|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi Người dịch : Đặng Lương Mô Chương VII : Ishida Baigan Với
triết lư dân gian "cần cù và tiết
kiệm" Thủy
tổ của "Tâm học Thạch Môn" Ishida
Baigan là ông tổ của nền Tâm học
Thạch Môn. Tâm học Thạch Môn nghĩa là
"cái học về cơi tâm (ḷng người)
của học phái Ishida." Thời nay th́ ít ai
biết tới, chứ trong khoảng thời gian
từ hậu bán của thời đại Edo cho
tới đầu thời Duy tân Minh Trị, th́
những trường dạy cái học này,
gọi là "Trường luyện Tâm
học," xuất hiện ở khắp nước
Nhật, đă trở thành một tổ chức
tu dưỡng tinh thần có thế lực to
lớn. Vơ sĩ samurai và phiên chúa cũng theo
học, nhưng với sự giảng dạy cái
tinh thần liêm khiết, cần mẫn, Tâm
học Thạch Môn đă lan rộng cả trong thường
dân, và đẻ ra cái triết lư dân gian là
"cần cù và tiết kiệm." Triết
lư dân gian do Tâm học Thạch Môn truyền bá,
không những đă có ảnh hưởng sâu
sắc đến cái ư thức thẩm mỹ, cái
quan niệm đạo đức, cái dạng
thức sinh hoạt hay phép đánh giá con người
của người Nhật ngày nay, mà c̣n để
lại vết tích to lớn trong sự quyết
định cái quan niệm cần lao, cái phép
đánh giá sản phẩm, cái h́nh thái của
thị trường sản phẩm tiêu dùng độc
đáo của Nhật bản nữa. Ngày nay, trong
những cục diện mà sự cọ sát
mậu dịch, thể chất đắt đỏ
của thị trường Nhật Bản, đă
trở thành những vấn đề rắc
rối, th́ người ta đều thấy
xuất hiện cái ảnh hưởng của Tâm
học Thạch Môn dưới nhiều h́nh
thức khác nhau. Xem như vậy, th́ Ishida Baigan,
tổ sư của Tâm học Thạch Môn, không
thể không được coi là một trong
những người đă lập ra nước
Nhật được. Vậy
th́, Ishida Baigan là nhân vật đă sinh ra ở
thời nào và đă sống như thế nào? Ishida
Baigan sinh năm 1685 (niên hiệu Jokyo năm thứ
hai), tức là lúc thời kỳ Genroku[1]
sắp bắt đầu, và mất năm
1744 (niên hiệu Enkyo nguyên niên), tức là vài năm
sau khi thời Kyoho (1716-1736) đă măn. Nghĩa là
ông sinh ra trước thời Genroku và mất sau
thời Kyoho. Nói theo tây lịch, th́ như vậy
là ông đă sinh ra vào thời mạt của
thế kỷ thứ XVII, mất vào khoảng
giữa thế kỷ thứ XVIII. Như vậy,
ông là nhân vật đă sống vào đúng
giữa thời Edo. Cuộc
đời Ishida Baigan có thể chia thành ba giai
đoạn. Giai
đoạn đầu là thời niên thiếu.
Baigan là tên hiệu của ông, chứ tên thật
của ông là Okinaga, thường được
gọi là Kampei. Con thứ của một gia đ́nh
nông dân ở thôn Toge, quận Kuwata, thuộc đất
Tanba (nay là thị xă Kameoka, tỉnh Kyoto). Cha tên là
Ishida Gon’emon, mẹ là Tane. Năm 1692 (niên
hiệu Genroku năm thứ năm), lên tám
tuổi (cũng có thuyết nói là 12 hay 13
tuổi), Baigan đă phải đi ở đợ
làm tiểu đồng cho một nhà buôn bán
quần áo ở kinh đô Kyoto. Nhà hàng này h́nh như
nhỏ lắm, v́ chẳng bao lâu sau khi Baigan
tới đó phục vụ th́ nhà hàng bị phá
sản. Trước
khi đi ở đợ, Baigan đă được
cha dặn ḍ rằng: "Đi ở th́ phải coi
trọng chủ nhà như cha mẹ. Không
được làm ǵ bêu xấu chủ nhà."
Nhớ lời dặn đó, Baigan đă không
trở về xứ sau khi nơi ở đợ
đă bị phá sản. Ngược lại, Baigan
nấn ná ở lại, làm phu lấy tiền nuôi
chủ nhà. Chuyện này đến tai người
mối đă giới thiệu nơi ở đợ,
nên năm 15 tuổi, Baigan được cha
mẹ đón về quê quán. Baigan như vậy
đă sống cuộc đời gian khổ ở
tuổi
thiếu niên, nghĩa là phải đi ở đợ,
rồi v́ chủ nhà bị phá sản, nên
phải đi làm phu nuôi chủ nhà trong những năm
phồn vinh của thời Genroku, từ niên
hiệu Genroku năm thứ năm tới năm
thứ 12. Chịu đựng được như
vậy quả đă chứng tỏ cái bản tính
khác thường của Baigan vậy. Trở
về quê, Baigan đă sống một thời gian
ở thôn Toge, h́nh như là giúp việc làm ruộng.
Thời gian này không thấy được ghi chép
rơ ràng. Giai
đoạn thứ hai là giai đoạn làm
nghề buôn. Lần này, Baigan lại lên kinh đô
Kyoto năm 1707 (niên hiệu Hoei năm thứ tư).
Lúc đó Baigan đă 23 tuổi. Lần trước
th́ ở đợ cho một nhà buôn nhỏ, nhưng
lần này th́ Baigan ở đợ cho một nhà
buôn lớn. Đó là cửa hàng bán quần áo
rất bề thế, tên hiệu là Kuroyanagi. Lúc
này, kinh nghiệm hay thành tích làm việc cho nhà buôn
phá sản trước kia, đă bị quên lăng
mất rồi, nên dù đă tới tuổi 23,
Baigan vẫn phải bắt đầu từ
một chú tiểu đồng. Nói chung, đi
ở làm tiểu đồng thường là
bắt đầu từ tuổi 12, 13. Như
vậy, Baigan đă bắt đầu đi làm
tiểu đồng chậm hơn những trẻ
khác 10 năm. Nghĩa là trong đám tiểu đồng
12, 13 tuổi th́ bỗng vọt lên một đứa
23 tuổi. Cái khổ tâm của Baigan là thế
đấy. Thế
mà Baigan vẫn nhẫn nhục chịu đựng.
Năm 1727 (niên hiệu Kyoho năm thứ 12), sau 17
năm gian khổ làm tiểu đồng, rồi
đứa ở nhỡ, Baigan đă được
cất nhắc lên làm quản gia. Nhưng năm
42 hay 43 tuổi, Baigan đă nghỉ hưu. 20 năm
này chính là khoảng thời gian ông đă có
được kinh nghiệm sâu sắc của nhà
buôn và cơ hội suy nghĩ sâu đậm
về cuộc đời. Tập tiểu
thuyết "Chân dung một người đàn
ông khiêm nhường" (tác giả: Sakaiya Taichi)
chính là miêu tả Baigan trong thời kỳ này. Thế
rồi giai đoạn thứ ba. Nhờ đă
học hỏi về Thần đạo, Nho giáo và
Phật giáo trong thời kỳ làm công, Baigan bây
giờ bỏ thời gian đi tầm sư
học đạo, và ông đă hạnh ngộ
được với Oguri Ryo’un, một ẩn sĩ
được trọng vọng. Baigan đă theo
vị này tu Thiền, rồi giác ngộ được
câu nói "hăy trở về trạng thái vô ngă"
có nghĩa là "hăy t́m hiểu ḷng ḿnh." Do
đó, sau khi đă thôi không đi làm nữa, năm
1729 (niên hiệu Kyoho thứ 14), ở tuổi 45,
Baigan đă mở trường tư thục
luyện Tâm học ở phường Kurumaya, kinh
đô Kyoto. Theo cảm giác ngày nay, th́ 45 tuổi
ở thời đó tương đương
với tuổi gần 60 bây giờ, tức là
tuổi về hưu. Nói cách khác, sau khi về hưu,
ông mới bắt đầu mở trường tư
thục. Từ đây cho đến lúc mất
ở tuổi 60, ông đă miệt mài 15 năm làm
thày đồ giảng dạy và viết sách. Xă
hội vơ sĩ samurai là xă hội "tổng
số zero" Ishida
Baigan đă sống tuổi thơ ấu trong
thời kỳ Genroku, đă làm công cho nhà buôn
trong thời kỳ Kyoho và sau cùng đă làm
thầy dạy học trong thời kỳ Genbun. Trước
khi kể lại các hoạt động của nhân
vật này, ta cần phải khảo sát qua về
ba thời kỳ vừa nói. Chúa
Tokugawa Ieyasu đánh thắng trận Sekigahara là năm
1600 (niên hiệu Keicho năm thứ năm),
rồi lập ra nhà mạc phủ Tokugawa là năm
1603 (niên hiệu Keicho năm thứ tám). Khoảng
từ 80 tới 85 năm sau đó, Ishida Baigan
mới ra đời. Nếu coi trận đánh
Sekigahara tương tự như lúc khởi đầu
của cuộc Duy tân Minh Trị (1867), th́ 85 năm
sau là năm 1953, hay tám năm sau khi Nhật
Bản thua trận Chiến tranh Thái B́nh Dương,
đồng thời là lúc sắp sửa diễn
ra cái gọi là "thể chế năm ‘55[2]"
Nếu nghĩ rằng Baigan đă sinh ra vào
thời kỳ như vậy th́ có thể ta
sẽ thấy dễ hiểu hơn. Kư
ức về thời Chiến quốc đă phai
mờ, và thể chế mạc phủ Tokugawa
đă bén rễ vững vàng. Kinh tế th́ phát
triển. Baigan sinh ra đúng vào thời kỳ kinh
tế thịnh vượng "bong bóng" tương
tự như thời kỳ tăng trưởng
kinh tế cao độ sau cuộc chiến tranh
thế giới lần thứ hai vậy. Thế nhưng,
khi thiếu niên Baigan từ vùng quê Tanba ra kinh
đô Kyoto, th́ "bong bóng" thịnh vượng
chưa thấy đâu, mà việc buôn bán làm
ăn đă bước vào lúc khó khăn, rồi
nhà hàng mà thiếu niên đến đó ở
đợ đă phá sản. Có
một dạo từ "Thời Genroku Showa[3]"
đă được ưa dùng để
chứng tỏ rằng thời Genroku là thời
kỳ thịnh vượng như thế nào. Song
cái thịnh vượng, cái hào nháng đó đă
chỉ đi sướt qua thiếu niên Baigan.
Cậu đâu có được hưởng cái
phồn hoa đó? Ngược lại, cậu
đă phải nếm mùi gian khổ do
"phản động lực" của sự
phồn hoa đó gây ra. Chương
VI về Tokugawa Ieyasu có nói, thời chiến
quốc Nhật là thời kỳ "hạ
khắc thượng." Người tài có cơ
hội đoạt lấy địa vị chóp
bu. Khoảng thời gian đầu của thời
kỳ đó, người ta ứng dụng kỹ
thuật học từ Trung Hoa, thời gian sau th́
học từ Tây Âu để phát triển kinh
tế. Thoạt nghe nói thời Chiến quốc,
người ta thường có cảm giác là
thời đó chỉ có đánh chém lẫn nhau.
Nhưng thực ra, đó là thời kỳ mà văn
hóa phát triển, kỹ thuật tiến bộ và
kinh tế phát đạt. Nhất là kỹ
thuật xây dựng th́ đă tiến được
những bước dài. Dân số th́ gia tăng.
Tư tưởng, kiểu cách sinh hoạt cũng
đă có những tiến bộ rất lớn. Nói
cách khác, đó là thời kỳ đáng
được gọi là "Thời phục hưng
(Renaissance)" của Nhật Bản vậy. Sau
trận đánh Sekigahara và sau khi thể chế
mạc phủ Tokugawa đă ổn định
rồi, th́ nhân tài và tiền bạc liền
được dùng cho dân sinh. V́ thế, những
ngành nghề dân sinh đă phát triển mạnh
mẽ. Mặt
khác, xă hội samurai th́ đă rơi vào trạng
thái "tổng số zero." Trước đó,
từ Oda Nobunaga, qua Toyotomi Hideyoshi rồi Tokugawa
Ieyasu, tất cả đều là những tổ
chức tăng trưởng lớn mạnh.
Thế nhưng, khi thể chế Tokugawa được
định xong rồi, th́ lúc đó, với đất
đai trong toàn quốc chỉ có diện tích
nhất định, vấn đề c̣n lại
chỉ là làm sao chia xẻ cái nguồn lợi thu
hoạch mà thôi. Lănh địa của toàn
tập thể samurai không tăng lên hơn. V́
thế, những nguyện vọng như
"muốn có lănh địa lớn hơn"
hoặc "muốn trở thành lănh chúa to hơn"
đều là những ư nghĩ không chính đáng. Sự
phủ nhận cái tư tưởng muốn bành
trướng, đă được Tokugawa Ieyasu
dạy bảo bằng cách tru diệt các phiên chúa
có công, qua cuộc thanh trừng gọi là tái
cấu trúc (Chương VI). Vơ sĩ samurai toàn
quốc Nhật Bản đă phải thay đổi
tính t́nh (re-minding) đi. Dưới
thể chế mạc phủ Tokugawa, vơ sĩ
samurai phải học hỏi cách sống cho thích
hợp với xă hội "tổng số
zero." Kết quả là sự khám phá ra cái
gọi là "chủ nghĩa minh quân." Nghĩa
là, giá trị của vơ sĩ samurai không c̣n là tài
mở rộng lănh địa, khả năng có
nhiều thuộc hạ nữa. Ngược
lại, họ phải làm sao cư xử cho
phải đạo, phải biết yêu dân,
phải được thuộc hạ kính nể,
phải có tư cách tốt và ư thức thẩm
mỹ cao. Như thế mới đáng gọi là
vơ sĩ samurai tốt. Đây là một tư tưởng
bảo thủ cực kỳ thoái hóa. Sự
phát đạt bong bóng thời Genroku Một
trăm năm đầu của thời mạc
phủ Tokugawa, là thời kỳ mà xă hội thương
gia trưởng thành lớn lao. Do đó, số
con cháu vơ sĩ samurai đă bỏ giai cấp
samurai để gia nhập giới kinh doanh không
phải ít. Chẳng hạn, một trong Mười
Dũng sĩ Amako[4]
lừng danh, là Yamanaka Shika-no-suke, có người
con thứ, tên là Shinroku (1570-1650), đă trở thành
người lái rượu ở đất Settsu
Itami. Ông đă phát minh ra phương pháp nấu
rượu sake, và trở thành thủy tổ
của ḍng họ phú thương Konoike. Thủy
tổ của ḍng họ tài phiệt Sumitomo là Soga
Rihei, người sáng lập ra nhà phú thương
Yodoya là Okamoto Yozaburo (Tsuneyasu), v.v., đều
xuất thân từ giai cấp vơ sĩ samurai
cả. Dĩ nhiên cũng có những nông dân đă
trở thành phú thương. Ngoài ra, cũng có
những người từ Triều Tiên, từ
Trung Quốc, vào làng rồi trở thành thương
gia hay thợ lành nghề. Giai
đoạn một trăm năm đầu
của thời mạc phủ Tokugawa đă thu hút
được những nhân tài như vậy và
đă phát triển kinh tế một cách khí
thế. Nửa chừng, cũng có những tai
họa như đám cháy lớn thời
Meireki-Manji[5],
thời làm ăn thua lỗ của những năm
Tenna (1861-1864), nhưng rồi kinh tế lại
phục hồi để lại tiếp tục tăng
trưởng mạnh. Khoảng thời gian gần
80 năm giữa trận đánh Mùa Hè Ozaka[6] (tháng Năm âm
lịch, 1615) cho tới khoảng giữa những
năm Genroku, là lúc kinh tế thịnh vượng
và tăng trưởng nhanh. Đỉnh cao của
thời kỳ thịnh vượng này chính là
những năm Genroku hào hoa vậy. Trong
khoảng thời kỳ thịnh vượng dài này,
đă có nhiều ngành nghề phát sinh ra. Thí
dụ, thợ làm súng ống bằng sắt thép
trong thời chiến tranh, nay chuyển sang chế
tạo nông cụ. Thế là nhờ có nông cụ
bằng sắt nên những vùng đất cằn
cỗi
trước đây bỏ hoang, nay cũng
được khai khẩn. Việc khai mỏ
đào hầm lại phát hiện được
những nguồn nước ngầm phun ra.
Nhờ thế, kỹ thuật đào đường
mương, kỹ thuật bơm nước
tiến bộ và nghề khoáng sản cũng phát
triển. Hơn
hết cả là sự khai thác đất đai
đă tiến mạnh. Điều này có nghĩa là
ở thời gian đầu của thời
mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản hăy c̣n có
nhiều đất đai để khai phá. Chẳng
hạn, khi họ Tokugawa lập ra mạc phủ
đóng đô ở vùng Kanto, th́ chỉ cần
cải thiện các ḍng nước một chút thôi
là đă khiến cho đồng bằng Kanto
trở thành một vùng nông canh rộng lớn.
Ngay trong thành Edo, chỉ trong một thời gian
ngắn, việc lấp ven biển đă mở thêm
được một diện tích đất rộng
lớn. Những nơi trước kia là đất
núi, nay cũng được dẫn nước vào
và trồng loại hoa màu thích hợp. Vùng đất
śnh lầy th́ được tát nước
đi thành vùng đất trũng để phát
triển hoa màu thích nghi. Thế rồi, việc
trao đổi, lưu thông những sản vật
như vậy, đă khiến cho nền thương
mại phát đạt. Rồi với sự
ổn định chính trị của mạc
phủ Tokugawa, việc phát hành phiếu tín
dụng và thể thức giao dịch thị trường
tương lai đă nẩy sinh ra. Thế
nhưng, nền kinh tế thương nghiệp
khi phát triển tới một mức độ
rồi th́ bị chùn lại. Đó là v́ bước
vào thế kỷ thứ XVII th́ những tiến
bộ kỹ thuật có tính cách toàn cầu ít
đi, và Nhật Bản, với đường
lối bế môn tỏa cảng, đă không có
những kích thích kinh tế đáng kể
nữa. V́
thế, vào khoảng giữa thời Genroku th́ không
thấy c̣n có đối tượng đầu tư
có hiệu quả nữa. Dẫu có đổ
tiền vào khai thác đất đai th́ đất
canh tác cũng không tăng thêm nữa nghĩa là
với kỹ thuật thời đó, chỗ nào
khai thác được đều đă được
khai thác hết rồi. Đương
nhiên, cán cân I-S[7]
bị mất thăng bằng, khiến nẩy sinh
ra t́nh trạng dư thừa nguồn vốn.
Bọn nhà giầu xổi ở Edo và Ozaka có
tiền không biết dùng vào đâu, bèn bỏ ra
du hí miệt mài. Thời Genroku là lúc mà những
loại h́nh nghệ thuật, như kịch hát bội
Kabuki, kịch rối Bunraku, tranh hoa lệ của
Ogata Korin hay nghề thủ công đă phát
triển mạnh. Một h́nh thức đua tài
thời trang gọi là "thi đua Kimono"
đă thịnh hành, và thú ẩm thực cũng
thịnh lắm. Nói cách khác, cái hào nhoáng của
thời Genroku chẳng qua là cái bong bóng do tư
bản thương nghiệp đă mất đất
dụng vơ thổi phồng lên. Thế
mà vẫn c̣n tiền thừa để cho các phiên
chúa vay nợ. Đời sống trở nên xa hoa, th́
vơ sĩ samurai cũng như lănh chúa đều
phải tiêu sài tốn kém. Giới vơ sĩ,
với thu nhập cố định một
cọc ba đồng th́ dứt khoát là nghèo đi.
Mức sinh hoạt chung tăng lên, song mức thu
nhập của vơ sĩ samura vẫn không thay đổi.
Lương lậu được lĩnh bằng
gạo nên tuy không chịu ảnh hưởng
của lạm phát, song không theo kịp đà tăng
của mức sinh hoạt và sự gia tăng kinh
tế. Mạc phủ Tokugawa mặc dầu không vơ
trang mà đă duy tŕ được quyền
lực tới 260 năm, chính là nhờ ở cơ
chế bần cùng hóa măn tính của giai cấp
cai trị. Thế
nhưng, tiền cho phiên chúa vay chỉ là để
lấy lời, chứ có sinh ra tài vật ǵ đâu.
Rốt cục, các phiên địa đều rơi
vào t́nh trạng tài chính eo hẹp. Đến
thời Genroku, th́ ngay nền tài chính của
mạc phủ cũng bị quẫn bách. Vàng
bạc tích lũy từ thời bậc khai tổ
là Tokugawa Ieyasu cũng cạn đi mất hết. Không
làm sao khác được, tháng 8 năm 1695 (Genroku
năm thứ tám), mạc phủ đă cho đúc
tiền lại. Hàm lượng vàng trong đồng
tiền vàng bị giảm bớt đi. Thay vào
đó, đồng được trộn vào, và
số lượng tiền được đúc
ra nhiều hơn. Đồng tiền bạc cũng
được pha thêm ch́ để đúc ra
số lượng nhiều hơn. Nói theo kiểu
ngày nay, th́ đây là lạm phát tiền tệ.
Đương nhiên, sự lạm phát như vậy
làm cho việc làm ăn được phấn
chấn một thời gian. Nửa
sau của thời Genroku chính là lúc thịnh vượng
bong bóng. Đám nhà thầu xây dựng như
Kinokuniya Bunzaemon được lời lớn.
Bởi v́ họ trúng những mẻ thầu
lớn như xây điện Goji-in và chùa Gokokuji.
T́nh huống này cũng tương tự như
thời kinh tế bong bóng của những năm
1980. Song,
bong bóng vẫn chỉ là bong bóng. Sự thịnh
vượng giả tạo không được
yểm trợ bởi sự gia tăng sản
xuất và gia tăng tiêu dùng, th́ không thể kéo
dài được. Bốn năm sau vụ đúc
tiền lại, tức là khoảng năm Genroku
thứ 12 (1699), bong bóng bắt đầu xẹp
dần. Chính lúc đó là thời kỳ Baigan
đến ở đợ cho nhà buôn đầu
tiên bị phá sản. Mới 8 tuổi đầu,
từ nhà quê Tanba ra nơi đô hi Kyoto, mặc dù
được mắt thấy cái vẻ hào nháng
của thời Genroku, nhưng chưa có cơ
hội thưởng thức th́ đă phải
nếm mùi thảm thương là nơi ở
đợ bị phá sản. Thời
Yoshimune có thế t́nh giống như ngày nay Thế
t́nh mỗi ngày một xuống dốc. Tiểu
thuyết "Chân dung một người đàn
ông khiêm nhường" (tác giả: Sakaiya Taichi)
viết về Baigan của thời kỳ đó. Vụ
trả thù chúa nổi tiếng Chushin-gura[8]
diễn ra ngày 15 tháng Chạp âm lịch, năm
Genroku thứ 15. Theo dương lịch, người
ta hay coi vụ này diễn ra năm 1702. Nhưng v́
đó là ngày 15 tháng Chạp âm lịch, nên theo dương
lịch lúc đó phải là đă sang năm 1703.
Lúc đó, bong bóng thịnh vượng đă
xẹp rồi, việc làm ăn trở nên khó khăn
một cách trầm trọng. V́ vậy, sự
kiện phiên chúa Asano Takumi No Kami đă hà tiện
trong việc đút lót Kira Konosuke No Suke không
phải là không có liên quan tới vấn đề
tài chính eo hẹp của phiên bang. Thời
Genroku chỉ kéo dài 17 năm. Tháng 3 năm thứ
17, niên hiệu đổi thành Hoei nguyên niên. Niên
hiệu này ít được mỗi người
nhớ tới, duy chỉ có vụ nổ Hoei
của núi Phú Sĩ (năm Hoei thứ tư,
tức 1707) là nổi tiếng. Khói bụi do núi
phun ra đă rắc tro xuống thành Edo (ở cách
xa hàng 100 km) và cản ánh nắng đến
nỗi năm đó mất mùa. Cảnh khí buôn bán
trở nên cáng tệ
hơn, và bầu không khí trong xă hội mỗi ngày
một thấy bí bích hơn. Chỉ c̣n một
lối xả hơi duy nhất là phong trào đi
lễ đền Ise. Một
hiện tượng thú vị của thời
Tokugawa mỗi khi cảnh khí làm ăn không
phấn chấn, th́ không lần nào sai lần nào,
mọi người đua nhau đi lễ đền
Ise. Theo kinh tế học ngày nay, th́ sự
biến động dài hạn của cảnh khí
kinh doanh là khoảng 60 năm, gọi là "làn sóng
Kondrachev[9]."
Nền kinh tế bế môn tỏa cảng của
thời Tokugawa đă hùng hồn chứng minh điều
này. Phong trào đi lễ đền Ise cũng
cứ khoảng 60 năm lại thịnh hành
một cách nổ bùng lên. Đi
lễ đền Ise quả đă là một phong
trào bộc phát, nhất là ở thời Hoei th́
chỉ trong ṿng chưa đầy hai tháng trời
đă có khoảng 3 triệu 600 ngàn người
cuồng nhiệt tham gia. Thời
ấy từ Ozaka tới Ise phải đi mất
ba ngày đường. Vậy nếu ngủ
lại Ise một đêm, th́ như vậy
phải mất một tuần đi về. Từ
những nơi xa hơn th́ phải mất có khi hơn
cả chục ngày. Dân số Nhật Bản
thời đó chỉ là khoảng 30 triệu người,
và như vậy con số người đi
lễ đă lên tới khoảng 12 phần trăm
dân số nghĩa là 12 phần trăm tổng dân
số đă làm một cuộc du lịch lớn
từ một tuần tới mười ngày trong
ṿng chưa đầy hai tháng trời. Nói theo
cảm giác ngày nay, th́ như vậy tương
đương với sự kiện 15 triệu người
Nhật Bản đổ xô đi du lịch
Nữu Ước trong khoảng thời gian chưa
đầy hai tháng trời. Thời
Tokugawa th́ người làm công phải tŕnh
với chủ nhân, con phải tŕnh với cha
mẹ, vợ phải tŕnh với chồng,
chứ không được tự tiện bỏ
nhà đi du lịch. Hơn nữa, nông dân th́
phải tŕnh với lănh chúa, xin giấy thông hành
mới qua cửa ải được. Bởi v́
thời ấy chế độ phong kiến,
chế độ gia tộc, chế độ
chủ tớ đều đè nặng lên đầu
mỗi người. Để
thoát khỏi được sự kiềm chế
như vậy dù chỉ nhất thời thôi, chính
là việc đi lễ "lén". Phong trào đi
lễ bùng nổ vào những năm ngay sau năm
"thiên cung " của đền Ise. Sáu mươi
năm một lần phong trào đi lễ bùng
nổ lên như vậy đă có hiệu quả
giải phóng dân gian khỏi cái bí bức, cái
cảm giác khó thở của lúc cảnh khí làm
ăn trở nên tồi tệ. Năm Kyoho thứ
15 (1730), đă thấy xuất hiện một
cuốn sách phê b́nh lệ đi lễ "lén"
(Sách dạy bảo lẽ phải trái của
việc đi lễ lén), song tức khắc
lại có sự phản luận. Tầng lớp
cai trị cũng thấy "thật là khó
xử," song họ cũng phải nh́n nhận
công dụng của việc đi lễ là làm tiêu
tan sự bất măn của quần chúng. Mỗi
lần phong trào đi lễ đền Ise bùng
nổ ra, là lúc sự tiêu dùng lại tăng
vọt lên. Thời Hoei th́ nhà trọ và quán ăn
hăy c̣n ít nên mỗi dịp như vậy lại
là một phen hỗn độn. Địa chủ và
phú thương dọc đường tới Ise
đă đem khăn phát không cho khách hành hương,
hoặc cho họ ăn, hoặc cho ngủ bợ. Dân chảy
hội đều nghĩ rằng những phú thương
được lời quá trong lúc cảnh khí
phấn chấn, th́ lúc này là lúc họ
đương nhiên phải bù đắp lại
cho xă hội. Cũng có thể nói là mỗi
lần phong trào đi lễ đền Ise bùng
nổ ra vào lúc cảnh khí kinh tế xuống
dốc như vậy, chính là cơ hội tái phân
phối của cải. Thế
nhưng, trong khoảng thời gian cảnh khí làm
ăn xuống dốc như vậy, đám phú thương
ở kinh đô hay ở Ozaka đă phải tiêu xài
những món tiền lớn, nên họ chịu không
nổi nữa. Một mặt, để khỏi
bị giới vơ sĩ samurai ghen ghét ganh tị,
họ phải bắt đầu thắt lưng
buộc bụng, sống cuộc đời
tiết kiệm. Như vậy lại càng làm cho
cảnh khí trở nên tồi tệ hơn. Thời
Genroku và Hoei là đời trị của vị chúa
Tokugawa thứ năm, Tsunayoshi. Hai đời chúa
sau ông đều đoản mệnh, và sau đó
là lúc đăng đàn của vị chúa thứ
tám, Yoshimune. Cảnh
khí suy xụp, th́ đương nhiên thu nhập
của các phiên địa cũng sút giảm.
Nền tài chính của mạc phủ, với
sự tiêu sái phung phí cho công cuộc đầu tư
công cộng, th́ nay bị thâm thủng. Nguồn
lợi thu được từ việc cho đúc
lại tiền nói ở trên, cũng chẳng bao lâu
tiêu mất hết. Để
đối lại với t́nh trạng tài chính khó
khăn này, chúa Yoshimune đă dạy người
ta phải triệt để tiết kiệm. Đó
là cuộc cải cách tài chính thời Kyoho. Chính
ông đă nỗ lực tiết kiệm, và ông
bắt người khác cũng phải noi gương
ấy. Ông dựng nên xă hội do quan chức
cầm đầu bằng cách dùng thám tử,
gọi là Oniwa-ban, ŕnh rập cung cách sinh hoạt
của người khác và nếu thấy tiêu xài
xa hoa th́ bắt giam, rồi tịch thu tài sản. Chính
trong thời đại tối tăm xuống
dốc như vậy mà thanh niên 23 tuổi Ishida
Baigan, đă lên Kyoto xin việc làm lại ở nhà
hàng bán quần áo Kuroyanagi-ya. Đây là một nhà hàng
lớn, nổi tiếng, nhưng v́ phải làm
việc ở địa vị tương
đương với những cậu bé 12, 13
tuổi, nên Baigan hẳn đă lấy làm khổ
tâm lắm. Nói cách khác, Baigan đă bị
đưa vào cảnh ngộ đen tối của
kẻ thất bại, lạc loài. Thế
t́nh thời đó cũng giống như t́nh
trạng bong bóng xẹp của những năm
1990. Thế giới của vơ sĩ samurai th́ đă
bị "tổng số zero hóa." Giới thương
gia th́ khoảng mười năm qua đă
xuống dốc dần dần. Sự kiện này
đă đánh một đ̣n tinh thần đau vào
giới thương gia. Bởi v́, là con buôn, ai
nấy đều hướng đến làm ra
tiền, nhưng nay việc làm tiền đă
tới giới hạn, họ mất hẳn
mục tiêu của cuộc đời. Đến
thế này th́ họ sẽ giữ thủ thế,
bằng cách giữ của cải lại. Sách
"Gia huấn của họ Konoike," hoặc
"Những điều viết để
lại" của Mitsui Takatoshi, hay "Ghi chép
về ư nghĩ của nhà buôn" của Mitsui
Takafusa nghĩa là những sách gia huấn do thương
gia viết để lại cho con cháu, phần
lớn đă xuất hiện vào những thời
Hoei, Seitoku, Kyoho sau Genroku, tức là lúc việc làm
ăn đă dần dần xuống dốc. Sách nào
cũng dạy là phải "làm ăn cần cù
và tiết kiệm," tức là dạy quan
niệm nhân sinh thế thủ. Nhà kinh doanh nào
đă sống qua thời làm ăn khó khăn sau
khi bong bóng Genroku bị xẹp, đều dạy
"hăy làm ăn cần cù, sống thanh bạch,
tiết kiệm" để có thể vượt
qua được thời kỳ làm ăn khó khăn
như vậy. Nghĩa là làm sao duy tŕ cho
được thể chất tiêu xài ít, tích lũy
nội bộ nhiều, để vượt qua
giai đoạn kinh doanh suy sụp. Lư
luận như vậy chỉ đúng trong việc
kinh doanh của một xí nghiệp, tức là trong
phạm vi kinh tế vi mô. Nhưng nếu mỗi
người đều làm việc cần cù,
đều tiết kiệm cả, th́ trên b́nh
diện kinh tế vĩ mô của toàn dân, sự
thăng bằng sẽ không duy tŕ được.
Mỗi người càng làm việc chăm
chỉ, cần cù, th́ lượng sản xuất
càng gia tăng, số cung càng lớn lên. Nhưng
nếu mỗi người đều tiết
kiệm th́ số cầu sẽ giảm đi.
Kết quả là hàng làm ra bán không hết. Như
vậy, làm bao nhiêu cũng vẫn thấy đời
sống khổ cực. Nếu
là thời nay th́ lượng sản xuất
thặng dư được bán ra ngoài nước
làm cho cán cân mậu dịch trở thành
"chữ số đen" (bán ra nhiều hơn
mua vào). Nhật Bản có "chữ số đen"
về mậu dịch quốc tế vào thời
đầu của những năm Heisei (niên
hiệu kể từ năm 1989 tới nay) lên
tới 130 tỷ đôla Mỹ hàng năm, là v́ lúc
đó mặc dầu không c̣n đối tượng
đầu tư nữa, nhưng mỗi người
vẫn làm ăn cần mẫn, vẫn tích lũy
đều đặn, cho nên số cung vượt
quá số cầu, và lượng sản phẩm
thặng dư đă được dồn
hết sang bàn cho nước ngoài. Nói bằng ngôn
ngữ kinh tế ngày nay, th́ tích lũy, hay
tiết kiệm (S) phải luôn luôn bằng đầu
tư (I), nghĩa là S=I. Như thế, nếu S tăng
mà I không có đối tượng th́ bắt
buộc phải rơi vào t́nh trạng kinh doanh suy
đồi để giảm bớt S đi. Người
Nhật thời Kyoho không có cái hiểu biết
kinh tế như vậy, nên mạc phủ Tokugawa
đă ra lệnh bắt mọi người
phải tiết kiệm đồng thời
cấm xa hoa. V́ thế nên nhu cầu càng bới
đi, nên đă rơi vào t́nh trạng cân
bằng sút giảm (nghĩa là S=I nhưng cả S
lẫn I đều nhỏ lại). Thế nhưng
người Nhật rút cục đă nhận
biết được điều này. Nghĩa là,
người Tây Âu v́ đă dựa vào thuộc
địa hay chiến tranh với ngoại
quốc để t́m đường thoát thân, nên
đă không nhận thức được điều
mà người Nhật ở thế kỷ thứ
XVIII đă hiểu rơ. Làm
thế nào được đây. Có hai con
đường. Một là mọi người cùng
tán thưởng xa hoa nghĩa là mỹ hóa sự
tiêu xài. Hai là bỏ sự cần cù làm ăn
đi, bớt số giờ lao động đi và
vui chơi trong những thời giờ nhàn
rỗi. Thời
đó, người Nhật không thể bỏ
sự cần cù làm ăn đi được, v́
nh́n ở b́nh diện vi mô, th́ cả nhà nông cũng
như nhà buôn, cả hai đều đ̣i hỏi
sự cần cù lao động. Xa hoa cũng không
được. Bởi nếu xa hoa th́ bị
mạc phủ Tokugawa bắt tội, như Yodoya
Tatsu Goro đă bị tịch thu tài sản và
đuổi khỏi quê quán. Hơn nữa, vật
giá gia tăng khiến cho việc buôn bán không thành
được. Thật là vấn đề
bức xúc với người Nhật thời
đó. Giải
pháp đầu tiên là do Ito Miroku (hay Jikigyo) đề
xuất. Đó là sự sùng bái núi Phú Sĩ, mà sau
này trở thành tục đi lễ núi Phú Sĩ.
Việc này chỉ gồm có vừa leo núi Phú Sĩ
vừa tụng câu "lục căn thanh trừng[10]."
Thế nhưng, một mặt th́ quan niệm
rằng "tiền bạc là con đ̣ đưa
người ta vượt qua cơi đời trôi
nổi này." Nói cách khác, đây là sự tu hành
đi t́m cái lợi đời nay chứ không tin
vào Thần Phật để được
tới thế giới cực lạc. Đây
chẳng qua là khuyên người ta lao khổ,
vận động thật nhiều nhưng không
sản xuất ra ǵ cả. Để đền bù,
nếu leo núi Phú Sĩ được nhiều
lần th́ được gọi là "người
đạt," được nhiều lần hơn
nữa th́ trở thành "người đại
đạt," được người khác kính
nể. Trong một thời gian ngắn, phong trào
leo núi Phù Sĩ như vậy đă thịnh hành
lắm. Song, chẳng bao lâu, người ta đă
tỉnh ngộ v́ việc này quá ư ấu trĩ.
Nó chỉ làm mệt mỏi nên đă không
thuyết phục được đông đảo
người ta nữa. Thời
kỳ Kyoho với nỗi bức xúc như vậy
của mỗi người, chính là giai đoạn
hai trong cuộc đời Ishida Baigan. Lúc này, Baigan
đă được thăng chức từ
tiểu đồng lên làm quản gia, tức là
con buôn hẳn hoi. Đây là thời kỳ Baigan đă
sống trong t́nh trạng mâu thuẫn kịch
liệt. Điều
này có quan hệ sâu đậm với cách dạy
con của cha Baigan. Người cha này là người
hết sức thật thà. Khi Baigan c̣n nhỏ,
đi lượm hạt dẻ ở núi đem
về, th́ người cha hỏi: "Hạt
dẻ đó rơi ở bên trái hay bên phải
đường ranh giới?" Khi nghe cậu bé
trả lời "bên trái," ông liền nói:
"Đó là hạt dẻ của người khác rơi
xuống, lăn sang đất nhà ta. Vậy
phải đem trả về chỗ cũ ngay."
Rồi ngay nửa đêm, ông bắt cậu Baigan
phải đem trả về núi. Câu chuyện này
c̣n lưu truyền tới ngày nay. Chính cái giáo
dục nghiêm khắc này đă một phần làm
cho Baigan trở thành con người hết sức
nghiêm túc, thật thà. Lời cha bảo không
được nói xấu nhà chủ, đă
khiến Baigan dấu cha nhiều năm không nói ra
việc chủ nhà đă phá sản. Thật là
sự thật thà nghiêm túc hiếm có. Baigan
là "người nghiêm túc" như vậy
đó, nên đă cảm thấy vô cùng bức xúc
trước những mâu thuẫn của thời
thế. Rồi sau khi suy nghĩ mung lung, Baigan
chợt tỉnh ngộ và ở tuổi 42, 43, ông
đă xin thôi không làm quản gia cho nhà hàng
Kuroyanagi-ya nữa. Như đă thuật, ông theo
học Oguri Ryo’un, để rồi tự khám phá
ra chân lư của riêng ḿnh. Năm
Kyoho thứ 14 (1729), ở tuổi 45, ông đă
mở trường dạy học ở phường
Kurumaya, kinh đô Kyoto. Nói là mở trường,
song lúc đầu chẳng có học tṛ nào
cả. Trước hết, ông phải ra đứng
đầu đường, thuyết giáo cho người
qua đường nghe cái suy nghĩ của
bản thân ḿnh. Ngày nay, h́nh thức thuyết giáo
này gọi là diễn thuyết đầu
đường. Ngày đầu tiên diễn
thuyết như vậy chỉ có một nông phu
tay cầm một củ cải, đứng nghe thôi. Có
một dạo, ông Takeshita Noboru[11]
hay nói: "Dẫu có phải đứng đầu
đường, ta cũng quyết thuyết
giảng đường lối này." Câu nói này
gốc gác là của Ishida Baigan. Nghĩa là,
dẫu có phải đứng thuyết giáo đầu
đường, xó chợ, ông cũng muốn
giảng giải cho rơ cái đạo của ḿnh.
Với sự hăng say như vậy, Baigan đă
tiếp tục đứng đầu đường
thuyết giảng cái đạo của ḿnh
vậy. Làm
ăn cần cù là tu thân Vậy
th́ Ishida Baigan đă thuyết giảng cái ǵ.
Quả thật, đó chỉ là hăy làm việc
cần mẫn, hăy sống tần tiện, thanh
bần. Rồi ông giảng giải làm thế nào
để sự cần mẫn lại đứng
song lập được với lối sống
thanh bần. Không phải chỉ khuyên nên làm
việc cần mẫn, mà c̣n cả nên tần
tiện, tức là nêu lên một quy phạm luân lư
ảnh hưởng đến cả hai đức
tính một lúc. Đó mới là quan trọng. Nguồn
gốc là sự rút gọn cái triết lư độc
đáo của ḿnh thành "mọi nghề đều
là tu hành" cả. Nói cách khác, làm việc
cần mẫn tức là tu thân. Mỗi nghề,
từ nhà nông cầy ruộng, nhà buôn bán hàng,
thợ chế ra đồ dùng, làm ǵ cũng
vậy, nếu cần cù trau dồi nghề
nghiệp, th́ tự nhiên nhân cách được
tu dưỡng tốt ra. Nói cách khác, để tu
dưỡng được như vậy, người
ta có thể bỏ quên cái năng suất đi.
Lời dạy bảo của Baigan có thể tóm lược
như sau: "Người
ta mỗi ngày làm việc sáu tiếng đồng
hồ th́ được ba hộc gạo (540 lít).
Ta làm việc mỗi ngày tám tiếng đồng
hồ để lấy ba hộc một thăng
gạo (541,8 lít). Ôi tuyệt diệu biết
bao." Nghĩa
là người ta đi làm mỗi ngày sáu
tiếng đồng hồ để lănh một năm
540 lít gạo, nhưng Baigan đi làm mỗi ngày tám
tiếng đồng hồ chỉ là để lănh
541,8 lít gạo, thế mới hay, mới thú
vị. Cái quan trọng ở đây không phải
là đặt trọng điểm của việc
làm (sự lao động) vào năng suất, vào
sản lượng, mà cái quan trọng là sự
tu thân, sự tu dưỡng nhân cách, sự
sống sao cho phải đạo làm người. Nếu
đem khái niệm năng suất lao động
ra giải thích, th́ như vậy là hai giờ lao
động cuối cùng có năng suất sút
giảm kinh khủng. Bởi v́, nếu mỗi ngày
làm việc sáu tiếng đồng hồ mà thâu
được 540 lít gạo mỗi năm, th́ như
vậy là mỗi giờ làm việc một ngày
sẽ đem lại 90 lít gạo một năm.
Vậy nếu làm việc tám tiếng đồng
hồ một ngày mà chỉ được 541,8 lít
gạo, th́ ra hai tiếng đồng hồ
cuối cùng chỉ có năng suất lao động
giảm xuống bằng một phần trăm.
Thế nhưng, cái quan trọng, cái bí quyết là
năng suất này không tụt xuống zero. Phong
trào sùng bái núi Phú Sĩ th́, ngay từ đầu
đă biết rằng việc làm này không sản
suất ra cái ǵ cả, nhưng vẫn khuyên người
ta leo núi Phú Sĩ. Thế nhưng, phép tu hành
của Baigan th́ không phải là không sản
suất ǵ cả. Hơn nữa, biết đâu
hai tiếng đồng hồ làm thêm kia, lại
chẳng mang lại sự được mùa. It
lắm, nó cũng giúp tránh khỏi mất mùa. Nghĩa
là, nó vẫn hơn ở không, hơn chơi
bời. Ngoài ra, nếu nó giúp ta tu thân, th́
chẳng phải là điều hay đó sao? Sách
viết của Baigan, như cuốn "Luận
về việc tề gia tằn tiện"
hoặc sách viết chung với học tṛ
"Vấn đáp tỉnh quê," hay sách do
học tṛ ghi chép lại những câu hỏi và
đáp án với học tṛ "Lời thày Ishida
dạy," tất cả tựu trung là lập
đi lập lại lời dạy "lao động
cần cù là tu dưỡng nhân cách." Tóm
lại, nền Tâm học Thạch Môn của
Ishida Baigan lấy tư tưởng đó làm căn
bản. Nó đă thuyết phục được
người đương thời bởi v́ nó
không thuyết giảng sự lao động
sản xuất trong sự g̣ bó cưỡng bách,
ngược lại nó chủ trương lấy
lao động làm phương tiện tu thân. Tư
tưởng của Baigan dần dần được
đệ tử truyền bá ra toàn quốc.
Học xá Tâm học Thạch Môn đă được
lập ra ở khắp nơi. Sau khi Baigan mất,
người ta thấy đă mọc ra ở kinh
đô Kyoto ba học xá là Tu chính xá, Thời
tập xá và Minh luân xá. Ở Ozaka cũng có ba trường
là Minh thi xá, Tĩnh an xá và Ư hành xá. Rồi
ở thành Edo th́ có Tham tiền xá. Từ
các học xá này, đă xuất hiện nhiều
nhân vật xuất sắc. Chẳng hạn, Tejima
To-an là người đă đóng góp nhiều cho
sự phổ biến cái học của Ishiba
Baigan, bằng cách bỏ tiền ra mở trường
Tâm học. Hay là, một trong những học tṛ
của To-an, tên là Nakazawa Doni, đă mở trường
truyền bá Tâm học Ishida ra khắp vùng Kanto.
Trong hậu bán của thời kỳ mạc
phủ Tokugawa, người ta thấy đă có
tới mười phiên chúa kể cả phiên chúa
Yamazaki của phiên địa Haruma No Kuni, là môn
đồ của Doni. Cái
đặc sắc nhất trong phương pháp
thuyết giảng Tâm học của họ là dùng
những tỷ dụ, những câu chuyện lư thú
để giải thích từng vấn đề
của cuộc sinh hoạt thường ngày,
giống như lời thuyết pháp của thày chùa
vậy. Phương pháp thuyết giảng này
đă được cả phiên chúa lẫn
thứ dân hoan nghênh. Hơn thế nữa, cho
đến thời đó th́ không hề có trường
học nào lấy đối tượng là
nữ giới cả. Nhưng, những trường
Tâm học Ishida này đă hoan nghênh cả nữ
giới nữa. Thật là một tiến bộ
đáng ngạc nhiên. Xem
những bức tranh vẽ quang cảnh một pḥng
học của trường Tâm học Thạch Môn,
người ta thấy thày giáo ngồi trên
giữa một cái bục ở chính diện.
Học tṛ nam nữ chia nhau ra ngồi hai bên pḥng,
ở giữa có một tấm mành mành ngăn cách.
Học tṛ đều có thể nh́n thấy
mặt thày, nhưng hai bên học tṛ nam nữ th́
không thấy mặt nhau được. Nhờ có
sáng kiến mới như vậy, nên trường
Tâm học đă lan ra khắp nước,
được đại chúng ủng hộ coi như
là nơi nương tựa tinh thần. Nhờ
thế, đă có tới 21 trường như
vậy được lập ra. Tất cả
những trường này đều chỉ
dạy người ta hăy làm việc cần
mẫn, hăy trau dồi nghề nghiệp của ḿnh,
th́ như vậy nhân cách cũng sẽ được
tu dưỡng. Nghĩa là, tất cả là để
truyền bá cái tư tưởng cần cù,
tần tiện, an phận tri túc của Ishida
Baigan. Ngồi
không là uổng Tư
tưởng của nền Tâm học do người
quản gia hơn người, Ishida Baigan, khởi
xướng, đă có ảnh hưởng sâu
đậm tới Nhật Bản và người
Nhật. Ngay ở thời đại với
nhiều biến đổi nhanh chóng như ngày
nay, tư tưởng đó cũng đáng là
đầu đề suy ngẫm. Ảnh
hưởng thứ nhất là, người
Nhật ai nấy đều coi sự làm việc
cần cù không kể đến năng suất
lao động, không đếm xỉa đến
tính kinh tế, là vô cùng tốt. Do đó, mới
nảy sinh ra ư nghĩ "chơi là phí phạm,
ngồi không là uổng." Đến gần đây,
người ta mới thấy giảm bớt đi,
chứ chỉ 10 năm, 15 năm trước đây
thôi, nhà nông cũng như người buôn bán
lẻ, ai nấy đều có ư thức như
vậy cả. Thí
dụ, có những nhà hàng bán trái cây ở góc
phố mở cửa tới quá 10 hay 11 giờ
đêm. Nếu hỏi chủ cửa hàng "Quá
8 giờ th́ khách vào có đông không?" Ông ta
sẽ trả lời "Chỉ lác đác thôi. Rút
cục chỉ đủ tiền điện."
Lại hỏi "Vậy sao không đóng cửa,
nghỉ cho khỏe?" Th́ ông sẽ nói
"Dạ thưa, ngồi không th́ uổng. Trông
cửa hàng để khỏi ngồi không." Hay
là vào một nhà hàng giặt ủi, người
ta sẽ thấy quần áo giặt ủi xong
được xếp lại gọn ghẽ,
bọc nilông hẳn hoi. Thế nhưng ở nước
ngoài th́ để tránh lăng phí công sức như
vậy, quần áo giặt ủi xong chỉ
được máng lên mắc áo bằng dây
kẽm. Một cái mắc áo dây kẽm như
vậy chỉ tốn 10 Yen, nếu đem so
với công sức mười phút đồng
hồ để gấp xếp rồi bọc nilông,
th́ không đáng kể. Thế nhưng, nhiều
chủ tiệm giặt ủi sẽ nói
"bề nào cũng ngồi không, nên gấp
lại như vậy tốt hơn." Với
nhà nông, th́ ư thức đó càng rơ hơn.
Chẳng biết có thu hoạch được thêm
chút nào không, nhưng người ta bao giờ cũng
vác cuốc ra đồng. Nói cách khác, làm
việc để tự thấy măn nguyện, làm
việc để được an tâm, đă
trở thành một tập quán của người
Nhật vậy. Thời Showa (1926-1989), người
Nhật bị phê b́nh là "làm việc quá
nhiều." Đó chính là chứng tích của tư
tưởng "làm việc cần cù chính là tu dưỡng
tinh thần, tu dưỡng nhân cách" của
Baigan vậy. Nhưng
nếu tư tưởng này chỉ dừng
lại ở đây thôi, th́ ảnh hưởng cũng
nhỏ. Khốn nỗi, nó đă lan rộng ra,
tạo thành nét độc đáo của nền văn
hóa Nhật Bản. Mâu
thuẫn giữa làm ăn cần mẫn và
lối sống thanh bần Trong
nền văn minh Thiên chúa giáo của Âu Tây, hay
trong nền văn minh Hồi giáo của vùng Trung
Đông, th́ làm việc cần mẫn là để tích
lũy tài sản để sau này vui thú hưởng
nhàn. Do đó, chính việc làm ăn cần cù
trở thành đề tài "nên hay không nên."
Nhưng nếu thuyết dụ nếp sống
thanh bần, th́ tốt hơn hết là coi
trọng tín ngưỡng, mà việc cầu
nguyện thần thánh là ưu tiên. Trong
nền Nho học của Trung Hoa, th́ cái học
của Chu Tử lấy sự hiểu biết làm
chủ (chủ tri chủ nghĩa), nên coi trọng
tri thức và tưởng thưởng sự
cần mẫn. Nhưng đó là sự cần
mẫn học tập để mở rộng tri
thức, chứ không phải là sự cần cù làm
ăn. Nói cách khác, đó không phải là khích
lệ người ta cần cù sản xuất
để truy cầu cái lợi ích đời nay. Mặt
khác, thanh bần là một trong số những tư
tưởng trung tâm của Công giáo. Chẳng
hạn, Công giáo thời trung cổ coi "Gautier
một xu dính túi không có," "Pierre nghèo
rớt mùng tơi" hoặc "Thánh Francisco nói
chuyện với cả chim chóc," đều là
hay, là giỏi. Thày tu th́ bỏ hết bề ngoài
hào nháng, chỉ mặc đồ đen hoặc
đồ trắng. Ḍng Francisco th́ mặc quần
áo màu nâu. Lưng chỉ thắt một sợi dây
gai, để thực tiễn sự tiết
kiệm. Tư
tưởng coi thanh bần là thiện, th́ có
ở khắp thế giới. Thế nhưng ít
thấy có những nhà tư tưởng nào đồng
thời dạy người ta cần cù làm ăn.
Giảng dạy người ta hăy chăm chỉ
cầu chúa, hay cần cù học tập để
hiểu biết th́ có, chứ c̣n việc chăm
chỉ làm ăn th́ không lưỡng lập
được với lối sống thanh bần,
nên thường được né tránh. Thế nhưng,
Baigan th́ dạy người ta cần cù lao động,
dù là làm ruộng, hay làm thợ, hay đi buôn, th́
đây quả là đă lập nên một nền
luân lư độc đáo. Không
phải nước ngoài không có tư tưởng
coi lao động cần cù là thiện. Giáo lư Tin
lành chẳng hạn, là một. Song ở đó,
cần mẫn và thanh bần đă trở thành mâu
thuẫn với nhau. Chẳng
hạn, trong các giáo phái Tin lành, th́ Thanh giáo
(Puristan) đă thực tiễn cả hai. Họ
phạt rừng, làm rẫy, cho nên bị những
người khác ghê sợ v́ sự kiện
họ phá hoại thiên nhiên và sự cân bằng
kinh tế. Có một thời, cuộc cách mạng
Thanh giáo này đă lan rộng ra hết nước
Anh, nhưng rút cục, họ đă phải bán
sới châu Âu và t́m đường sống
ở châu Mỹ. Mặt
khác, cũng có giáo phái Tin lành chỉ chung sự
cần mẫn và bỏ lối sống thanh
bần đi. Nghĩa là, với thành quả
của sự làm ăn cần cù, người ta có
thể hưởng lạc. Chính cái tư tưởng
này đă phát sinh ra "Tinh thần chủ nghĩa
tư bản" của Max Weber vậy. Một
điều làm cho người ngoại quốc hay
hiểu lầm Nhật Bản, là Zen (Thiền).
Baigan cũng nhiệt tâm tu Thiền, cho nên cũng
có thể bảo rằng Tâm học Thạch Môn
phát sinh ra từ Thiền. Song, cái Thiền mà người
ngoại quốc nghiên cứu, là Thiền của
thời đại Kamakura, chứ cái Thiền mà
của phần đông người Nhật đời
nay th́ khác xa lắm. Nguyên lai, Thiền coi đức
Đạt Ma Đại Sư (Tổ Sư) ngồi nh́n
tường chín năm là tài, là giỏi. Nghĩa
là, coi việc triệt để sống thanh
bần, chứ không màng tới lao động
sản xuất, mới là hệ trọng. Chủ
trương chi ly đă trở thành thói quen buôn bán Ảnh
hưởng thứ hai của lời dạy
"mọi nghề đều là tu thân"
của Baigan, là sự suy luận từ mặt trái
của câu đó, tức là "nếu có nhân cách
đàng hoàng th́ tất sẽ lao động
cần cù trong sản xuất." Người
Nhật thời Tokugawa có ít tiến bộ về
kỹ thuật, đồng thời đất
đai th́ hạn hẹp và tài nguyên th́ nghèo nàn.
Như vậy, nếu mọi người đều
làm việc cần cù, th́ sẽ xảy ra t́nh
trạng lao động quá nhiều, đất
đai và tài nguyên không đủ. Đó là hiện
tượng "treo mạng sống cho một
mảnh đất." Nghĩa là người ta
dốc hết sức lao động vào một
mảnh đất nhỏ hẹp, một nhúm tài
nguyên nhỏ nhoi. Như vậy sẽ phát sinh ra
sự cạnh tranh làm cho tốt, làm cho đẹp
tới những chi tiết nhỏ nhặt
nhất. Sự cạnh tranh này tăng lên, sẽ
khiến người ta nghĩ rằng: "Tôi là
người có nhân cách cao khiết, nên mới làm
ăn cần mẫn như vầy. Chứng cớ
là tôi chú tâm làm kỹ tới những chi
tiết mà người khác không nhận ra." Cái
"kỹ tính," tức là cái đặc tính
chú trọng tới chi tiết của người
Nhật, đă làm cho họ "làm kỹ"
cả tới mặt trái của quần áo, hay cái
mặt đế của bàn thờ Phật. Nghĩa
là, muốn được cả "cần"
lẫn "kiệm" th́ không những phải
hạ năng suất lao động xuống, mà
đồng thời c̣n phải để ư
tới những ǵ người khác không nh́n
thấy, để nâng trị giá gia tăng lên, dù
chỉ là một phần rất nhỏ. Đúng ra,
đây chính là để khoe cái giá trị
của sản phẩm ḿnh ở chỗ kỹ càng
và tỉ mỉ. Thế rồi từ đó
tạo ra cách thức đánh giá con người
ở cái đức tính có thể làm ra được
sản phẩm như vậy. Sau
rốt, cái tỉ mỉ, cái kỹ càng đó
đă trở thành đặc trưng của
sản phẩm Nhật Bản, thành tập quán làm
ăn của người Nhật. Những chỗ
chẳng cần thiết ǵ cả, cũng câu
nệ làm cho kỹ càng tỉ mỉ. Thậm chí,
cái cách gói ghém sản phẩm, cái cách dán nhăn cũng
cầu kỳ, cũng để ư từng li
từng tí một. Thế
nhưng, những chỗ cầu kỳ, tỉ
mỉ như vậy th́ người thường
không hiểu nổi. Chúng trở thành trung tâm
của sự cạnh tranh giữa các thợ lành
nghề: "Cũng cùng một vật liệu, nhưng
cái công sức tôi đă đổ vào đó, th́
khác xa. Xin hăy nh́n chỗ này này. Người
trần mắt thịt th́ đâu có nh́n thấy
những chỗ tôi đă đổ công sức vào
như vậy." Lúc
này, sản phẩm ngoại quốc khi nhập vào
thị trường Nhật Bản hay bị
khiếu nại, chê bai về sự gia công bôi bác
ở những chỗ nhỏ nhặt. Chẳng
hạn, khi xem nước sơn xe ôtô có
được gia công cẩn thận hay không, người
ta thường vạch lên đó một đường
nghiêng, rồi kiểm tra từng chiếc xe
một, bằng cách chiếu một tia sáng vào
đó xem có thể nh́n rơ tia phản xạ qua
một mặt gương phẳng không. Hơn
nữa, người ta kiểm tra nghiêm ngặt xem
cánh cửa xe khi đóng lại th́ khe hở
giữa mép cánh cửa đă đóng lại
với lỗ đóng cánh cửa có đều
nhau từ trên xuống dưới không. Chỉ có
Nhật Bản mới kiểm tra kỹ lưỡng
như vậy. Ư
thức về cái đẹp ở cả những
chỗ tỉ mỉ người Nhật, cũng
thấy xuất hiện trong bản in. Ở nước
ngoài, v́ mỗi từ dài ngắn khác nhau nên người
ta chỉ chú ư đến làm thẳng hàng phía bên
trái, c̣n phía bên phải th́ để cho lồi lơm
(hoặc phải cắt từ ở giữa
chừng). Trong sách Nhật th́ mỗi hàng chữ
có chẵn 41 từ, nên hoặc dấu chấm
phết được treo lửng, hoặc người
ta xê xích mỗi chữ đi một chút cho
lọt các dấu chấm phết vào mà không
thấy rơ sự xê dịch như vậy, sao cho
cả đầu ḍng lẫn cuối ḍng đều
thẳng hàng với nhau một cách đều
đặn. Nếu
in giấy cả hai mặt, th́ bát chữ mặt
trái phải vừa khít với bát chữ mặt
phải. Mới chỉ khoảng mươi năm
trước đây thôi, người ta c̣n chưa
câu nệ điều này, nhưng càng gần
đây th́ sự câu nệ này càng thái quá
lắm. Dĩ nhiên, giá thành v́ thế cao lên. Ư
thức về cái đẹp ở những
chỗ tỉ mỉ của người Nhật, là
một nguyên nhân khiến sinh ra sự kiện giá
cả đắt đỏ ở Nhật Bản.
Thời đại Baigan th́ nhân công rẻ, và
chẳng cần trả thêm tiền phụ
trội, người ta vẫn gắng làm thật
tốt. Nhưng ngày nay th́ giá nhân công Nhật
Bản đắt nhất thế giới. Đồng
thời cái tập tục "làm ǵ cũng là tu
nghiệp" khiến cho người ta nỗ
lực chẳng cần tiền lương phụ
trội, th́ nay cũng mất đi rồi.
Thế nhưng cái tâm lư câu nệ vào cái đẹp
ở những chỗ tỉ mỉ th́ vẫn c̣n
sót lại, khiến phát sinh ra một xă hội
đắt đỏ. Chi
phí sản xuất chương tŕnh truyền h́nh
cũng vậy, nếu so với ngoại quốc,
th́ Nhật Bản đắt gấp từ ba
tới mười lần. Một trong những
nguyên nhân là sự đ̣i hỏi phải điều
chỉnh màu sắc một cách rất kỹ lưỡng.
Ví dụ, nếu quay bằng ba máy quay khác nhau th́,
tùy theo t́nh trạng máy quay và cảm giác màu
sắc của người quay, màu sắc có
thể khác nhau ít nhiều. Thế nhưng ở
Nhật Bản th́ khi quay bóng đá cũng như
bóng chày, màu đồng phục chỉ hơi khác
đi một chút cũng không được. V́
thế, phải điều chỉnh màu sắc cho
kỹ lưỡng, nên phải có nhiều người
phục dịch, và do đó tiền nhân công tăng
vọt lên. Đến như giờ phát sóng, th́
ở ngoại quốc nếu có xê xích chút đỉnh
cũng chẳng có ai để ư tới, nhưng
ở Nhật Bản th́ phải căn cho đúng
từng phút, từng giây[12].
Nhật Bản là nơi mà tiền công lên cao v́
sự câu nệ tới những chi tiết tỉ
mỉ như vậy. Đến
xây dựng th́ lại càng quá quắt lắm. Người
ta nói rằng, chi phí xây dựng ở Nhật
Bản đắt gấp hai lần ở Âu
Mỹ, và hơn ba lần ở châu Á. Phần
lớn sự tốn kém là ở chỗ
tỉ mỉ mà chỉ có người chuyên
nghiệp nh́n mới biết, như khe ghép
của đá hoa, của sàn gỗ,
sao cho thật đều đặn, thật khít.
Người thường nếu không nói cho
biết th́ không nh́n thấy, mà chỉ có thợ
lành nghề mới thấy những chỗ tỉ
mỉ như vậy. Thế nhưng, giữa các
thợ lành nghề với nhau, nếu không làm
kỹ, th́ sẽ có sự chê bai lẫn nhau, như
"ai làm thế này vậy?" hoặc "làm
như vầy mà coi được sao?" Tóm
lại, cái tinh thần của nền Tâm học
Thạch Môn, do Baigan truyền bá ra, mà cố văn
sĩ Yamamoto Shichihei gọi là tinh thần của
chủ nghĩa tư bản Nhật Bản,
quả đă cổ súy tính cần cù, và như
vậy đă thúc đẩy sự phát triển
của Nhật Bản lấy nghề chế
tạo làm ṇng cốt. Thế nhưng, ngày nay th́
chính nó đă làm phát sinh ra t́nh trạng chi phí
cao. Nó đă khiến cho các sản phẩm
Nhật Bản ch́m đắm trong hiện tượng
"phẩm chất quá dư thừa." Trong
xu thế của sự cạnh tranh quốc tế
gay go như ngày nay, các xí nghiệp Nhật
Bản cũng lần lần nhận thức
được sự hệ trọng của cái
gọi là VA (value assessment: b́nh giá giá trị,
hoặc value analysis: phân tích giá trị), nên
bắt đầu coi trọng sự làm giảm
chi phí sản xuất. Nghĩa là họ bắt
đầu phân tích để ấn định
phần nào của sản phẩm th́ cần có
phẩm chất tới mức nào? Ảnh
hưởng của nền Tâm học Thạch Môn
c̣n ảnh hưởng mạnh ở Nhật
Bản, cho nên kỹ thuật gia ở bất
cứ ngành nghề nào cũng muốn làm ra
sản phẩm tốt nhất. Xe hơi để
bán với giá rẻ cũng vẫn gia công kỹ
càng cả ở những chỗ
tỉ mỉ. Nếu là lĩnh vực có sự
cạnh tranh quốc tế gay go, th́ người
ta mới nghĩ đến nghiên cứu sự phân
tích giá trị, như nói ở trên. Chứ ở
những lănh vực không có cạnh tranh như xây
dựng cơ sở công cộng, hay giáo dục,
hay y tế, th́ sự phân tích giá trị cũng
không được thực hiện. Phía công
chức lo việc đặt hàng cũng v́ sợ
bị chê bai là thành phẩm trông không ra ǵ, cho nên
tự họ cũng chú trọng tới cả
những chỗ
nhỏ nhặt, tỉ mỉ. Cho nên, họ không
ngại chi phí nhân công tốn kém, không e ngại
ǵ việc nâng giá thành lên cao để có
được sản phẩm có phẩm chất
cao nhất. Tinh
thần của chủ nghĩa tư bản
Nhật Bản do Ishida Baigan đẻ ra, là tư
tưởng phát sinh ra trong hoàn cảnh người
thừa vật thiếu. Cái đó quả có công
dụng là đă sinh ra truyền thống của
thời đại tốt đẹp trước
kia của Nhật Bản. Nhưng không nên quên
rằng chính nó cũng hàm chứa cái nguy cơ
sinh ra tập quán làm hơn hẳn chuẩn
mực quốc tế. Sự
kỹ tính phát triển thành lư luận về nhân
cách của con người trong tổ chức Ảnh
hưởng thứ ba của nền Tâm học
Thạch Môn, là từ sự đánh giá nhân cách
cao khiết của người thợ làm ra
sản phẩm trau chuốt, người ta ngược
lại đă coi sản phẩm thô tạp là tác
phẩm của những kẻ đê tiện.
Chẳng hạn, xe ôtô Mỹ th́ nước sơn
không kỹ bằng xe Nhật, hay cột
cánh cửa th́ không khít từ trên xuống dưới,
cho nên người Nhật thường nói
với nhau rằng "xă hội làm ra loại xe
ôtô thô tạp thế này, th́ luân lư lao động
bị suy tàn rồi." Có
người kể lại rằng: "Tôi mua
một chiếc xe ôtô Mỹ. Dùng một thời
gian th́ thấy có mùi thối. Xem kỹ mới
thấy ở giữa lớp sắt cánh cửa
ngoài và lớp lót bên trong cánh cửa có một
chiếc hamburger đă thối. Th́ ra thợ ráp xe
ôtô vừa ăn hamburger vừa làm việc nên
đă bỏ quên ở đó." Câu
chuyện trên, tôi (Sakaiya Taichi) đă được
nghe kể tới bốn lần trong khoảng
những năm 1980. Hai lần được nghe
người Nhật làm việc ở nước
ngoài kể lại, và hai lần được
nghe ở trong nước. Có lẽ là chuyện có
thật. Thế nhưng cả bốn lần cùng
một câu chuyện, th́ đó có thể chỉ là
một trường hợp trong hàng mấy
chục ngàn chiếc xe mà người Nhật mua
của Mỹ. Thế mà người ta đă rút
ra ở đó một kết luận chung, về
"sự suy đồi đạo đức lao
động của người Mỹ," về
nhân cách tổ chức của xă hội Mỹ. Ấy
đấy, ở nước Nhật này, người
ta hay nghĩ rằng "công ty làm ra sản
phẩm tồi tệ thô tạp, th́ có đạo
đức lao động thoái hóa, có nhân cách
tổ chức thoái hóa." Thế rồi, từ
đó người ta suy ra rằng "những
sản phẩm khác của công ty đó đều
xấu cả." V́ vậy, những công ty
lớn, nhất là những công ty chế tạo
nhiều mặt hàng của Nhật Bản, th́ không
chịu chế ra những mặt hàng giá rẻ.
Điều này khiến cho toàn xă hội Nhật
Bản đă trở thành một xă hội đắt
đỏ. Cái
tư tưởng của nền Tâm học
Thạch Môn do Ishiba Baigan khởi xướng,
đă hạn chế không ít cái ư thức
thẩm mỹ và cái quan niệm đạo đức
của người Nhật thời nay. Thời
kỳ bế môn tỏa cảng, Nhật Bản
thiếu vốn liếng, thiếu đất đai
trồng trọt, cho nên dù có phải hạ
thấp năng suất lao động xuống, nhưng
sự nâng cao giá trị gia tăng đối
với mỗi tài nguyên, hay sự nâng cao năng
suất sản xuất của đất đai,
như đă kể trên, đều đă mang
lại hiệu quả nhất định trên
mặt hợp lư hóa. Người Nhật mỗi
khi du nhập cái cơ bản về một kỹ
thuật hay một sản phẩm mới từ nước
ngoài về, th́ chẳng mấy chốc, họ
đă có thể chế ra sản phẩm tốt hơn
của nước thày của họ. Sự
kiện này đă là nguyên nhân khiến cho
khối lượng mậu dịch của
Nhật Bản có lợi lớn cho trong thập niên
1980. Mặt
khác, hàng ngoại quốc mỗi khi muốn
đưa vào thị trường Nhật Bản,
th́ chính người ngoại quốc sẽ không
thể ngờ được rằng họ
bị đ̣i hỏi khắt khe đến
thế, từ phẩm chất đến những
chỗ tỉ mỉ của sản phẩm. Đến
nỗi, họ than phiền rằng "Thị trường
Nhật Bản có tính bài ngoại." Đây
quả là một vấn đề ư thích đặc
thù của thị trường Nhật Bản. Một
điểm nữa là người Nhật thật
không biết thực sự an hưởng thời
giờ nhàn rỗi. Đây cũng lại là một
ảnh hưởng của nền Tâm học
Thạch Môn. Ngồi không ăn chơi là phí
phạm. Ngay cả nếu nhàn du, th́ cũng rán
học hỏi thêm. V́ vậy, họ đua nhau
tới các trung tâm văn hóa, các câu lạc b dưỡng
sinh. Ở xứ Nhật, người ta không
thể quan niệm được rằng
"vacance" nghĩa là "chỗ
trống," là "trống rỗng[13]." Ư
thức "Xa xỉ là kẻ địch" Ảnh
hưởng thứ tư của nền Tâm
học Thạch Môn là sự nhấn mạnh vào
điểm "tần tiện là đức tính
tốt." Baigan
không phải chỉ khuyên người ta hăy
cần cù làm ăn, mà đồng thời c̣n
thuyết giảng sự tần tiện nữa. Chính
từ việc coi tần tiện là điều
thiện này, đă lan ra một ảnh hưởng
lớn rộng khiến phát sinh ra sự bất quân
b́nh trong xă hội ngày nay. Trước
nhất, từ sự khích lệ tính tần
tiện đă nảy sinh ra ư thức "xa
xỉ là kẻ địch." V́ thế nên các
nhà chính trị nếu tiêu xài xa xỉ th́ bị
phê b́nh ngay. V́ thế, phu nhân các chính trị gia
khi lên Tokyo dù có tiêu xài xa xỉ cách mấy, th́
về cơ sở, về tuyển khu, phần
đông họ đều phải giả bộ
"thanh bần." Bởi v́ nếu tiêu xài xa
xỉ, th́ thế nào cũng bị chê bai, bị
coi là phẩm hạnh xấu. Đó là bởi v́ Tâm
học Thạch Môn dạy người ta rằng:
"Người cao thượng làm ăn cần
cù để tu dưỡng nhân cách, và để
cảm thấy niềm vui trong sự cam phận
thanh bần." Do đó, tiền tích lũy tăng
lên, trong khi sự tiêu xài lại ít. V́ vậy,
tiền đă tích tụ vào các cơ quan công
quyền hoặc các xí nghiệp kinh doanh và
chỉ có các đoàn thể, các tổ chức như
vậy mới tiêu xài phí phạm được
thôi. Nói
cách khác, nếu có chi phí trong việc giao tế
một cách xa hoa, xa xỉ cho xí nghiệp, cho cơ
quan, th́ cái đó tha thứ được, song
cho cá nhân th́ không được. V́ thế, khi
thết đăi các "quan lớn" v́ việc
công ty, v́ việc cơ quan, th́ dù có phải dùng
tới những nhà hàng đắt tiền cũng
không sao, nhưng nếu cá nhân mà tới những
nhà hàng đắt tiền đó, th́ sẽ
bị chỉ trích. Trụ sở của công ty, câu
lạc bộ
hay nhà của công ty, th́ dù có cất ở ngay vùng
nhất đẳng địa của trung tâm
thủ đô, cũng được. Nhưng nhà
của cá nhân bậc quản trị viên công ty cũng
vô cùng khiêm tốn. "Xa xỉ là địch"
nhưng "xa xỉ cho cơ quan, cho tổ
chức, là bạn, là ta." Xem
như trên, ta thấy rằng Tâm học Thạch
Môn đă để lại ảnh hưởng vô
cùng lớn đối với Nhật Bản và
"văn hóa" của người Nhật
Bản. Trên
cơ sở của nền Tâm học Thạch Môn
đó, nền văn minh Tây Âu đă du nhập vào
Nhật Bản kể từ sau cuộc Duy tân Minh
Trị. Người Nhật kể từ thời
Minh Trị, đă được dạy bảo
rằng, phương pháp hay là chỉ cần
học thêm những chỗ tinh xảo của
nền văn hóa Tây Âu, cách học giỏi là
chỉ cần bắt chước rồi làm tinh
xảo hơn những kỹ thuật hay chế
độ của ngoại quốc. V́ vậy mà người
Nhật chỉ khéo léo làm được ngay
cả những chỗ tỉ mỉ nhất, nhưng
họ tỏ ra không thành thạo trong sự xây
dựng khái niệm tổng thể hay sự
chuyển đổi nhảy vọt về ư tưởng.
Ngược lại, sự không thành thạo như
vậy lại c̣n được coi như
bằng chứng cho phẩm hạnh phương chính,
tức là tính trung thực không đi chệch
đường ray. Khi
viết luận văn th́ chỉ cốt sao cho
luận điểm tổng thể được
thông thoát. Như vậy tức là chỉ coi
trọng sự tham khảo, sự dẫn chứng
trung thực chư thuyết của người trước
hay của ngoại quốc, hơn là sự đánh
giá về tính sáng tạo, tính độc đáo.
V́ thế, không thấy phát sinh ra những học
thuyết làm cho thế giới kinh ngạc. Mà
nếu một học thuyết như vậy có phát
sinh ra, th́ cũng khó mà lan truyền rộng ra
được[14].
Vậy nên, có rất ít người cam tâm
miệt mài vào những nghiên cứu cơ
bản, với viễn vọng lập ra lư
thuyết mới. Tóm
lại, từ tư tưởng làm sao cho cả
cần mẫn lẫn tần tiện được
lưỡng lập, đă phát sinh ra sự cố
chấp tới những chỗ tỉ mỉ,
rồi từ tỉ mỉ tới "chủ nghĩa
thủ tục." Chủ nghĩa coi trọng
thủ tục này đă có quan hệ tới
chế độ quan liêu (công chức) hiện nay
của Nhật Bản vậy. "Chủ
nghĩa đâu ra đó" phát sinh ra từ
nền Tâm học Thạch Môn Quan
chức ngoại giao nước ngoài ở Tokyo,
hay x́ xào với nhau từ "chanto-ism[15]."
Người Nhật có tính làm ǵ cũng kỹ lưỡng,
từ cách gói ghém bao b́, từ cách tŕnh bẩm báo
cáo, từ cách lấy chứng từ thu ngân, v.v.,
nhất nhất cái ǵ cũng phải đâu ra
đó mới chịu. Thu thuế th́ tới
một yên cũng phải cho minh bạch. Thuế
tiêu thụ ở ngoại quốc th́ đại
khái chủ nghĩa thôi, nhưng ở Nhật
Bản, th́ chỉ nói rằng, cửa hàng nhỏ
với doanh thu dưới 30 triệu yên th́
khỏi phải nộp thuế tiêu thụ, là
đă thấy có sự bàn tán là "ăn
lời nhờ thuế." Liệu
cái "chủ nghĩa đâu ra đó này" có
hiệu quả thực tế không? Người ta
nói rằng, Luật tiêu chuẩn kiến trúc
Nhật Bản, hay Luật pḥng cháy chữa cháy
Nhật Bản là nghiêm khắc nhất thế
giới. Ấy thế mà hồi trận động
đất lớn Hanshin-Awaji th́ sự thiệt
hại về cơ sở xây dựng đă
lớn hơn bất cứ ở nước nào
khác. Số người chết cũng rất
lớn. Nghĩa là, mặc dù "đă làm đàng
hoàng," song hiệu quả thực tế th́
yếu kém[16]. Tương
tự như vậy, tỷ suất cứu hộ
thấp các trường hợp bị liệt tim
trở tới bệnh viện bằng xe cấp
cứu có tỷ lệ cứu sống thấp,
sự phát sinh t́nh trạng bị AIDS v́ dược
hại (cái hại của sự dùng thuốc)[17],
sự chế tạo thẻ chơi pachinko[18]
giả, v.v.. Nghĩa là, "chủ nghĩa làm
đàng hoàng" của Nhật Bản thật ra
chú trọng tới thủ tục nhiều hơn
là hiệu quả. Vậy,
làm đàng hoàng cái ǵ? Trước nhất là cái
cảm giác, cái ư thức đẹp đối
với việc làm thủ tục một cách đàng
hoàng, kỹ lưỡng. Thứ hai là, với
việc làm đàng hoàng như vậy, người
ta đă nhận thức được sự b́nh
đẳng, sự ngang hàng với nhau. Nghĩa là,
không có ai làm cái ǵ đột phá, không có ai chơi
trội cái ǵ cả. Ai cũng làm đàng hoàng
cả, nên mọi người an tâm. Rồi,
thứ ba là, làm đàng hoàng để có thể
chạy trốn trách nhiệm. Nghĩa là
"việc này đă được làm như
vầy, như vầy, đúng thủ tục, ai
nấy đều thừa nhận cả. Cho nên,
trách nhiệm không phải là về ai cả." Nếu
Nhật Bản nới bớt những g̣ bó,
những quy tắc, để lập ra một xă
hội cạnh tranh tự do, th́ Nhật Bản
phải chấp nhận một phần sự
"lỏng lẻo" th́ mới thoát ra khỏi
được chủ nghĩa tiêu chuẩn, thoát
khỏi sự thống chế của chế độ
quan liêu, tránh được "chủ nghĩa
đâu ra đó." Nghĩa
là, dù cho những chỗ
nhỏ nhặt có không được làm kỹ càng
đi chăng nữa, th́ cũng nên để cho
bán ra. Tự do cũng có nghĩa là chấp
nhận để cho những phẩm vật thô
tạp có đất phát sinh. Để cho mỗi
vật có cơ hội tham gia cạnh tranh, rồi
để cho người tiêu dùng lựa chọn,
mới có thể xác lập được
quyền làm chủ của người tiêu dùng. Nói
cách khác, chỉ có thế mới thoát ra khỏi
được cái ảnh hưởng của
nền Tâm học Thạch Môn, của "chủ
nghĩa đâu ra đó," một sản
vật của nền Tâm học này. Trong
xă hội được kiểm soát nghiêm
ngặt của thời Kyoho, trí tuệ
của thứ dân đă kết tinh thành nền Tâm
học Thạch Môn, một nền triết
học độc đáo của Nhật Bản. Nhưng
ngày nay, năng suất sản xuất của người
Nhật đă tăng rất cao, đời
sống đă trở nên phong phú. Cần có
một quy phạm đạo đức mới,
một ư thức đẹp mới vượt lên
trên triết học của Ishida Baigan. [1] Genroku (1688-1704) là niên hiệu của vua Higashiyama, thường được coi là lúc thịnh trị, thịnh vượng nhất của thời đại mà nhà mạc phủ Tokugawa đóng ở thành Edo (Tokyo ngày nay). [2] Năm 1945, các đảng vô sản có từ trước cuộc Đệ nhị Thế chiến, đă kết hợp lại thành Đảng Dân Chủ Xă hội. Năm 1947, đảng này do vị Chủ tịch đầu tiên của đảng là Katayama Tetsu, đă thành lập nội các liên hiệp, và như vậy đă là đảng cầm quyền tại Nhật Bản, nhưng hai phe tả và hữu trong đảng đối lập nhau dữ dội, đến nỗi năm 1951, đảng tách ra làm hai. Rồi năm 1955, hai đảng cánh tả và cánh hữu đă hợp nhất lại thành Đảng Xă Hội Nhật Bản. Lúc đó Đảng Dân Chủ Tự Do ra đời và do đó đă xuất hiện một t́nh trạng cân bằng giữa các lực lượng bảo thủ và lực lượng cấp tiến, do hai đảng lớn lănh đạo. T́nh trạng cân bằng như vậy được gọi là "thể chế năm 55 ". T́nh trạng chính trị, xă hội như vậy, nếu đem so sánh với năm 1867, tức là lúc Nhật Bản c̣n là nước nông nghiệp phong kiến lạc hậu, đang sắp tập tễnh bước vào cuộc đổi mới, cuộc công nghiệp hóa, th́ quả là quá xa. Nói cách khác, 85 năm là cả một thời gian dài. Những ǵ xẩy ra trước kia và những ǵ đang diễn ra bây giờ đều khác nhau rất xa. Người sống 85 năm trước không thể đoán được những ǵ sẽ xẩy ra 85 năm sau. Và người 85 năm sau cũng không c̣n kư ức ǵ về 85 năm trước nữa. [3] Showa (1926-1989) là niên hiệu của thời trị hơn 62 năm của thiên hoàng Hirohito. Showa bắt đầu từ thời kỳ Nhật Bản xưng hùng xưng bá ở châu Á, nào gây hấn ở Trung Quốc, nào dựng nước bù nh́n Măn châu, nào chiếm đóng các thuộc địa và đất bảo hộ của Pháp, Anh, Mỹ, Ḥa Lan ở Đông Nam Á, qua thời kỳ thua trận chiến Thái B́nh Dương (Chiến tranh thế giới lấn thứ hai), rồi tới thời kỳ phục hưng để trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới như hiện nay. Thời Showa như vậy là thời kỳ vừa nhục nhă (bại trận), vừa đáng hănh diện (thái b́nh thịnh vượng) của Nhật Bản. Genroku là thời kỳ thịnh vượng, hào hoa nhất trong gần 300 năm của mạc phủ Tokugawa. Do đó, từ Thời Genroku Showa là nói cái khúc thái b́nh thịnh vượng của thời kỳ Showa. [4] Amako là một ḍng dơi thế phiệt của thời Mạc Phủ Kamakura (xem Chương III). Mười Dũng sĩ Amako là nhóm người muốn phục hưng cơ nghiệp của họ Amako này. [5] Meireki và Manji đều là niên hiệu của thời trị (1654-1663) của thiên hoàng Gosai (1637-1685). Trận hỏa hoạn lớn này đă xẩy ra trong ba ngày 18-20 tháng Giêng âm lịch năm 1657, đốt cháy một diện tích khoảng 400 mẫu tây, làm thiệt mạng 100 ngàn người. [6] Trận đánh Mùa Hè Ozaka là trận đánh cuối cùng để tiêu diệt ḍng họ Toyotomi, và như vậy là hoàn thành cuộc thống nhất toàn quốc Nhật Bản dưới quyền cai trị của mạc phủ Tokugawa.
[7]
I = Investment = đầu tư, S = Saving = tiết
kiệm=tích lũy.
[8] Chushin-gura là tên gọi của những kịch hát bội Kabuki, kịch rối Joruri, kịch hài No, phim kịch lịch sử, v.v., diễn tích 47 người dũng sĩ của phiên bang Ako đă quyết tâm trả thù cho chúa của họ là Asano Takumi No Kami. Ông này có lănh địa nhỏ bé ở địa phương nay là tỉnh Hyogo, ngay cạnh Osaka. Ông được cử tiếp sứ giả của triều đ́nh ở thành Edo (Tokyo ngày nay). Song v́ ít hiểu biết về nghi lễ nên đă phải nhờ cậy Kira Konosuke No Suke, một chức quan coi việc nghi thức của phủ chúa Tokugawa, chỉ bảo. Lệ thường, ông phải cung phụng xứng đáng cho Kira. Song v́ tiền lo lót ít, ông đă bị Kira t́m mọi cách làm t́nh làm tội, xài xể dè bỉu là quê mùa. Bị làm nhục, ông đă tuốt đao chém Kira ngay trên điện. Kira chỉ bị thương nhẹ. Thời ấy, khi hai người đánh lộn với nhau, th́ đáng lẽ cả hai bên đều bị xử phạt, song chỉ có Asano bị xử phải tự mổ bụng, lănh địa bị tịch thu, con cháu bị truất khỏi hàng phiên chúa. C̣n Kira th́ được miễn trách. Sự bất công này đă làm phẫn nộ đám gia thần của Asano. Họ lập mưu, đột nhập dinh của Kira đêm 14 rạng 15 tháng Chạp, bắt được Kira, chém đầu đem ra tế trước mộ chủ. Như thế là trả thù được cho chủ, nhưng rồi tất cả 47 người đều bị mạc phủ Tokugawa xử tội phải tự mổ bụng. Việc làm của họ, trả thù cho chủ rồi tự mổ bụng chết theo chủ, đă trở thành tấm gương sáng về ḷng trung nghĩa. Và cái chết oan ức của chúa tôi Asano đă làm thành đề tài cho dân gian thương tiếc những kẻ anh hùng hoại diệt như vậy suốt trong lịch sử hơn 300 năm nay.
[9]
Nikolai D. Kondrachev (1892-1938), một nhà kinh tế
học người Rossia (Nga).
[10]
"Lục căn thanh trừng" nghĩa là
"rửa sạch lục căn." Lục căn,
theo Đạo Phật, là sáu cảm quan sinh ra cái
biết, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân ḿnh và ư nghĩ. Tục đi lễ núi Phú
Sỉ sau này trở thành đạo Phù Tang.
[11]
Thủ tường Nhật Bản từ ngày
6/11/1987 tới ngày 2/6/1989.
[12] Nói đến sự đúng giờ từng phút từng giây, th́ phải kể đến sự đúng giờ của hệ thống đường sắt Nhật Bản. Có thể nói, đường sắt Nhật Bản là phương tiện giao thông công cộng tiện lợi nhất, rẻ tiền nhất, an toàn nhất, có thể đi tới bất cứ nơi thâm sơn cùng cốc nào cũng như hàng cùng ngơ hẻm nào, và nhất là đúng giờ nhất thế giới. Hồi năm 1972, nhân dịp kỷ niệm 100 của ngành đường sắt Nhật Bản, các giới chức của hệ thống đường sắt Anh quốc đă được mời tới Nhật Bản tham dự. Phái đoàn Anh quốc đă phải thốt lên lời thán phục về sự đúng giờ của đường sắt Nhật Bản, đúng đến nỗi chưa bao giờ một chuyến tàu đường xa lại chậm tới hơn một phút mà không có thông báo trước cả. Ngay cả đến những tuyến đường sắt nội ô Tokyo hay Osaka, buổi sáng trong giờ cao điểm th́ cứ khoảng chưa đầy 10 giây đă có một chuyến khởi hành hoặc đáp bến, chuyến nào cũng từ 12 tới 15 toa, toa nào cũng chật ních hàng 200 người, mà không bao giờ tàu tới trễ hoặc khởi hành trễ cả. [13] Trong tiếng Nhật, "ba-kan-xư" là từ dịch âm của tiếng Pháp "vacance" và có nghĩa là sự nhàn du, sự nghỉ ngơi thư giăn. Ở đây, tác giả muốn nhắc đến nghĩa nguyên gốc của từ "vacance." Theo tự điển tiếng Pháp Petit Larousse Illustré (1976), "vacance: état d’une place, d’une charge non occupée," nghĩa là "vacance là chỗ trống rỗng." [14] Một thí dụ điển h́nh hay được kể lại, là trường hợp Tiến Sĩ Esaki Leona, thuộc Đại học Quốc gia Tokyo, đă phát minh ra diod đường hầm (tunnel diod) năm 1957. Tuy nhiên, ở trong nước Nhật thời đó, ít người tán thưởng, thậm chí c̣n bàn ra. Phải chờ đến năm 1962, nhà bác học người Mỹ là William Shockley, người đă được giải Nobel Vật Lư về phát minh ra transistor, sang Nhật, công nhiên khen ngợi công tŕnh nghiên cứu của TS Esaki trước đại hội khoa học, th́ phát minh đó mới được đánh giá một cách chính đáng. Cũng nhờ có sự khen ngợi của Shockley mà Esaki đă được đề nghị và được trao tặng giải Nobel Vật lư. [15] "Chanto" tiếng Nhật có nghĩa là "đàng hoàng, kỹ càng, đúng đắn, chính xác, không bôi bác, không phiên phiến, không tắc trách." C̣n "ism" là tiếp vĩ ngữ tiếng Anh, có nghĩa là "chủ nghĩa." Vậy "chanto-ism" là "chủ nghĩa đàng hoàng, kỹ càng, đúng đắn, chính xác, không bôi bác, không phiên phiến, không tắc trách,..." mà ở đây đă được tiêu biểu bởi từ "chủ nghĩa đâu ra đó."
[16]
Trận động đất lớn này đă
xảy ra ngày 17/01/1995, phá hoại ba tỉnh
Osaka, Kyoto, Hyogo, làm chết 6300 người,
bị thương 43 ngàn người, làm đổ
hoặc hư 209 ngàn căn nhà. Thành phố
cảng Kobe là nơi bị thiệt hại
lớn nhất, bị phá hủy tan hoang,
từ cao ốc tới các xa lộ cao tốc.
Tuy nhiên, tác giả Sakaiya Taichi có phần hơi
khắt khe quá với vụ việc này.
Thật ra, khu vực lấy thành phố Kobe làm
trung tâm này, xưa nay được coi là an toàn
về mặt động đất, cho nên các
kiến trúc đều theo tiêu chuẩn cũ,
ít chịu đựng được những
trận động đất lớn, nên đă
bị phá hủy nặng nề trong trận
động đất năm 1995 vừa nói.
C̣n
số người chết và người
bị thương lớn, thật ra không
phải v́ ảnh hưởng trực tiếp
của trận động đất, mà v́
họ bị chết cháy hoặc bị
phỏng sau khi động đất xảy ra
rồi. Hơn nữa, c̣n có một lỗi
lầm lớn do người gây ra: Đó là
sự ứng phó chậm chạp của
lực lượng quân đội Nhật
Bản đóng ở gần địa điểm
động đất, trong việc ra quân
cứu hộ. Viên tướng
chỉ huy quân khu, đă không linh hoạt cho
xuất quân ngay để cứu hộ, mà c̣n
"dềnh dàng" điện thoại xin
mệnh lệnh của bộ trưởng
quốc pḥng, khiến cho sự ra quân bị
chậm trễ cả nửa ngày. Đây là
một trường hợp điển h́nh
của một viên tướng chỉ huy
"tồi," không hiểu cái "lẽ
quyền biến," không hiểu cái
"quyền hạn" của người tướng
ở tiền tuyến, hễ thấy "địch"
là phải biết ra tay ngay, chứ đâu
cần phải chờ có "lệnh bài"
mới ra quân? Trường hợp này, "địch"
tức là trận động đất,
tức là đám cháy. Đúng ra, đây quả là
một trường hợp viên tướng
chỉ huy này đă quá câu nệ tới
"thủ tục," nên đă không "làm
chủ" được trách nhiệm
của ḿnh. Câu nệ thái quá tới thủ
tục, mới là điểm tác giả Sakaiya
nên chỉ trích. [17]
Vụ này đă
xảy ra v́ có một số người
mắc bệnh thiếu máu (bần huyết)
đă dùng loại thuốc tăng huyết
chế ra từ máu người nhập từ
ngoại quốc vào mà không qua xử lư
nhiệt. Thời đó, ở Mỹ hoặc
ở Pháp, giới y học đă có cảnh báo
rằng máu ngoại nhập như vậy có
khả năng chứa đựng virus HIV, và như
vậy có nguy cơ nhiễm độc đối
với người sử dụng thuốc
chế tạo từ máu như vậy nếu
không qua xử lư nhiệt. Tuy nhiên, ở
Nhật Bản thời đó, cơ quan chủ
quản việc cho lưu hành thuốc men, là
Bộ Y Tế, lại chưa có quyết định
chính thức về sự bắt buộc
phải xử lư nhiệt những loại
thuốc như vậy. Do đó, các công ty bào
chế thuốc vẫn bán ra những thuốc
tăng huyết không qua xử lư nhiệt.
Kết quả là có nhiều người đă
nhiễm virus HIV, và một số đă bị
AIDS rồi chết một cách oan ức. Vụ
này đă gây ra một vụ án lớn lao kéo
dài hàng chục năm ở Nhật Bản và
đă làm cho dư luận phẫn nộ trước
sự vô trách nhiệm của Bộ Y Tế.
Qua mấy đời bộ trưởng,
bộ này cứ khăng khăng chối bỏ
trách nhiệm đối với các nạn nhân.
Kết cục, Bộ trưởng Y Tế Kan
Naoto, sau là tổng thư kư của đảng
đối lập lớn nhất Nhật
Bản, đă phải trực tiếp họp báo
xin lỗi nhân dân, nhận lỗi của
Bộ Y Tế và bằng ḷng trích công quỹ
ra bồi thường cho các nạn nhân. [18]
Pachinko là
một tṛ chơi, hay đúng hơn là một
tṛ cờ bạc, dùng một máy tự động
bắn bi sắt vào một bảng có nhiều
lỗ, mỗi lỗ có thể ăn được
một số ḥn bi khác nhau. Số bi thắng
được có thể đổi ra hiện
vật như bánh kẹo, thuốc lá,... ®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
..........
|