|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi
Người dịch : Đặng Lương Mô Chương I : Thái tử Shotoku Người khởi xướng tư tưởng gộp đạo Thần-Phật-Nho
Thủy
tổ của khái niệm tôn giáo của người
Nhật Thái
tử Shotoku là một trong những "nhân
vật" quen biết nhất trong lịch sử
Nhật Bản. Sau
khi qua đời ông được đặt tên
thụy là Shotoku Taishi, tức là Thái tử Shotoku,
chứ sinh thời ông tên là Umayado no Miko hoặc
Kamitsu Umayado no Toyotomimi no Oji. Những
ai sinh trước thập niên 1960, th́ hẳn c̣n
nhớ h́nh bán thân Thái tử Shotoku in trên tờ
giấy bạc 5 ngàn Yen hay tờ 10 ngàn Yen cũ.
Đây chỉ là một phần của h́nh vẽ thái
tử đứng chung với hai người con. Hơn
nữa, h́nh vẽ này có miêu tả đúng thái
tử hay không, là vấn đề c̣n cần
phải bàn luận thêm. Nhưng dù sao, h́nh vẽ
này cũng đă trở thành quen thuộc như là
"bộ mặt Thái tử Shotoku" vậy. Truyền
thuyết về Thái tử Shotoku trên phương
diện tôn giáo và văn hóa có rất nhiều.
Đến nỗi ở hậu bán thập niên 1980,
người ta đă thấy xuất hiện
một tập sách hoạt họa vẽ Thái
tử Shotoku, bán rất chạy trong giới
trẻ. Một nhân vật lịch sử hoạt
động về tôn giáo và ngoại giao, thường
ra khó trở thành đề tài kể chuyện
Kodan[1]
hay đề tài truyện cổ, thế mà đă
thành kịch hí họa bán chạy, th́ cũng
lạ. Thái
tử Shotoku được chọn làm người
thứ nhất trong "Mười hai người
dựng nên nước Nhật," chính v́ ông là
người khởi xướng đồng
thời là người thực hành "tư tưởng
gộp đạo Thần-Phật-Nho," tư tưởng
đă được cụ thể hóa thành quan
niệm tôn giáo chi phối tâm thức người
Nhật trong suốt một ngh́n bốn trăm năm
qua. Đây
là tư tưởng tôn sùng cùng một lúc ba giáo
lư: đó là Thần đạo hay tôn giáo dân gian
của Nhật Bản, Phật giáo hay tôn giáo phát
sinh ra ở Ấn Độ rồi truyền qua Trung
Hoa và bán đảo Triều Tiên vào Nhật
Bản, và Nho giáo phát sinh ra ở Trung Hoa, tức
là những quy phạm đạo đức làm
khuôn mẫu cho cách xử thế. Từ
đó tới nay, cái tư tưởng này không
những đă quyết định hẳn quan
niệm tôn giáo và quan niệm văn hóa của người
Nhật, mà c̣n có ảnh hưởng lớn
tới cung cách đối xử khi Nhật
Bản tiếp thu văn hóa hay kỹ thuật
từ nước ngoài vào. Đồng thời,
từ sau khi tư tưởng gộp đạo
đă bén rễ rồi, th́ tôn giáo không c̣n là
một trục đối lập đáng kể
ở Nhật Bản nữa. Thậm chí nếu
một tôn giáo mới (ví dụ đạo Cơ
Đốc) du nhập vào, th́ đó chẳng qua là
lại có thêm một đối tượng
nữa để tôn sùng. Sự khác biệt tôn
giáo chỉ là ở chỗ đặt trọng
điểm tín ngưỡng vào đâu mà thôi. Đối
với người Nhật, th́ chiến tranh tôn
giáo là cái ǵ thật sự không hiểu nổi.
Khi xét vấn đề Trung Đông hay cuộc phân
tranh Bosnia Helzegovina[2],
người Nhật hoàn toàn thấy mù tịt khi
đi vào vấn đề tôn giáo! Chỉ v́ khác
tôn giáo mà đánh nhau đến bỏ mạng, là
chuyện chưa bao giờ thấy có ở
Nhật Bản, kể từ trận phân tranh
giữa hai họ Soga và Mononobe thời Thái tử
Shotoku cho tới ngày nay. Người dân nước
này đă thành như vậy là do Thái tử
Shotoku, hay ít nhất cũng là do cái tinh thần
thời đại tượng trưng bởi thái
tử. Chương
này sẽ kể lại "nhân vật" Thái
tử Shotoku từ quan điểm nói trên. Song, trước
hết, chúng ta thử nh́n lại xem thái tử
đă sống trong thời đại như
thế nào. Thời
chuyển tiếp từ "thời sơ
cổ" sang "thời cổ" Thời
kỳ đáng coi là văn hóa đă thực
sự bén rễ ở đảo quốc Nhật
Bản này, là từ bao giờ? Thật ra,
những nghiên cứu khảo cổ học càng
đi sâu hơn th́ thời kỳ như vậy càng
thấy trở lui thêm về quá khứ. Song
tựu trung, nhận thức chung là coi thời
kỳ này ở vào khoảng thế kỷ thứ
II. Thời
đó có nữ chúa Himiko, làm chúa một số thôn
ấp và quy phục được một số
thôn ấp xung quanh nữa. Người ta mặc
loại y phục chỉ gồm có một mảnh
vải đay đục lỗ ở giữa
rồi chui cổ qua đó. Đây là lời tường
thuật trong sách "Ngụy chí Oải nhân
truyện[3]".
Ngụy nói ở đây là nước Ngụy
trong ba nước Ngụy, Ngô, Thục của
truyện Tam Quốc Chí, nước đă
được con của Tào Tháo[4]
dựng nên. Khi Trung Hoa đă ở thời kỳ
Tam Quốc, th́ Nhật Bản hăy c̣n ở t́nh
trạng như kể trên vậy. Tuy
nhiên, có một sự thật được
biết rất rơ là, trước thời đại
Himiko cả hơn 150 năm, nghĩa là vào
khoảng năm 57 sau công nguyên, đă có sứ
giả của vua nước Nu người
Oải tới kinh đô Lạc Dương
của nhà Hậu Hán, Trung Hoa, tŕnh cống
vật và nhận "ấn vàng" (con dấu
bằng vàng) của Hán Vũ đế. Truyện
này chép trong sách Hậu Hán Thư. Vật
được coi là "ấn vàng" đó, người
ta đă đào thấy ở tỉnh Fukuoka vào
thời chúa Tokugawa, nay vẫn có thể tới xem
ở Viện bảo tàng Fukuoka. Lại
nữa, qua những điều tra gần đây,
người ta đă lần lượt phát
hiện ra nhiều ngôi mộ cổ xưa
chứng tỏ rằng ngay thời Himiko, đă có
ở vùng Kinki, tức là vùng quanh kinh đô Kyoto
ngày nay, một triều vua với thế lực
đáng kể. Xét những sự thật như
vậy, không chừng ta có thể coi nền văn
minh Nhật Bản đă có từ lâu trước
thời đại Himiko. Cũng
có thể là một thời gian trước
hoặc sau đầu công nguyên, nền canh nông
đă phát triển và do đó đă có một
triều vua. Tuy nhiên, dù cho thời đó đă có
một triều vua đi chăng nữa, th́ tôi cũng
chỉ định nghĩa đó là một
quốc gia "thời sơ cổ," chứ chưa
phải là "thời cổ" tức là
thời kỳ người ta đă biết coi
trọng sự gia tăng số lượng
vật chất. Trong
lịch sử Tây Âu, th́ từ thời Kim tự
tháp tới thời đế quốc La Mă tan ră,
và trong lịch sử Trung Hoa, th́ thời thái
cổ kể từ nhà Ân, tức triều đại
Hạ, cho tới đời Đường, nghĩa
là suốt khoảng thời gian trước
thời "trung cổ" đều gọi là
"thời cổ." Nhưng ngay trong khoảng
thời gian dài này th́ nửa trước và
nửa sau đă có sự khác nhau lớn lao. Nên
gọi thời đại mà con người
chỉ biết gieo hạt rồi chờ thu
hoạch trên những thửa đất có điều
kiện thiên nhiên tốt, nghĩa là thời đại
coi sự cầu đảo thần linh làm
trọng hơn là trông cậy vào tri thức và
sự cần cù, là "thời sơ cổ."
C̣n thời đại sau cách mạng nông
nghiệp, tức là biết dùng thủy lợi và
thâm canh để cải thiện đất đai,
rồi do đó coi trọng kỹ thuật và
sự cần mẫn, là "thời cổ."
Theo tôi, th́ chia ra như vậy mới đúng. Thời
Himiko rơ ràng chỉ là "thời sơ
cổ," v́ chưa thấy có kỹ thuật
dẫn thủy nhập điền hay kỹ
thuật đê điều. Nói khác đi, diện
tích có thể canh tác được ở mỗi
nơi đều nhỏ hẹp, và như thế,
ở mỗi địa vực đều không
thể sinh ra một quyền lực quốc gia
mạnh lớn được. Nhưng
dần dần kỹ thuật cải thiện
đất trồng trọt ngày một tiến
bộ, kỹ thuật dẫn thủy nhập
điền được phổ cập, th́
diện tích canh tác rộng lớn ra. Kết
quả là sự h́nh thành của quốc gia địa
vực bao gồm cả vùng xung quanh mà đất
đai không canh tác được nếu để
nguyên trạng như thiên nhiên. Tiến bộ
kỹ thuật đă làm cho luân lư thay đổi,
h́nh thái quốc gia cũng từ dạng quốc
gia đô thị biến thành quốc gia địa
vực. Đây chính là thời chuyển tiếp
từ "thời sơ cổ" sang
"thời cổ" vậy. Không
những diện tích canh tác đă được
mở rộng sang vùng phụ cận, mà sức
sản xuất cũng tăng lên. V́ thế, dân
số gia tăng và sinh ra sản phẩm thặng
dư. Do đó mới phát sinh ra quyền lực
bắt người khác làm việc để ḿnh
thu lợi. Rồi, tổ chức và chế độ
mới thành h́nh. Những
ngọn kim tự tháp hùng vĩ đă được
dựng lên ở quốc gia đô thị thời
thái cổ Ai Cập. Việc nặng nhọc khuân
vác những tảng đá xây kim tự tháp đó,
hẳn đă phải do bọn người nô
lệ bị đánh đập, thôi thúc bằng
roi vọt, khuân vác. Như vậy, có nhiều người
tưởng rằng thời Kim tự tháp đó
hẳn đă phải có nhiều nô lệ
lắm. Nhưng thật ra, người ta đă
biết rằng ở thời thái cổ Ai
Cập, tức là lúc những kim tự tháp đó
đă được xây dựng, th́ hầu như
không có người nô lệ. Đây là v́, bắt
một người khác làm việc cho ḿnh, mà
sức sản xuất của người đó
không nuôi được hơn một miệng người,
th́ đó là việc làm vô nghĩa. Chế độ
nô lệ chỉ trở thành đại quy mô
kể từ "thời cổ" khi đă phát
sinh ra hiện tượng sản phẩm thặng
dư mà thôi. Kỹ
thuật cải thiện đất trồng
trọt đă từ b́nh nguyên Kawachi lan sang thung lũng
Yamato. Do đó, người ta cho rằng một vương
quyền kiểu "thời cổ" đă phát
sinh ra ở vùng Kinki vào thời bách niên kỷ 500
sau công nguyên (tức là thế kỷ thứ VI).
Thế lực này sau đó đă lớn mạnh
thành triều vua Yamato vậy. Thái
tử Shotoku đă sinh ra vào thời kỳ mà
quốc gia "thời cổ" này đă đứng
vững, tức là hậu bán của thế
kỷ thứ VI. Sự
đối lập xung quanh vấn đề công
nhận Phật giáo Sức sản xuất đă cao
vọt lên từ thời sơ cổ sang thời
cổ, là nhờ kỹ thuật du nhập từ
đại lục sang. Đương nhiên, cùng
với kỹ thuật đó, cả tư tưởng
mới lẫn tôn giáo mới cũng lan vào. Sự
việc trên, không những đă nhờ tiến
bộ về thuật hàng hải khiến cho
sự đi lại giữa bán đảo
Triều Tiên và Nhật Bản trở nên dễ dàng
hơn, mà cũng nhờ có những diễn
biến quân sự, chính trị ở bán đảo
Triều Tiên nữa. Thời đó, Triều Tiên
đang có loạn "tam quốc[5]". Những người
có kỹ thuật và văn hóa ưu tú đă vượt
biển sang Nhật Bản. Trong những người
gọi là "dân vào làng (dân nhập
tịch)" như vậy, có nhiều người
đă kéo tất cả bà con thân thích vượt
sang Nhật Bản. Những người này đă
mang vào Nhật Bản văn hóa và kỹ
thuật phát đạt ở Trung Hoa, trong đó có
cả Đạo Phật. Sử
chép năm 538 lần đầu tiên Phật giáo
đă được "công truyền" vào
Nhật Bản. Đây là nói sự "công nhận
của triều đ́nh," chứ thật ra, Đạo
Phật hẳn đă được truyền bá
trong dân gian từ trước đó. Phật giáo
đă lưu hành rộng răi trong dân gian, đến
nỗi triều đ́nh không thể làm ngơ
được, đă truyền cho họ Soga
"phải thờ Phật đi." Nói theo ngôn
ngữ ngày nay, th́ đó chính là sự công
nhận tự do tín ngưỡng đối
với Đạo Phật vậy. Là
một tôn giáo đă hoàn chỉnh, Phật giáo vào
Nhật Bản mang theo không những chỉ có
yếu tố tôn giáo và triết học, mà c̣n
cả một nền "văn hóa" có hệ
thống nữa. Từ kỹ thuật kiến trúc
và các công nghệ, kỹ thuật cải
thiện đất trồng trọt, nghề
thuốc và dinh dưỡng học, v.v., đă cùng
với Đạo Phật được mang vào
Nhật Bản. Vốn
thèm khát "văn hóa," số người
Nhật quy y theo Phật giáo đă tăng vọt
lên. Một hiện tượng tương tự
song với quy mô và sự ưu đăi gấp
nhiều lần của hiện tượng lúc ban
đầu thời Meiji[6] (Minh Trị),
tức là khi nền văn minh Tây Âu hiện đại
cùng với đạo Cơ Đốc truyền vào
Nhật Bản, đă thực sự diễn ra. V́
thế, hơn cả chính Đạo Phật, số
người mộ cái lợi ích đời nay, như
sự học tập kỹ thuật, cái vẻ
bảnh bao, v.v., hẳn đă quy y vô cùng đông
đảo. Tôn giáo hoặc tư tưởng
từ những nước tiên tiến lan
truyền tới th́ bao giờ cũng như
vậy. Tuy
nhiên, mười mấy năm sau khi Phật giáo
được "công nhận," nghĩa là
khoảng từ năm 552 trở đi, phe "sùng
Phật" tức là ḍng họ Soga đă
gặp phải lúc vận xui. Hễ cứ xây chùa
th́ bệnh dịch lại lưu hành, khiến
đă nẩy ra cuộc tranh luận về vấn
đề công nhận Phật giáo. Đại
biểu của phái "bài Phật" là ḍng
họ Mononobe. Mononobe
là một ḍng họ được nâng đỡ
bởi chế độ thị tộc của
triều đ́nh Yamato, và cùng với họ Otomo,
đời đời được giữ
quyền lực tối cao với chức Omuraji[7].
Nói cách khác, với địa vị quan chức
thống lănh ba quân của triều đ́nh Yamato,
với thói quen thờ "thần bảo
hộ" của những nhà quân sự thời
đó, ḍng họ này đă cố chấp sự
duy tŕ tôn giáo cổ truyền của Nhật
Bản. Một
mặt th́ phái sùng Phật, với ḍng họ Soga
làm trung tâm, đă không chịu măn nguyện
với nền tự do tín ngưỡng cho dân
gian, mà lại muốn cả bậc nguyên thủ,
tức là "thiên hoàng" (vua Nhật Bản),
cũng phải sùng bái Đạo Phật nữa. Từ
đời vua Bidatsu, rồi đến vua Yomei lên
ngôi, cuộc tranh luận vẫn c̣n sôi nổi.
Vị này là em trai vua Bidatsu và là cha Thái tử
Shotoku. Theo
sử chép, vua Yomei là ông vua đầu tiên ở
Nhật Bản đă lễ Phật (năm 585).
Tuy nhiên, h́nh như đó chỉ là một lễ
không chính thức của cá nhân nhà vua mà thôi.
Ở thời đó, đây là giới hạn
tối đa mà nhà vua có thể làm được[8]. Vua
Yomei ở ngôi được một năm tám tháng,
th́ băng hà. Thế là cuộc tranh chấp liên
quan đến việc chọn vị vua kế,
đă bùng nổ ra giữa đại nguyên soái
Mononobe Moriya và thượng thư Soga no Umako. Nghĩa
là đă có một cuộc nội loạn
giữa một bên gồm có họ Mononobe và
họ Nakatomi, tức là phe tôn thờ thần thánh
cổ truyền của Nhật Bản, và một
bên muốn nâng Đạo Phật lên thành quốc
giáo, tức là phe gồm có ḍng họ Soga làm ṇng
cốt, xung quanh có nhóm người mới "vào
làng" cùng với đám hào trưởng
muốn học hỏi văn hóa, kỹ thuật
của nhóm người mới "vào làng" này. Thời
ấy, đại đa số các hào trưởng
đă ủng hộ phe sùng Phật của họ
Soga là v́ người Nhật lúc đó, với
tinh thần "thời cổ," đă mong có
một chế độ xă hội mới với
tiến bộ văn minh có thể tạo ra
nhiều của cải, hơn là cái nền chính
trị Thần quyền. Nói cách khác, Nhật
Bản rơ ràng đă bước từ
"thời sơ cổ" sang "thời
cổ" vậy. Trong
cuộc nội loạn này, Thái tử Shotoku đă
đứng về phe họ Soga và đă đích
thân ra chiến trường. Thái tử cho tạc
tượng tứ thiên vương để
cầu thắng và đă phát thệ rằng
nếu thắng trận sẽ dựng chùa thờ
phụng tứ thiên vương. Kết quả là
thái tử thắng trận và đây là cơ
hội cho chùa Tứ Thiên Vương được
dựng lên thành quốc tự ở Naniwa. "Chính
quyền liên hiệp" giữa hoàng gia và
họ Soga Thắng
trận, diệt xong họ Mononobe th́ họ Soga
đă tôn Thái tử Hatsusebe lên ngôi, tức là vua
Sushun. Thế
nhưng khi lên trị v́, nhà vua gặp phải
một mâu thuẫn chính trị sâu sắc. Số
là vua Nhật, hay "thiên hoàng", vốn
được kể là ḍng dơi Amaterasu Omikami[9],
hậu duệ vua Jinmu, theo
một truyền thuyết Thần đạo. Nay
đă phủ nhận Thần đạo rồi, nên
cái tính tất yếu của việc phải
để cho con cháu ḍng họ "thiên hoàng"
lên làm vua, cũng đă mất đi rồi. Thời
đó, văn hóa Trung Hoa lan vào Nhật Bản không
phải chỉ có Đạo Phật mà cả Nho giáo
và Đạo giáo cũng truyền vào. Phép tu
luyện thần tiên, đại diện bởi pháp
sư Enno Gyoja, cũng truyền bá vào. Đương
nhiên, cái tư tưởng "cách mạng đổi
họ[10],"
một tư tưởng chính trị quan trọng
của Trung Hoa, cũng du nhập vào. "Dịch
tính cách mạng (cách mạng đổi
họ)" là nói trời chọn người có
đức cho làm thiên tử. Do đó gọi là
thiên mệnh. Con cháu nhờ đức của
tổ tiên mà trị thiên hạ. Nhưng sau
nhiều đời, đức ấy hết đi,
trong hàng con cháu có kẻ thất đức
xuất hiện, th́ kể như thiên mệnh
hết. Lúc đó, trời chọn người
họ khác có đức, trao cho thiên mệnh và
khiến lập ra triều đại mới.
Chẳng qua, "đổi họ để thay
mệnh" chính là "mệnh lệnh"
của "trời" vậy. Tư tưởng
này đă được Mạnh Tử lư
thuyết hóa, cũng đă được nói
đến trong sách Sử Kư Tư Mă Thiên, là tư
tưởng khẳng định cách mạng quá
khích độc đáo của Trung Hoa. Thời
Thái tử Shotoku th́ ở Trung Hoa nhà Tùy mới thành
lập chưa được bao lâu. Đó là
thời đại toàn quốc mới thống
nhất sau một thời tao loạn gọi là
"thời đại lục triều" hay
thời "nam bắc triều," th́
đương nhiên phải có sự thay đời
đổi vua. V́ vậy, cái tư tưởng
"cách mạng đổi họ, đổi
đời" hẳn phải được
cổ súy hơn bao giờ hết. Trong bối
cảnh như vậy, Đạo Phật đă phát
đạt và được truyền bá vào
Nhật Bản. Như
vậy, tư tưởng "cách mạng đổi
họ, đổi đời" không thể không
du nhập vào Nhật Bản được. Nói cách
khác, cái quan niệm lúc đó coi ai có đức
th́ đáng làm vua, chứ không câu nệ
truyền thống "vạn thế nhất
hệ (một họ vạn đời),"
quả là cái nguy cơ chồng trứng đối
với ḍng họ "thiên hoàng." Hơn
thế nữa, lại có cả ḍng họ Soga có
thế lực đáng đứng ra thay thế
nữa. Thế mà, cái tiền đề cho ḍng
họ "thiên hoàng" được làm
"thiên hoàng," tức là Thần đạo,
đă bị phủ nhận mất rồi, th́ cái
nguy cơ quả là "nước đă đến
chân." Vua Sushun đă nhận thức được
cái nguy cơ này. V́ thế, mặc dầu
được ḍng họ Soga, tức là phe "sùng
Phật" tôn lên làm vua, song nhà vua đă
ngả sang phe "bài Phật" vậy. Kết
quả là năm năm sau, vua Sushun đă bị
Soga no Umako ám sát. Trong lịch sử Nhật
Bản, chỉ có hai vị vua được
sử chép là "bị giết," đó là vua
Anko ở thế kỷ thứ V và vua Sushun này. Nói
cách khác, họ Soga đă có đủ uy thế
đến nỗi có thể ám sát được
cả vua. Sau
đó, ḍng họ vua đă khổ tâm không
biết nên tôn ai lên làm vua. Kết cục, bà cô
của Thái tử Shotoku đă lên ngôi năm 592,
tức là nữ hoàng Suiko. Đây là vị nữ
đế vương đầu tiên ở Đông Á. Vị
nữ đế vương đầu tiên và duy
nhất trong lịch sử Trung Hoa, tức là bà
Tắc Thiên Vơ Hậu (Vơ Tắc Thiên) đă
xuất hiện vào nửa trước của
đời nhà Đường (bà lên ngôi năm 690),
nghĩa là sau bà nữ đế vương
Nhật Bản khoảng 100 năm. Ở bán đảo
Triều Tiên th́ cũng khoảng 40 năm sau
Nhật Bản mới có nữ vương,
tức nữ vương Thiện Đức của
nước Tân La lên ngôi năm 632. Lúc
đó không phải là ḍng họ vua không có người
đàn ông nào xứng đáng. Chính Thái tử
Shotoku lúc đó đă được 19 tuổi, và
ở thời đại đó th́ như vậy là
trưởng thành rồi, v́ so với ngày nay th́
tuổi đó tương đương với
tuổi trên 30. Ấy thế mà người ta
đă để cho một người đàn bà
thuộc ba thế hệ trước lên làm vua! Việc
tôn lên ngôi vị nữ hoàng đầu tiên này
ở Đông Á đă để lại dấu tích
của cái khổ tâm trong vấn đề nhân
sự này. Lợi dụng sự sùng bái phụ
nữ từ Amaterasu Omikami để chọn
nữ hoàng Suiko, đă cho thấy sự thỏa
hiệp phức tạp giữa ḍng họ Soga và ḍng
họ thiên hoàng. Với ḍng họ Soga th́
việc chọn nữ hoàng tức là làm cho nhà
vua khó cựa quậy, mặt khác việc lựa
chọn nữ hoàng tỏ rơ cái ư của ḍng
họ thiên hoàng, hay đúng ra là của Thái
tử Shotoku, không muốn đối lập ra
mặt với ḍng họ Soga. Với
việc đưa thiên hoàng Suiko lên ngôi, vấn
đề nhân sự như thế là xong. Nhưng
"chính quyền liên hiệp" này giữa ḍng
họ thiên hoàng và ḍng họ Soga liệu có
tốt hay không. Trước hết là vấn
đề tôn giáo, vấn đề trọng đại
nhất, th́ chưa giải quyết được.
Giữa lúc đó, th́ từ ḍng họ thiên hoàng
đă thấy xuất hiện một thiên tài.
Đó là Thái tử Shotoku, người đă nắm
quyền nhiếp chính năm sau đó, tức là
năm 593. Khởi
xướng "tư tưởng gộp đạo"
duy nhất trên thế giới Thái
tử là một Phật tử rất ngoan đạo.
Như đă nói ở trên, thái tử mộ đạo đến nỗi trong
cuộc phân tranh Soga - Mononobe, ông đă cho tạc
tượng tứ thiên vương để
cầu thắng, và sau khi thắng trận, ông
đă dựng chùa Tứ Thiên Vương làm
quốc tự. Thêm nữa, thái tử đă theo
một cao tăng tên là HuệTừ từ Cao Ly
trên bán đảo Triều Tiên qua, học
Phật giáo và viết chú giải kinh Pháp Hoa cùng
nhiều kinh điển khác. Hơn thế
nữa, thái tử c̣n tạc tượng và
hiểu biết tinh tường về kiến trúc
Phật giáo. Có thể coi thái tử là nhân
vật uyên bác nhất về Đạo Phật
thời đó. Trên
thực tế, thái tử cũng đă đích thân
truyền bá Đạo Phật, đă cho xây chùa
Horyuji làm ngôi chùa của chính ḿnh. Mặt khác, năm
15 đời nữ
hoàng Suiko, chính thái tử đă viết "Kính
Thần Chiếu," hay là tờ chiếu tôn kính
Thần đạo. Sự
nghiệp của thái tử đáng được
ghi vào sử sách gồm có, thứ nhất, nghiên
cứu và phổ cập Đạo Phật. Sự
nghiệp này gồm có việc dựng chùa,
tạc tượng Phật, chế tạo
Phật cụ và phát triển biết bao nhiêu
kỹ thuật liên quan. Sự
nghiệp thứ hai là chế định những
chế độ quốc gia như "Hiến pháp
17 điều," "quan chế 12 bậc,"
v.v., làm nền tảng biến Nhật Bản
từ một nước cai trị bởi hào trưởng,
thành nước có chế độ quan lại, có
tổ chức hành chính hẳn hoi. Điều
thứ nhất của "Hiến pháp 17 điều"
có câu nổi tiếng là "lấy ḥa làm quư,
không đối nghịch nhau làm gốc. Người
ta ai nấy hăy nên có bè phái." Nước
Nhật ngày nay là nước do quan lại cầm
quyền. Thời Thái tử Shotoku chính là lúc
chế độ quan lại bắt đầu. Cho
đến bấy giờ, chế độ quan
lại cũng như chế độ quốc gia
đều không có ǵ rơ rệt cả. V́ thế,
việc chế định "quan chế 12
bậc" là biểu hiện của nỗ
lực xếp đặt chế độ quan
lại vậy. V́
thế, một mặt th́ nói "lấy ḥa làm
quư," song ngay sau đó lại dạy người
ta rằng "ai nấy nên có bè phái!" tức
là từng nhóm hăy lập ra tổ chức của
ḿnh đi, rồi cùng nhau làm việc trong sự ḥa
hợp. Sự
nghiệp hiển hách thứ ba của Thái tử
Shotoku là vấn đề ngoại giao mà tiêu
biểu là việc gửi sứ sang nhà Tùy, Trung
Hoa. Sứ giả đầu tiên được
Nhật Bản chính thức phái tới Trung Hoa,
đă mang quốc thư với câu mở đầu
nổi tiếng là "thiên tử nước
mặt trời mọc gửi thư này tới thiên
tử nước mặt trời lặn."
Thật là minh bạch, để tỏ rơ lập
trường coi Nhật Bản cũng như Trung
Hoa hay bán đảo Triều Tiên, đều là
một nước riêng biệt, độc
lập. Ngoài
ra, h́nh như thái tử c̣n toan gửi quân sang
chinh thảo nước Tân La (ở bán đảo
Triều Tiên). Kế hoạch này bái hoàng tử
Kume no Miko, bào đệ thái tử, làm đại
tướng tổng tư lệnh, nói là sang
yểm hộ
nước Bách Tề (cũng ở bán đảo
Triều Tiên). Trên thực tế, hoàng tử
đă mắc bệnh, mất đi, nên kế
hoạch có lẽ đă chỉ mới là "câu
chuyện đầu lưỡi." Dù sao, dù
chỉ là "câu chuyện đầu lưỡi,"
nó cũng đă chứng tỏ cái ư nghĩ cơ
bản về một quốc gia Nhật Bản
thực tại. Sự
nghiệp thứ tư là kế hoạch phát
triển khu vực Ikaruga để xây dựng kinh
đô văn hóa thay cho kinh đô Asuka. Việc thiên
đô tới Ikaruga là muốn tránh sự chi
phối của bọn hào trưởng ở vùng
Asuka, nhất là của ḍng họ Soga. Từ vùng
này, thái tử đă cho mở con đường
qua bến Naniwa tới Ozaka[11]
để trực tiếp thông thương
với nhà Tùy, chứ không qua con đường
xuyên bán đảo Triều Tiên mà ḍng họ Soga
có quan hệ mật thiết. Sự
nghiệp này đă không nhất thiết thành công
về mặt chính trị và kinh tế, v́ nó
đă làm cho ḍng họ Soga phẫn nộ.
Song ngược lại, chính v́ vậy, nó càng làm
cho thái tử thêm miệt mài vào sự nghiệp
văn hóa học thuật, khiến đă để
lại những di sản văn hóa tuyệt
diệu. Xem
như trên th́ thấy Thái tử Shotoku đă
để lại sự nghiệp hiển hách trên
nhiều lănh vực. Song, cái ảnh hưởng
của thái tử đối với nước
Nhật ngày nay đáng nhấn mạnh nhất là
sự nghiệp truyền bá Đạo Phật,
bởi chính thái tử cũng vừa là một tín
đồ vừa là một nhà nghiên cứu
nhiệt tâm, đồng thời, đă thảo ra
bài "chiếu kính Thần." Sự thật này
đă được ghi chép trong sách Kojiki (Cổ
Sự Kư) và sách Nihon Shoki (Nhật Bản Thư
Kỷ). Nhưng, sự xuất hiện trong
những sách này xem có vẻ đường đột.
Có người nghi rằng sự việc này đă
được lồng vào đó một cách
vội vă khi người đời sau biên
soạn sách đó. Sở dĩ nghi ngờ như
vậy là v́ nếu xét sự kiện thái tử
là một Phật tử nhiệt thành, th́ sự
việc đó đáng lấy làm kỳ lạ. Nhưng
thật ra, chính đây mới là chỗ
bao gồm một quan điểm vô cùng trọng
yếu. Đó là, một mặt th́ truyền bá và
nghiên cứu Đạo Phật, mặt khác lại
không phủ nhận đạo thờ thần
cổ lai của Nhật Bản. Chẳng những
thái tử đă soạn ra bài "chiếu kính
Thần," ông cũng không đón bà chị làm
Itsuki no Miya tức là "bà từ", ở
đền Ise về. Tập tục từ đời
vua Suinin, theo đó mỗi đời vua đều
để một công chúa c̣n trinh lên làm "bà
từ" tối cao ở đền Ise, đă
được kế tục cho tới đời
vua Daigo. Từ vua Minh Trị trở về sau th́
chức "chủ tế" đền Ise đều
là người hoàng tộc cả. Nói
cách khác, Thái tử Shotoku một mặt nhiệt
tâm thờ phụng và phổ cập Đạo
Phật, mặt khác đă không hề có cử
chỉ nào đàn áp Thần đạo cả. Trái
lại, ông tỏ ra thông cảm Thần đạo,
thậm chí lại giúp đỡ nữa. Điểm
này là yếu tố quyết định quan
niệm tôn giáo của người Nhật
vậy. Về
mặt cá nhân, Thái tử Shotoku là một Phật
tử, song đứng ở địa vị
một chính trị gia, và vốn là một người
trong hoàng tộc, ông không thể không bênh vực
truyền thuyết Thần đạo được.
Để giải quyết mâu thuẫn này bằng lư
luận và luân lư, ông đă nghĩ ra sự
kết hợp ba giáo lư Thần, Phật và Nho
vậy. Thái
tử Shotoku cũng là một "đứa con
của thời đại". Như đă nói,
ông sinh vào thời đại mà Phật giáo du
nhập vào, rồi đám "người vào làng"
đă cùng với Đạo Phật đem một
nền văn hóa cao độ vào. Làm thế nào
ḥa hợp những yếu tố mới này
với đạo thờ Thần cổ truyền
của Nhật Bản? Đây là vấn đề
trọng đại mỗi người Nhật
phải đối phó. Thái tử Shotoku đă
đối xử và vượt qua được
bằng cách khẳng định Thần đạo
trong khi vẫn cư xử như một Phật
tử trong cương vị cá nhân. Điều
này không phải là dễ. Khi một tôn giáo
mới, cùng với một nền văn minh tiên
tiến, du nhập vào, th́ vấn đề làm
sao dung ḥa được với tôn giáo cổ
truyền và với chế độ xă hội
sẵn có, là chuyện có thể xẩy ra ở
bất cứ nước nào. Chẳng hạn, Hy
Lạp thời cổ cũng đă có một kinh
nghiệm tương tự khi đạo Thiên chúa
du nhập vào. Họ đă phải đương
đầu với vấn đề đối
xử thế nào với các thánh của đền
Olympos, hoặc tín ngưỡng tôn thờ thần
Jupiter. Hay là dân German ở địa phương
nay là nước Đức, cũng đă phải
giải quyết vấn đề tôn giáo cổ
truyền như thế nào khi đạo Cơ
đốc đă từ vùng Địa Trung Hải
truyền bá tới. Ấn Độ
cũng gặp phải vấn đề tương
tự khi đạo Islam loan truyền tới. Tuy
nhiên, ở những nước này, tư tưởng
gộp đạo đă không xuất hiện. Do
đó mà chiến tranh tôn giáo đă diễn ra không
dứt, nhằm giải quyết vấn đề
chọn một giữa hai. Nói cách khác, chính v́
họ cố t́nh đi t́m cái thuần túy trong tôn
giáo, nên mới phát sinh ra chiến tranh tôn giáo và
sự thù ghét lẫn nhau. Ngoại
lệ duy nhất trên thế giới là Nhật
Bản. Ở đây cũng đă có cuộc
chiến tranh tôn giáo giữa hai ḍng họ Soga và
Mononobe. Song, sau đó th́ sự đối lập
tôn giáo hết hẳn. Sứ
quân Oda Nobunaga đă đốt chùa Hieizan, rồi
dẹp loạn Ikko (cũng gọi là Jodo Shinshu).
Song đây chỉ là một cuộc tranh chấp
nhằm hủy duyệt cái vơ lực và sự
chiếm đoạt đất đai của nhà
chùa, tức là những biểu hiệu của
quyền lực trần tục mà môn phái này có
trong tay. Không hề thấy dấu vết nào
tỏ ra Nobunaga đă đàn áp môn phái Ikko
bởi đó là một tôn giáo. Xung
quanh Nobunaga, người ta thấy có nhiều tín
đồ môn phái Tendai cũng như môn phái Ikko.
Là quân nhân hay là quan lại trần tục,
hoặc là tăng lữ mà tỏ ra trung thành
với Nobunaga, th́ ông không đ̣i họ phải
từ bỏ tín ngưỡng hay đổi đạo
bao giờ cả. Chúa
Toyotomi Hideyoshi và ḍng chúa Tokugawa sở dĩ
cấm đạo thiên chúa là bởi v́ họ
sợ tôn giáo này thông đồng với nước
ngoài làm nguy hại tới chính quyền Nhật
Bản. Ở
Nhật, chiến tranh tôn giáo đă mất
hẳn, chính là nhờ có bậc thiên tài Shotoku
xuất hiện, truyền bá tư tưởng
gộp đạo bằng lư luận và tài
thuyết phục khéo léo vậy. Thái
tử Shotoku, với việc tiếp nhận Đạo
Phật và nền văn minh tiên tiến do đạo
này mang tới, đồng thời khởi xướng
tư tưởng gộp đạo làm cho lập
trường tôn trọng Thần đạo và
truyền thuyết về hoàng gia Nhật cũng
đứng vững, hẳn đă làm cho người
Nhật thời đó thấy thoải mái. Nhờ
đó, tư tưởng này tức khắc
được khẳng định và phổ
cập, được gọt giũa thêm cả
về mặt tôn giáo lẫn lư luận, để
cho tới thời Nara, đă được xác
lập thành một hệ tư tưởng
hẳn hoi. Phong
cách "hay đâu âu đấy " Thái
tử Shotoku là nhà tư tưởng lớn duy
nhất trên thế giới đă khởi xướng
tư tưởng gộp đạo. Tư tưởng
này đă ăn sâu vào xương tủy người
Nhật cho tới ngày nay. Người
Nhật thời đó muốn tiếp nhận
Phật giáo như là một nền văn hóa
mới mang từ những nước tiên tiến
tới. Họ muốn học hỏi kỹ
thuật mới, thời trang mới. Song, phải
chối bỏ cái tôn giáo của tổ tiên
truyền lại th́ họ cảm thấy khó
chấp nhận được. T́nh trạng này
đă có trong lịch sử thế giới
biết bao nhiêu lần rồi. Chẳng
hạn, trong lịch sử châu Âu, khi đạo
Thiên chúa mới truyền tới, đă có
mấy biến cố lớn xảy ra. Một
linh mục nói: "Nếu không tin chúa Giêxu th́
sẽ phải xuống địa ngục!"
Một bậc vương hầu German tin lời
thuyết giáo này nên có ư định theo đạo
thiên chúa. Trước khi quyết định, ông
hỏi: "Cha ta không hề biết đạo
thiên chúa th́ nay ra sao?" Linh mục trả
lời: "Hẳn là ở dưới địa
ngục!" Nhà vua bèn nói: "Cho dù địa
ngục của đạo thiên chúa có đáng
sợ đến mấy đi chăng nữa, ta cũng
muốn tới nơi cha ta ở!" và bắt
đầu đàn áp đạo thiên chúa. Đă có
không thiếu ǵ những thí dụ tương
tự. Đạo
Phật tuy không nghiêm khắc đến như
vậy, song người Nhật thời đó
hẳn đă nghĩ tương tự. Do đó,
thái tử mới nói rằng dẫu theo Phật
giáo cũng không phải bỏ Thần đạo.
Người Nhật thời đó một mặt
th́ thèm khát văn hóa mới, mặt khác lại
không muốn phải chối bỏ tổ tiên ông
bà, nên đă ồ ạt chấp nhận tư tưởng
này. Thần đạo, tôn giáo cổ truyền
của Nhật Bản, lại có thể đứng
song lập với Phật giáo, một tôn giáo
mới, mới từ nước ngoài truyền vào.
Đây là một ngụy biện ghê gớm. Ấy
thế mà, Thái tử Shotoku đă cộng thêm
cả Nho giáo, coi đây là quy phạm của phép
xử thế, và bắt đầu triển khai lư
luận giảng giải rằng cả ba đều
có thể đứng song hàng với nhau được. Ở
Trung Hoa, tôn giáo bản xứ đúng nghĩa th́
không có, mà chỉ có Nho giáo coi như quy phạm
xử thế và tư tưởng Lăo Trang đối
nghịch lại. Sau đó, nghi lễ Phật giáo
thêm vào, rồi cả ba hợp lại thành
một "tổng thể tôn giáo kiểu Trung
Hoa." V́
vậy, người Trung Hoa, tuy nói là vừa theo
Đạo Phật vừa theo đạo Nho lại
vừa theo cả đạo Lăo nữa, song không
phải là họ tôn thờ một lúc ba tôn giáo.
Đúng ra, họ tôn thờ một "tổng
thể tôn giáo kiểu Trung Hoa", một hỗn
hợp của ba yếu tố tôn giáo đó. Thói
thường khi tin một tôn giáo nào rồi, người
ta hay bài xích tôn giáo khác. Nói cách khác, không có cái
ǵ đọa lạc bằng tôn thờ một lúc
nhiều tôn giáo. Sự khởi xướng và
thực hành của Thái tử Shotoku đúng ra là
hành vi sa đọa về mặt tôn giáo. Song ngược
lại, đó là bước nhảy vọt
về mặt chính trị. Nghĩ ra điều
ấy th́ dù trong cả thế giới rộng răi
này cũng chỉ thấy có một ḿnh Thái
tử Shotoku mà thôi. Không thể có một nhà tôn
giáo nào lại dạy người ta tin một lúc
nhiều tôn giáo cả. Do
đó, dù Đạo Phật đă du nhập vào, mà
đền Ise vẫn không bị mất tín đồ
đi. Hơn thế nữa, nghi lễ "thiên
cung[12]" vẫn
diễn ra liên miên trong lịch sử, người
đi lễ đền Ise vẫn không hề
bớt đi. Khi
Đạo Phật tới, th́ chọn lấy chỗ
nào hay, c̣n chỗ nào không thích th́ cứ việc
bỏ đi. Sau này, đạo Thiên chúa truyền
vào, th́ những chỗ
"vui nhộn", "bảnh bao" cũng
đều được gạn lọc lấy.
Chẳng hạn, chỉ có tiệc liên hoan Nôen,
lễ cưới ở nhà thờ đă
được chọn lấy. Chứ ma chay th́
vẫn làm ở chùa, lễ Vu lan th́ múa Bon Odori[13],
tết nhất th́ đi lễ đền. Vừa
ngồi "tham thiền nhập định"
lại cũng đi "rước kiệu".
Tất cả những cái này người Nhật
đều thực hành thoải mái không hề
cảm thấy một mảy may mâu thuẫn nào
hết. Đến
tôn giáo mà c̣n "hay đâu âu đấy,"
"chọn chỗ hay, chỗ tốt" thôi, th́
bất cứ cái văn hóa nào khác cũng
vậy, người Nhật cũng có thể
chỉ gạn lấy chỗ hay, chổ tốt mà
tiếp nhận. Do đó, thời Minh Trị, khi
nền văn minh Tây Âu lan truyền vào, th́
tức khắc kỹ thuật cơ khí ưu tú
đă được gạn lọc lấy,
hệ thống đường sắt, mạng lưới
truyền thông đă được thiết trí.
Tổ chức nghị viện cũng được
áp dụng và chế độ trưng binh cũng
được lập ra. Từ kỹ thuật
tới chế độ học đường
đều theo kiểu Tây Âu. Thế
nhưng, cái tư tưởng tự do, cái
chế độ gia đ́nh của Tây Âu th́ không
được chấp nhận. Cái cách gạn
lọc này gọi là "hồn Nhật Bản, tài
Tây Âu" rất được ưa chuộng.
Chính v́ có cái truyền thống tư tưởng
như thế, nên người Nhật đă không
ngừng tiếp nhận được văn hóa,
kỹ thuật mới mẻ của nước
ngoài. Văn
minh Tây Âu đă lan tràn ra khắp thế giới
từ thế kỷ thứ XVIII tới thế
kỷ thứ XIX. Ấn Độ, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ba Tư đều đă tiếp xúc
với văn minh Tây Âu trước Nhật
Bản từ lâu. Tuy
nhiên, những nước này vốn sẵn có
những nền văn minh nguyên bản của
họ. Do đó, họ không nghĩ tới
"chọn lấy chỗ tốt, chỗ hay"
mà lại nh́n vào văn minh Tây Âu bằng con
mắt hệ thống hóa. V́ vậy, khi kỹ
thuật Tây Âu lan truyền tới, họ đă
bắt đầu thảo luận xem nếu
tiếp nhận chế độ và kỹ
thuật của Tây Âu, th́ có làm thay đổi
chế độ xă hội, chế độ gia
đ́nh, nền chính trị quốc gia của chính
họ, hay không. Họ nghĩ rằng "khi
chấp nhận đạo Thiên chúa th́ phải
phủ nhận thần Jupiter," thành ra họ
cho rằng từ vẻ mặt của thành
phố tới dạng thức sinh hoạt đều
phải đổi hết. Điển
h́nh là Trung Hoa. Trước cuộc Duy tân Minh
Trị của Nhật Bản, Trung Hoa đă
nếm mùi sức mạnh quân sự hiện đại
ghê gớm của đế quốc Anh qua trận
chiến tranh nha phiến. Đương nhiên,
nếu muốn trở thành một nước hùng
cường th́ phải tiếp nhận chế
độ quân đội, kỹ thuật quân
đội của Tây Âu. Đă có phái tiến
bộ chủ trương phải học hỏi
kỹ thuật mới, và phổ cập chế
độ mới của Tây Âu. Thế nhưng,
lập tức một cuộc tranh luận nóng
bỏng bùng lên. Họ đặt câu hỏi
"nếu tiếp nhận những kỹ
thuật mới đó, th́ thôn xóm ta, gia đ́nh
ta, nền giáo dục của ta sẽ ra sao?"
Kết quả là Trung Hoa đă không dễ dàng
tiếp nhận kỹ thuật, chế độ
hiện đại của Tây Âu vậy. Ngược
lại, Nhật Bản th́ coi việc tiếp
nhận văn hóa mới không nhất thiết có
nghĩa là phải vứt bỏ nền văn hóa
cũ đi. Người Nhật không hề nghĩ
rằng, bởi v́ đă theo Đạo Phật nên
không được đi lễ đền
Thần đạo. Đó chẳng qua là tiếp
nhận thêm một cái hay, thế thôi. Vi
vậy, họ coi "cái đó lư thú," "cái
kia cũng hay" và tiếp tục tiếp
nhận thoải mái. Trong tất cả các nước
châu Á và châu Phi, Nhật Bản trở thành nước
duy nhất đă mau mắn tiếp nhận kỹ
thuật hiện đại, chế độ
hiện đại, chính là nhờ ở đặc
tính này. Nh́n
qua lịch sử Nhật Bản, người ta
thấy rằng, nói chung, tuy Nhật Bản
học nước ngoài, nhưng chỉ 40 năm
sau thôi, người Nhật thường đă làm
tốt hơn rồi. Bởi v́ người
Nhật có lối học rất có hiệu
quả. Họ bắt đầu bằng cách mô
phỏng nguyên xi, "thầy làm sao, tṛ làm y
hệt như vậy." Thời Minh Trị, người
Nhật học Tây Âu kỹ thuật quân sự,
kỹ thuật công nghiệp, rồi trải
đường sắt, mắc hệ thống
điện tín, nhưng tuyệt nhiên không có ai bàn
tán dông dài về vấn đề xă hội, gia
đ́nh Nhật Bản sẽ biến đổi
ra làm sao. Chẳng có ai coi điều này là nghiêm
trọng cả. Cội
nguồn của "xă hội chức lộc" Cái
sáng kiến "chọn lấy chỗ
tốt" như vậy, đă có cội
nguồn từ tư tưởng gộp đạo
của Thái tử Shotoku. Thật ra, thời kỳ
cải cách sau cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ hai cũng giống như
vậy. Tư tưởng gốc của xă
hội Nhật Bản th́ không đổi đi,
song việc dân chủ hóa cái bề ngoài th́ xúc
tiến, kỹ thuật và mánh lới kinh doanh
của Mỹ th́ thâu nhận. Do đó, mặc
dầu có kỹ thuật, có phương pháp
quảng cáo tiên tiến kiểu Mỹ hơn ai
hết, song ở Nhật Bản đă sinh ra
mộ t "xă hội chức lộc (chức tước
và bổng lộc)" độc đáo theo
chủ nghĩa tập thể do "quan liêu"
(công chức) chỉ đạo. Ngày
nay, xă hội Nhật Bản đă thành một
"xă hội chức lộc" trong đó
"sở" (nơi làm việc) làm thành
một "kết hợp thể," tức là
một vật kết tinh chắc nịch. Có
nhiều lư do cho sự việc này. Thứ
nhất, Nhật Bản hầu như không có
những đoàn thể tôn giáo đóng vai
"kết hợp thể" thay cho
"sở" được. Với tư tưởng
gộp đạo do Thái tử Shotoku khởi xướng,
người ta có thể dễ dàng tránh được
những luật lệ, nghi lễ tôn giáo
phiền toái có phương hại cho hoạt
động của "sở." Cũng chính cái
sáng kiến "chọn lấy chỗ tốt" này
đă đẻ ra cái bản năng "súc
vật kinh tế[14]." Trong thế giới của những tôn
giáo độc thần như Đạo Do Thái, Đạo
Thiên Chúa, Đạo Islam, th́ mỗi cá nhân trực
tiếp đối đầu với vị
thần đó. Quan hệ với cá nhân khác,
phải là qua trung gian của vị thần đó.
Điều này thật là khó hiểu đối
với người Nhật. Chẳng
hạn, trong hôn lễ, khi linh mục hỏi
"Ngươi có nhận người này làm
vợ hay không? Ngươi có nhận người
này làm chồng hay không? Có chịu thề sẽ
vĩnh viễn yêu nhau cho tới chết, hay không?"
và khi người bị hỏi trả lời
"Xin thề!" th́ nhiều người
Nhật vẫn hiểu lầm rằng đây là
thề giữa hai người trai gái với nhau.
Thật ra, đây là thề với Chúa, chứ không
phải là thề lấy Chúa làm nhân chứng. Ngược
lại, đạo Thiên Chúa có lời răn
"ngươi chớ thề thốt" tức
là cấm không cho thề thốt lấy Chúa làm
chứng cho ḿnh. Bởi
vậy, Công giáo mới không nh́n nhận ly hôn
mặc dầu hai đương sự đă
thỏa thuận ly dị với nhau rồi. Đó là
v́ sự thỏa thuận của hai cá nhân th́ không
thể xóa bỏ được lời giao ước
với Chúa. Đây chính là cái suy nghĩ cơ
bản của đạo Thiên Chúa vậy. Trong
các tôn giáo độc thần th́ mọi việc
đều là do sự đối đầu
giữa Chúa và người. Khi chết, th́
chẳng có cha mẹ, vợ con bạn bè nào, cũng
chẳng có "công ty," "cấp trên" nào
cả, mà chỉ có một ḿnh duy nhất đứng
ra chịu sự phán xét của Chúa. Chính v́
vậy mới sinh ra cái suy nghĩ rằng nếu
ḿnh không thấy hổ thẹn trước Chúa,
th́ cho dù có bị bạn bè ghét bỏ cũng
chẳng sao. Hơn nữa, dù bạn bè có khuyên nên
làm đến mấy đi nữa, song nếu là
việc đáng sợ trước Chúa, th́ cũng
không làm. Bởi vậy mà cái quan hệ người
với người bị nhạt nhẽo đi, và
thay vào đó, cá tính cùng tính sáng tạo
đơn độc mới nẩy nở ra. Song,
người Nhật th́ "hay đâu, lấy
đó" cho nên hôm nay thề với Phật, mai
thề với Chúa, mốt thề với Thần,
mà không hề thấy hổ thẹn ǵ cả. Ngược
lại, cái quan trọng là mối quan hệ người
với người đang có lúc này. Đây chính là
cái cơ sở tinh thần mà từ đó h́nh thành
cái gọi là "cộng đồng sở,"
nghĩa là cái tập thể vĩ đại
gồm những "con người xí
nghiệp." "Con
người xí nghiệp" đă hoàn thành trong
thời kỳ hậu chiến, nhất là trong
khoảng năm 1955 (năm thứ 30 niên hiệu
Chiêu Ḥa). Trước đó, Nhật Bản là
"xă hội máu mủ ruột thịt, dây mơ
rễ má." Thời đó hăy c̣n có đại
gia đ́nh, đại gia tộc. Người ta
coi trọng cộng đồng hương thôn, bà
con lối xóm. Nếu có kẻ gây tội lỗi
th́ trước nhất người ta bảo
đó là "làm bêu rếu họ
hàng," "làm xấu mặt lối xóm."
Không ai nghĩ rằng kẻ đó đă vi
phạm giao ước với Chúa cả. Nhưng
trong thời kỳ phục hưng và tăng trưởng
cao độ hậu chiến, th́ dân địa phương
ồ ạt kéo nhau ra các đô thị lớn.
Kết quả là cha mẹ và con cái ở xa nhau
ra, người ra ở các đô thị lớn
sống rải rác lẻ loi không c̣n "máu
mủ ruột thịt, dây mơ rễ má"
nữa. Cái xă hội "bà con họ
hàng" của đại gia đ́nh, đại
gia tộc bị tan ră. Cái "xă hội địa
phương, bà con lối xóm" cũng bị tiêu
diệt. Kết quả là người Nhật
chỉ c̣n một nơi duy nhất để có
ư thức quy thuộc: Đó là "sở," đó
là "công ty." Ư
thức quy thuộc vào tập thể của người
Nhật, đă có từ trước thời Thái
tử Shotoku. Đó chính là truyền thống đă
làm phát sinh ra Thần đạo từ "xă
hội thị tộc" ("xă hội họ hàng")
nguyên thủy. Thái tử Shotoku đă không hủy
diệt cái xă hội đó mà lại duy tŕ nó,
bảo tồn nó trong quá tŕnh truyền bá Đạo
Phật. Do đó, người Nhật đă
trở nên trung thành với tập thể, đă
tạo ra cái gọi là cấu tạo "xă
hội bề dọc." Ư
thức quy thuộc hướng tới đại
gia đ́nh, đại gia tộc, cộng đồng
thôn xóm trong thời tiền chiến, th́ tới
thời hậu chiến đă biến thành ư
thức quy thuộc đối với cộng
đồng "sở." Đối tượng có
thể đă khác đi hoàn toàn, nhưng tựu
trung cái căn bản của sự suy nghĩ
vẫn là "coi trọng con người ở
ngay tại đó." Cái
cộng đồng "xóm làng, dây mơ rễ má"
của Nhật Bản thời cổ, là tập
thể có tính cách sản xuất kinh tế.
Cộng đồng xóm làng của Nhật Bản
là một xă hội địa vực cùng nhau
sản xuất thóc lúa. Ở những nước
mà sự phân tranh giữa các sắc dân khác nhau
đă xẩy ra kịch liệt, th́ xă hội
địa vực của họ mang tính cách
cộng đồng pḥng vệ hơn là cộng
đồng "sở." Xă hội địa
vực của Nhật Bản, cơ bản là
tập thể của những người cùng cày
cấy, cùng sản xuất thóc lúa dọc theo cùng
một ḍng nước với nhau. Ngày nay, cái xă
hội đó trở thành tập thể ở
một "xí nghiệp," một "doanh
nghiệp," một "công sở." Thế
thôi. Xét
như trên, ta thấy trong suy nghĩ của người
Nhật ngày nay, trong cấu tạo của xă
hội Nhật ngày nay, cũng có mối quan
hệ sâu sắc của phong cách "chọn
lấy chỗ hay" vốn phát xuất từ
"tư tưởng gộp đạo"
của Thái tử Shotoku vậy. Thái
tử Shotoku c̣n là một đối tượng
thờ cúng của người Nhật đă
từ lâu rồi. Sự thờ cúng thái tử
chiếm một vị trí thoải mái trong tư tưởng
gộp đạo mà chính thái tử đă sáng
tạo ra. Thái tử một mặt cống
hiến tố đa cho việc phổ cập Đạo
Phật từ ngoài truyền vào, mặt khác đă
có sự nghiệp to lớn là tạo ra cội
nguồn của nền văn hóa Nhật Bản.
Ngày nay, cái phong cách "gạn lọc lấy
chỗ hay," tức là phương pháp áp
dụng văn hóa một cách chọn lọc, chính
là ảnh hưởng lớn nhất mà người
Nhật tiếp nhận được từ thái
tử vậy. [1] Kodan là một nghệ thuật kể truyện truyền thống của Nhật Bản. [2] Một nước trong Liên bang Nam Tư. [3] Gishi Wajinden. Chí là sách chép lịch sử, Ngụy là nước Ngụy, Oải nhân là người Nhật. Vậy Ngụy Chí Oải Nhân Truyện là Truyện Người Nhật trong sách Ngụy Chí. [4] Tức Tào Phi. [5] Không liên can ǵ tới thời Tam quốc bên Trung Hoa. [6] Thời Meiji, tức là thời Duy tân Minh Trị, hay thời Canh tân Minh Trị, là nói từ khi Nhật hoàng đổi niên hiệu từ Khánh ứng (Keio) thành Minh Trị (Meiji, từ 8/9/1968 tới 30/7/1912), sau khi được chúa Tokugawa trả lại quyền chính trị năm 1967, bắt đầu cho thời kỳ canh tân biến nước Nhật thành một quốc gia công nghiệp hiện đại. [7] Omuraji, tương đương với hàng đại nguyên soái. [8] Vua Nhật, tức Thiên Hoàng, vốn được coi là con cháu Thái Dương Thần Nữ (xem lời chú tiếp), không những chỉ là vị nguyên thủ của Nhật Bản về mặt chính trị, mà đồng thời c̣n là Giáo chủ của Thần đạo Nhật Bản nữa. Giáo chủ Thần đạo mà tới chùa làm lễ Phật giáo là chuyện khó vậy. [9] Amaterasu Omikami, quen gọi ở Việt Nam là Thái Dương Thần Nữ. [10] Dịch tính cách mạng (cách mạng đổi họ) hay Dịch thế cách mạng (cách mạng đổi đời). [11] Ozaka, nay là thành phố Osaka. [12] Đền Ise là đền chính của Thần đạo, mỗi 21 năm lại đổi đền một lần gọi là "thiên cung," bằng cách khi đền mới xây xong th́ các thần tượng, thánh thể được di sang đền mới này, và đền cũ bị phá đi để xây lại trong 20 năm rồi năm thứ 21 lại thành đền mới. [13] Bon Odori, đây là h́nh thức múa dân gian vào dịp lễ Vu Lan, rằm tháng bảy. [14] "economic animal", do một cố tổng thống Philippines gọi Nhật Bản, có ư chê người Nhật chỉ miệt mài làm kinh tế để làm giàu. ®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
..........
|