|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi Người dịch : Đặng Lương Mô Chương VIII : Okubo Toshimichi Người
dựng nên "chế độ quan liêu (công
chức)" Nguồn
gốc của thể chế "quan liêu (công
chức) chỉ đạo" Vấn
đề chính trị lớn hiện nay là
giảm bớt quy chế. Nội
các Hashimoto Ryutaro[1] đă lấy việc giảm bớt quy
chế làm công tác chính trị lớn nhất
của ḿnh. Song việc này không dễ dàng. Nguyên
lai, vấn đề giảm bớt quy chế và
cải cách hành chính vốn đă do nội các
Suzuki Zenko[2],
ra đời tháng 7 năm 1980, đề xướng
ra. Tới nay (1998) đă được 18 năm.
Nhất là nội các Nakasone Yasuhiro[3],
ra đời sau nội các Suzuki, tự xưng là
"nội các cải cách hành chính," đă
lập ra Ủy ban lâm thời cải cách hành chính[4]
Doko, với quyết tâm cải cách hành chính,
giảm bớt quy chế và chia quyền cho địa
phương. Chính
phủ đă đạt được ít
nhiều thành quả tốt. Chẳng hạn,
Hệ thống Đường Sắt Quốc Doanh
đă được phân thành 7 công ty và
chuyển sang dân doanh. Tổng Công ty điện tín
điện thoại Nhật Bản và Tổng Công
ty bán độc quyền th́ biến thành các công
ty dân doanh, thứ tự gọi là Công Ty NTT và Công
Ty JT[5].
Xét cái hoàn cảnh lúc đó, th́ việc cải
cách như vậy là mạnh bạo. Song, cơ
quan hành chính chủ chốt, tức là các bộ
sở trung ương cùng các cơ quan hành chính
địa phương, th́ không thể mó tay
tới được tí nào cả. Không
phải chỉ có thế. Các bộ sở đă
tăng số lượng quy chế, thể
lệ về chứng nhận và cho phép lên từ
con số 9.600 ở thời điểm nội các
Nakasone mới thành lập, tới 19.000 vào
cuối năm 1995. Nghĩa là trong ṿng mười
năm, mặc dù có sự hô hào la lối
"giảm bớt quy chế, giảm bớt
thể lệ," song thực tế là quy
chế, thể lệ cứ mỗi ngày một tăng
thêm. Tại
sao như vậy? Nói trắng ra là v́ hàng ngũ
quan liêu (công chức) quá mạnh, và số người
lệ thuộc vào hàng ngũ quan liêu này lại
quá đông. Mỗi bộ
sở của chính phủ đều có những
ngành nghề kinh doanh bám vào đó, sống đèo
ḅng vào đó. Trong đám đèo ḅng này, có
rất nhiều người kinh doanh, nhiều doanh
nghiệp lúc nào cũng chỉ trông chờ sự
chỉ đạo, sự chỉ bảo của
"quan trên." Thế rồi, dân gian cũng coi
việc làm như thế là đương nhiên.
Ở nước Nhật, ngay lúc này cũng c̣n có
rất nhiều người suy nghĩ rằng,
nếu không có quan trên chỉ đạo, quan trên
quy định cho, th́ mỗi việc đều
bị lộn
xộn hết. Cái
xu hướng, cái thể chất quan liêu chỉ
đạo này đă h́nh thành bao giờ và h́nh thành
như thế nào? Nếu ngược ḍng lịch
sử, người ta sẽ đụng tới Chính
phủ Minh Trị. Thế rồi, nói đến
nhân vật đứng ở trung tâm của
việc lập ra chế độ quan liêu này
của Chính phủ Minh Trị, người ta
ắt phải nói tới Okubo Toshimichi. Trước
khi xét vai tṛ của bậc nguyên huân Okubo Toshimichi
này của thời Minh Trị, cần suy nghĩ
xem tại sao Nhật Bản lại có nhiều quy
chế, nhiều thể lệ như vậy.
Tại sao sự chỉ đạo của quan liêu
lại không bị đánh đổ. Nghĩ như
vậy, người ta sẽ thấy có hai
mặt. Trước
nhất là ư thức êlít[6] và tinh thần trách nhiệm mănh liệt
của đám quan liêu. Họ nghĩ rằng:
"bọn ta không chỉ đạo th́ nước
Nhật non nớt này không thể đứng
dậy bước đi nổi." Chính v́
vậy mà ở Nhật Bản, quan liêu làm
việc rất nhiệt tâm và đầy kiêu hănh.
Nhưng mặt khác, không thể bỏ qua sự
thật là ngay hiện nay cũng vẫn c̣n
tồn tại tư tưởng coi dân là ngu, coi
"dân sự chẳng bao giờ làm được
ǵ ra hồn cả." Chẳng
hạn, một thí dụ trong việc nới
bỏ quy chế, là đề nghị hăy thử
cho phép mở những cây xăng tự phục
vụ. Ở nhiều nước trên thế
giới, việc biến các cây xăng thành h́nh
thức tự phục vụ đă được
phổ biến, nhưng ở Nhật Bản th́
việc này hăy c̣n bị cấm[7].
Nếu để cho cây xăng trở thành tự
phục vụ, th́ mỗi lít xăng có thể
rẻ đi vài Yen. Vậy mà tại sao ở
ngoại quốc có mà ở Nhật Bản
lại không có những cây xăng tự phục
vụ? Đó là v́ các quan ngại rằng:
"Nếu để cho cây xăng tự phục
vụ, có kẻ sẽ gây ra hỏa hoạn." Thế
nhưng, ở Âu Mỹ cũng như ở châu Á,
cây xăng tự phục vụ đâu có gây ra
hỏa hoạn? Vậy mà khi hỏi: "Tại
sao nghĩ rằng chỉ ở Nhật Bản
mới xẩy ra hỏa hoạn?" Th́ các quan
trả lời: "Người Âu Mỹ và người
châu Á quen rồi, chứ người Nhật chưa
quen, nên nguy hiểm." Thật là câu trả
lời coi thường người Nhật.
Ấy thế mà khi nghe xong câu chuyện này, cũng
đă có người phụ họa: "Chả nói
ǵ chứ ở ngay gần nhà tôi cũng có cây xăng.
Nói chung, nên để các quan kiểm tra dùm
chứ không th́ sợ lắm." Cái
ư thức quan trên như vậy đă thấm sâu
vào mỗi lănh vực. Người dân cũng
vậy, hễ có chuyện ǵ xẩy ra th́ thế
nào cũng có người nói: "Nhà nước
làm ǵ?" "Nhà nước cần quản lư
chặt chẽ hơn." Tóm lại, đó là thái
độ coi nhà nước là vạn năng, thái
độ ỷ lại vào quan liêu. Đó chính là
chế độ do Okubo Toshimichi nghĩ ra vậy. Chế
độ quan liêu (công chức) đă không
thể thiếu được cho sự hiện
đại hóa. C̣n
một mặt nữa, là sự h́nh thành và
chức năng của cơ chế quan liêu.
Phần lớn các bộ
sở Nhật Bản đều tự hào là cơ
quan nuôi dưỡng ra nhiều nhân tài, nhiều
doanh nghiệp và thực hiện nhiều chức
năng hiện đại. Không những chỉ nuôi
dưỡng, mà đối với mỗi lănh
vực, họ c̣n hăng say trong công tác xây
dựng thể chế cộng
tác hài ḥa, chỉ đạo hướng dẫn
cho thông suốt các quy cách, các tiêu chuẩn.
Nếu nh́n từ mặt trái của sự
việc này, th́ quy chế của cửa quan là ban
cho giới doanh nghiệp cái lợi ích được
bảo hộ chống lại sự cạnh tranh
của kẻ mới nhập cuộc. Chính nhờ
cơ chế đó, mà việc nới rộng
quy chế bao giờ cũng bị giới chuyên
gia và giới doanh nghiệp phản đối. Những
lănh vực mà quan liêu chỉ đạo mạnh
mẽ nhất, là giáo dục, y tế, xây
dựng, giao thông vận tải, truyền thông và
an ninh. Những lănh vực này chưa bao giờ
bị phơi bày ra trước sự cạnh
tranh quốc tế, cho nên sự đồng lơa
của cơ quan công quyền và giới doanh
nghiệp đă tạo ra t́nh trạng giá cả
cao, phí tổn cao. Xe ôtô, hàng điện - điện
tử đều là những ngành sản xuất
phải cạnh tranh khốc liệt trên thương
trường quốc tế, nhưng ở trong nước,
th́ họ lại được hưởng ân huệ
không ít của quy chế về cơ chế lưu
thông hàng hóa. Thế nhưng, hiện nay, cái đảm
phụ về giá cả cao của các ngành
nghề khác, mà họ phải gánh chịu th́ ngày
một lớn. Người
ta thường nói: "Ở
Nhật Bản, những ngành nghề bán hàng
cạnh tranh ra nước ngoài có hối suất
1 đôla bằng 100 Yen, những ngành nghề
được bảo hộ chống lại
sự cạnh tranh quốc tế có hối
suất 1 đôla bằng 200 Yen, và sau cùng là
những ngành nghề không bị cạnh tranh ngay
cả ở trong nước lại có hối
suất 1 đôla bằng 360 Yen." Chẳng
hạn, phí thông hành (giá vé) trên các tuyến
đường cao tốc so với nước ngoài
th́ rất cao. Dĩ nhiên là v́ có sự khác nhau
về giá cả đất đai, về địa
h́nh địa vật phải khắc phục,
song ngay cả với những nơi địa h́nh
tương tự như ở Âu Mỹ, phí
tổn xây dựng ở Nhật Bản cũng
đắt khoảng gấp đôi. Lư do thường
được nói tới từ lâu, là v́
Nhật Bản có nhiều động đất,
nên phải xây kiên cố hơn. Năm
1994, ngày 17 tháng 1, ở Los Angeles, Mỹ, có động
đất lớn, làm đổ nhiều nhà
cửa, cầu đường. Lúc đó, từ
giới doanh nghiệp xây dựng cho tới cơ
quan công quyền Nhật Bản, nơi nơi
đều đồng thanh lên tiếng rằng, nhà
cao tầng và đường cao tốc Nhật
Bản được chú trọng đến tính
an toàn nên nhất định không hề ǵ, khác
với Mỹ coi ưu tiên sự thi công xây
dựng ít tốn kém và nhanh. Thế
nhưng, chỉ đúng một năm sau thôi, ngày
17 tháng 1 năm 1995, trận động đất
lớn Hanshin - Awaji[8]
đă xẩy ra, và nhà đă đổ cũng như
đường cao tốc bị phá hủy
nhiều hơn ở bất cứ một nước
nào khác. Dĩ nhiên, mức độ của
trận động đất khác nhau, địa
bàn xảy ra trận động đất khác
nhau, nên khó có thể kết luận chính xác
hậu quả được, nhưng có một
điều chính xác: đó là lời tuyên bố
của giới chức xây dựng rằng
đường cao tốc Nhật Bản tuyệt
đối an toàn, là sai lầm. Nghĩa
là, mặc dầu giá cả xây dựng công
cộng tương đối cao, song tính an toàn
lại không cao lắm. Ngược lại, sở
dĩ giá cả cao là v́ giới xây dựng phen
với nhau, ăn ư với nhau, đồng lơa
với nhau nâng giá lên. Rồi, thủ tục rườm
rà làm tốn tiền hơn. Thế thôi. Ở
Nhật Bản, trong mỗi ngành nghề, ở
mỗi lănh vực, đều có những cơ
chế khác nhau, mỗi cái đều tốn
tiền cả. Những cơ chế như
vậy, đă làm cho giới kinh doanh lớn lên,
đồng thời làm cho quyền hạn của
quan liêu mạnh lên. Trong
giáo dục, y tế, giao thông vận tải cũng
vậy, sự việc cũng tương tự
hay có phần c̣n tệ hơn. Cái căn bản
coi thường người tiêu dùng, coi trọng
người cung cấp của giới quan liêu,
đă h́nh thành từ thời Minh Trị. Chính
phủ Minh Trị v́ muốn hiện đại hóa
gấp, nên một mặt đă lập ra
nhiều cơ quan công quyền chuyên đào
tạo ra nhà sản xuất, mặt khác đă
lập ra Bộ Nội Vụ làm cơ quan công
quyền có chức năng bảo vệ quần
chúng (người tiêu dùng). Những người
làm việc cho các cơ quan công quyền này đều
được tuyển lựa qua kỳ thi,
chứ không quan tâm ǵ đến lai lịch
hoặc giai cấp xuất thân của họ. Người
đă lập ra chế độ quan liêu như
vậy, chính là Okubo Toshimichi vậy. Với
ư nghĩa đó, người ta có thể nói không
quá lời rằng những vấn đề
phải đương đầu hiện nay, như
sự giảm bớt quy chế, sự khác
biệt giá cả trong và ngoài nước, v.v.,
thật ra đă bắt đầu từ thời
Okubo. Có rất nhiều người đáng
được suy tôn là "bậc nguyên huân
của thời Duy tân Minh Trị," song, xét cái
ảnh hưởng đối với Nhật
Bản ngày nay, th́ phải kể Okubo Toshimichi chính
là một trong "Mười hai người
lập ra nước Nhật." Dùng
quyền hạn và mưu lược phân hóa phe
phản đối Cái
tên Okubo Toshimichi được mỗi người
biết đến, song thực thể về ông
ta th́ không hẳn được biết đến
rơ ràng. Vây ông ta là người như thế nào? Okubo
Toshimichi sinh năm 1830 tại phiên bang Satsuma (bây
giờ là tỉnh Kagoshima), tức là năm
thứ nhất của niên hiệu Tenpo (Thiên
Bảo), niên hiệu được quen biết
với "cuộc cải cách Thiên Bảo."
Cha là môt phiên sĩ Satsuma, tức là một vơ sĩ
samurai hạng trung của phiên bang Satsuma. Năm
1846, (niên hiệu Hoàng Hóa năm thứ ba), ở
tuổi 17 (tuổi đếm), ông được
tuyển làm thư kư sở đăng kư của
phiên bang Satsuma. Mới 17 tuổi đă được
tuyển làm thư kư, th́ hẳn Okubo Toshimichi
phải là người văn hay chữ tốt,
biết sử dụng bàn toán rành rọt. Sau
đó, nhân cái gọi là "vụ đổ bể
Takasaki," tức là một vụ tranh chấp
trong phiên ban, cha ông bị trục xuất và ông
bị cách chức. Toshimichi bị mất chức
thư kư từ lúc 21 tuổi tới lúc 24
tuổi. Năm
1857 (niên hiệu An Chính năm thứ tư),
ở tuổi 28, ông trở thành một hạ sĩ
quan. Năm ấy, Saigo Takamori[9] cũng trở thành hạ sĩ quan. Nghĩa
là ở thời điểm đó, cả hai
bậc nguyên huân của thời Duy tân Minh Trị
đều đă xuất hiện trên sân khấu.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, v́ cùng với nhà sư
Gessho (Nguyệt Chiếu) và đồng bọn
nổi loạn, bị đi đày, nên Saigo
Takamori đă không ở chức này được
lâu. Okubo
Toshimichi thực sự hoạt động là
kể từ năm 1859, lúc 30 tuổi. Lúc đó,
phiên chúa Satsuma đă thay đổi, Toshimichi lân
la lại gần người cha của phiên chúa
Shimazu Hisamitsu. Biết chúa Hisamitsu thích đánh
cờ vây, Toshimichi đă học đánh cờ
rồi mon men tới làm bạn chơi cờ. Thành
công, năm sau, ông đă được phong làm
tổ trưởng kế toán. Thời đó, 30
tuổi có thể coi tương đương
với tuổi 40 ngày nay. Nghĩa là, đă
tới tuổi trung niên rồi mới đi
học đánh cờ để t́m cách tiếp
cận phiên chúa. Như vậy, ông đáng
được coi là một người có chí,
một người ham địa vị. Năm
1862 (niên hiệu Văn Cửu năm thứ hai),
Toshimichi lần đầu tiên lên thành Edo (Tokyo ngày
nay). Hai năm sau, ông trở về phiên bang Satsuma,
lo việc cải cách hành chính của phiên bang, nhưng
gặp phải sự chống đối từ
nhiều mặt. Lúc đó, phiên bang Satsuma đă
chuyển từ phe ủng hộ sang phe lật
đổ mạc phủ Tokugawa. Okubo th́ chuyên tâm
vào việc vận động cải cách. Thế
rồi bốn năm sau tức là năm 1868 (niên
hiệu Khánh ứng năm thứ tư), năm
đổi niên hiệu thành Meiji (Minh Trị),
mạc chúa đời thứ 15, Tokugawa Yoshinobu
(1866-1867), sau khi đă hoàn trả quyền cai
trị cho vua Minh Trị, lại gây hấn ở
Toba Fushimi nhưng thua trận, phải bỏ thành
Edo mà về quê ở Mito. Có người chủ
trương phải đuổi đánh. Okubo là
một trong số những người chủ trương
mạnh nhất như vậy. Nghĩa là cho đến
lúc này, ông xứng đáng được gọi
là chí sĩ của cuối thời mạc phủ
với tinh thần cách mạng như vậy. Nhưng
thật ra, Okubo Toshimichi đă phát huy thực
lực, là sau khi cuộc cách mạng Duy tân Minh
Trị đă thành công, sau khi chính phủ mới
của vua Minh Trị đă thành lập. Năm
thứ hai sau cuộc cách mạng Duy tân, tức là
năm 1869, ông được phong Tham nghị,
một chức quan trọng yếu trong triều,
rồi năm 1871, ông được phong làm Bộ
trưởng Kho bạc. Thời đó, Tham
nghị là chức quan lớn hơn Bộ
trưởng Kho bạc, và như vậy có nghĩa
là ông bị giáng chức ít nhiều. Song v́
biết cái vị trí tế nhị của ḿnh nên
ông đă nhận lănh chức vụ mới này. Thế
nhưng tháng 11 năm ấy, ông tổ chức
đoàn đại biểu thị sát nước
ngoài, tôn Iwakura Tomomi làm đại sứ toàn
quyền, c̣n chính ḿnh nhậm chức phó sứ.
Đoàn đại biểu đă bỏ ra một năm
rưỡi tuần sát các nước Âu Mỹ
để rồi trở về nước tháng 5
năm 1873. Lúc đó Okubo được 44
tuổi. Từ đó trở đi mới là lúc
Okubo phát huy thực quyền. Trong
lúc Iwakura và Okubo xuất ngoại, ở trong nước
có cuộc tranh luận sôi nổi về vấn
đề "chinh Hàn[10]." Vừa ngoại du trở về,
Okubo chủ trương đặt ưu tiên cho công
tác chỉnh đốn việc trong nước. Và
sau một cuộc tranh luận kịch liệt
với nhóm Saigo Takamori, Eto Shinpei, Itagaki Taisuke, ông
đă đè bẹp được chủ trương
"chinh Hàn." Đây là đầu mối cho cơ
hội phát huy thực lực của Okubo. Okubo
Toshimichi được phục chức Tham
nghị, đồng thời kiêm nhiệm chức
Bộ trưởng nội
vụ. Sau cuộc cải cách quan chế năm
1885, chức năng của Bộ trưởng
nội
vụ bao chùm tất cả các vấn đề
nội chính. Với quyền hạn rộng
lớn này, Okubo đă t́m mỗi cách cô lập hóa
Saigo Takamori. Năm
1875, cuộc hội đàm Osaka[11] mở ra giữa Okubo Toshimichi, Kido
Takayoshi (tức là Katsura Kogoro, một cựu phiên
sĩ phiên bang Satsuma) và Itagaki Taisuke được
mở ra, trong đó Okubo đă thuyết dụ
được họ tham gia nội các. Năm trước
đó, Okubo đă chấp nhận cho xuất binh
sang Đài Loan, và nhân cơ hội đó, đă lôi
kéo được em trai Saigo Takamori là Saigo
Tsugumichi. Dùng
thủ đoạn, Okubo lần lần chia rẽ
phe đối lập. Chẳng hạn, bọn Eto
Shinpei đă có lúc có thế lực chia hai dư
luận trong nước, song dần dần đă
bị cô lập hóa. Okubo quả là người có
thủ đoạn. Kết quả là Chính phủ
Minh Trị đă trở
thành dụng cụ cho Okubo chuyên quyền. Nhân
đó, ông đă thực thi chính sách "gia tăng
sản xuất, tân hưng kỹ nghệ[12],"
tức là chính sách chấn hưng các ngành
nghề sản xuất. Xây
dựng một quốc gia không để cho
ngoại quốc coi thường Những
chí sĩ thời cuối Edo, như Takasugi Shinsaku,
Katsura Kogoro, Saigo Takamori, đều là những người
chủ trương "nhương di (sua đuổi
man di)" để giữ vững chính sách
"tỏa quốc," tức là đóng cửa
đất nước, tức là "bế quan
tỏa cảng." Họ đă cho ám sát
những người khác chủ trương
"mở nước" như Đại lăo[13]
Ii Naosuke và những người cùng chủ trương.
Thế nhưng, chỉ mười năm sau đó,
tất cả đám người "nhương
di" này đều đă chuyển hướng
thành chủ trương "mở nước."
Nghĩa là những chí sĩ "tôn hoàng nhương
di", sau khi trở thành quan cao của Chính
phủ Minh Trị, đều đă chủ trương
"khai hóa văn minh[14]." Ở điểm này, họ đáng
gọi là những kẻ "thất
tiết," những người không giữ
được tiết nghĩa, nhưng tuyệt
nhiên không thấy họ có vẻ ǵ là ngượng
nghịu, là xấu hổ trước hành vi đổi
chiều, thái độ chuyển hướng như
vậy của họ cả. Thật là một
hiện tượng lạ lùng của thời
kỳ Duy tân Minh Trị. Sở
dĩ như vậy là v́ những chí sĩ Duy tân
này không phải là những nhà tư tưởng.
Họ chỉ là những người hành động
thực tế. Đối với họ, chủ nghĩa
chủ trương không bằng ḷng ái quốc,
không bằng tinh thần không chịu thua kém người
khác. Những
người sau này được tôn vinh là chí sĩ
Duy tân, trước sự kiện "đoàn tàu
đen xuất hiện[15],"
đă chỉ nghĩ làm sao dựng nên một nước
Nhật không bị coi thường, làm sao xây
dựng một tổ quốc Nhật Bản không
bị ngoại quốc khinh thị. Muốn
vậy, họ nghĩ, cần phải có vơ
lực mạnh. Nếu dùng vơ lực đánh
đuổi được đoàn tàu đen đi,
th́ ngoại quốc không thể khinh thường
Nhật Bản được nữa. Vơ sĩ
samurai Nhật Bản thời ấy đă chỉ
suy nghĩ đơn giản như vậy mà thôi. Cũng
có phiên chúa tưởng thế là thật, đă
thực sự thử sức với ngoại
quốc. Chẳng hạn, phiên bang Choshu đă nă
pháo vào thương thuyền Mỹ hoặc
chiến hạm Pháp và Hà Lan trong khi những tàu này
chạy ngang qua Bakan (nay là Shimonoseki); phiên bang
Satsuma th́ từ pháo đài trên bờ nă pháo vào
chiến hạm Anh khi tàu này xâm nhập vịnh
Kagoshima. Vụ trước gọi là trận
chiến tranh Bakan, vụ sau là trận chiến
tranh Satsu-Anh. Thế
nhưng đoàn tàu đen trang bị hơn 100
khẩu đại bác th́ quá mạnh. Sự hơn
thua về hỏa lực giữa địch và ta
đă rành rành. Không thể chỉ lấy áo giáp,
mũ sắt, đao kiếm, súng hỏa mai và vài
ṇng pháo cổ điển mà có thể
đương đầu được. Muốn
đánh thắng ngoại bang, th́ phải có tàu
chiến tố tân trang bị đại bác
lớn. Mà phải có thật nhiều cơ. Khi
biết rơ sự thực như trên, các phiên chúa
cũng như mạc chúa Tokugawa bèn chạy
tới các thương gia Hà Lan ở Nagasaki,
hỏi mua súng đại bác, tàu chiến. Nhưng
đại pháo và chiến hạm th́ giá đắt.
Hơn nữa, mua bằng tiền giấy của
phiên bang đâu có được. Phải mua
bằng vàng bạc. Thế là các vơ sĩ samurai
mới tỉnh ngộ ra rằng, phải dựng
xưởng đúc đại pháo, phải xây xưởng
đóng tàu mới có thể có được
những vơ khí mạnh đó. Việc
này không dễ dàng ǵ. Họ dần dần nghĩ
ra rằng, muốn có vàng bạc th́ phải
dựng nên những ngành nghề chế tạo
sản phẩm có thể bán ra nước ngoài
được. Muốn thế, muốn gây
dựng những ngành nghề sản xuất
mới, th́ phải học kỹ thuật, học
chế độ ngoại quốc để công
nghiệp hóa đất nước, chứ không
thể cứ một mực "tôn hoàng nhương
di (tôn vua đuổi man di)" được
nữa. Muốn xây dựng một nước
khiến ngoại quốc không c̣n khinh rẻ
được nữa, th́ không c̣n có chỗ nào
khác hơn là "khai hóa văn minh." Nói
tóm lại, các chí sĩ Duy tân, xuất phát
từ chủ nghĩa dân tộc đă đi
tới kết luận "khai hóa văn minh"
để xây dựng nền công nghiệp
hiện đại. Người ta có cảm tưởng
như điểm xuất phát và điểm đích
h́nh như nghịch đảo. Nhưng đây là
kết luận đúng. Nhưng chỉ v́ quá hăng
say, nên có lúc họ đă đi quá trớn. V́
muốn du nhập kỹ thuật hiện đại,
cơ chế hiện đại của ngoại
quốc, họ đă truyền bá ư nghĩ bỏ
hết truyền thống có sẵn của
Nhật Bản. Chẳng hạn, hạng người
như Mori Arinori[16]
đă chủ trương bỏ hẳn tiếng
Nhật và lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính
thức thay thế. Mục
đích của Duy tân là làm cho Nhật Bản thành
một nước không bị ngoại quốc
khinh thị, nên nếu những người ban
đầu chủ trương dùng vơ lực xua
đuổi ngoại bang đi, nhưng sau đó cũng
chính những người này lại khởi xướng
việc học hỏi ngoại quốc, th́
cứu cánh vẫn là một, dầu cho thủ
đoạn có khác đi. Người theo chủ
nghĩa dân tộc chủ trương "tôn hoàng
nhương di" cũng đồng thời
lại là người tôn thờ chủ nghĩa
Âu hóa chủ trương "khai hóa văn
minh." Thế mà những người như
vậy không hề coi ḿnh là kẻ thất
tiết. Quả thật đây là tiến tŕnh
chuyển biến tư tưởng rất
Nhật Bản, mà Okubo Toshimichi là một đại
biểu vậy. Như
thế, trở thành người chủ trương
Khai hóa Văn minh, Okubo Toshimichi đă dùng mọi
thủ đoạn cô lập Saigo Takamori, chèn ép
Eto Shinpei, mà hẳn vẫn cho ḿnh đă làm
việc chính đáng. Trong Chính phủ Minh Trị,
lập ra cái mà người đời gọi là
"thể chế độc tài Okubo," rồi
áp dụng chính sách khai hóa văn minh và chủ trương
gia tăng sản xuất, tân hưng sản
nghiệp để làm cho Nhật Bản giầu
mạnh không bị ngoại bang khinh thị
nữa, hẳn Okubo đă làm với niềm tin
của ông vậy. Xây
dựng cơ chế trong nước rập theo
đế quốc Đức. Nhật
Bản thời Minh Trị đứng về phe
đế quốc Anh trên mặt ngoại giao, nhưng
mỗi cơ chế trong nước th́ lại
rập theo khuôn mẫu của đế quốc
Đức. Đây là biểu hiện của đường
lối thực tế của Okubo Toshimichi. Thật
ra, sự kiện Nhật Bản thuộc phe đế
quốc Anh về mặt ngoại giao, không
phải là tự ư Nhật Bản lựa chọn
như vậy. "Đoàn
tàu đen" gồm bốn chiến hạm, do
đô đốc Perry chỉ huy, tới đ̣i
Nhật Bản mở cửa năm 1853 (niên
hiệu Gia Vĩnh năm thứ sáu), là của
Mỹ. Năm sau, Perry lại tới đ̣i đàm
phán. Nhưng ngay sau đó, ở Mỹ đă
xẩy ra cuộc nội chiến Nam Bắc quanh
vấn đề giải phóng nô lệ, gây
tổn hại lớn đến nội lực,
khiến Mỹ không c̣n bụng dạ nào quan tâm
đến một đảo quốc nhỏ bé
ở vùng Cực Đông nữa. Một
mặt, giữa lúc Nhật Bản ch́m đắm
trong sự hỗn độn thời cuối Edo,
th́ Âu châu đang ở thời kỳ đại
loạn với cuộc chiến tranh Phổ - Áo
(1866), rồi chiến tranh Phổ - Pháp (1870-1877).
Đế quốc Phổ với trung tâm là thành
phố Berlin ngày nay, đă liên tiếp thắng Áo
rồi Pháp. Kết quả là năm 1871, nước
Đức đă được thống nhất và
đế quốc Đức với nước
Phổ làm trung tâm đă ra đời. Thời
điểm này, nước Italia cũng được
thống nhất thành một quốc gia. Châu Âu
đă trải qua một thời kỳ 10 năm ly
loạn. Do đó, cả Pháp, Đức, Áo đều
không có ư định dùng quân sự xen vào
nội bộ Nhật Bản. Trong các cường
quốc ở châu Âu lúc đó, chỉ c̣n có Anh và
Nga là c̣n có thể gửi quân lực tới
miền Cực Đông. Thế nhưng, đế
quốc Nga lúc đó tuy có quân lực hùng
mạnh luôn luôn có tham vọng bành chướng,
nhưng tŕnh độ kinh tế, kỹ thuật
lại thấp kém, và chế độ xă hội
th́ lại có phần thua kém Nhật Bản. Vào
thời kỳ Duy tân Minh Trị của Nhật
Bản, th́ đế quốc Nga chỉ mới
bắt đầu cuộc giải phóng nông nô, nên
khó có kỹ thuật cũng như tư bản
để viện trợ cho Nhật Bản. Đến
thế này, th́ Nhật Bản chỉ c̣n Anh
quốc để về hùa mà thôi. T́nh huống
này được lặp lại sau trận
Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Thật vậy, năm 1951 (niên hiệu Chiêu Ḥa năm
thứ 26), Nhật Bản kư ḥa ước San
Francisco để thuộc vào phe các nước Tây
phương, nhưng Nhật Bản bị Mỹ
chiếm đóng, rồi cuộc chiến tranh
Triều Tiên bùng nổ, nên Nhật Bản không c̣n
cách lựa chọn nào khác hơn là về phe
với Anh quốc trên mặt ngoại giao. Thời
Minh Trị, Nhật Bản cũng chỉ c̣n cách
về phe với Anh quốc. Kể từ sau khi
"đoàn tàu đen" tới Nhật Bản,
th́ tin tức ngoại quốc xuất phát từ
Anh quốc đă lần lần thay thế cho tin
tức ngoài nước trước đó
xuất phát từ Hà Lan. Người Nhật
thời Minh Trị quan niệm rằng, một
quốc gia hiện đại là một nước
có chủ nghĩa dân chủ và nền kinh tế
tự do như Anh quốc vậy. Thế nhưng,
khi Okubo Toshimichi đóng vai phó sứ của phái
đoàn Iwakura sang tới châu Âu, ông mới
thấy rằng chẳng riêng ǵ Anh quốc, mà
cả Đức, Pháp, Áo - Hung (năm 1867, đế
quốc Áo đă cải tổ thành đế
quốc Áo-Hung) đều là các quốc gia
hiện đại. Mỗi nước đều
có thể chế khác nhau. Trong các nước này,
Okubo Toshimichi đă đặc biệt quan tâm
tới đế quốc Đức, một thế
lực tân hưng đang sục sôi khí thế bá
chủ. Trong
các nước châu Âu, Anh quốc là nơi đă
dấy lên làn sóng cách mạng công nghiệp
hiện đại đầu tiên. Theo sau đó là
Pháp, Hà Lan. Chậm hơn nữa là đế
quốc Đức. Để đuổi kịp Anh
quốc, đế quốc Đức đă áp
dụng chính sách mạnh mẽ nuôi dưỡng các
ngành nghề sản suất. Với hỗn danh
"Tể tướng máu sắt," Thủ tướng
Otto von Bismarck đă áp dụng chủ nghĩa quan
liêu, một chế độ và tổ chức khác
hẳn với Anh quốc. Từ
khoảng giữa thế kỷ thứ XVIII, ở
Anh quốc đă nổ ra cuộc cách mạng công
nghiệp. Nhiều kỹ thuật, nhiều phương
pháp mới đă được phát minh ra. Nhưng,
kỹ thuật nào tốt, phương pháp nào
hay, th́ thực ra chưa ai biết được.
Bởi đó là thời kỳ mà người ta
đă mất niềm tin của cả ngàn năm
trước, tức là "lời Chúa" trong
Kinh Thánh. Nào Kinh Thành nói "đất không
chuyển động," nhưng có vẻ là
"trái đất chuyển động"
mới đúng. Nào Kinh Thánh nói "Chúa sáng
tạo ra con người," nhưng không
chừng con người là do loài vượn
tiến hóa mà thành. Nếu "lời Chúa
dạy" đă được tin là đúng không
lay chuyển cả ngàn năm rồi, mà nay c̣n
bị nghi ngờ, th́ lời nói của bọn
quan lại, học giả, v.v. làm sao tin được?
Nói cách khác, tiền lệ cũng như tiêu
chuẩn, tất cả đều trở thành vô
dụng. Trong
bối cảnh như vậy, người Anh
thế kỷ thứ XVIII đă nghĩ như sau.
Mỗi người đều đáng được
"b́nh đẳng trong cơ hội" trở
thành người cung cấp sản vật. Cho
tới thời bấy giờ, những người
sản xuất đều họp thành một
"tổ ngành nghề (guild)." Chỉ
những ai ở trong "tổ ngành nghề"
mới được phép sản xuất và bán
ra sản phẩm. Đồ sắt thép phải là do
những người trong "tổ thợ rèn"
mới được chế tạo và bán ra. Hàng
len phải là do "tổ dệt len" mới
được dệt và bán ra. "B́nh
đẳng về cơ hội" có nghĩa là
mỗi người đều được phép
chế - bán ra sản phẩm không phân biệt
họ xuất thân từ giai tầng nào. Nói cách
khác, đây là sự tự do cạnh tranh. Thế
rồi, sản phẩm nào tốt, ai khéo tay,
sẽ để cho người tiêu dùng lựa
chọn. Nghĩa là thực hiện chủ
quyền của người tiêu dùng qua sự
quyết định "hàng bán chạy là hàng
tốt." Người cung cấp sản
phẩm bán chạy trên thị trường
sẽ được phát đạt. Đây là
triết lư "kẻ thích nghi sinh tồn,"
"kẻ thích nghi phồn vinh." Sau này, trong sách
"On the Origin of Species by Means of Natural Selection (Bàn
về nguồn gốc chủng loại bằng
sự chọn lọc {đào thải} tự nhiên),"
Charles Robert Darwin đă nâng triết lư này lên hàng
"nguyên lư tự nhiên," song thật ra, người
Anh đă thực hành điều này cả trăm
năm trước đó rồi. Điều
vừa kể mới thực sự là h́nh
thức kinh tế tự do kiểu Anglo-Saxon.
Nền kinh tế tự do Anh quốc bảo đảm
sự "b́nh đẳng về cơ
hội," tức là sự "tự do về
nghề nghiệp." Ai cũng có thể trở
thành nhà cung cấp. Kết quả sẽ
được quyết định bởi
cạnh tranh. Ai được đông đảo
người tiêu dùng ủng hộ th́ phát đạt,
ai mất sự ủng hộ của người
tiêu dùng th́ tiêu diệt. Ư
nghĩ như vậy về kinh tế tự do,
về chủ quyền thuộc về người
tiêu dùng, đem áp dụng vào chính trị th́
trở thành chủ nghĩa dân chủ. Trong
chế độ chính trị dân chủ chủ
nghĩa, ai ai cũng có thể, trên nguyên tắc,
ứng cử làm chính khách được. Nghĩa
là ai ai cũng có cơ hội trở thành người
cung cấp chính trị. Và sự lựa chọn
ai làm chính khách là quyền của cử tri,
tức là người tiêu dùng chính trị.
Ứng viên nào được sự ủng
hộ của đông đảo cử tri, sẽ
đắc cử đại biểu quốc
hội. Đảng có chính kiến hay nhất sẽ
nắm được chính quyền. Nói cách khác,
chủ nghĩa dân chủ là mọi người dân
làm chủ, là phiên bản chính trị của
chủ nghĩa kinh tế tự do. Ngày
nay, chúng ta chỉ c̣n biết rằng người
Anh đă chế ra những máy móc tuyệt
diệu như máy kéo sợi Hargreaves, đầu máy
xe lửa Stevenson. Nhưng những thứ c̣n
được truyền tụng như vậy ngày
nay đều là những phát minh thành công cả.
Thật ra, phần lớn những máy móc
được sáng chế ra trong thời kỳ
của cuộc cách mạng cơ giới đó, là
đồ bỏ, là đồ vô dụng. Một
số những máy móc như vậy ngày nay
vẫn c̣n được triển lăm ở
tầng hầm của Viện Bảo Tàng Đế
Quốc Đại Anh ở London. Chẳng hạn có
những thứ như "máy vừa ngủ
vừa được uống cà phê," v.v..
Trong khoảng từ hậu bán thế kỷ
thứ XVIII sang thế kỷ thứ XIX, những máy
như vậy được chế ra rất
nhiều ở Anh quốc. Có nhiều người
đă xuất vốn cho chế tạo ra, rồi
cũng có người đă cất công đi rao
bán những máy như vậy. Buôn
bán lừa đảo, cưỡng đoạt, cướp
giật cũng hoành hành. Nước Anh vào
thời kỳ cách mạng công nghiệp, thật
ra là một xă hội méo mó hỗn tạp. T́nh
trạng như vậy đă kéo dài gần
một trăm năm, và kết quả là
những cái tốt, cái hay sống sót, và nền
công nghiệp hiện đại chế tạo
những cái đó đă phát đạt vậy. Thế
rồi sau cuộc chiến tranh Napoléon, kể
từ khoảng năm 1830 trở đi, th́ Pháp,
Đức cũng gia tăng tốc độ công
nghiệp hóa. Đến khoảng năm 1870, Bismarck lănh
đạo đế quốc Đức đă
quyết tâm học hỏi tiền lệ để
đuổi kịp Anh quốc về mặt công
nghiệp hóa. Nghĩa
là Anh quốc đă làm cuộc thí nghiệm
về chủ quyền của người tiêu dùng
rồi, nay không cần chờ đợi sự
đào thải bởi cạnh tranh tự do
nữa. Đức chỉ cần nh́n vào kết
quả đó, thấy cái ǵ thành công hăy bắt
tay vào công nghiệp hóa, th́ như vậy không phí
phạm. Đồng thời, để cho những người
hiểu biết tinh tường về tiền
lệ ở Anh quốc lựa chọn cái nào
tốt nhất mà sản xuất công nghiệp, th́
như thế có thể hoàn thành sự hiện
đại hóa một cách có hiệu quả. Như
vậy, chuyện lừa bịp sẽ không có, phá
sản sẽ không xẩy ra, quốc dân khỏi
bị lừa đảo mà có thể sống an tâm
hạnh phúc được. Vậy
ai là người hiểu biết tinh tường
về tiền lệ ở Anh quốc? Đó chính là
đám quan liêu (công chức) ưu tú, các giáo sư
đại học. Vậy, cứ để cho
những người này chỉ dẫn đường
hướng, chuẩn định quy cách sản
phẩm, rồi cho giới công nghiệp chế
tạo ra và cho quốc dân mua dùng. Đây là chủ
nghĩa khai sáng do quan liêu (công chức) chỉ
đạo, nền tảng cho đế quốc Đức
vậy. Phái
bộ Okubo Toshimichi sang châu Âu, được nghe
giải thích chế độ này của đế
quốc Đức, đă bị mê hoặc. Họ
nghĩ "Nhật Bản nên du nhập và
thực hiện chế độ này." Có
thể là từ trước đó, Okubo Toshimichi
đă thấy những mâu thuẫn của chủ
nghĩa dân chủ kinh tế tự do của Anh và
do đó có ác cảm với chủ nghĩa này. Giữ
chức Bộ trưởng Nội vụ nắm toàn
thể nền chính trị quốc gia Trở
về Nhật, Okubo Toshimichi đă chống lại
đường lối "chinh Hàn" của bè
phái Saigo Takamori, Itagaki Taisuke, Eto Shinpei. Ông chủ
trương cải cách nội chính chứ không
gửi quân đội viễn chinh sang bán đảo
Triều Tiên. Rồi ông thuyết phục mọi
người chung quanh rằng đường
lối tốt nhất là áp dụng cơ chế
đế quốc Đức mà ông đă học
hỏi được. Khi quan điểm lư
luận của ông chiếm được đa
số trong Chính phủ Minh Trị, ông bèn loại
bỏ Saigo và Eto đi, rồi lôi kéo Itagaki vào bè
phái của ḿnh. Đồng thời, để
thực hiện đường lối
"Thực sản hưng nghiệp" ông đă
đích thân nắm chức bộ trưởng
nội vụ, một ḿnh quán xuyến mọi chính
sách nội bộ. Đường
lối của Okubo Toshimichi ngày nay nh́n lại, là
chỉ tôn trọng bọn êlít, tức là đám
người ưu tú, c̣n quốc dân th́ bị
khinh miệt là ngu dốt. Tuy vậy, so với
chủ trương phân biệt ḍng dơi (thị
tộc) của bọn Saigo, th́ đường
lối này hăy c̣n tiến bộ hơn nhiều. Đồng
thời, đối với đại đa số
quốc dân, ông tỏ ra nhiệt t́nh với
hoạt động khai sáng, hoạt động
phổ biến kỹ thuật sản xuất.
Chứng cớ là việc mở hội chợ. Okubo
Toshimichi đă đích thân đứng ra chủ tŕ
ba lần hội chợ. Những hội chợ này
là để trưng bầy kỹ thuật ưu
tú của ngoại quốc, và chiêu mộ người
trong nước đứng ra công nghiệp hóa
những kỹ thuật đó. Ai dám đứng
ra làm, sẽ được chính phủ trợ giúp
vốn làm ăn. Thế rồi, áp dụng
đường lối giáo dục bằng vật
thực, ông cho dựng nhà máy mẫu bằng cách
rập khuôn nguyên xi nhà máy kéo sợi của Pháp
và nói "cứ bắt chước y hệt
thế này là được." Tất cả
những việc như vậy, chính Bộ trưởng
nội vụ Okubo đă đích thân đứng
ra làm. Xem
như vậy, th́ thời đó, phạm vi
hoạt động của Bộ Nội vụ bao
gồm những bộ ngày nay như Bộ Thương
mại quốc tế và công nghiệp, Bộ Nông
thủy sản, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng,
Bộ Lao động, Bộ Tự trị,
Tổng cục công an và tất cả nghiệp
vụ của các Tỉnh trưởng. Từ
Bộ Nội vụ như vậy, công tác chuyên
ngành lần lần thành h́nh và các bộ chuyên môn
dần dần tách ra thành các bộ riêng. Trước
nhất là Bộ Nông thương vụ được
độc lập. Rồi năm 1925 (niên hiệu
Đại Chính năm thứ 14), bộ này lại tách
ra thành Bộ Nông lâm và Bộ Công thương.
Sang thời Showa (Chiêu Ḥa, từ năm 1926 tới
1989), th́ Bộ Y tế (1938), rồi sau cuộc
Chiến tranh thế giới thứ II th́ Bộ
Lao động (1947), Bộ Xây dựng (1948)
được tách ra độc lập. Rồi các
tỉnh trưởng được trực
tiếp bầu ra, và Bộ Nội vụ sau cùng
được chia thành Bộ Tự trị và
Tổng cục cảnh sát, với chức năng
giám sát điều chỉnh hoạt động hành
chính của các tỉnh mà thôi. Nói
cách khác, Bộ Nội vụ thời Minh Trị
đă quán xuyến từ vấn đề
nội vụ tới việc tân hưng công
nghiệp. Thời ấy, ngoài Bộ Nội
vụ ra, c̣n có các bộ sau: Bộ ngoại giao
coi việc ngoại giao, Bộ Lục quân và
Bộ Hải quân lo việc quân sự, Bộ Cung
đ́nh coi việc hoàng gia, Bộ Tư pháp lo
việc pháp luật, Bộ Văn coi việc
học (giáo dục đào tạo), Bộ Kho
bạc coi việc tài chính, Bộ Đường
sắt quản lư kinh doanh hệ thống
đường sắt, Bộ Đệ tín lo
việc bưu chính, điện tín cùng những
vấn đề khác như điện lực,
vận tải đường biển. Nghĩa
là, trừ giáo dục, tài chính và các ngành
nghề quốc doanh, c̣n mọi việc nội chính
đều nằm trong tay Bộ Nội vụ.
Những sản nghiệp như nông nghiệp, lâm
nghiệp, khoáng sản (hầm mỏ), công
nghiệp, vận chuyện hàng hóa, xây dựng, y
tế, lao động, v.v., tất cả đều
do một tay Okubo Toshimichi nắm giữ hết. Chế
độ quan liêu (công chức) Nhật Bản là
rập theo khuôn mẫu của chủ nghĩa khai
sáng kiểu quan liêu chỉ đạo của
đế quốc Đức. Trước hết là
thành lập một loạt cơ quan công quyền
có mục đích gây dựng những nhà cung
cấp. Ví dụ, Bộ Văn (tương
đương với Bộ Giáo dục và Đào
tạo ở ta) là cơ quan đào tạo thày giáo,
phổ cập giáo dục học đường.
Bộ Văn ngày xưa cũng như ngày nay, không
hề để tâm tới học tṛ. Bộ Đường
sắt lo trải đường sắt ra toàn
quốc, đào tạo kỹ sư và gây dựng
xí nghiệp vận hành hệ thống đường
sắt. Bộ Kho bạc trông coi việc phát
triển của ngân hàng. Bộ Điện tín lo toan
sự nghiệp phát triển điện tín và
vận tải đường biển. Mặt
khác, cơ quan nhà nước để bảo
vệ người tiêu dùng, tức là quốc dân
nói chung, cũng đă được lập ra. Trước
cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai,
đó là Bộ Nội vụ với các tỉnh
trưởng và cảnh sát nắm quyền địa
phương. Bộ
Nội vụ trước thời chiến tranh, là
trung tâm của quyền hành chính địa phương,
với đám quan liêu nặng đầu óc chăn
dắt con dân. Chính họ đă tự ví ḿnh là
"mục dân quan (quan chăn dắt con dân)."
Từ này đă được thông dụng cho
tới khoảng năm 1970 (niên hiệu Chiêu Ḥa năm
thứ 45). Nếu các bộ sở khác chú
trọng việc cung cấp, th́ Bộ Nội
vụ chăm lo việc bảo hộ, dẫn
dắt đám dân đen yếu hèn. Cái ư thức
êlít của họ là như thế đấy. Sự
chỉ đạo của quan liêu theo kiểu đế
quốc Đức gồm có, một mặt là cơ
quan nhà nước chuyên lo việc tạo dựng
các ngành nghề sản xuất, mặt khác là
Bộ Nội vụ chăm sóc quốc dân.
Một sự cân bằng đă phát sinh ra giữa
hai thế lực, một bên là phát triển
quốc gia, một bên là bảo hộ quốc dân.
Okubo Toshimichi đă rập khuôn nguyên xi chế
độ đó của đế quốc Đức,
song, tự ông đă nắm giữ luôn Bộ
Nội vụ và trong một thời gian khá dài,
Bộ Nội vụ của ông đă làm luôn
cả hai việc. V́ vậy, dẫu có bị
gọi là "Okubo độc tài" cũng đáng
lắm. Hăy
gác chuyện ấy sang một bên. Từ khi có
chế độ quan liêu thời Minh Trị, người
ta thấy đă lan rộng trong quần chúng cái
ư thức nương tựa vào quan liêu, bởi v́
"quan liêu học rộng hiểu nhiều,"
c̣n ở quan liêu, người ta thấy phát sinh
ra cái ư thức coi "quần chúng ngu dốt, nên
phải được bảo hộ." Nghĩa
là, quan sẽ dạy bảo tất cả kỹ
thuật, chế độ ưu việt của châu
Âu cho, c̣n dân th́ thành chân tay làm việc tại
hiện trường là được. Do
đó, từ chủng loại và quy cách sản
phẩm, tiêu chuẩn thiết bị tới
thời gian lao động và chế độ thuê
mướn lao động, tất cả đều
do quan liêu định trước. Đó là điều
mà giới quan liêu cho là cần phải có, để
gây dựng các ngành nghề sản xuất
hiện đại, và như vậy mới có
lợi cho người tiêu dùng. Một mặt,
để bảo đảm cho dân ngu hèn khỏi
bị đám con buôn lưu manh bóc lột, một
lực lượng cảnh sát quốc gia đă h́nh
thành, gồm có đám quan liêu Bộ Nội
vụ, các tỉnh trưởng thị trưởng
và cảnh sát hành chính, luôn luôn để
mắt nḥm ngỏ, sẵn sàng bắt giữ
trừng trị bọn người phạm pháp.
Chế độ này quả thật đă có ích
cho việc xây dựng Nhật Bản thành một
quốc gia công nghiệp hiện đại. Chế
độ quan liêu được tăng cường
sau khi Okubo qua đời Chế
độ quan liêu Minh Trị do Okubo Toshimichi du
nhập vào, được xác lập vào
khoảng năm 1877 (niên hiệu Minh Trị năm
thứ 10), tức là vào lúc cuộc chiến tranh
Tây Nam. Chính phủ Duy tân Minh Trị, cho đến
năm 1871 (niên hiệu Minh Trị năm thứ tư),
chỉ lo phá bỏ cái cơ chế có trước
đó của thời mạc phủ Tokugawa,
chứ chưa suy nghĩ nên làm ǵ sau đó.
Việc này đă chỉ được bàn
luận nghiêm chỉnh sau khi đoàn đại
biểu Iwakura được cử đi thị sát
nước ngoài năm 1871 đó. Tất
nhiên là một sự hỗn loạn đă
diễn ra xung quanh vấn đề điều hành
nước Nhật như thế nào. Năm 1873
(niên hiệu Minh Trị năm thứ sáu), chủ
trương của bọn Okubo được nh́n
nhận, th́ đường lối cơ bản
mới được định, là theo chế
độ quan liêu chỉ đạo. Nhưng trong
nước hăy c̣n nhiều nơi phản đối.
Người ta chưa tin thực lực của
chế độ quan liêu. Thế
rồi năm 1877, người ta thấy quân đội
địa phương (trấn đài binh)
gồm nông dân bị trưng binh, đă đánh
bại quân đội sĩ tộc[17]
của Saigo Takamori. Sự thế đă đổi
hẳn: công chức (quan liêu) giỏi và mạnh hơn
sĩ tộc. Hơn
thế nữa, do cuộc chiến tranh này mà các
ngành nghề như đóng tàu, súng đạn, quân
trang, quân giới, v.v., đă h́nh thành, nghề
vận chuyển đường biển để
chuyên chở quân nhu cũng phát đạt lớn
lao. Thua
trận, Saigo Takamori đă tự mổ bụng
ở Shiroyama. Kido Takayori cũng chết bệnh.
Thế là ai ai cũng tưởng Okubo sẽ thành
diễn viên độc nhất trên sân khấu, nhưng
chính Okubo cũng đă bị ám sát năm 1878 (niên
hiệu Minh Trị năm thứ 11). Như
vậy, thế hệ thứ nhất lănh đạo
cách mạng Minh Trị đă gần như không c̣n
ai. Từ đó, thế hệ thứ hai lănh đạo
cách mạng, gồm có bọn Ito Hirobumi, Yamagata
Aritomo, đă nắm giữ quyền hành của Chính
phủ Minh Trị. Chế
độ quan liêu do Okubo dựng nên, đă
được bọn Ito Hirobumi củng cố thêm
cho vững chắc hơn. Để được
như vậy, trước hết, họ thiết
lập trường Đại học quốc gia (đúng
ra là Đại học đế quốc, ở đây tạm dịch là Đại
học quốc gia) để
đào tạo nhân tài cho chế độ quan liêu.
Lúc đầu, chỉ có một trường Đại
học quốc gia (sau này trở thành Đại học
quốc gia Tokyo) nên không cần ghép chữ Tokyo vào tên
đại học. Sau này, đến năm 1897 (niên
hiệu Minh Trị năm thứ 30), trường
Đại học quốc gia thứ hai được
thiết lập ở cố đô Kyoto. Từ
đó, Đại học quốc gia thứ nhất
được cải danh là Đại học quốc
gia Tokyo. Đại
học quốc gia được lập ra với
mục đích ǵ? Trước nhất, Đại
học Luật là để đào tạo quan hành
chánh và quan ṭa. Đại học Công nghệ là
để đào tạo quan chức công chánh, quan
chức trị thủy, quan chức đường
sắt, kỹ sư cho Bộ
Đệ tín và các bộ
khác. Đại
học quốc gia có uy tín hơn các đại
học tư thục khác. V́ vậy, những người
xuất thân từ Đại học quốcgia khi vào làm
việc ở các bộ
sở, đương nhiên có ư thức êlít,
bởi v́ chính họ đă
được đào tạo để tự coi
ḿnh ưu tú hơn người khác. Ở đây,
người ta cũng thấy xuất hiện tư
tưởng quốc gia kiểu quan liêu chỉ
đạo do Okubo Toshimichi lập ra vậy. Ngược
lại, các xí nghiệp dân doanh tiếp nhận
nhiều người tốt nghiệp các trường
đại học tư, hay các trường cao
đẳng chuyên môn (như Cao đẳng Thương
nghiệp, Cao đẳng Công thương).
Nghị viện đế quốc (quốc
hội) cũng phần lớn là những người
xuất thân từ các đại học tư. Nói
cách khác, cái suy nghĩ của chế độ giáo
dục này, là đào tạo những người
tài giỏi (quan liêu) có năng lực quy hoạch
cao độ có khả năng hoạch định
đường lối, c̣n xí nghiệp dân doanh th́
chỉ cần người có năng lực làm
việc ở hiện trường. Năm
1890 (niên hiệu Minh Trị năm thứ 23),
nghị viện đế quốc được
lập ra. Giống như trường hợp
đế quốc Đức, nghị viện này
đă được bố trí sao cho các ủy viên
chính phủ được ngồi ở vị trí
cao hơn hẳn lên. Nghị viện, như
vậy, chỉ được coi là nơi dân
đen đệ
đạt ư kiến lên chính phủ. Các
quan xuất thân Đại học quốc gia được
coi là tài giỏi hơn đại biểu dân
cử do dân bầu ra. Hội trường
quốc hội Nhật ngày nay đă được
xây năm 1936 (niên hiệu Chiêu Ḥa năm thứ
11), gồm có ghế của chủ tịch
quốc hội ở bậc cao nhất chính
giữa, trước mặt ghế chủ
tịch là diễn đàn, hai bên diễn đàn là
hàng ghế bộ
trưởng, phía sau hàng ghế bộ
trưởng là hàng ghế ủy viên chính
phủ, tức là ghế cho các quan chức bộ
sở trung ương. Các nghị viên do quốc dân
bầu ra, th́ ngồi thấp hẳn xuống dưới,
ngửa mặt nh́n lên hàng ghế các quan. Nghị
viện Anh quốc th́ khác hẳn. Các nghị viên
không có ghế riêng. Họ ngồi trên những hàng
ghế dài, xếp đối diện với nhau
thành từng bậc. Một bên là thủ tướng,
các bộ
trưởng và các nghị viên đảng
cầm quyền, bên kia là các nghị viên đảng
đối lập. Quan liêu các bộ
sở trung ương không có chỗ
tham dự trong cuộc tranh luận của nghị
viện. Cũng là chế độ nội các
nghị viện, song Nhật Bản và Anh quốc
khác nhau xa lắm. C̣n
hội trường của nghị viện đế
quốc Đức, tức là khuôn mẫu của
hội trường quốc hội Nhật
Bản, th́ năm 1933 đă bị Hitler âm mưu
phóng hỏa nên đă bị đóng cửa
từ đó. Đến khi quân đội Liên Xô
tiến vào Berlin th́ hội trường đă
bị hủy hoại phần lớn. Từ đó,
nó đă bị bỏ trống một thời gian
dài bên cạnh "bức tường Berlin."
Sau khi Đức thống nhất, Berlin trở
lại thành thủ đô liên bang, nó lại
được dự kiến dùng làm hội trường
của Hạ viện. Song, bên trong đă do
kiến trúc sư người Anh, Sir Norman Foster
thiết kế nên đă khác hẳn xưa kia. Nước
Nhật thời Minh Trị liệu có thể coi là
đă thành công chăng? Nhờ về phe với
Anh quốc trên mặt ngoại giao, nên Nhật
Bản đă thắng hai cuộc chiến tranh
Nhật - Thanh (1894-1895) và chiến tranh Nhật –
Nga (1904-1905), rồi đă thành công trong việc
thu hút đầu tư của Anh quốc. Kỹ
thuật đường sắt, điện tín, bưu
chính, v.v., cũng đă học được. Hơn
thế nữa, trong cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, Nhật Bản
đă trở thành nước chiến thắng.
Đến nỗi
có một lúc, Nhật Bản đă có thể
tự hào là "một trong ba đại cường
quốc thế giới." Ở
trong nước, th́ nhờ học được
thể chế của đế quốc Đức, nên
từ rất sớm hệ thống đường
sắt đă được trải ra khắp nước,
hệ thống điện tín được bành
chướng, hệ thống giáo dục sơ
cấp được phổ cập tới
khắp miền xa miền sâu. Đây chính là thành
quả của chế độ Đức sau khi
đă loại bỏ sự cạnh tranh của dân
gian và sự chập choạng ṃ mẫm. Thành
công trong ngoài như trên đă khiến Nhật
Bản phát triển nhanh chóng từ thời Minh
Trị (1868-1912) qua thời Đại Chính (1912-1926). Khuyết
điểm của chế độ quan liêu
kiểu Đức Chế
độ quan liêu kiểu Đức do Okubo Toshimichi
đem vào Nhật Bản có nhiều điểm tích
cực, song cũng có nhiều khuyết điểm
lớn. Thời
kỳ đầu tiên, nhờ có những người
như Okubo Toshimichi hay Ito Hirobumi, Yamagata Aritomo,
tức là cha đẻ hay cha nuôi của chế
độ cho nên chỉ cần một lời nói
của họ đủ làm cho bọn quan liêu các
bộ
sở không dám ho he nữa. Yamagata Aritomo c̣n là người
dễ dàng bịt nổi miệng đám quân nhân
nữa. Sự việc này cũng giống như
vị tể tướng máu sắt Bismarck của
đế quốc Đức đă làm việc suôn
sẻ với thống chế Hermuth Carl Graf von
Moltke[18]. Dần
dà, càng về sau, khi không c̣n những bậc nguyên
huân hay những chính khách lớn có uy lực làm
câm miệng đám quan liêu, th́ cơ cấu quan
liêu được phân hóa theo chiều dọc.
Quan liêu Bộ
Văn chỉ biết nghĩ tới việc giáo
dục, quan liêu Bộ
Thương mại Quốc tế và Công
nghiệp chỉ biết việc gây dựng ngành
nghề sản xuất. Bộ
Nông lâm Thủy sản, Bộ
Xây dựng, Bộ
Y tế, tất cả chỉ lo việc của
nghiệp giới ḿnh mà thôi, chứ không có
sự điều hợp tương hỗ
giữa các bộ
với nhau nữa. Sự
việc trên, người đời gọi là
"bản tính phân chia địa bàn"
hoặc "ư thức quyền hạn." Đúng
vậy, quan liêu sở dĩ làm việc là v́ cái
ư thức quyền hạn như vậy. Ví
dụ, nếu là quan liêu Bộ
Nông lâm Thủy sản, th́ quyền hạn
của họ là bảo hộ
nông nghiệp, ổn định hoạt động
của hợp tác xă nông nghiệp; nếu là quan
liêu Bộ Văn, th́ công tác bảo hộ trường
học và thày giáo là quan trọng nhất. V́ nghĩ
như vậy, nên họ sốt sắng làm
việc. Quan liêu mà không làm việc, th́ đó
chẳng qua là v́ họ không có ư thức
quyền hạn, họ bắt đầu nghĩ
rằng việc làm của họ chẳng có ǵ
quan trọng, chẳng có ích cho ai cả. Nhưng
nếu tất cả các quan liêu đều có ư
thức quyền hạn, đều coi việc làm
của ḿnh là quan trọng nhất, rồi ai
nấy đều v́ mục tiêu của chính ḿnh
mà đeo đuổi cho đạt bằng
được, th́ sẽ ra sao? Thứ nhất,
quy chế sẽ thêm nhiều ra và được
tăng cường, đồng thời, chi phí tài
chính sẽ lớn lên. Trước
hết, quan liêu tự coi họ giỏi dang.
Họ nghĩ "ta phải làm, không thể để
cho dân thường làm được." Từ
ư thức đó, họ gia tăng quy chế để
củng cố quyền hạn của ḿnh. Cái
đáng sợ của cơ cấu quan liêu là,
chỉ cần một số rất nhỏ trường
hợp không ai phản đối cả, nhưng căn
cứ vào đó, họ tăng cường quy
chế đưa đến kết quả là
vừa làm mất tính tiện lợi vừa làm
tốn tiền bạc. Cơ quan công quyền là nơi
không thèm để ư ǵ tới vấn đề
thâu hồi tiền bạc và công sức đầu
tư, cho nên họ có thể gia tăng quy chế
một cách vô tội
vạ. Chẳng
hạn, sau trận động đất lớn
Hanshin-Awaji, v́ một số đường cao
tốc đă bị xụp đổ, người
ta đă bàn tới việc tăng cường quy
chế xây dựng sao cho các đường cao
tốc phải chịu được độ
lắc 7[19]. Khi có cơ quan tiền tệ (ngân hàng,
quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm) bị
phá sản, th́ người ta liền bàn tới
việc tăng cường kiểm tra hoạt
động của các cơ quan này. Điều này
đương nhiên có nghĩa là không cho vay mượn
trái với ư muốn của quan liêu, tức là
của bộ
chủ quản. Mới nghe tưởng như
hợp lư lắm. Nhưng, v́ đó, phí tổn
sẽ gia tăng, và sự kinh doanh tự do không c̣n
được nữa. Xí nghiệp mỗi khi làm
ăn sẽ phải nh́n vẻ mặt các quan,
sẽ trở nên thụ động, sẽ có thái
độ người làm sao ta làm vậy để
tránh mọi rắc rối. Các quan th́ hể
hả, bảo đảm cho đánh đổi quy
chế thành phí tổn mà người tiêu dùng
phải gánh chịu. Thêm
nữa, sự giám thị quy chế theo cách phân công
bề dọc, sẽ làm phát sinh ra quy chế hai
tầng, ba tầng, thậm chí bốn tầng, năm
tầng. Thủ tục v́ thế trở nên
phức tạp, phiền toái. Kinh doanh bị g̣ bó
không cựa quậy được. Kết
cục là phí tổn gia tăng, và giá cả tăng
lên. Đây là cái tệ
hại của chế độ quan liêu (công
chức). Vấn
đề thứ hai là, nếu các bộ
sở đâu đâu cũng chỉ lo đeo đuổi
truy cầu mục tiêu của riêng ḿnh, th́ sự
cọ sát với ngoại quốc sẽ không
thể nào tránh khỏi. Bộ nào cũng cố
thủ lănh vực của ḿnh không chịu nhượng
bộ. Trên mặt ngoại giao, có khi người
ta phải nhường A để được
B, song đám quan liêu phân quyền theo chiều
dọc th́ không chịu nhượng bộ lănh
vực của họ. Nói đến xuất
cảng xe ôtô th́ Bộ Thương mại
quốc tế và Công nghiệp không chịu nhượng
bộ. Nói đến vận tải hàng không th́
Bộ Giao thông vận tải không nhường bước.
Vấn đề gạo th́ Bộ Nông Lâm
Thủy sản không chịu lùi. Ở bàn hội
nghị thuế rượu th́ Bộ Kho bạc không
chịu lùi nửa bước. Bộ nào cũng
không chịu lùi bước nên sự cọ sát
với ngoại quốc không thể tránh
được. Thật ra, t́nh trạng tương
tự đă xẩy ra ở đế quốc Đức
sau khi Bismarck đă rút lui khỏi chính trường. Bismarck
đă làm nhiều công phu mua chuộc đồng
minh và nỗ lực xây dựng một hệ
thống bảo đảm an toàn cho đế
quốc. Đó thường được gọi là
"chính sách bảo đảm hai tầng." Nhưng
sau khi Bismarck và Moltke về hưu rồi, th́ không
c̣n chính khách nào trấn áp nổi đám quan liêu
các bộ nữa. Bộ Lục quân, Bộ
Hải quân, Bộ Đường sắt, Bộ Công
Thương,... bộ nào cũng đ̣i phần hơn.
Do đó, đế quốc Đức bị cả
thế giới đối lập. Đến nỗi,
khi Chiến tranh thế giới thứ nhất
bộc phát, th́ chỉ có đế quốc Áo-Hungari
chứ không c̣n một đồng minh nào về
phe với Đức nữa. Sự kiện này cũng
giống như Nhật Bản đă phải đối
địch với cả thế giới trước
cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương. Đó, cái
tai hại của cơ chế quan liêu là như
vậy. T́nh
trạng bó chân bó tay ngày nay Từ
thời Minh Trị (1868-1912), qua thời Đại Chính
(1912-1926) tới thời Chiêu Ḥa (1926- 1989), ư
thức quan liêu kiểu Okubo Toshimichi trở nên
rất mạnh. Nhất là sau cuộc chiến
tranh thế giới lần thứ hai, chỉ có
Bộ Nội vụ với các "mục dân
quan" là không c̣n nữa, chứ các bộ
sở chuyên đào tạo ra người cung
cấp, th́ c̣n lại tất cả. Do đó, quan
liêu chỉ về hùa với người cung
cấp, và trở thành địch thủ của
người tiêu dùng. V́ thế, ở những lănh
vực không có sự cạnh tranh quốc tế,
th́ phí tổn mỗi ngày một lên cao, quy
chế mỗi ngày một khắt khe hơn. Đời
sống trở nên mỗi ngày một bất
tiện, bực bội. Với
ư nghĩa như vậy, phải nói rằng,
mặc dù Okubo Toshimichi đă lập nên cơ
sở cho cơ chế quan liêu Nhật Bản,
đă đóng góp lớn lao cho sự phát
triển ngành nghề sản xuất thời Duy tân
Minh Trị, song ông phải chịu trách nhiệm
về việc làm cho Nhật Bản bị
khốn đốn v́ sức ép của quy chế,
làm cho vật giá chênh lệch giữa trong và ngoài
nước, làm cho người Nhật mất
sự tự do lựa chọn. Nói cách khác, chính
ông là nhân vật đă lập ra nước
Nhật "giàu có nhưng không sung sướng." Nếu
Okubo Toshimichi không bị ám sát và sống qua
được thời Minh Trị, th́ hỏi nước
Nhật sau đó sẽ ra sao? Mười năm
sau khi cuộc Duy tân bắt đầu, tức là
năm 1878 (niên hiệu Minh Trị năm thứ
10) cuộc chiến tranh Tây Nam xẩy ra, và
thể chế quan liêu Nhật Bản đă
trở nên vững chắc. Năm sau đó Okubo
Toshimichi bị ám sát. Nghĩa là, Okubo chỉ đă
lập ra cơ chế quan liêu, chứ chưa
thực tay điều động cơ chế
đó. Nếu sau đó Okubo vẫn c̣n sống, th́
chắc hẳn ông sẽ theo gót Bismarck lập ra
thể chế độc tài. Rồi, cùng với
nội
chính, ông sẽ xía vào cả vấn đề
ngoại giao, như sửa đổi hiệp
ước. Những
năm đầu của thời Minh Trị, ở
trong nước Nhật đă có sự lo ngại
là thể chế mạc phủ sẽ trở
lại. Người ta lo ngại phiên chúa Satsuma
sẽ lại trở thành Chinh Di Đại Tướng
Quân, lập ra mạc phủ với Okubo Toshimichi làm
tể tướng độc tài. Có người
cho rằng kẻ ám sát Okubo đă ôm ấp nỗi
lo âu đó. Chính
v́ thế, về sau, tức là năm 1889 (niên
hiệu Minh Trị năm thứ 22), bản
Hiến pháp Đế quốc Đại Nhật
Bản (Hiến pháp Minh Trị) được ban
bố, đă có sự lo liệu không để
cho thể chế mạc phủ tái lập
nữa. Theo Hiến pháp Minh Trị, các Bộ
trưởng (Đại thần) đều
được nối liền với vua (thiên hoàng),
chứ thủ tướng không có quyền bổ
nhiệm hay băi nhiệm họ. Hơn nữa,
quyền thống suất lục quân, hải quân
cũng thuộc vua và được tách rời
khỏi quyền quốc vụ của chính
phủ. Tại sao người ta đă để
cho mọi quyền lớn đều tập trung vào
nhà vua, và các quyền hạn đều phân
lập ra như vậy? Đây chính là v́ người
ta lo ngại nếu tập trung quá nhiều
quyền hạn vào một vị thủ tướng,
th́ ông này sẽ có thể hành sử quyền
độc tài kiểu mạc phủ. Tuy
Okubo Toshimichi đă chuẩn bị xong thể
chế độc tài trước khi bị ám sát,
nhưng ông quyết không bao giờ mở ra nhà
mạc phủ. Lịch
sử Nhật Bản có rất ít người
độc tài. Những nhân vật độc tài
có tầm nh́n xa trông rộng như Nobunaga hay Okubo
đều đă bị ám sát. Sống trong ḥa b́nh
lâu dài rồi, Nhật Bản không cần có
những người phát huy quyền lănh đạo
mạnh mẽ, cho nên một nhân vật nào đó
nếu trở thành độc tài th́ dễ
bị ghen ghét. Thời
Minh Trị, nhiều chí sĩ đă xả thân cho
cải cách. Điều khiến họ hi sinh như
vậy chính là cái chủ quan xă hội của
họ. Đó là sự nhiệt tâm của họ
muốn lật đổ thể chế mạc
phủ Tokugawa, một thể chế lấy sự
"ổn định" làm nền tảng,
để lập ra một thể chế mới,
lấy "tiến bộ (khai hóa văn minh),"
lấy "hiệu năng (gia tăng sản
xuất và gây dựng sản nghiệp),"
lấy "trung nghĩa (trung thành với quốc
gia)" làm cơ sở luân lư xă hội. Okubo
đă làm cho cuộc chiến tranh Tây Nam bùng ra, mà
vẫn kiên quyết gây dựng thể chế quan
liêu, hẳn là v́ muốn đạt được
ba chính nghĩa đó. V́
muốn lập ra nước Nhật không bị
ngoại bang miệt thị, Okubo Toshimichi đă
chọn chế độ quan liêu chỉ đạo,
hướng tới xây dựng một nước
Nhật có hiệu suất cao, có hiệu năng
cao. Điều này đă có hiệu quả tốt
trong khoảng 40 năm kể từ thời đại
Okubo. Sau đó, là thời kỳ đám quan liêu quân
đội đă hành động quá khích, quá
lố, không thèm đếm xỉa đến ai
cả. Sau
chiến tranh thế giới thứ II, cơ
chế quan liêu lại một lần tỏ ra có
hiệu quả đối với sự phát
triển và tăng trưởng. Thế nhưng ngày
nay th́ nó đă trở thành gông chân cùm tay, làm
cho không thể cựa quậy được. Phải
nói rằng dù với ư nghĩa tốt hay với
ư nghĩa khó xử, Okubo Toshimichi cũng là
một nhân vật trọng yếu đă dựng
nên nước Nhật ngày nay vậy.
[1]
Nội các
do thủ tướng Hashimoto Ryutaro cầm đầu,
bắt đầu từ ngày 1/11/1996. Sách này
xuất bản lần đầu tiên vào tháng
6/1997, th́ lúc đó c̣n là thời kỳ
hoạt động của nội các này.
[3]
Nội các
do thủ tướng Nakasone Yasuhiro cầm đầu,
gồm có 3 đợt: đợt 1 từ
27/11/1982 tới 26/12/1983, đợt 2 từ
27/12/1983 tới 22/7/1986, đợt 3 từ
22/7/1986 tới 6/11/1987.
[4]
Ủy
ban này được nội các Nakasone lập
ra tháng 7/1983 và do Doko Toshio, lúc ấy là Chủ
tịch Tập đoàn Toshiba làm chủ
nhiệm. Ủy ban đă đưa ra bản báo
cáo tháng 6/1986 để đáp ứng sự tư
vấn của nội các về "phương
sách thực hiện một chính phủ nhỏ
trong sự lợi dụng sức sống
của dân sự." Dựa vào bản báo cáo
này, chính phủ Nhật Bản đă quyết
định chuyển cho dân sự kinh doanh ba công
ty quốc doanh khổng lồ là Hệ
thống đường sắt quốc doanh,
Tổng Công ty bán độc quyền (thuốc
lá, muối) và Tổng Công ty điện tín
điện thoại. Tháng 4/1985 hai công ty sau
đă được chuyển sang suôn sẻ
cho dân sự kinh doanh, nhưng Hệ thống
đường sắt quốc doanh mang món
nợ quá lớn, phải tới tháng 4/1987
mới được phân cắt ra thành 7 công
ty và chuyển sang cho dân sự kinh doanh.
Hiện nay, tất cả những công ty dân
sự này đều ở trong t́nh trạng
kinh doanh tốt, không c̣n bị thua lỗ
nữa.
[7]
Đây là nói
thời điểm sách này được
soạn thảo, tức là năm 1998. Hiện
nay, năm 2003, đă có loại h́nh cây xăng
tự phục vụ này ở Nhật Bản
rồi, tuy hăy c̣n là số ít.
[8] Xem lời chú 16 Ch.
7.
[9] Một bậc nguyên huân khác của thời Duy tân Minh Trị, đă có công chỉ huy và chiếm thành Edo không đổ máu, khiến cho mạc chúa Tokugawa phải trao trả lại quyền chính trị cho thiên hoàng Minh Trị, rồi trong chính phủ Minh Trị mới, đă được phong Đại tướng lục quân, giữ chức Tham mưu, song v́ chủ trương gửi quân sang Triều Tiên bị phe đối lập phản đối nên đă từ quan năm thứ 6 của niên hiệu Minh Trị (1874). Năm 1877, cử binh làm phản, song bị thua nên đă tự sát. Vụ này gọi là cuộc Chiến tranh Tây Nam. Mặc dầu kết thúc bi đát như vậy, song nhân vật Saigo Takamori vẫn được tôn trọng như là một công thần của sự hiện đại hóa Nhật Bản. Một ngôi tượng đồng lớn toàn thân Saigo ngay trước vườn thú Ueno, Tokyo, đă minh chứng điều này. [10] Hàn là quốc hiệu của triều Lư ở bán đảo Triều Tiên. Vậy Hàn là tên gọi đồng nghĩa với Triều Tiên. Chinh Hàn là chinh phạt Hàn, là xâm lược bán đảo Triều Tiên. [11] Hội nghị tổ chức ở Osaka giữa phe phái Okubo Toshimichi và phe đă từ chức nhân cuộc tranh luận "chinh Hàn." Kết quả của hội nghị này là Itagaki Taisuke và Kido Takayoshi phục chức, và những cơ chế quân chủ lập hiến được xác lập tại Nhật Bản.
[12] Nguyên văn Shokusan
Kôgyô (Thực sản Hưng nghiệp), nghĩa
là Gia tăng sản xuất và Gây dựng ngành
nghề sản xuất (sản nghiệp),
tức là công nghiệp, nông nghiệp, ngư
nghiệp, lâm nghiệp, v.v..
[13] Đại lăo là
chức quan cao nhất của mạc phủ
Tokugawa, tức là tương đương
với chức Thủ tướng hiện
đại.
[14] Nguyên văn là
"Bunmei Kaika (văn minh khai hóa)," tức là
mở mang hiểu biết làm cho xă hội văn
minh.
[15] Nguyên văn là
"Kuro-Fune no Raiko." Những con tàu đen là
chỉ hạm đội của Đô đốc
Perry của hải quân Mỹ, đă tới
Nhật Bản tháng 7 năm 1853, mang theo
quốc thư của tổng thống Mỹ,
đ̣i Nhật Bản mở cửa thông thương.
Năm sau, hạm đội trở lại
vịnh Edo (nay là vịnh Tokyo), kư ḥa ước
ở Yokohama, mở đầu cho thời
kỳ mở cửa của Nhật Bản.
[16] Mori
Arinori (1847-1889) : Phiên sĩ phiên bang Satsuma,
chính trị gia thời Minh Trị. Du học Âu
Mỹ, gia nhập chính phủ Minh Trị, làm
tới Bộ trưởng Giáo dục. Có công
ban bố pháp lệnh học đường,
củng cố cơ sở chế độ giáo
dục. Bị coi là tôn thờ chủ nghĩa
Âu Mỹ hóa, nên bị phần tử chủ
nghĩa quốc túy ám sát đúng ngày ban
bố Hiến pháp đế quốc, tức là
Hiến pháp Minh Trị, ngày 11 tháng 2 năm 1889
(niên hiệu Minh Trị năm thứ 22).
[17] Theo chế độ giai cấp thời Minh Trị, th́ giai cấp trên hết là quí tộc (hoa tộc), thứ đến là sĩ tộc, và dưới cùng là b́nh dân. Tuy phân chia như vậy, nhưng về mặt pháp lư, sĩ tộc không được quyền lợi ưu tiên nào cả. Đến năm 1947 th́ chế độ giai cấp bị phế bỏ.
[18] Danh tướng
Phổ đă đánh thắng hai trận
chiến tranh Phổ - Áo và Phổ - Pháp, và
đă đóng góp lớn lao vào sự
nghiệp thống nhất đế quốc Đức.
[19] Tổng Cục Khí
tượng Nhật Bản chia độ
lắc động đất ra làm 10 bậc,
đánh số từ 0 tới 7. Như vậy,
độ lắc 7 là độ lắc lớn
nhất. Sở dĩ 10 bậc mà chỉ có 8
con số là v́ có số có 2 bậc, như 6
nhẹ, 6 mạnh, chẳng hạn.
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
..........
|