
ăn chắc, nhưng ông đă không làm như
vậy. Ông đă dám cho đổ bộ lên
Inchong, gần Seoul, một diễn xuất có tính
chất kịch bản. Nói chung, ông rất khéo
diễn xuất. Cũng may cho ông là ông đă thành
công phần lớn nhờ vào "lượng
vật chất" phong phú một cách áp đảo
của Mỹ. Trong
ḍng lịch sử Nhật Bản, đột nhiên
xuất hiện nhân vật thống trị
MacArthur từ nước ngoài đến, một
người chưa có hiểu biết chính xác
về Nhật Bản, nhưng đă ôm một
giấc mơ muốn biến Nhật Bản thành
một nước Mỹ lư tưởng. Những
ư đồ của MacArthur có cái đă thành công
mỹ măn, có cái đă đi quá trớn. Nhưng
tựu trung, chúng đă để lại ảnh hưởng
mănh liệt trong xă hội Nhật Bản ngày nay.
"Thể chế năm ’55," một h́nh
thức tu chính để triệt tiêu những ư
đồ của MacArthur, nay đă băng
hoại, nên bây giờ là lúc cần xét xem
phần nào đáng nhân rộng ra, phần nào
phải cắt bỏ đi.
[1] Nguyên
soái: Cấp
bậc cao nhất trong quâ n đội, trên
đại tướng (Đại Tự Điển
tiếng Việt, NXB VHTT, tr.1217); tương
đương với
Thống chế (?) (sách đă dẫn, tr.1588).
[2] Nguyên văn
tiếng Nhật là Shosho. Trong Quân đội Hoàng
gia Nhật Bản, Shosho là "tướng 2
sao," tương đương với Major
General của Mỹ, và Trung Tướng của
Quân đội Nhân dân Việt Nam. V́
thế, ở đây dịch là Trung Tướng.
[3] Nhật Bản ngày nay chỉ có Đội Tự vệ (nguyên văn tiếng Nhật là Jieitai). Hiến pháp Nhật Bản (điều 9) đă chối bỏ chiến tranh, cho nên Nhật Bản không thể có Quân đội được. V́ thế, luật pháp Nhật Bản chỉ quy định một tổ chức quân sự đặt tên là Đội Tự vệ, với chức năng thuần túy tự vệ.
[4] New Deal là đường
lối cải cách cấp tiến của
tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, chủ
yếu nhắm vào bảo hiểm xă hội và
phục hồi kinh tế (1933-1939).
[5] Học chế
của Nhật Bản cho tới trước
thềm đại học, là chế độ
6-3-3, nghĩa là 6 năm tiểu học, 3 năm
trung học cấp 1 (cơ sở) và 3 năm
cấp 2 (phổ thông). Giáo dục bắt
buộc (nghĩa vụ) là 9 năm đầu.
[6] Homeroom là pḥng
học dành riêng cho một nhóm học sinh
nhất định hàng ngày tới lui sinh
hoạt với một thầy cô nhất định
(thầy cô phụ trách) để được
chỉ bảo, hướng dẫn những
điều cần thiết trước khi phân
tán vào các lớp học khác nhau.
[7] Cuộc đấu tranh chống lại Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm 1960, là phong trào quần chúng qui mô lớn nhất lịch sử cận đại của Nhật Bản. Nó đă lan rộng ra toàn quốc Nhật Bản, và trong những tháng 5, 6 năm 1960, mỗi ngày đều có hàng chục ngàn người biểu t́nh bao quanh trụ sở Quốc hội Nhật Bản. Thậm chí, tổng thống Mỹ đương thời là Eisenhower, đă phải hủy bỏ cuộc viếng thăm chính thức tới Nhật Bản dịp đó. [8] "Quan bảo an" là dịch từ ngữ Sheriff của tiếng Mỹ. Ngày nay, Sheriff là quan chức có quyền cảnh sát của một quận, do dân bầu ra, phục vụ theo nhiệm kỳ. Nhưng thời kỳ Khai thác miền Tây, khi t́nh h́nh trị an c̣n thấp kém, Sheriff phần lớn là những tay súng bắn nhanh (fast draw gun man) được dân địa phương thuê. Rất nhiều phim truyện cao bồi Mỹ đă được xây dựng trên những truyền thuyết về những Sheriff bắn nhanh như vậy. [9] Karl August Wittfogel (1896-1988), nhà nghiên cứu Trung Quốc từ thời Đức Quốc xă, năm 1934 lưu vong sang Mỹ, làm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung quốc của Đại học Columbia ở New York. [10] Nhật Bản có chính sách bảo hộ nông gia trồng lúa vô cùng triệt để. Từ trợ cấp, ấn định chỉ tiêu sản xuất, định giá gạo do chính phủ thu mua, nâng hàng rào quan thuế lên để ngăn chặn không cho gạo nhập cảng từ ngoại quốc vào, v.v.. Đến nỗi, giá gạo ở Nhật Bản b́nh quân cao hơn giá gạo trên thị trường thế giới khoảng 20 lần.
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả .......... |