|
Viện
Đại Học Đà Lạt
Giữa
Ḷng Dân Tộc Việt Nam
1957-1975
Hoà
Giang Đỗ Hữu Nghiêm
........
PHẦN III : KHỐI HỌC
VỤ: CÁC PHÂN KHOA
Trong
Viện Đại Học, các cơ quan, đơn
vị giảng huấn như phân khoa, trường
và Thư Viện và cơ quan nghiên cứu, pḥng thí
nghiệm trong khối học vụ có tầm quan
trọng riêng biệt. Lần lượt chúng ta
sẽ phân tích quá tŕnh phát triển của
từng bộ phận này xuất hiện theo
thời gian.
Chương XI : Trường
Sư Phạm
1.
Ban Điều Hành
Linh
Mục Viện Trưởng ở thời gian ban
đầu (1958-1965) trực tiếp điều hành
tổng quát Trường Sư Phạm với tư
cách Khoa Trưởng. Người tham gia công tác
điều hành và giáng dậy ban đầu cùng
với LM Viện trưởng là Sư Huynh Pierre
Trần Văn Nghiêm, B.A. về Văn Chương
(1965-1967). Tiếp theo sau đó là Linh Mục Vũ
Minh Thái, Ph. D. về giáo dục (1967-1975), với LM
Mai Văn Hùng, OP, Tiến Sĩ Triết học, làm
Phó Khoa Trưởng.
Trong
Ban Điều Hành từ 1972-73 về sau, có hai GS
Trần Văn Cảnh, GS Trần Văn Mầu
(Phụ Khảo) với ông Nguyễn Hữu Thu làm
Thư Kư. Điều đáng chú ư là Trường
Sư Phạm xây dựng một Hội Đồng
Khoa thường xuyên với Lm Vũ Minh Thái làm CT,
GS Nguyễn Đ́nh Hoan, PCT và GS Trần Văn
Mầu làm thư kư. Ba Ủy viên là SH Nguyễn Văn
Kế, Nguyễn Văn Trí và LM Nguyễn Hữu
Trọng. Hầu hết những nhân viên giảng
huấn này đều ít nhiều có liên quan đến
Ḍng La San, chuyên về giáo dục thanh thiếu niên
trong các trường học Công giáo.
2.
Sinh hoạt chuẩn bị
Trong
thời gian ban đầu, Trường Sư
Phạm hướng dẫn tráng niên chưa có cơ
hội thi lấy văn bằng Tú Tài nhằm hướng
dẫn họ theo một giáo tŕnh kỹ thuật.
Nhưng chí có 30 người ghi danh học,
một sĩ số khiêm tốn, và một phân
nửa đă bỏ dở nừa chừng. Do đó
từ niên khóa 1958-1959, Viện thu nhận các sinh viên
đă tốt nghiệp trung học có văn
bằng Tú Tài Toàn Phần, nếu muốn theo
học các ngành phân khoa đại học.
SH
Théophane cũng có thời gian tham gia giảng
dậy lớp Sư Phạm Giáo Lư cho một
số nữ tu và giáo dân làm giáo lư viên. SH Gérard là
người trực tiếp chịu trách nhiệm
tổ chức lớp GLSP này. Đây không phải là
một phân khoa của Viện Đại Học nhưng
được Viện bảo trợ. Trong số các
vị phụ trách giảng dậy cho lớp sư
phạm giáo lư đó, có LM Nguyễn Thế
Thuấn DCCT, Nguyễn Văn Ḥa, gốc địa
phận Hà Nội (sau làm GM Nha Trang). Trong lúc đó,
ngoài việc tham gia lớp SPGL đó, SH Théophane c̣n
hướng dẫn về tu đức và cầu
nguyện cho các nữ tu tại Tu viện Mến Thánh
Giá Hà Nội ở khu suối Cam Ly.
Biểu
Đồ 10. Số Liệu Về Thành Quả Trường
Sư Phạm, 1958-1973
|
Niên
Khóa
|
Sinh
Viên
|
|
Ghi
danh
|
Tốt
nghiệp Cử Nhân
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
|
1958-59
|
49
|
00
|
|
1959-60
|
109
|
00
|
|
1960-61
|
163
|
44
|
|
1961-62
|
177
|
53
|
|
1962-63
|
140
|
58
|
|
1963-64
|
112
|
58
|
|
1964-65
|
051
|
51
|
|
1965-66
|
000
|
00
|
|
1966-67
|
109
|
00
|
|
1967-68
|
183
|
00
|
|
1968-69
|
120
|
00
|
|
1969-70
|
250
|
24
|
|
1970-71
|
336
|
15
|
|
1971-72
|
543
|
18
|
|
1972-73
|
565
|
41
|
|
Tổng Cộng
|
2805
|
362
|
|
Chú thích:
1/ Những sinh viên lớp tốt nghiệp
đầu tiên chỉ học có ba niên khóa.
2/Từ 1958-1965, Trường
Sư Phạm có giảng dậy theo hợp
đồng với Bộ giáo dục năm khóa
liên tục được 264 giáo sư trung
học. Như thế sang niên khóa tiếp
(1965-66) đă không có sinh viên nào ghi danh. Do
đó bốn năm liền sau khóa đó không
có sinh viên nào tốt nghiệp.
3/Bảng thống kê này không
tính số sinh viên và môn học niên khóa 1957-58
|
Hoạt
Động Đại Học Sư Phạm Chính
Thức
Giai
đoạn 1958-65
Viện
Đại Học Đà Lạt cũng triển khai
hoạt động hợp đồng với
Bộ quốc gia giáo dục
để giảng dậy hai lớp sư phạm
Triết học và Pháp Văn theo học trong ba năm.
Mỗi lớp trung b́nh có chừng ba mươi sinh
viên đều do BGD tuyển dụng. Các sinh viên
được BGD cấp học bổng là 1.500
đồng/tháng. Trong suốt 5 khóa học th́
tổng cộng có 264 sinh viên tốt nghiệp
trở thành Giáo sư THĐ2C,
giảng dậy tại các trường công lập
trên toàn quốc.
Sư
Huynh (SH, Frère) Pierre Trần Văn Nghiêm, người
góp phần sáng lập Phân Khoa Sư Phạm và cũng
là Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên
ngay lúc ban đầu. Sư Huynh Trần Văn Nghiêm
sau này (BA về Văn Chương,
65-67) giảng dậy về
Tâm Lư Sư Phạm trong khi giữ nhiệm vụ
Khoa Trưởng có chú ư đến một tính cách
tân kỳ
của Trường Sư Phạm Đà Lạt.
Sư
Phạm được quan niệm là một
thực năng riêng biệt với văn bằng,
v́ văn bằng cử nhân sư phạm chỉ
được cấp cho những sinh viên nào có ít
nhất ba trong bốn chứng chỉ đ̣i
hỏi cho văn bằng Cử Nhân Văn Khoa hay
Khoa Học. Bốn năm học về tâm lư sư
phạm chỉ cấp chứng chỉ sư
phạm, chứ không phải văn bằng Cử
Nhân. Những sinh viên nào học trọn khóa chuyên
môn, th́ chỉ được cấp văn
bằng Cử Nhân chuyên môn đó (Văn Khoa hay
Khoa Học). Nhưng trọn khóa chuyên môn với
chứng chỉ sư phạm th́ được
cấp hai văn bằng cử nhân chuyên môn và
cử nhân sư phạm. Các Trường Cao Đẳng
Quốc Gia ở Huế, Sàig̣n và Cần Thơ
chỉ cấp Văn Bằng Cử Nhân Chuyên môn và
chứng chỉ Sư Phạm.
Chương
tŕnh tâm lư sư phạm được phân bố
trong bốn năm sư phạm là: Tâm lư học
đại cương, Tâm lư ứng dụng; Tâm lư
thiếu nhi và thanh niên; Khoa sư phạm thực
nghiệm; Phương pháp trắc nghiệm, Phân tâm
học, Nhi bệnh học; Phương pháp hoạt
động; Lịch sử giáo dục, Tính t́nh
học, Xă hội học thiếu nhi.
Theo
sư huynh P. Trần Văn Nghiêm, sau năm 1975, các
sinh viên đến Mỹ định cư, có Văn
Bằng Cử Nhân Sư Phạm Đà Lạt
được chấp nhận có năng lực tương
đương với BA hay BS trong hệ thống giáo
dục Mỹ, trong khi từ khước tính cách tương
đương đó với các chứng chỉ sư
phạm của nhà nước VNCH trước kia!
SH
Théophane Nguyễn Văn Kế
và SH Mai Tâm là hai vị khác trong số các giáo sư
tiên khởi của Trường Sư Phạm. SH Théophane
cộng tác với Trường Sư Phạm
từ năm 1962, phụ trách giảng dậy các
bộ môn: Lịch sử Giáo Dục, Tâm Lư Xă
Hội bên Trường Sư Phạm, và sau này
Nhiệm Vụ Học.SH
Théophane coi dậy học là một sứ mệnh
ông được mời gọi tham gia. Ông rất
hăng say v́ sự nghiệp giáo dục, như
dọn bài giảng kỹ lưỡng, in giáo tŕnh
thành từng tập, mà sinh viên có thể mua dễ
dàng ở cơ sở ấn loát của viện. Các
sinh viên theo học với SH Théophane không thể không
biết đến giáo tŕnh kể trên, nhưng
họ ưa chuộng tập “Giáo Dục T́nh Yêu”
hơn cả
Niên
học 1960-61, lớp Pháp Văn năm thứ ba
của Trường Đại Học Sư
Phạm có lẽ cả lớp gồm 18 sinh viên,
trong đó có 8 nữ, c̣n để lại tấm
h́nh chụp chung với giáo sư hướng
dẫn lớp là một người Pháp. Lễ
tốt nghiệp lớp này được tổ
chức ngày 23/3/1961. Bảy sinh viên xuất sắc
nhận được phần thưởng đặc
biệt của nhà trường. Văn bằng
tốt nghiệp được cấp phát ngày
29/3/1961 do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục
Trần Hữu Thế kư ngày 29/3/1971, sau khi LM
Viện Trưởng Trần Văn Thiện đă
kư hôm trước. Năm
thứ ba có 24 sinh viên Sư Phạm Ban Triết niên
khóa 1960-61 lưu lại một tấm h́nh, trong
đó chỉ có hai nữ sinh viên. Những h́nh
ảnh này là chứng liệu cho thấy lớp
học này đă thực sự diễn ra từ năm
1958 đến 1961.
Các
sinh viên sư phạm ở giai đoạn ban đầu
này được nhà nước tuyển mộ và
khi tốt nghiệp sẽ được nhà nước
bổ dụng.
Giai
đoạn 1965-1967
Trường
Sư Phạm đào tạo Giáo Sư giảng
dậy trong các trường tư thục. Chính
thời gian này, Bộ GD đă cho phép Trung Tâm Sư
Phạm Đà Lạt chính thức trở thành
một Trường Đại Học Sư
Phạm đúng nghĩa theo Giấy Phép số
7166/GD/PC1, kư ngày 26/9/1967.
Giai
đoạn 1967-1975
Trường
Sư Phạm do LM Vũ Minh Thái, Ph.D. in
Education, Hoa Kỳ, làm khoa trưởng. Trường
Sư phạm được thiết lập
sớm nhất cùng với Trường Văn Khoa,
trong hợp đồng giàng dậy Triết học
và Pháp văn với Bộ Giáo Dục.
Trường
Sư Phạm có dự án mở rộng chuyên môn
sang hai phạm vi giáo dục tổng quát ngành
Quản Trị Kinh Doanh và Chánh Trị Xă Hội,
đồng thời thiết lập thêm Ban Sư
Phạm Âm Nhạc. Từ năm 1967, Trường
Đại Học Sư Phạm chính thức
được tổ chức theo đúng chức năng
qui định về học chế bốn năm
cho văn bằng Cử Nhân Sư Phạm. Trường
Sư Phạm chuyên giảng dậy về chuyên môn
sư phạm nhưng dần dần kết hợp
với ba Trường Văn Khoa, Khoa Học và Chánh
Trị Kinh Doanh về nội dung chuyên ngành
giảng dậy.
Thực
tế có nhiều ban thuộc các Trường Văn
Khoa (Triết, Việt, Sử, Địa, Pháp, Anh) và
Khoa Học (Lư, Hóa). Bộ Giáo Dục chấp
nhận hợp thức hóa Trường Đại
Học Sư Phạm Đà Lạt và cho phép
cấp văn bằng Cử Nhân Sư Phạm theo
Nghị định số 2675/GD/PCHV/NĐ, kư ngày
24/12/1969. Trường
Đại Học Sư Phạm Đà Lạt
mở rộng hoạt động mở mang dân trí
cho cộng đồng dân tộc ít người, nên
BGD cho Phép Trường được mở khóa
huấn luyện cấp tốc cho 100 Giáo Sư Trung
Học Đệ Nhất Cấp sắc tộc
mỗi năm theo nghị định kư ngày
15/11/1972, mang số 2684/VHGDTN/NGV/NĐ.
Khóa huấn luyện cho
người dân tộc thiếu số được
thực hiện từ năm 1973-74 về sau.
Chương
XII : Trường
Văn Khoa
1.
Ban Điều Hành
Phân
khoa Văn Khoa, cũng như Sư Phạm, do LM
Viện trưởng nắm quyền điều hành
tổng quát trong giai đoạn đầu tiên
(1958-1965), có Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm
tham gia điều hành và giảng dậy đầu
tiên. Khóa đầu c̣n là hai năm dự bị
đại học. Về sau, Linh Mục Lê Văn Lư
làm Khoa Trưởng Trường Văn Khoa (1966-70)
rồi làm Phó Viện Trưởng.
Ở
những năm 1970-1975, khi LM Lê Văn Lư làm
Viện Trưởng có đề xuất Linh
Mục Lê Tôn Nghiêm, Tiến Sĩ Triết
Học, làm Khoa Trưởng, nhưng ngài từ
chối. LM Trần Thái Đỉnh, Tiến Sĩ
Triết Học ở Institut Catholique de Paris,
nhận làm Khoa Trưởng nhưng chỉ trên danh
nghĩa (1970-72).
Trong
thực tế, về sau GS Nguyễn Khắc Dương,
Cử Nhân Văn Chương (Sorbonne), được
đề bạt làm Phó Khoa Trưởng, nắm Quyền khoa trưởng
(1972-75), và tiếp sau có GS Nguyễn Hồng Giáp,
Tiến sĩ Lịch Sử Kinh tế, làm Phó Khoa
Trưởng (1973-75).
2.
Ban Giảng Huấn
Ban
Điều hành nói trên có sự cộng tác
trực tiếp của một số GS Phụ
Khảo như Nguyễn
Thanh Châu, Trịnh Nhất Định, Nguyễn Văn
Ḥa, Hoàng Thái Linh, Phạm Duy Lực, Nguyễn Trung
Thiếu, Trần Ngọc Cường, Phạm Văn
Hải, Lê Văn Khuê. Văn pḥng Trường Văn
Khoa có ông Phan Văn Thịnh làm thư kư hành chánh.
Hội
đồng Khoa của Trường Văn Khoa,
gồm những nhân viên giảng huấn chủ
chốt:
GS
Nguyễn Khắc Dương, Quyền Khoa Trưởng,
kiêm Trưởng Ban Triết
GS
Nguyễn Hồng Giáp, PKT
GS
Vũ Khắc Khoan, Trưởng Ban Việt Văn
LM
Nguyễn Ḥa Nhă, TB Sử Địa
GS
Lê Văn, TB Anh Văn
LM
J.Maïs, TB Pháp Văn
Càng
ngày càng cần có thêm nhiều giáo sư thỉnh
giảng tử Sàig̣n và nhiều nơi khác đến,
như LM Nguyễn Việt Anh, Tiến sĩ Văn
Chương Anh Đại Học Thụy Sĩ, LM
Hoàng Kim Đạt, Tiến Sĩ Văn Chương,
LM Vũ Đ́nh Trác, Bác Sĩ Triết học Đài
Loan, Lương Kim Định, Tiến Sĩ
Triết Học Paris, các GS Lê Hữu Mục, Vũ
Khắc Khoan, Nguyễn Thế Anh, Hoàng Khắc Thành,
Phạm Cao Dương học giả Cao Hữu Hoành,
Lê Thọ Xuân, Trần Trọng San,…
Theo
số lượng, Trường Văn Khoa mời
nhiều Giáo Sư thỉnh giảng đông đảo
thứ hai (gần 70 giáo sư, không kể nhân viên
giảng huấn cơ hữu) sau trường Chánh
Trị Kinh Doanh (gần 84 Giáo sư, không kể nhân
viên giảng huấn cơ hữu)
3.
T́nh h́nh các Ban Chuyên môn
Trường
Văn Khoa lần lượt có các Ban Triết
Học, Pháp văn (từ 1958-59),
Việt Văn (1962-63), Anh Văn (1965-66), Sử Địa
(1966-67). Từ niên khóa 1974-75, Ban Sử Địa
được tách thành hai ban Sử Học và
Địa Lư riêng biệt. Như thế toàn
thể các Ban thuộc Trường Văn Khoa nay
trở thành sáu ban.
4. Học
chế
Trước
kia, theo chế độ chứng chỉ, các sinh viên
muốn được văn bằng Cử Nhân,
phải trúng tuyển năm Dự Bị, đậu
thêm Bốn Chứng Chỉ trong bốn năm.
Từ
năm 1969-70, nhà trường chuyển sang hệ
thống niên chế. Từ đó sinh viên được
cấp văn bằng Cao Đẳng Văn Khoa,
nếu trúng tuyển Hai năm đầu tiên, và
được cấp Văn bằng Cử Nhân,
nếu đậu đủ bốn năm học.
Kể
từ năm 1972-73, nhà trường lại cải
tiến theo “hệ thống tín chỉ”. Từ niên
học 1974-75 sinh viên của tất cả các Ban
đều theo học cùng một chương tŕnh
cho Năm thứ I. Khi đậu xong năm đầu
tiên, sinh viên học theo từng tín chỉ. Chỉ
cần đủ số tín chỉ chuyên môn theo qui
định, sinh viên được cấp văn
bằng Cử Nhân Văn khoa
V́
nhu cầu phát triển, theo đề nghị
của Viện Đại Học Đà Lạt,
Bộ Giáo Dục cho phép Trường Đại
Học Văn Khoa thuộc Viện được
cấp thêm bằng cao học, theo nghị định
số 1144/GD/KHPC/HV/NĐ, kư ngày 8/6/1971. Như
thế, từ
năm 1971, nhà trường đă cấp một
số văn bằng Cao Học và dự trù năm
1975, phát triển lên cấp văn bằng Tiến
Sĩ.
5. Phương Pháp Giảng Dậy
Chủ
yếu phương pháp cổ truyền được
áp dụng là thuyết giảng trong lớp học.
Không có một phương pháp nào thống
nhất khác được áp dụng. Một vài
giáo sư có tiếp cận với phương pháp
điển cứu và hội học theo từng nhóm
và có nghiên cứu tập thể trên thực địa
nhưng c̣n hạn chế.
Nhà
Trường cũng xúc tiên việc lập Hội
Sử Học nhưng tất cả chỉ ở
giai đoạn thành h́nh ban đầu.
Biểu Đồ 11. Số liệu về Thành
Quả Trương Văn Khoa, 1959-73
|
Niên Khóa
|
Sinh viên
|
|
Cấp Cử Nhân
|
Cấp Cao Học
|
|
Ghi danh
|
Tốt nghiệp
|
Ghi danh
|
Tốt nghiệp
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
|
1959-60
|
41
|
0
|
|
|
|
1960-61
|
74
|
0
|
|
|
|
1961-62
|
158
|
3
|
|
|
|
1962-63
|
247
|
5
|
|
|
|
1963-64
|
271
|
6
|
|
|
|
1964-65
|
295
|
16
|
|
|
|
1965-66
|
405
|
10
|
|
|
|
1966-67
|
633
|
23
|
|
|
|
1967-68
|
952
|
36
|
|
|
|
1968-69
|
1074
|
67
|
1
|
|
|
1969-70
|
1277
|
57
|
6
|
|
|
1970-71
|
1091
|
68
|
17
|
|
|
1971-72
|
1003
|
24
|
04
|
03
|
|
1972-73
|
1379
|
43 (K.4/6/73)
|
10
|
00
|
|
Tổng Cộng
|
8800
|
363
|
38
|
03
|
|
Chú thích: 1/ Sinh viên Sư Phạm thưởng
học song hành với các khoa khác về
phần chuyên môn, nhưng niên khóa 1958-59 không có
sinh viên văn khoa. Chắc là v́ năm đầu
chỉ học phần chuyên biệt Sư
Phạm?
2/ Số 8838 sinh viên
ghi danh của hai cột (2)và (4) ở dây không
khớp với biểu đồ toàn viện (9870). Cộng lại trên máy là 8144. Như vậy cả hai con số
trên hai bảng thồng kê đều sai, vi
cộng nhầm. Chúng tôi chưa kiểm tra
lại các số liệu khác.
|
Vấn đề
điều hành Trường Văn Khoa
Theo
kư ức của GS Nguyễn Khắc Dương,
buổi đầu t́nh h́nh Trường Văn Khoa
diễn ra như kể trên. Nhưng rồi cả
hai vị có những lư do riêng, đều khước
từ, v́ thế GS Nguyễn Khắc Dương,
đă được đặt làm Trưởng
Ban Triết học, nay được chỉ định
làm Quyền Khoa Trưởng, dù chỉ có Văn
Bằng Cử Nhân.
Những
ḍng chữ này cho thấy nhận thức của
một Giáo Sư Triết Học, Quyền Khoa trưởng
của một người có trách nhiệm gây
dựng Trường Văn Khoa suốt một quá
tŕnh gần 10 năm trời. V́ muốn hoàn toàn
trung thực, xin quí vị độc giả
trực tiếp nghe tác giả tự sự.
Chắc chắn có nhiều nhận định khác
nhau về t́nh h́nh nhiều mặt của Trường
Văn Khoa VĐHĐL dưới quyền điều
hành của GS Quyền Khoa Trưởng Nguyễn
Khắc Dương qua đoạn bút kư này:
“Tôi
không phải là Linh mục hay tu sĩ ǵ cả, nhưng
tôi sống với cộng đoàn giáo ban tại
Đại Học cũng gần như một nhà
tu: chỉ lo chu toàn bổn phận chức
nghiệp dạy học. Tôi ít lưu tâm đến
vấn đề chính trị bên ngoài, trao đổi
với anh em đồng nghiệp cũng chỉ
ở mặt chuyên môn dạy học và văn hoá mà
thôi. Những năm đầu, Đại Học
Đà lạt cũng gần như chỉ là
chỗ tôi dung thân trong cuộc sống tạm
gọi là “lạc bước vào Nam” do sự
trật đường rầy trên con đường
t́m một dạng thức tu tŕ mà phải bị ném
ra giữa cuộc đời thế tục, chứ
ḷng tôi chẳng hề dính bén về mặt danh
lợi và t́nh duyên. Cuộc sống của tôi có
chăng như là một kư túc viên cao cấp:
chẳng sắm sửa ǵ chẳng có ư định
gây dựng ǵ cả. Ai giao việc ǵ th́ làm
việc ấy lương bổng đưa bao nhiêu
nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu.”
“Vả
lại, tôi cũng có một bảo đảm
về tương lai, v́ theo chương tŕnh
của Ban Quản trị Hội Đại Học
Đà Lạt, th́ thế nào khi tuổi già sức
yếu tôi cũng có một bảo đảm
về tương lai, có chỗ nương thân,
đó là chưa nói có cùng lắm th́ gửi thân
cho một tu viện, một giáo xứ nào đó cũng
là việc dễ.”
“Chúa
đưa đẩy ḿnh vào vị trí ấy có
phải là Ư Ngài muốn ḿnh làm một việc nào
đó chăng? Trưởng Ban Triết Học,
Quyền Khoa Trưởng Văn Khoa trong thực
chất có khác ǵ khoa trưởng thực thụ,
v́ giữ chức vụ ấy 3 năm của
một Viện Đại học Công giáo, th́ không
lẽ chỉ làm việc cá nhân, tài tử, phóng
khoáng quá mức như vậy được! Đành
rằng ngoài những lư do chủ quan đă tŕnh bày
trên, thái độ hơi tài tử của tôi cũng
có hơi phần nào do t́nh trạng khách quan
của Viện Đại Học Đà Lạt.”
Vấn
đề thi cử.
“Do đó thi cử tôi cho là phản triết
học, chỉ là chuyện vạn bất đắc
dĩ! Các đề thi của tôi thường
chỉ để thăm ḍ “chất triết” nơi
thí sinh, hơn là kiểu tra vốn liếng tích lũy,
nên tôi thường cho điểm khá rộng. Trái
lại, vào khẩu vấn, tôi mang tiếng là xoay
rất ác! Thực sự là v́ sinh viên đông,
trong niên học ít khi có dịp gặp từng người,
nhân dịp khẩu vấn, tôi hỏi cho đến
khi biết được mức cao nhất của
thí sinh, hầu hết cứ câu cuối là kẹt,
nên họ tưởng là sẽ rớt, nhưng
vẫn có lúc tôi cho đến 15, 16 trên 20. Tôi nhân
dịp khẩu vấn để t́m phát hiện tài
năng và tiếp tục góp phần bồi dưỡng
họ. Càng ngày tôi càng
được các vị trong Hội Đồng
Quản Lư Viện Đại Học tín nhiệm…
Sở dĩ tôi được giao cho giữ các
chức vụ (Trưởng Ban Triết Học Và
Quyền Khoa Trưởng Khoa Văn) ấy, mặc
dù về bằng cấp tôi chỉ có cái Cử Nhân
- là v́ một mặt tôi sống gần như các
tu sĩ, tiếp cận các linh [trang
151] mục và tu sĩ; một mặt tôi chỉ
là giáo dân, dễ tiếp cận với các giáo sư
bên ngoài; cũng có phần v́ tôi được cái
tính ôn ḥa, vui vẻ dễ tạo được
sự hài ḥa giữa đời sống bạn
hữu, thầy tṛ, trên dưới; dễ dàng
xếp những vụ đối kháng căng
thẳng nội bộ. Do đó trong nội bộ
Viện Đại Học Đà Lạt, cũng như
trong sự tiếp xúc với các tổ chức khác,
như các viện Đại Học Huế, Sài G̣n,
với các ḍng, các Đại Chủng Viện có
gởi tu sĩ và chủng sinh đến học, tôi
thường có sự tới lui giao tiếp hài ḥa,
đôi lúc đóng vai tṛ trung gian. Tuy học vị
của tôi chẳng có là bao, nhưng dần dần
có một vị trí nào đó trong giới Đại
Học.”
Phương
pháp giảng huấn ở Trường Văn Khoa:
một thí dụ
Thiết
tưởng, do tính chất của môn học, Trường
Văn Khoa có tinh thần khá phóng khoáng. Dường
như không có bất cứ một sự thảo
luận và thống nhất nào về phương
pháp tổng quát được áp dụng cho các giáo
sư ở Trường Văn Khoa. Hầu như tính
thống nhất lớn nhất là mỗi người
được quyền áp dụng phương pháp
giảng dậy nào mà ḿnh thấy là thích hợp.
Phương pháp điển cứu, tham quan, hội
học nhóm,
chương tŕnh “bảo huynh”, sinh hoạt
thực địa , … có thể là những cách
thức học kết hợp với hành có thể
vận dụng trong chừng mực thích hợp cho
một số bộ môn, như Sử Địa,
thậm chí sinh ngữ, … trong Trường Văn
Khoa.
Một
giáo sư chẳng hạn được mời
phụ trách về bộ môn lịch sử Việt
Nam Cổ Đại, th́ chỉ cần chú tâm
soạn bài giảng trong thế kỷ được
qui định là từ thế kỷ thứ
mấy đến thế kỷ thứ mấy. Không
có bắt buộc phải có bất cứ một
giáo tŕnh nào, và một điều kiện qui định
nào. Về các bộ môn khác, quyền quyết
định của từng giáo sư trong mỗi ban
và bộ môn là chính yếu. Trường hợp
của GS Nguyễn Khắc Dương là một
điển h́nh:
“Tôi
dạy học tương đối có kết
quả, dần dần được các đồng
nghiệp chấp nhận như là đủ tŕnh
độ, và được mời đi dạy
một số giờ tại Đại Học Sài g̣n
và Đại Học Huế. Tôi dạy học tương
đối có kết quả, tuy là tận tâm, nhưng
hơi [trang 150] “tài
tử”. Tự xem ḿnh như là một phụ
khảo, một trưởng tràng giúp đỡ anh
em sinh viên, chứ không tự coi như là một giáo
sư, bởi v́ về học vị tôi mới
chỉ có bằng Cử Nhân mà thôi. Đó là lư do
khiến tôi không có giáo tŕnh hay cho in sách vở báo
chí ǵ cả. Bài giảng cho sinh viên, có ai ghi chép
lại mà muốn nhân lên phục vụ anh em cùng
lớp, tôi chỉ sửa chữa vài chỗ,
rồi tùy ư họ làm ǵ th́ làm.
Giữa
hàng ngũ sinh viên, tôi như một người
anh cả hơn là một vị giáo sư, do đó
tương quan rất gần gũi, thân mật
rất đậm t́nh người. Sinh viên vào pḥng
tôi trọ đêm, hay là ngược lại, tôi
ngủ tại pḥng trọ của họ là thường.
Ngoài giờ học thày tṛ quây quần quanh quán
phở, cà phê cũng là thường, không tổ
chức thường xuyên, nhưng tôi cố
gắng thực hiện cái cung cách của con người
cùng với anh em trẻ đi t́m Chân Lư, như tôi
học được nơi các thày ở Sorbonne,
chứ giáo tŕnh của tôi th́ cũng xoàng thôi. Tôi
có quan niệm rằng: không có ai dạy triết
cho ai, không có ai học triết với ai được
cả! Chỉ là kẻ trước người sau
trên đường đi t́m triết lư cho ḿnh, do
ḿnh; gặp nhau th́ giúp đỡ nhau, khuyến khích
nhau, nâng đỡ trao đổi kinh nghiệm
với nhau mà thôi”.
Nhận
thức về trách nhiệm.
“Mặc dầu vậy, nay xét kỹ lại, tôi
vẫn thấy tôi không thực sự xem đó như
là sứ mạng thực sự của ḿnh, tuy
vẫn làm việc hết ḿnh, soạn bài kỹ,
giảng dậy tận tâm, trên giao cho việc ǵ,
ai cần giúp đỡ ǵ, bất cứ mặt nào,
từ việc xin hoăn dịch, cho sinh viên mượn
tiền ghi danh, cho đến việc tiếp xúc
với chính quyền và giáo quyền, tôi đều
làm hết sức lực ḿnh để giúp đỡ
và phục vụ; nhưng chiều sâu tâm hồn th́
vẫn thấy lạc lơng. Sự tận tâm
vẫn có đối với từng việc
đưa đến chứ không tự ḿnh
vạch ra một ư đồ, một chương
tŕnh kế hoạch nào với tư cách như
đó là sự nghiệp đời ḿnh hướng
về một mục đích rơ rệt. Do đó, tôi
không để lại một công tŕnh nào cả!
Chăm
chú từng việc một, có thể nói là gặp
ǵ làm nấy, làm hết ḿnh, nhưng xong việc là
thôi, rồi sang việc khác, như kẻ phục
dịch bảo ǵ làm nấy, chứ không có thái
độ tự ḿnh làm việc do ḿnh vạch ra
theo một dự kiến duy nhất liên tục nào
cả. Tận tụy nhưng tài tử, cần
mẫn nhưng lung tung lang tang; lại c̣n cái
việc hay lê lết vỉa hè, các quán cà phê,
gặp ai cũng chuyện tṛ, cũng ăn cũng
uống, cũng ngủ nghỉ, cả ở bến
xe, nhà bếp, khách sạn! lân la với đủ
hạng người, kể cả cao bồi, hành
khất và gái giang hồ, bất chấp mọi quy
định thói thường của xă hội.”
“Một vài bạn tri kỷ, tuy không hề
nghe tôi tâm sự, cũng thấy ở nơi tôi có
một cách ǵ u hoài thao thức. Có một cậu
sinh viên, sau khi rời Đà Lạt, viết cho lá
thư có câu: “Những
lúc thầy giảng dạy hay tṛ chuyện th́ vui
vẻ, nhưng những lúc thấy thầy lủi
thủi đi một ḿnh, em thấy tâm tư
thầy mang nặng một nỗi u buồn thầm
kín, nhưng h́nh như sâu thẳm lắm, em
vừa thương vừa như kính sợ không dám
lại quấy rối”. Quả cậu sinh viên
ấy có cặp mắt tinh đời.”
Nhận
định tổng quát về Trường Văn
Khoa
V́
người viết tuy giảng dậy chính yếu
trong Ban Sử Học Trường Văn Khoa, nhưng
có một thời gian đảm nhiệm giảng
dậy bộ môn “Văn Minh Việt Nam” bên Trường
Chính Trị Kinh Doanh, nên theo thiển ư, th́ thực
tế điều hành và tổ chức của Trường
Chính Trị Kinh Doanh có thể đáng là một
kiểu mẫu để các khoa khác quan tâm nghiên
cứu phát triển và áp dụng thích ứng trong
phân khoa của ḿnh hay các tổ chức thuộc
viện
Theo
phán đoán của người viết, dù giàu
cảm tính nhân bản như một nhà tu hành, khi
có trách nhiệm điều hành chính thức
một phân khoa đại học như thế, nhân
bản với mọi thành phần xă hội,
một khoa trưởng cần có những đức
tính của một nhà lănh đạo. Ngoài uy tín
chuyên môn và giao tế hài ḥa, vị đó nên có
nhận thức hành chánh tối thiểu, biết hướng
dẫn tổ chức hệ thống văn pḥng hành
chánh, t́m kiếm, thuyết phục, qui tụ và
đào tạo người cộng sự, Vị
đó cần sắp đặt một nếp sinh
hoạt qui củ, một chương tŕnh học
vấn và thi cử cho tất cả giáo sư và
sinh viên thuộc các ban ở trong khoa, một cách
nghiêm chỉnh. Ư chí muốn làm việc hết ḿnh
là một khởi điểm cần thiết, nhưng
c̣n cần biết ư chí đó với việc điều
hành cụ thể diễn tiến có hiệu
quả thế nào làm thay đổi bộ mặt
Trường Văn Khoa về các phương
diện giảng huấn, hành chánh, thi cử và
tuyển chọn sinh viên từng năm.
Đối
với nhân viên giảng huấn, th́ Khoa Trưởng
nên nghiêm chỉnh yêu cầu mỗi người nên
soạn thảo một giáo tŕnh cơ bản định
hướng học tập cho sinh viên. Dựa trên
giáo tŕnh đó, sinh viên có thể phát huy các sáng
kiến, nghiên cứu mở rộng nhận
thức bằng cách đọc các tài liệu sách
báo chuyên môn, trao đổi khoa học về
vấn đề học tập và có thêm tầm nh́n
mới. Chính những vị có trách nhiệm điều
hành khoa, nếu nhận dậy học, cũng
cần biên soạn một giáo tŕnh để làm
chỉ nam cơ bản cho học tập của sinh
viên.
Một
nỗ lực cải tiến.
“Dần dần mảng văn hóa tinh thần và
Ban Triết Học mỗi ngày mỗi tiến lên và
trong quăng năm 1970-71, th́ tương đối có
vị trí đúng chức năng của nó.
Nhất là có một tu sĩ và linh mục ḍng có
học vị cao, chịu chấp nhận lên cư
trú thường xuyên, đứng vào bộ khung chính
thức của nhà trường (lúc đó các giáo
sư chỉ lên dạy với tư cách là
thỉnh giảng. Như vậy việc xây dựng
những người t́nh nguyện làm việc
với tư cách thường trú, cơ hữu
của Viện, nhất là đối với trường
Văn Khoa là một nhu cầu thiết thực. Trường
Văn Khoa chủ yếu là ban triết mới đi
tới chỗ t́m vạch ra một hướng
hoạt động đặc thù [trang
157] hợp với
chức năng của một Viện Đại
Học Công giáo, chứ không phải là cái đuôi
“dập dèo” cho khoa CTKD, và đón nhận các sinh
viên từ nhiều địa phương, hoặc
muốn “du học” xa nhà cho thoải mái, hoặc
bị kẹt về mặt nào đó (hoăn dịch,
lư do khác như chính trị).
Đồng
thời, sau khi Đại Học Đà lạt đào
tạo một số sinh viên tốt nghiệp
Cử Nhân Văn Khoa có tư cách, có khả năng
(trong đó một số thuộc Đại
Chủng Viện và nhất là Giáo Hoàng Học
Viện Thánh Piô X), có ḷng hăng say học hỏi
nghiên cứu, dần dần cái ư thức tạo nên
một đường hướng tư tưởng
nào đó, một đường lối phục
vụ văn hóa tinh thần nào đó, đúng
với chức năng của một cơ quan văn
hóa của Giáo Hội - được đặt
ra.
Giáo
sư Quyền Khoa Trưởng Trường Văn
Khoa, cùng với một số linh mục thường
trú tại Viện, hợp tác với một số
chủng sinh có tŕnh độ, một số giáo sư,
phụ khảo do chính Trường Đại
Học Văn Khoa Đà Lạt đào tạo ra,
đi đến chỗ phác họa một chương
tŕnh làm việc, với sự cộng tác của
ban giáo sư Giáo Hoàng Học Viện và Đại
Chủng Viện Đà Lạt.
Một
lần nữa người viết nhận thấy
xu hướng tổ chức và ư thức cùng cách
làm việc để đào tạo con người
đă diễn ra quá chậm, mặc dù nhân số cùng
cộng tác với giáo sư không phải là ít.
Chương
XIII : Trường
Khoa Học
1.
Ban Điều Hành
Các
vị sau đây đă tham gia điều hành,
với tư cách là Khoa Trưởng Trường
Khoa học:
Giáo
sư Từ Ngọc Tỉnh, Tiến Sĩ Toán
học (1959-65),
GS
Vũ Xuân Bằng, Tiến sĩ Vật lư Đệ
Tam Cấp (1965-68),
LM
Hoàng Quốc Trương, Tiến sĩ Sinh Vật
Học (1968-72),
Sau
cùng, mới nhất là LM Nguyễn Văn Đời,
Tiến Sĩ Khoa Học, có LM Nguyễn Hữu
Toản, M.S. in Math,
làm Phó Khoa Trưởng (1972-75).
Sinh
hoạt trong trường Khoa Học chỉ diễn
ra một cách âm thầm không xúc tiến những sáng
tạo phát minh có giá trị hay thực hiện
những công tŕnh khởi sắc độc đáo
hợp tác với cơ quan hay trường khoa
học nào khác, trong hay ngoài nước, cho vùng Cao
Nguyên
Trường
Khoa Học có một số nhân viên cơ hữu,
thường là các giáo sư giảng nghiệm trưởng
Nguyễn Bào và Phan Nam, các GS giảng nghiệm viên,
như Nguyễn thị Quảng Hoa, Trịnh Thị
Toàn Hạnh, Lê Ngọc Minh, Nguyễn Thị Phú,
với ông Nguyễn Văn Đẩu làm Thư Kư
văn pḥng.
Đặc
biệt Ban Điều hành chỉ định hai GS
giảng nghiệm trưởng Nguyễn Bào và Phan
Nam sắp xếp các chương tŕnh giảng
dậy, nghiên cứu những vấn đề
học vụ phân khoa, hướng dẫn các
thắc mắc về học vu, chọn ban học và
những vấn đề cá nhân.
Hội
đồng khoa làm việc, ngoài hai vị Linh
Mục Chánh, Phó Khoa Trưởng, c̣n có LM Hoàng
Quốc Trương, Trưởng Ban Động
Vật, GS Chu Phạm Ngọc Sơn, GS Cao Xuân Chuân,
TB Vật Lư, GS Lê Công Kiệt, TB Thực Vật,
với l giảng nghiệm viên được đề
cử và 1 đại diện sinh viên khoa học do
Ban Đại Diện đề cử. Thành
phần đại diện này dường như
hợp t́nh và hợp lư nhất, v́ gồm đủ
những bộ phận liên hệ tham gia.
Phần
khá đông là các giáo sư được mời
từ Sàig̣n lên, như Chu Phạm Ngọc Sơn,
Cao Xuân Chuân, Dược sĩ Bùi Thị Tiếng,
Ph.D in Chemistry, …Số giáo sư thỉnh giảng
từ Sài g̣n lên có tới khoảng 48 người.
2.
T́nh H́nh Phát Triển
Trường
Khoa học bắt đầu ra đời theo
học chế Chứng Chỉ, có 37 sinh viên theo ngành
MGP, niên khóa 1959-60. Trường chỉ chuyển
sang Hệ thống Tín Chỉ vào năm học
1973-74. Các chỉ dẫn về chế độ tín
chỉ theo học tŕnh mới khá rơ ràng và tỉ
mỉ, giúp độc giả sinh viên nắm
được những ǵ phải học và
những ǵ đă học trong tiến tŕnh tương
đương chuyển từ hệ thống cũ
sang hệ thống mới. Số sinh viên ghi danh có
khoảng 800 người. Họ theo học ở các
giảng đường Minh Thành, Tri Nhất và
Đạt Nhân. Trường Khoa Học trang bị
và quản lư sáu Pḥng Thí nghiệm và một
số máy móc về Địa Chất, Động
Vật, Thực Vật, Sinh Học, Vật Lư và Hóa
Học.
Trường
nhằm mục đích đào tạo các Chuyên gia
khoa học, làm việc hoặc trong các pḥng thí
nghiệm hay giảng dậy khoa học trong các trường
Trung Học, và có dự tính tham gia nghiên cứu
khoa học thực địa mở rộng trong vùng
Cao nguyên, gắn bó nghiên cứu khoa học với
môi trường thiên nhiên và xă hội.
Từ
khi thành lập cho đến 1975, nhà trường
vẫn chỉ duy tŕ cấp Cử Nhân Khoa Học
về các ban Vật Lư, Hóa Học và Vạn
Vật.
Biểu
Đồ 12. Thành Quả Trường Khoa Học,
Niên Khóa 1958-73
Cấp
Cử Nhân
|
Niên
Khóa
|
Sinh
viên khoa học
|
|
Chứng Chỉ
|
Ghi danh
|
Tốt nghiệp
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
|
1959-60
|
1
|
37
|
|
|
1960-61
|
2
|
79
|
|
|
1961-62
|
3
|
91
|
|
|
1962-63
|
4
|
72
|
|
|
1963-64
|
3
|
61
|
|
|
1964-65
|
3
|
94
|
|
|
1965-66
|
4
|
112
|
|
|
1966-67
|
5
|
149
|
|
|
1967-68
|
8
|
253
|
|
|
1968-69
|
10
|
400
|
|
|
1969-70
|
10
|
434
|
|
|
1970-71
|
15
|
685
|
20
|
|
1971-72
|
18
|
751
|
19
|
|
1972-73
|
19
|
767
|
07 (K.4/6/1973)
|
|
Tổng Cộng
|
105
|
3985
|
46
|
|
Chú thích: Trường Khoa học là trường
có sĩ số sinh viên tốt nghiệp
thật khiêm tốn, và âm thầm
|
Chương XIV : Trường
Chánh Trị Kinh Doanh
Ban
Điều Hành
Người
có sáng kiến tổ chức qui tụ người
sáng lập ra Trường Chánh Trị Kinh Doanh
phải kể đầu tiên là LM Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập. Nhưng người đóng
góp nhiều công sức tiên phong thực hiện
dự án xây dựng Trường Chánh Trị Kinh
Doanh là GS Trần Long (MA in Ecomomics & Public Finance).
Ông là người nắm giữ chức vụ khoa
Trưởng đầu tiên từ 1964 đến
1970. Nghị định số 1000/GDTN/PCHV/NĐ ngày
13/5/1969 của Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh
Niên ấn định việc tổ chức
giảng dậy và lề lối thi cử của
bậc Cử Nhân Trường CTKD đă hợp
thức Lớp Cử Nhân CTKD đầu tiên về
sau.
Niên học 1967-68, khi Lớp Cử Nhân KD1
tốt nghiệp sau năm thứ tư, th́ có nhu
cầu mở Ban Cao Học Hai Năm nữa. V́
thế GS Nguyễn Cao Hách, Thạc Sĩ Khoa Học
Kinh Tế được cử nhiệm làm Khoa Trưởng
Ban Cao học CTKD, điều hành cơ sở CTKD
ở Sàig̣n từ năm 1969-72. Nghị Định
số 2189/GDTN/PC/NĐ kư ngày 27/12/1968, ấn định
qui chế Cao Học Hai Năm cho Trường CTKD.
GS Phó Bá Long, (MBA Harvard, 1956) năm 1971 làm Khoa
Trưởng kế vị GS Trần Long tạị
Đà Lạt, và kiêm Khoa Trưởng Ban Cao Học
CTKD tại Sàig̣n sau năm1972.
GS
Ngô Đ́nh Long, MS in Electrical Engineering, làm Phó Khoa Trưởng
(1964-1973).
Khi
GS Ngô Đ́nh Long được cử nhiệm Giám
Đốc Sinh Viên Vụ, th́ GS Tạ Tất
Thắng làm Phó Khoa Trưởng CTKD (1973-1975) thay
thế.
Ban
Cao Học của Trường Chánh Trị Kinh Doanh
tại Sàig̣n.
Khi
Khóa 1 của Trường CTKD sắp tốt
nghiệp sau năm Sưu Khảo, trường CTKD
tiên liệu các bước chuẩn bị thu
nạp các sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân CTKD và
nhiều thành phần tốt nghiệp đại
học khác đang hoạt động tại Sàig̣n
và vùng chung quanh.
Ngày
11/12/1967 Trường CTKD xúc tiến mở Ban Báo Chí
tại ngay trụ sở cơ quan Việt Tấn Xă
ở số 118 đường Hồng Thập
Tự Sàig̣n. Nhờ thế sinh viên tốt
nghiệp khóa 1 CTKD được chuẩn bị
để sẵn sàng ghi danh vào Ban Cao Học khi
đó ở lầu 2 trường Taberd và lầu 2
toà nhà Thư Quán Xuân Thu trên
đường Tự Do Sàig̣n. Lớp Cao Học
CTKD được khai giảng ngày 11/1/1969. Đến
cuối năm học 1972-73, cơ sở này mới
di chuyển sang lầu 2 Thương xá Tax cho đến
ngày 30/4/1975
Biểu
Đồ 13. Tổ Chức Ban Điều Hành Trường
CTKD
Ban
Điều Hành
|
|
|
|
Khoa Trưởng
|
|
|
|
|
|
Phó Khoa Trưởng
|
|
|
|
|
|
G.S.Phụ Trách
|
|
|
|
Cấp
Cử Nhân
|
Nhập Môn
|
Khái Luận
|
Nhiệm Ư
|
Sưu Khảo
|
|
CTXH
|
QTKD
|
CTXH
|
QTKD
|
CTXH
|
QTKD
|
CTXH
|
QTKD
|
|
Cấp Cao
Học
|
Cao Học 1
|
|
Cao Học 2
|
|
|
CTXH
|
QTKD
|
CTXH
|
QTKD
|
|
Chú Thích: Giáo Sư
Phụ Trách là những “Giáo Sư Cơ
Hữu “ do Trường
tuyển dụn, và được đặt dưới
sự điều động của Phó Khoa Trưởng,
lo điều hành học vụ cho năm liên
hệ.
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
Chuẩn
Bị Thành Lập.
Trường
Chánh Trị Kinh Doanh, vào giai đoạn cuối cùng
1971-1975, do GS Phó Bá Long, MBA, làm Khoa Trưởng. Trường
CTKD là một sáng kiến đặc biệt có
dự tính cẩn thận từ lâu cho dù có
nhiều thứ khó khăn. LM Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập đă thảo luận
kế hoạch chặt chẽ và phân công trách
nhiệm với nhiều chuyên gia quản trị và
kinh doanh du học một phần từ Hoa Kỳ,
một phần từ Pháp. Các giáo sư như
Trần Long, GS Phó Bá Long,
và sau này GS Ngô Đ́nh Long đóng một vai tṛ
cốt cán trong việc xây dụng củng cố Trường
CTKD. GS Lê Hữu Mục trong bài tưởng
niệm LM Nguyễn Văn Lập có nói đến
sự kiện “tam long tề phi”
này, một cách dí dơm nhưng đầy ư nghĩa
với tâm t́nh cảm phục…. Trường CTKD
bắt đầu nhận sinh viên từ niên khóa
1964-1965. Trường Chánh Trị Kinh Doanh (CTKD) là một phân
khoa đại học độc đáo đầu
tiên mở ra con đường nghề nghiệp
trong lănh vực chánh trị và kinh doanh cho thanh niên
nam nữ Việt Nam. Trường CTKD cũng là
một định chế giáo dục cao cấp
đầu tiên ở Việt Nam áp dụng phương
pháp điển cứu và nhóm khảo luận.
Thành phần ban đầu xây dựng Trường
CTKD
Những
cuộc gặp gỡ thảo luận tại Sài g̣n.
Các
giáo sư theo thư mời của LM Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập đến họp mặt
tại căn nhà riêng của GS Bùi Xuân Bào ở
chung cư Hồng Thập Tự. Cuộc họp
diễn ra trong khoảng vài giờ gồm có các ông
Bùi Xuân Bào, đại diện LM Viện Trưởng,
và các ông Trần Long, Phó Bá Long, và Vũ Quốc
Thúc.
Ông
Trần Long có một vai tṛ đặc biệt
với LM Nguyễn Văn Lập. Ông đă biết
ông Bùi Xuân Bào từ 1950 khi hai ông c̣n là sinh viên
tại Paris, và sau đó Ông Bào tốt nghiệp
Cử Nhân Văn Chương Đại Học
Sorbonne. Ông Trần Long đi du học tại
Mỹ, quen biết sinh viên Phó Bá Long trong
một cuộc họp mặt hè ba ngày năm 1964
tại Chicago của Hội Sinh Viên Công Giáo
Việt Nam tại Bắc Mỹ. Hai sinh viên tiếp
tục thay nhau làm Chủ Tịch Hội này.
Sau một thời gian, Phó Bá Long
về nước và năm 1964 đang làm một
trong các Giám Đốc của Hăng Esso Standard Eastern
ở Sàig̣n. Như thế phải chăng sinh viên
Phó Bá Long đă đỗ xong Cao Học QTKD và
trở về nước đi làm th́ không có
thời giờ để làm Chủ Tịch Hội
Sinh viên Công Giáo năm 1964 kế tiếp sinh viên
Trần Long (?).
GS Ngô Đ́nh Long làm Giám Đốc
Nguyên tử lực cuộc Đà Lạt được
mời cộng tác
Ông
Trần Long quen biết ông Vũ Quốc Thúc
từ năm 1956, khi ông này làm Thống Đốc
Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Ở vai tṛ chủ
biên Tuần San Times of Vietnam, ông Trần Long đến
phỏng vấn ông Vũ Quốc Thúc để
viết bài tường tŕnh về Ngân Hàng. Từ
đó họ trở nên bạn hữu. Vào năm
1964, th́ Ông Vũ quốc Thúc đảm nhiệm
chức vụ Giáo Sư Khoa Trưởng Trường
Đại Học Luật Khoa Sàig̣n.
Điều
kiện khả
thi của việc mở Trường CTKD
Nội
dung cuộc họp thảo luận về điều
kiện khả thi của phân khoa Chánh trị, Kinh
tế và Kinh doanh cho VĐHĐL ở cách Sàig̣n ba
trăm cây số.
Giấy
chấp thuận cho mở Trường của
Bộ Quốc Gia Giáo dục.
1.
Bối cảnh xă hội.
T́nh h́nh chính trị không thuận lợi cho
việc mở trường, v́ Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm là một tín đồ Công giáo,
vừa bị sát hại ngày 2/11/1963 tại Sàig̣n,
trong lúc đang có cao trào thống nhất Phật
Giáo, mà GS Bùi Tường Huân là một thành viên
của phong trào, đang làm Bộ Trưởng Giáo
Dục. Tướng Nguyễn Khánh, một thành viên
khác của phong trào, vừa lật đổ Tam
đầu chế Minh-Kim-Đôn tháng 1/1964, nhưng
lập tức chính quyền Nguyễn Khánh gặp
phải nhiều áp lực, nhất là sinh viên
xuống đường đ̣i hỏi một chính
phủ dân sự và quyền tự do đối
lập.
Sau
một thời gian sôi bỏng có nhiều khác
biệt không thể giải quyết ổn
thỏa, Phó Thủ Tướng Nguyễn Tôn Hoàn,
Phụ Trách B́nh Định, rút khỏi chính
phủ Nguyễn Khánh vào tháng 5 năm 1964. Đa
số các đảng viên Đại Việt cũng
ra khỏi chính quyền theo ông. Lúc đó Ông
Trần Long đang là một sĩ quan trừ
bị cấp thấp được biệt phái làm
việc tại Văn pḥng Phó Thủ Tướng,
cũng rút lui. Ông được biệt phái sang
Bộ Giáo Dục, rồi được đặc
phái tiếp sang Viện Đại Học Công Giáo
Đà Lạt với công tác thành lập phân khoa
mới. Tướng Nguyễn Khánh bị lật
đổ tháng 8 năm 1964 do nhóm chính trị dân
sự do BS Phan Quang Đán cầm đầu. Bộ
Trưởng Bộ Giáo Dục mới là BS
Nguyễn Tiến Hỷ, không thuộc phong trào
thống nhất Phật Giáo.
2.
Lư do chiến thuật. Những người
tham dự cuộc họp đồng ḷng đưa
ra một chiến thuật là LM Viện Trưởng
cần tŕnh bày việc mở Phân Khoa mới như
thế nào để có thể thuyết phục chính
quyền của Bộ Giáo Dục coi đó như
một giải pháp giảm bớt áp lực gây xáo
trộn của sinh viên, nhất là tại Sàig̣n. Như
thế, muốn phân tán, lôi kéo sinh viên là giải
pháp thành lập một trường mới trên vùng
Cao nguyên Lâm Viên. Vùng này cách xa Sài g̣n ba trăm cây
số, lại có điều kiện khí hậu
tốt cho học vấn và du lịch, có thể
khiến sinh viên khỏi tập trung quá đông
đảo tại Sàig̣n và nhiều nơi thị
tứ khác như ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn
và Nha Trang. Đây không phải là cách đánh
“hổ ly sơn”, mà chiến thuật “thượng
sơn lâm”. Cách lập luận ấy đă
thực sự chinh phục được Bộ Trưởng
Huân.
Vấn đề tên gọi Phân
Khoa
1.
Tên nói lên nhận thức. Theo đề
nghị của ông Bùi Xuân Bào, bạn thân của
LM Nguyễn Văn Lập, đồng thời là
đại diện của LM Viện Trưởng
trong phiên họp, LM Nguyễn Văn Lập đề
nghị chọn tên Phân Khoa mới này là Phân Khoa Khoa
Học Chính Trị và Quản Lư Doanh Nghiệp
(Faculty of Political Science and Enterprise Administration). Nhưng
Ông Vũ Quốc Thúc có ư kiến đặt tên là
Phân Khoa Chính Trị, Kinh Tế và Quản Trị
Kinh Doanh (Faculty of Politics, Economics and Business
Management). ÔngTrần Long đề xuất là Trường
Chính Trị Kinh Doanh (School of Government and Business).
Cách
đặt tên trường mới cho thấy
ảnh hưởng về quan niệm, tổ
chức, kinh nghiệm học vấn và đào
tạo của hai xu hướng trong môi trường
văn hóa Pháp và Mỹ. Nhưng chính các học
giả có xu hướng Pháp là Bào và Thúc cũng
đồng ư là nhà trường nên có chút hương
vị Mỹ. Điều này cho thấy sau việc
lật đổ chế độ cũ, ảnh hưởng
chính trị của Hoa Kỳ bắt đầu tác
động mạnh mẽ lên xă hội Việt Nam.
Xu hướng này cũng lan rộng sang nhiều lănh
vực khác nhau, không chỉ là văn hóa giáo
dục, …măi về sau.
2.
Dự Án học tŕnh. Xác định tên trường
xong, Ông Trần Long và Ông Phó Bá Long
được phân công soạn thảo học tŕnh
cho bốn năm đại học để
thảo luận và xác định dự án phân khoa
trong hồ sơ xin phép mở trường. Thế
là hai người trong nhóm chuẩn bị làm
việc tất bật qua kinh nghiệm học
tập của bản thân và một số tài
liệu tập san của nhiều trường
đại học Hoa Kỳ để xây dựng
bộ khung học tŕnh với các môn học,
nhất là hai năm đầu của Chương
Tŕnh Cử Nhân.
Sau
một tuần làm việc và thảo luận thêm,
với một số thay đổi, dự án
thiết lập trường mới được
đúc kết hoàn chỉnh hơn và sau đó
được tŕnh lên Bộ Trưởng Giáo
Dục Huân ở Sàig̣n. Bộ Trưởng
chấp thuận cho phép Viện ĐạI Học
Đà Lạt được mở thêm phân khoa
mớI, nhưng lại đổi tên là Trường
Chính Trị Kinh Tế và Quản Lư Xí Nhiệp,
(Faculty of Economics and Business Administration), theo nghị
định của BGD số 1433/GD/PC/NĐ, kư ngày
13/8/1964.
Dường
như cách đặt tên này lại cho thấy rơ
xu hướng là Bộ Trưởng Huân e dè
ngại ngùng những chữ đụng chạm
tới chính trị, một ấn tượng
mạnh mẽ do hoàn cảnh thời sự.
Đến
thời BS Nguyễn Tiến Hỷ làm Bộ Trường
Giáo Dục mấy tháng sau, th́ một sắc
lệnh đổi tên Trường Chánh Trị Kinh
Tế và Quản Lư Xí Nghiệp thành Trường
Chánh Trị Kinh Doanh
từ đó. Nghi định được Bộ
giáo dục cho cải danh mang số 72/GD/HV/NĐ kư
ngày 18/1/1965.
Học
tŕnh thực tế
Học
tŕnh CTKD gồm bốn năm, mỗi năm có hai
học kỳ, 18 tuần lễ/học kỳ, trung b́nh
khoảng 15 giờ/tuần, tổng cộng 540
giờ học tại lớp/năm. Ngoài các môn Anh
Ngữ Căn Bản, Anh Ngữ Đàm Thoại, và
Anh Ngữ Chuyên Khoa do các giảng viên Anh Mỹ
đảm trách trực tiếp, tất cả môn
học được dạy bằng tiếng
Việt. GS Phó Bá Long đă
hùng hồn ghi lại :
“Tôi
diễn giảng bài đầu tiên về Dẫn
Nhập Vào Quản Trị Học trong giảng
đường Spellman. Giảng đường tràn
ngập những người. Tôi thấy thật
phấn khởi trước những khuôn mặt
thanh niên nam nữ ham hở học hỏi. Xử
dụng các kỹ thuật học được
trong nhiều kinh nghiệm giáo dục khác nhau
của tôi, tôi đă có cách tiếp cận không
theo bài bản giảng dậy cổ truyền cho người
Việt Nam. Tôi phân phối các tư liệu giáo tŕnh
cho sinh viên để họ đọc trước
khi nghe giảng bài lần sau. Tôi chỉ định
dự án nghiên cứu và triển khai cho các nhóm
nghiên cứu thảo luận ngay trong lớp
học. Tôi khuyến khích sinh viên nỗ lực
học hỏi trong tinh thần phát triển tri
thức mà không nhất thiết chỉ học
để có được điểm tốt. Tôi
giới thiệu phương pháp phân tích điển
cứu. Phương pháp này đ̣i hỏi phải
sưu tầm, thảo luận, trao đổi ư
kiến và nhất là thái độ ứng xử xă
hội. Khi đó phương pháp tiếp cận
ấy là hoàn toàn mới mẻ đối với các
thanh niên này. Họ thường có thói quen thụ
động nghe giảng bài, ghi chú, rồi nhớ
kỹ để lo thi cử, mà không trao đổi
qua lại với giáo sư và sinh viên. Muốn
khuyến khích sinh viên tham gia lớp học hơn
nữa, có khi tôi lẻn đến chỗ một vài
nữ sinh viên trông c̣n nhút nhát, đặt
những câu hỏi trước tôi sẽ hỏi
trong lớp sau. Khi có người trong các sinh viên
hay bép xép mà không trả lời kịp, tôi có
thể chỉ đến một “tay đă mớm
trước” đưa ra câu trả lời
khiến mọi người ngạc nhiên.”
Cuối
năm thứ hai (Khái Luận), sinh viên phải
chọn một trong năm ban chuyên nghiệp để
tiếp tục học trong hai năm sắp tới.
Các ban chuyên nghiệp gồm có: Bang Giao Quốc
Tế, Báo Chí, Quản Trị Kỹ Nghệ,
Quản Trị Kinh Doanh, Ngân Hàng và Tài Chánh. Trước
khi chấm dứt năm thứ tư (Sưu
Khảo), sinh viên phải nộp một khảo
luận cá nhân và một phúc tŕnh tập thể
về đề tài ngành chuyên môn đă chọn. VĐHĐL
cấp phát Văn Bằng Cử Nhân Chánh Trị
Kinh Doanh, tương tự như bằng Bachelor of
Arts của đại học Mỹ, cho những sinh
viên nào đậu tất cả các kỳ thi
cuối năm và hoàn tất các yêu cầu khác.
Khi
Giáo Sư Phó Bá Long thay thế Giáo Sư Trần
Long trong nhiệm vụ Khoa Trưởng từ 1970
đến 1975, có một số thay đổi
về môn học.
Chẳng
hạn, các môn học được giảng
dạy cho Khóa 7 CTKD gồm có:
Năm
I (Nhập Môn):
Anh Ngữ Căn Bản I và II (Basic English), Tu Từ
và Văn Thể I và II (Vietnamese Composition), Lịch
Sử Văn Minh Thế Giới I và II (World
Civilization), Chánh Trị học Đại Cương
I và II (Basics of Political Science), Kinh Tế học I/1 và
I/2 (Economics), Quản Trị học I/1 và I/2
(Management), Toán Kinh Thương I và II (Mathematics of
Finance), Xă Hội học (Sociology), Khái Niệm
Luật Pháp (Basics of Laws).
Năm
II (Khái Luận):
Anh Ngữ Căn Bản III và IV (Basic English), Kinh
Tế học II/1 và II/2 (Economics),
Tiếp Thị II/1 và II/2 (Marketing), Kế Toán II/1 và
II/2 (Accounting) Quản Trị học II (Management),
Định Chế Tài Chánh I và II (Financial
Institutions), Kinh Tế Việt Nam I và II (Economy of
Vietnam), Thống Kê học (Statistics), Nhiệm Vụ
học (Ethics).
Năm
III (Nhiệm Ư):
các ban học chung: Anh Ngữ Chuyên Khoa I và II
(Specialized English), Kinh Doanh Nông Nghiệp I và II
(Agricultural Business), Luật Doanh Thương I và II
(Business Law), Kế Toán III/1 và III/2 (Accounting), Tương
Quan Kỹ Nghệ (Industrial Relations), Tài Chánh Xí
Nghiệp (Corporate Finance), hệ Thống và Thủ
Tục trong Xí Nghiệp (Systems and Procedure in Business
Firms).
Ban B Tài Chánh - Kế Toán (Major: Finance -
Accounting) học riêng: Tiền Tệ Ngân Hàng I và II
(Money and Banking), Tư Vấn Thuế Vụ I và II
(Tax Problems).
Năm
IV (Khảo Luận):
Nhiệm Vụ học (Ethics), Nghiên Cứu và
Thiết Lập Dự Án Đầu Tư (Study and
Design of Investment Plans), Kế Toán Quản Trị I và
II (Managerial Accounting), Phương Pháp Định Lượng
I và II (Quantitative Methods in Business), Luật Thương
Hội (Corporate Law), Thức Tập Quản Trị
(Managing Practice), Anh Ngữ Chuyên Khoa I và II (Specialized
English)
Ban
B Tài Chánh - Kế Toán (Major: Finance - Accounting) học
riêng: Quản Trị Tài Chánh (Financial Management),
Quản Trị Thương Hội (Management of
Business Enterprises), Giám Định Kế Toán I và II
(Auditing), Kế Toán Ngân Hàng (Bank Accounting), Bảo
Hiểm (Insurance).
Các
ban đều phải nộp các khảo luận quy
định: Khảo Luận Ngắn (Short Term Report),
Khảo Luận Dài (Long Term Report) và Phúc Tŕnh
Tập Thể (Group Report).
Sinh viên nào thi không đủ điểm th́
được thi thêm một lần nữa,
gọi là thi kỳ 2. Nếu vẫn không đủ
điểm th́ hoặc bỏ cuộc, hoặc có
thể ghi danh học lại trong niên khóa tiếp
theo.
Điều
đáng chú ư là GS Phó Bá Long chú ư đến
nhiều khía cạnh đặc biệt liên quan
đến kinh nghiệm quản trị của ông.
Ông thấy rất rơ có nhiều thách thức đối
với việc thay đổi năo trạng, cách
cảm nghĩ nhận thức của nhiều thành
phần xă hội về nhiều môn học
mới.
Chẳng
hạn, với vốn liếng giáo dục mà ông
thấy như không chính thống và pha tạp, ông
đối diện với nhiều chiến lược
giảng dậy thành công và nhiều mô thức kinh
doanh trên khắp thế giới, như điển
cứu, thảo luận trong lớp, lập nhóm
học tập, và thăm viếng xí nghiệp nhà máy.
Đấy là phương thức trước đây
chưa từng được sinh viên và thành viên
trong khoa biết tới. Những giáo tŕnh tiếp
thị, kế toàn, và tiếng Anh kinh doanh lần
đầu tiên được giảng dậy
ở cấp đại học. Giới sinh viên có
nỗi hoài nghi có phần kiêu kỳ đến
độ cho là ông khó ḷng khắc phục nhưng
trở ngại đó.
Có
người coi nhiều giáo tŕnh CTKD là không
cần thiết cho người chỉ có ư sống
nghề nghiệp quản trị ở mức cao, và
không cần đến những kiến thức theo
khả năng của một nhà doanh thương.
Một số người chịu ảnh hưởng
giáo dục Pháp c̣n chống đối những giáo
tŕnh kế toán, mà họ coi là chỉ phù hợp
cho thư kư giữ sổ sách. Giáo Sư Phó Bá Long
phải khó khăn mất thời gian giải thích
khác biệt giữa kế toán đơn và kế
toán quản trị. Các sinh viên này nhiễm sâu óc
hợm hĩnh, hầu hết thuộc thành phần
giai cấp trên c̣n đi đến khiếu nại
về những đ̣i hỏi của nhà trường
do Khoa Trưởng chủ trương, v́ cho
rằng với văn bằng thừa thăi của
CTKD, họ chỉ t́m được những công
việc tạm thời. Một số người
thậm chí đi xa hơn là đưa khiếu
nại chống đối lên đến cha
Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. Ngài
đă trả lời bằng cách bảo họ
cứ nhặt cỏ trên các đường đi
lối lại trong viện và ngài trả lương
thù lao cho họ theo giờ lao động/ngày.
Cuối
cùng không những tư tưởng CTKD được
bén rễ sâu trong tâm khảm mỗi người, nó
c̣n trở thành nguồn gốc cho niềm hănh
diện, khi sinh viên bắt đầu báo cáo quá tŕnh
huấn luyện họ bằng công việc thực
tiễn như làm hầu bàn, bán hàng trong tiệm và
giúp việc nhà.
Sĩ
số sinh viên Trường CTKD
Trong
tháng 8 và 9 năm 1964, hệ thống các nhật báo
ở Sàig̣n đều cho phổ biến Thông Cáo
Tuyển Sinh vào Trường Chánh Trị Kinh Tế
và Quản Trị Xí Nghiệp, sau được
đổi tên là Trường CTKD (School
of Government & Business) từ
đầu năm 1965. Sự kiện quảng bá
rầm rộ khiến nhiều thanh niên mới sinh
viên thích thú và rủ nhau đi ghi danh học. Đây
là một trường có nội dung giảng
dậy mới mẻ, thực tiễn tại
Việt Nam.
1.Sinh
viên ghi danh thực thụ.
Lúc đầu Trường CTKD dự trù thu
nhận 600 sinh viên cho năm đầu tiên, nhưng
có tới 1500 đơn xin nhập học. Đến
ngày 27 tháng 09 năm 1964, khi khai giảng năm
học, có tất cả 1036 sinh viên ghi danh và
thực học.
Sĩ số này hơn hẳn sĩ số sinh viên
thực học của tất cả các phân khoa khác
của toàn Viện. Các sinh viên đến từ
khắp nước, nhưng phần nhiều từ
Sàig̣n, Huế và Cần Thơ, trong khi những nơi
này đều đă có trung tâm giáo dục đại
học. Con số sinh viên ghi danh cho thấy nhận
thức chiến thuật của nhóm giáo sư
dự kiến ban đầu là chính xác, tuy hơi
được phóng đại!.
Trường CTKD đă nắm bắt
được, đáp ứng nhu cầu và
nguyện vọng thực tiễn của sinh viên. Sĩ
số ấy c̣n tiếp tục gia tăng trong các năm
sau, góp phần quan trọng cho sinh khí phấn
khởi hoạt náo ở môi trường học
tập, làm biến đổi bộ mặt và
đà phát triển của Viện Đại
Học Đà Lạt tiến lên phía trước.
2.
Giáo tŕnh học vấn.
Để chuẩn bị giáo tŕnh cho sinh viên, chính
giáo sư Trần Long thể hiện phong cách
khẩn trương dấn thân vào các hoạt
động chuẩn bị. Ông cho nhà trường
thu gom giáo tŕnh của tất cả các giáo sư,
đánh máy trên stencil và trao cho Hợp Tác Xă
Ấn Loát Sinh Viên quay ronêô, rồi bán lại
cho sinh viên với giá phí tượng trưng. Linh
Mục Ngô Duy Linh, Phụ Tá Viện Trưởng kiêm
Giám Đốc Đại Học Xá Nam Sinh Viên, cũng
đồng thời là một chuyên viên quay rônêô tích
cực. Đa số các giáo sư hưởng
ứng tích cực soạn thảo giáo tŕnh.
Những giáo sư nào không soạn giáo tŕnh,
sẽ không được mời dậy tiếp
trong niên khóa mới. GS Trần Long có sáng kiến làm
cho môn Kế Toán bớt khô khan bằng cách đặt
tên súc vật khôi hài cho các công ty, khách hàng, và nhà
cung cấp,…
3.
Thi cử sát hạch.
Đối với bất cứ sinh viên nào, kỳ
thi cuối năm là một kết quả quan
trọng, phản ảnh chất lượng giáo
dục của nhà trường, đồng thời
tạo điều kiện cho sinh viên tốt
nghiệp đi vào thực tế xă hội một
cách tin tưởng và có hiệu lực. Thực
tế đó củng cố niềm tin cho mọi thành
phần liên hệ, giáo sư, sinh viên, gia đ́nh và
xă hội tuyển dụng các sinh viên đó.
Cụ thể và cấp bách nhất là nam sinh viên
phải đậu để lên lớp, tiếp
tục được hoăn dịch v́ lư do học
vấn.
Nhưng
không v́ thế mà việc thi cử bị coi
nhẹ lơ là. Các kỳ thi được tổ
chức chu đáo tối đa, vô tư và toàn
vẹn để bảo đảm chất lượng
đào tạo sinh viên. Một tháng trước khi
thi, nhà trường cho thu thập tất cả các
đề thi từ các giáo sư và giảng viên. Các
đề thi được bảo mật cho đến
giờ thi tại pḥng thi ở tất cả các khâu
trong quá tŕnh chuẩn bị, in ấn và phân
phối. Chính LM Ngô Duy Linh đă góp phần quan
trọng trong quá tŕnh này.
Ngoài
giảng đường, sinh viên có rất ít cơ
hội tiếp xúc với giáo sư. Giáo tŕnh và thư
viện là hai phương tiện tốt đẹp
c̣n lại để sinh viên thu thập kiến
thức cho các môn học khác nhau trong học tŕnh.
3.
Một h́nh ảnh thi cử.
Gần một ngh́n sinh viên Năm Nhập Môn đă
tham dự kỳ thi cuối năm 1964-65. Tất
cả chỗ ngồi trong pḥng thi được
sắp đặt trước, có đánh số cho
mỗi thí sinh. Để tránh t́nh trạng có
thể chép bài của nhau, hai sinh viên ngồi
cạnh nhau không được làm cùng một
đề thi. Toàn bộ nhân sự giảng
huấn và hành chánh được điều
động làm giám thị. Cách làm việc nghiêm
chỉnh đó đă được áp dụng cho
suốt quá tŕnh hoạt động của Trường
Chính Trị Kinh Doanh và c̣n được cải
thiện và rút kinh nghiệm từ các trường
khác cho tốt đẹp hơn.
4.
Một phương pháp học tập đa
hiệu: hội học. Tôi muốn tŕnh bày và phân tích một phương
pháp hội học của Trường Chính Trị
Kinh Doanh, chỉ áp dụng cho năm Sưu Khảo
(IV).
Nhóm
Hội Học: mục tiêu
Các
sinh viên Sưu Khảo phải dành một phần
lớn thời giờ để nghiên cứu
tập thể và thuyết tŕnh nhóm, nhắm
huấn luyện sinh viên về các khía cạnh sau
đây:
*
Gây dựng tinh thần và kỹ năng làm việc
tập thể, v́ các nhóm viên đều nghiên
cứu và tŕnh bày chung một đề tài lựa
chọn trước ban giám khảo gồm ba người
và toàn lớp.
*
Phát huy khả năng lănh đạo và kỷ
luật của mỗi người trong nhóm.
*
Luyện tập kiến thức và kỹ năng
xử dụng ngôn từ, hùng biện thích hợp
trước công chúng, cách viết phúc tŕnh,
luận văn nghiên cứu.
*
Tạo điều kiện cộng tác hỗ tương,
giao tế nhân bản giữa các chuyên viên, sinh viên
trong các ngành khác nhau như Luật Pháp, Kinh Tế,
Tài Chánh, Ngoại Giao, Báo Chí, Công Quyền và Kinh
Doanh.
Kỹ
thuật tổ chức
Các nhóm
hội học được tổ chức như
sau:
Từ đầu năm Nhiệm Ư (III), các
sinh viên bắt đầu chọn chuyên ngành Chính
Trị hoặc Kinh Doanh. Khi lên năm Sưu Khảo
(IV) sinh viên được xếp hạng theo điểm
trung b́nh. Năm Sưu khảo đầu tiên có ba
mươi sáu nhóm ngành Chính Trị. Theo kế
hoạch của GS Trần Long, nhóm đầu tiên
gồm 6 sinh viên đứng thứ hạng 1, 37, 73,
109, 145 và 181
Các nhóm ngành Chính Trị lấy tên theo
mẫu tự Hi Lap: Alpha, Beta, Gamma, …; các nhóm ngành
Kinh Doanh theo mẫu tự Do Thái: Aleph, Beth, Gimel, …
Nhiều người bằng ḷng với tên nhóm
của ḿnh. Sang nhiệm kỳ Khoa Trưởng Phó
Bá Long, các sinh viên được tự do lựa
chọn nhóm viên cũng như đặt tên nhóm.
GS
Trần Long áp dụng cách điều hành Nhóm có
phần chuyên đoán hơn, khi xếp đặt
5,6 sinh viên vào một nhóm, để đạt ngay
các mục tiêu hội học, dưới hướng
dẫn của chuyên viên KD hay HC làm “giáo sư hướng
dẫn”, cùng với Ban Giảng Huấn, thiết
lập danh sách đề tài nghiên cứu, và giáo sư
hướng dẫn.
Đa
số các giáo sư hướng dẫn đều
có tiếng tăm, nhưng bận rộn và ở
xa tận Sàig̣n. Có thể nhóm được
tự do chọn đề tài và giáo sư hướng
dẫn, cho những nhóm nào thanh thỏa đủ các
điều kiện qui định. Nhờ thế mà
đề tài nghiên cứu cũng rất đa
dạng, thường tỷ lệ thuận với
con số các thân hữu và các nhà bảo trợ; và
nhờ đó mà t́nh h́nh của Viện được
phát triển thêm, tạo cầu nối giúp các sinh
viên dễ dàng t́m việc làm thích hợp ngay. Hai
tháng sau cùng là thời gian nhà trường tổ
chức thực hiện lịch thuyết tŕnh nhóm.
Tŕnh
bày và thẩm định kết quả hội
học
Mỗi
nhóm phải hoàn thành công tŕnh nghiên cứu, tŕnh bày
kết quả cho lớp và thẩm lượng
đoàn trong 60 phút, và mỗi nhóm viên không quá 10 phút.
Giáo sư hướng dẫn phải thu xếp làm
sao có mặt tham dự buổi thuyết tŕnh
của nhóm. Ban giảng huấn có thể có
mặt cùng với Đoàn Thẩm Lượng
gồm 3 người được GS hướng
dẫn chủ tọa, chất vấn thuyết tŕnh
đoàn trong 3 phút và cho điểm toàn nhóm,
rồi từng nhóm viên. Pḥng ốc và máy thu
khuếch âm cho thuyết tŕnh được
chuẩn bị một bước trước.
Trong
hai tháng đó, có thể các nhóm cùng thuyết tŕnh
ở nhiều giảng đường khác nhau.
Đồng thời cần chú ư t́m người
thay thế những thành viên Đoàn Thẩm Lượng
nào vắng mặt đột xuất. Xong nhiệm
vụ thuyết tŕnh, nhóm phải nộp Luận Văn
Tập Thể, giới hạn trong 60 trang đánh máy
ḍng đôi. Trong ṿng hai tuần, giáo sư hướng
dẫn đọc xong và cho điểm, cho dù
thực sự vẫn có người chậm
trễ.
Thử
theo dơi Nhóm của sinh viên Thái Thị Như
Hảo thuyết tŕnh dưới sự hướng
dẫn của GS Đinh Xáng:
Suốt
hai tuần chuẩn bị về báo biểu,
cắt dán. Thứ Hai, ngày 15/4/1974, nhóm thuyết tŕnh
đề tài “Vấn Đề Kỹ Nghệ Hóa
Miền Trung.” Lần đầu tiên thuyết
tŕnh viên đứng trên bục giảng, trước
đám đông, Như Hảo cảm thấy
rất khớp, nhưng nh́n ánh mắt thầy
Đinh Xáng động viên, nét mặt hiền ḥa
như bao dung như thầm bảo với cô
rằng: “Hăy b́nh tĩnh và tự tin”. Hảo
bỗng thấy ḿnh bạo dạn hơn, nói năng
lưu loát và trôi chảy hơn. Thế là con
đường tốt nghiệp mở ra tương
lai cho từng người sau bốn năm đèn sách.
Lợi
ích của phương pháp hội học:
Hệ
thống hội học và kỹ thuật điển
cứu (case study) dần dần được
nhiều người nhận thức và được
nhân rộng hơn. Các khóa tốt nghiệp đều
hănh diện lưu lại các Luận Văn đă
thực hiện và tŕnh bày tại Thư viện
cho các khóa kế tiếp tham khảo. Những độc
giả nào muốn tham cứu vấn đề ǵ ḿnh
quan tâm đều thấy thật sẵn sàng,
dễ dàng và nhanh chóng. Đồng thời tiện
nghi đó cũng tạo điều kiện lối
cuốn các nhà kinh doanh và viên chức công quyền
năng động dấn thân vào cuộc, đào sâu
thêm các công việc, khi các sinh viên năng động
chăm chỉ kích thích bản thân họ ư
thức hơn về trách nhiệm của ḿnh.
Mặt khác, Trường CTKD c̣n khai thác được
nguồn nhân tài thực tế và chính những con
người này đến lượt họ
trở thành người hướng dẫn và
một thứ khuôn mẫu cho sinh viên tốt
nghiệp.
Những
người liên hệ đến việc h́nh thành
luận văn trở thành một tập thể
bạn hữu hay người bảo trợ một
cách thân t́nh cảm thông hơn. Tất cả các
giáo sư hướng dẫn, nhà doanh nghiệp hàng
đầu và viên chức công quyền trực
tiếp hay trung gian đều có cơ hội t́m
hiểu thuận lợi để tuyển dụng
hay giới thiệu sinh viên vào các cơ quan, xí
nghiệp ở khắp các địa phương
trong nước, góp phần giải quyết
những bế tắc lao động có thể gây
xáo trộn về mặt xă hội. Dù chế độ
VNCH đă sụp đổ nhưng các cựu sinh
viên CTKD đă thành nhân, có người trở nên
nổi tiếng trên thế giới,
như Mai Kim Đĩnh, Lê Đ́nh Thông, …
Xây
dựng Ban Giảng Huấn.
Tháng
Sáu (6), 1964, Ông Trần Long lên Đà Lạt để
mở trường CTKD với tư cách là Giám
Đốc Học Vụ, theo học tŕnh được
Bộ Giáo Dục chấp nhận. Ông để
lại gia đ́nh tại Sàig̣n, gồm vợ (bà
Danielle Ánh Nguyệt, giáo sư Anh ngữ trường
Gia Long) và bốn con. Đấy là con đường
ông trở thành vị giáo sư. Ông bắt tay vào
việc ngay. GS Trần Long xuất thân là một
sinh viên du học tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp
Cử Nhân Quản Trị Kỹ Nghệ (Bachelor of
Science in Industrial Administration, Universitry of Portland), và
Cao Học Kinh Tế Tài Chánh (Master of Arts in Economics
and Finance, Syracuse University)
Để
kịp khai giảng vào tháng chin (9), trong suốt ba
tháng, GS Trần Long phải lo t́m kiếm tuyển
mộ, xây dựng Ban Giảng Huấn. Ngay tại
Đà Lạt, ông kiếm được năm người
có văn bằng đại học về Luật
Học, Kinh Tế, Toán Học và Kinh Doanh. Trong
số đó, có ông Ngô Đ́nh Long. Hầu hết
số c̣n lại là các giáo sư thỉnh giảng
được mời từ Viện Đại
Học, Trường Quốc gia Hành Chánh và Trường
Cao Đẳng Thương Mại ở Sàig̣n.
Về môn nguyên tắc Kế Toán Nhập Môn ông
đành phải chọn một vài giáo sư kế
toán tại Sàig̣n. Những giáo sư này đang
giảng dậy kế toán theo kiểu Pháp, mà ông
lại muốn truyền thụ cho sinh viên phương
pháp kế toán theo phương pháp hiện đại
kiểu Mỹ. Mấy năm sau đó, chính GS
Trần Long kiêm dậy hai môn Nguyên Tắc Kế Toán
và Kế Toán Giá Phí dựa trên các sách giáo khoa Hoa
Kỳ của các tác giả Finney, Noble, Niswonger và
Gohlke.
Về
môn Nhiệm Vụ học, GS Trần Long
mời một Linh mục ḍng Đa Minh. Tuy Linh
mục là một nhà giảng thuyết danh tiếng
đang giảng dậy tại phân khoa khác của
Viện, nhưng các sinh viên cảm thấy khô khan
chán chường. Tuy điều này được
phản ảnh lên LM Viện Trưởng, nhưng
thực tế hầu hết các sinh viên theo học
môn này đều được chấm đậu
về môn ấy, v́ các nam sinh viên sợ không đậu
sẽ phải ở lại lớp, hay bị quân
dịch. Tất cả đều làm chậm đà
tiến thân vào xă hội theo những nguyện
ước của mỗi người. Việc xây
dựng chương tŕnh Trường CTKD này là
bằng chứng cho thấy ảnh hưởng
của Mỹ về quan niệm, tổ chức và
phương pháp giáo dục thực tiễn trong
quản trị và kinh doanh đang được
giảng dậy ở Việt Nam do chính các chuyên
gia du học trong các trường đại học
Mỹ.
Ở
thời điểm vừa chấm dứt chế
độ Ngô Đ́nh Diệm, hoàn cảnh đất
nước đi vào một lộ tŕnh mới, mà
ảnh hưởng của Hoa Kỳ trở nên mănh
liệt hơn một cách rơ rệt. Chính v́
thế đất nước càng cần có
nhiều chuyên gia đa năng tháo vát trong các lănh
vực kinh tế cũng như chính trị và xă
hội. Việc giảng dậy lư thuyết
thuần túy được thay thế bằng
những phương pháp thực tiễn, như
điển cứu, hội học, thực tập
qua nghe nh́n để sưu tập các sự
kiện, đúc kết thành những phúc tŕnh,
khảo luận cá nhân hay tập thể. Người
được thụ huấn không chỉ trau
giồi kiến thức, mà phát triển nhân cách và
trách nhiệm đầy đủ trong các giao
tiếp xă hội. Biết chinh phục ḷng tin, qui
tụ người khác để cương
quyết theo đuổi và thực hiện những
mục tiêu cao đẹp là khả năng lănh
đạo cần có.
Ngoài
học hỏi và đào luyện trực tiếp
trong lớp học, nhà trường c̣n có Parallel
Course Program để giúp sinh viên bắt kịp
những chuyển biến trong lănh vực chuyên môn
của thực tế xă hội để ḿnh không
đứng ngoài cuộc mà dấn thân vào ḍng
chảy của cuộc sống.
Về
phương diện này, khi GS Phó Bá Long kế
nhiệm GS Trần Long làm khoa trưởng năm
1971, ông coi nhà trường như một [105] di
sản trí thức được truyền lại
cho ông. Ông thấy có nhiệm vụ phải duy tŕ,
xây dựng và phát triển di sản ấy.
Ông
đưa ra một sáng kiến mà ông cho là đáng
giá nhất, tức là hệ thống “Bảo
Huynh” trong học tập. Nôm na đó là anh chị
em giúp nhau học hành. Mỗi nhóm mươi người
trong lớp nhập môn mới được
hai hay ba anh chị từ các khóa tốt nghiệp
đàn anh chính thức bảo trợ họ và giúp
họ trong việc học vấn. Các lớp đàn
anh chị được cho điểm thêm trong tín
chỉ về thành tích của họ.
Chương
tŕnh này gặt hái được nhiều kết
quả rơ rệt. Trước hết các nhóm đàn
anh chị buộc phải xem lại các giáo tŕnh
nhập môn cũ của họ và nhờ đó
kiến thức của họ được
củng cố thêm. Thường họ c̣n phải
đến hỏi các thầy giáo cũ của
họ để t́m giải đáp cho các vấn
đề mà họ không nhớ. Thứ hai các
hoạt động ngoại khóa này làm nẩy sinh
mối quan hệ nhiều mặt giữa các nhóm
học tập, giữa lớp đàn anh và lớp
đàn em. Hơn nữa, họ không quá cách
biệt chênh lệch nhau về tuổi tác. Hiển
nhiên có một thứ cạnh tranh học thuật
và t́nh cảm sôi động nào đó đối
với các đàn anh và những thành viên nữ
hấp dẫn hơn trong lớp nhập môn. Đă
có nhiều cuộc hứa hôn diễn ra và hai ba năm
sau là có nhiều đám cưới khi đến lượt
các nữ sinh viên lớp đàn em tốt nghiệp
nối tiếp lớp các đàn anh trước
đó.
Trong
những hành động đầu tiên khác của
khoa trưởng mới là bỏ ban chính trị và
giáo tŕnh về báo chí. Thay vào đó là hai giáo tŕnh
song song về tiếp thị và kế toán. Hai môn này
được giảng hoàn toàn bằng tiếng
Anh cho những sinh viên có khả năng, ngoài các giáo
tŕnh được dậy bằng tiếng
Việt khác. Theo điều kiện nhà trường
yêu cầu thanh thỏa, nhiều sinh viên đă cố gắng để
được tiếp nhận vào các lớp này.
Trường CTKD cũng lập ra Trường
Quản Trị Cơ Sở Xă Hội, hay SSIM. Trường
này có số ghi danh cơ bản là các phụ
nữ hay cả nam lẫn nữ có niềm thâm tín
mạnh mẽ.
Biểu
Đồ 13. Số Liệu Thành Quả Của Trường
CTKD Niên Khóa 1964-1973
|
Niên
Khóa
|
Sinh
Viên
|
|
Cấp
Cử Nhân
|
Cấp
Cao Học
|
|
Ghi
danh
|
Tốt
Nghiệp
|
Ghi
danh
|
Tốt
Nghiệp
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
|
1964-65
|
700
|
|
|
|
|
1965-66
|
825
|
|
|
|
|
1966-67
|
959
|
|
|
|
|
1967-68
|
1164
|
295
|
|
|
|
1968-69
|
1036
|
116
|
120
|
|
|
1969-70
|
1181
|
074
|
205
|
01
|
|
1970-71
|
1157
|
103
|
222
|
13
|
|
1971-72
|
1366
|
102
|
228
|
15
|
|
1972-73
|
1306
|
214
|
402
|
22
|
|
Tổng Cộng
|
9694
|
904
|
1177
|
51
|
|
Chú thích: 1/Tổng
số ghi danh học cho cả hai cấp là
(9694+1177) =10871, và số tốt nghiệp
của cả hai cấp là (904+51)= 955
2/ Tổng số liệu ở cột (2) [9694] không phù hợp với
số liệu của Trường CTKD [13.206] trong bản tổng hợp số liệu toàn
viện. Có khác biệt cả số sinh viên
ghi danh trong mỗi niên khóa. Không có lư do
giải thích về sự khác biệt này. Như
vậy có nghĩa ǵ?
3/ Ra đời muộn màng, nhưng Trường
CTKD đa sản tăo ra một thành tích quan
trọng nhất cho Viện Đại Học
Đà Lạt, xét về số lượng cũng
như chất lượng, nhưng không
phải là không có khuyết điểm cần
khắc phục.
|
Tổng
số sinh viên Khóa 7 CTKD được chính
thức cấp phát văn bằng Cử Nhân vào Ngày
Ra Trường, 30 tháng 12 năm 1974, cho cả hai
Ban Tiếp Thị và Tài Chánh Kế Toán là 182 người.
Cả Lớp có 450 sinh viên Nhập Môn,
hơn một nửa sĩ số đă đứt
gánh giữa đường cho đến năm
kết thúc (Sưu Khảo).
Khóa
7 CTKD, nhất là các sinh viên đủ điều
kiện để tốt nghiệp, có một ư nghĩa
đặc biệt, v́ nhiều lư do. Trước
hết đây là khóa thi thực sự cuối cùng,
sau chương tŕnh học đầy đủ
bốn năm của Trường CTKD. Do đó,
trong toàn thể 11 khóa của nhà trường
suốt 10 năm hoạt động (1964-1974), khóa 7
CTKD đánh một dấu mốc chấm dứt
trọn vẹn, có tính quyết định quá tŕnh
hiện hữu (1959-1975) của Viện Đại
Học Đà Lạt.
Thành
phố Đà Lạt bỏ ngỏ trong t́nh
trạng vô chính quyền địa phương khá
sớm vào đầu năm sau, từ 30/3/1975. Đúng
ra, từ ngày 20/3/1975, nhiều người đă di
tản khỏi Đà Lạt sau khi có tin tức
về trận tấn công qui mô của quân đội
CS vào thị xă Ban Mê Thuột ngày 11/3/1975. Như
thế các sinh viên CTKD, từ khóa 8 đến khóa
11 ở ngay Đà Lạt, không được
thụ huấn đầy đủ theo chương
tŕnh bốn năm của Trường CTKD.
Các
bạn sinh viên CTKD từ khóa 1 đến khóa 7 có
cơ may ngàn năm để Thụ Nhân và Thành Nhân,
đă hănh diện và làm vẻ vang cho Viện Đại
Học Đà Lạt và cho chính ḿnh thật thanh
thản và góp phần duy tŕ Truyền Thống
Thụ Nhân như ngọn đuốc sáng ngời măi
măi, nêu gương cho các thế hệ tương
lai trong ḷng xă hội Việt Nam..
Như
vậy phải chăng một ḿnh Trường CTKD
có thể lập một thống kê một cách tương
đối khoa học về thành quả giáo
dục cụ thể trong Kỷ Niệm Thập Niên
Thành Lập Trường CTKD (1964-1974)? Các Trường
khác nếu có thiết lập Thống Kê các
số liệu như thế chắc có thể có khó
khăn, như Trường Văn Khoa chẳng
hạn? Chắc chắn đơn vị nào có
tổ chức quản trị tốt và trung
thực, th́ sẽ dễ dàng xác lập một thành
tích biểu tốt đẹp, dù đó chỉ là
những con số. Nhưng đó là những con
số sống động, nói lên được
điều ǵ, chứ không vô hồn hay có tính cách
thiếu trung thực trước mặt những người
đọc có tri thức, phán đoán và lương
tri vậy.
Nhận định
của người có trách điều hành
1.
Từ Trường CTKD.Người viết
muốn thuật lại trực tiếp lời
lẽ của chính những người có trách
nhiệm trong cuộc. Chẳng hạn chứng
từ của người đảm lănh xây
dựng Trường Chánh Trị Kinh Doanh lúc ban
đầu:
“Với
quyết tâm và thái độ tích cực của Cha
Lập và tôi, cùng nhiệt t́nh của Ban Giảng
Huấn và Ban Hành Chánh, chúng tôi đă thành công
trong việc biến Trường Chánh Trị Kinh
Doanh thành một định chế giáo dục sinh
động, vào cuối năm thứ hai th́
tiếng lành đă vang khắp nước. Lứa
tốt nghiệp đầu tiên gồm gần
bốn trăm sinh viên
nhận lănh văn bằng Cử Nhân năm 1968 và
khởi sự phục vụ đất nước
trong nhiều lănh vực. Đa số phục
vụ rất tốt”.
“Gia
đ́nh nào cũng đều bị ảnh hưởng
tiêu cực của chiến tranh, cách này hay cách khác.
Vấn đề động viên ám ảnh sâu
sắc tâm trí các sinh viên Nhập Môn. Để
được tiếp tục hoăn dịch nhập
ngũ v́ lư do học vấn, nam sinh viên phải thi
đậu lên năm khái luận. Chính sách hoăn
dịch nhập ngũ này tạo ra gánh nặng lương
tâm cho tất cả giáo sư đại học”.
…………………………………………………………………………..
“Tôi
điều hành trường CTKD với nhiều
hạn chế và dưới nhiều áp lực. Tôi
không nhớ rơ cho lắm về bốn năm đầu
tiên của trường CTKD. Có lẽ 70% sinh viên
Nhập Môn lên được Khái Luận, 80% Khái
Luận lên Nhiệm Ư và 80% Nhiệm Ư lên Sưu
Khảo. Cuối niên khóa 1967-68, th́ gần 400 sinh viên
nhận lănh văn bằng Cử Nhân. Năm
Nhập Môn có 1036 sinh viên. Tôi thường tự
hỏi điều ǵ đă xảy ra cho hơn 600
sinh viên không tốt nghiệp kia?”.
2.
Từ Trường khác. Dưới cái nh́n
của giáo sư hay sinh viên của những phân
khoa khác, ư kiến dường như không hoàn toàn
nhất trí với người trực tiếp trong
cuộc. Như cảm nghĩ của một giáo sư,
được đào tạo trong môi trường
giáo dục Pháp, phục vụ tại Trường
Văn Khoa về Trường CTKD:
“Trong
bước khởi đầu và phát triển,
buộc ḷng phải có những chủ trương
hơi thiên về“thực tế”! Có lẽ đó
là lư do khiến cho từ năm 1965 đến quăng
năm 1970, trường Chánh Trị Kinh Doanh hơi
có phần khuếch trương quá mức so
với các khoa khác! Trong giai đoạn ấy,
ở xă hội miền Nam nổi lên một phong trào
đổ xô về những hoạt động
tạm gọi là chính trị (các đảng phái và
bè nhóm mọc lên như nấm); rồi chính khách
đủ loại, đủ cỡ cũng xuất
hiện rầm rộ, danh từ “chính trị”
rất ăn khách! Đồng thời với
sự xâm nhập của các tổ chức người
Mỹ vào miền Nam, một nhu cầu về
quản lư, quản trị đă bộc phát: hai
tiếng “kinh doanh” cũng chẳng kém phần cao
giá! Trường Chánh Trị Kinh doanh phần nào
đáp ứng được một số yêu
cầu và thị hiếu, cho nên được các
bạn trẻ yêu thích, và có lẽ cũng
được chính phủ nh́n nhận là đáp
ứng cho một điều mà họ cho là cần
thiết; họ bớt phần gay gắt và dần
dần có phần khuyến khích.
Trong
t́nh thế như vậy, Văn Khoa và nhất là
Ban Triết Học đôi lúc có cảm tưởng
như ḿnh là con ghẻ, lập ra cho lấy có,
kẻo mà chỉ lo có Trường Chánh Trị Kinh
Doanh!”
Người
viết không hoàn toàn chia sẻ những cảm
nhận của ư kiến này, dường như
mang tính cách trách móc, coi đó là xu thời hơn
là khen ngợi, khuyến khích. Có nhiều lư do
khiến người viết không nhất trí
với cung cách nhận định như thế:
Lư
do thứ nhất là người viết quan
niệm rằng phát triển vật chất, phát
triển kinh tế cũng là một phương
diện có ư nghĩa truyền giáo sâu xa không kém các
lănh vực văn hóa khác. Không thể đối
lập phát triển kinh tế với phát triển
văn hóa được, khi hiểu kinh tế là
một yếu tố làm thành văn hóa. Tại sao
không v́ thế mà thấy sự phát triển Trường
Chánh Trị Kinh Doanh trong bối cảnh lịch
sử cụ thể của miền Nam lúc đó là
một bước đột phá trước
nhiều khó khăn bế tắc của Viện?
Nếu nhận thức một cách biện chứng
nào đó, th́ khía cạnh vật chất có
một vai tṛ nhiều khi quyết định, áp
đảo và cần thiết cho các khía cạnh văn
hóa khác nhau, nhất là khía cạnh tinh thần,
trong các yếu tố cấu thành văn hóa.
Lư
do thứ hai là “cho kẻ đói ăn, cho kẻ
khát uống” chính là một phương cách
nhập thể đạo vào hoàn cảnh thực
tiễn của t́nh thế là một cách thể
hiện tinh túy của đạo có hiệu quả
và sâu xa nhất. Điều ấy có thể c̣n vượt
hẳn thành kiến hay ư nghĩ tuy ngay lành nhung không
luôn đúng đắn vẫn coi Chánh trị hay
Kinh Doanh là chuyện danh vọng thấp hèn, dung
tục, xác thịt, chỉ nhắm đến
tiền bạc, lợi nhuận, khi dễ đối
lập tinh thần cao đẹp hơn vật
chất trong ư tưởng nhị nguyên về
hiện hữu của thế giới.
Lư
do thứ ba: việc mở trường Kinh Doanh vào
thời điểm 1964 là một giải pháp đáp
ứng thức thời với cái nh́n có tầm vóc
chiến lược ứng phó rất hiệu
quả cho thực tại xă hội. Trường
CTKD thực sự đă tạo được
sự hài ḥa, gây thiện cảm từ nhiều
giới trong xă hội, cách riêng các phụ huynh, do
những thành tựu mà Trường CTKD đạt
được. T́nh trạng đó thậm chí
đi tới khích lệ thái độ đồng
t́nh của toàn xă hội. Trường CTKD c̣n góp
phần giải quyết nhiều khó khăn vật
chất cũng như chính trị giúp củng
cố và phát triển Viện Đại Học này
có lúc lâm vào nguy cơ bế tắc v́ thái độ
hiểu lầm và muốn xa lánh cô lập.
Tuy nhiên vật chất có nguy hiểm là có thể
đưa người ta ra xa các mục tiêu nhân
bản chân chính.
3.
Mở rộng qui mô.
Với đà tiến triển khá nhanh, một cơ
sở giáo dục ở trên lầu I Thương xá
Tax cũng được dùng làm cơ sở II
của Trường Chánh Trị Kinh Doanh cho Ban Cao
Học tại Sàig̣n, từ trong niên học l968-69,
nhằm thu hút các sinh viên đă tốt nghiệp
Cử Nhân cư ngụ hay làm việc trong vùng Sàig̣n
muốn có cơ hội nâng cao kiến thức Chánh
Trị Kinh Doanh.
V́
ư thức về nhu cầu cấp thiết là
giữ chân các sinh viên tốt nghiệp không bị
động viên vào ngay trong quân đội, Trường
CTKD muốn mở rộng chương tŕnh MBA
tốt nghiệp sau hai năm. Chương tŕnh
quản trị kinh doanh liên ngành này được
mở tại Sàig̣n năm 1972. Đó là giáo tŕnh
nghiên cứu mới nhất của nhà trường
ngơ hầu có thể tiếp nhận tất cả
các kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ và
nhiều sĩ quan trung cấp.
Ban
Cao Học CTKD nhằm phát huy kiến thức chánh
trị kinh doanh ở các cấp cao hơn, trong môi
trường năng động về kinh doanh
tại thủ đô Sàig̣n. Và chính Sàig̣n lại là
một một trung tâm đa dạng ở miền
Nam, có quan hệ quốc nội và quốc tế
rộng lớn. GS Nguyễn Lâu, tốt
nghiệp Đại Học Luân Đôn, làm Phó
Khoa Trưởng, phụ trách Ban này.
Tưởng
cũng nên nói đến một nhận định
của GS Phó Bá Long là có nhiều lúc sự mở
mang cơ sở và phương tiện học
vấn, nhất là ở cấp cao học tại Sàig̣n,
vượt quá những yểm trợ tài chánh thích
hợp, đúng mức, và kịp thời từ phía
Hội Đại Học Đà Lạt khi đó.
4.
Một nền CTKD nhân bản, dân tộc.
Trường Chánh Trị Kinh Doanh theo truyền
thống gồm hai bộ phận Quản Trị
Kinh Doanh và Chánh Trị Xă Hội. GS Phó Bá Long
kế thừa tất cả những di sản
tốt đẹp của trường, mà c̣n có sáng
kiến đem môn học độc đáo ngơ
hầu gây dựng ư thức đạo lư nhân
bản và dân tộc trong hoạt động kinh
doanh cho các doanh gia Việt Nam tương lai.
Ông
đă đề nghị đưa môn Văn minh
Việt Nam thêm vào giáo tŕnh kinh doanh, kể từ
niên khóa 1973-1974, trong chương tŕnh giảng
huấn cho tất cả các sinh viên của hai ngành:
Chính Trị Xă Hội và Quản Trị Kinh Doanh.
Tất cả các sinh viên của ba năm, trừ năm
Sưu Khảo, đều phải theo học môn này,
kế từ niên khóa môn này được
giảng dậy. Thực sự trong học tŕnh
của Trường CTKD, đă có môn Lịch
sử Văn Minh Thế Giới. Như thế, môn
Văn Minh Việt Nam chỉ là một cách bổ
sung, nhấn mạnh đến khía cạnh văn
minh dân tộc trong nhận thức về hoạt
động của các doanh gia Việt Nam tương
lai. Vấn đề c̣n lại chỉ là hoàn
chỉnh nội dung bộ môn này, soạn thảo
giáo tŕnh đồng bộ và được
những giáo sư thích đáng giảng dậy
một cách sinh động.
Người
viết được GS Khoa Trưởng kế
tiếp bố trí vào việc t́m kiếm các giáo sư
thích hợp cho bộ môn này. Người viết dù
rất hạn chế v́ nhiều công việc, nhưng
đả đảm nhận như một công tác,
một cơ hội, với ư thức vừa đem
sở học làm sở dụng để phục
vụ học tập, đáp ứng với một
thách thức có phần khó khăn. “Cờ đến
tay ai, người ấy phất” nhưng nên
phất cao đúng điệu như nhận
thức tích cực của GS Trần Long, lúc gánh vác
nhiệm vụ xây dựng Trường Chánh
Trị Kinh Doanh.
Đây
là một mảng bộ môn bao quát có tính văn hóa
nhân bản và dân tộc cần có quá tŕnh xây
dựng dần dần. Để tổ chức
đề tài chi tiết, bước đầu người
viết phụ trách mấy tiết về “Tín
Ngưỡng Trong Văn Minh Việt Nam” và
nhạc sĩ Hùng Lân Hoàng Văn Hương
mấy tiết về “Dân Ca và Dân Nhạc
Việt Nam”.
Thực
tiễn giảng dậy chứng tỏ bước
đầu có kết quả tốt và sẽ
được cải thiện hay có thể bị
đào thải như bất cứ một bộ môn
mới nào, khi không c̣n hiệu năng. Bộ môn này
đang được thực hiện và rút kinh
nghiệm thực tế để cải tiến,
hay xử lư thích đáng, th́ đất nước
đă sang trang v́ biến cố 30/4/1975.
Những
khó khăn đủ loại xuất hiện.
Nếu
chỉ thấy những mặt tích cực mà không
thấy những khó khăn khác với những
thứ đă nói trên đến với Trường
Chánh Trị Kinh Doanh là một phân tích thiếu sót.
Về mặt này, người viết thấy GS Phó
Bá Long là người đủ can đảm để
nói ra gần như huỵch toẹt.
Tiếng
Anh Kinh thương, môn chính khóa?
Theo nhận định của ông, ban đầu có
nhiều chống đối việc đ̣i hỏi
tiếng Anh kinh thương là giáo tŕnh cốt lơi.
Nhiều năm sau khi ông đă trở thành Khoa Trưởng,
nhiều sinh viên thi rớt trong kỳ thi cuối năm
đă đứng lên biểu t́nh chống ông, v́
ông chủ trương duy tŕ tiếng Anh kinh thương
ở các cấp lớp trong chương tŕnh
bốn năm. Trước t́nh h́nh đó, ông định
sẵn sàng từ chức, nhưng Linh Mục
Viện Trưởng quyết tâm ủng hộ ông.
Dù vậy, hai bên đạt tới một giải
pháp dung ḥa là cho phép sinh viên lên lớp nhưng không
được cấp bằng nếu họ trở
lại thi đậu môn tiếng Anh .
Sau
này, theo ông nhớ lại, khi nhiều người
trong các sinh viên và giáo sư di tản sang Mỹ
trong những ngày đầu tiên sau 30/4/1975, họ
đều trở thành người tị nạn và
xin định cư tại đó, ông nhận
được một điện đàm từ anh
Ṭng, người từng lănh đạo nhóm sinh viên
đ́nh công tại Đà Lạt. Anh này cám ơn
ông v́ ông đă tha thiết làm sao buộc
được sinh viên phải học thành thạo
môn tiếng Anh. Bây giờ chính tiếng Anh trở
nên một công cụ vô giá cho anh trong việc xin tái
định cư.
Một
vấn đề khó khăn khác là các thuật
ngữ tương đương trong tiếng
Việt và tiếng Mỹ liên quan đến
nhiều kiểu mẫu kinh doanh được
đưa vào trong giáo tŕnh Kinh doanh. Chẳng
hạn trong tiếng Việt hay Pháp không có
tiếng tương đương với các
thuật ngữ như behavior và lost leader.
Giảng
Viên CTKD phân tích về Di Chúc HCM?
Ở Ban Cao Học, GS Phó Bá Long c̣n tuyển
dụng một vài người nước ngoài
giảng thuyết cho các sinh viên. Có lúc một
giảng viên người Mỹ, một học
giả chương tŕnh Fulbright, hỏi GS Khoa Trưởng
xem ông ta có thể giảng về Di Chúc HCM
được không. Năm đó (1973), HCM ở
miền Bắc đă chết từ bốn năm
trước và ở miền Nam chính quyền
cấm đọc nguyên bản tiếng Việt Di
chúc tuyên ngôn của ông.
Tuy
nhiên, GS họ Phó đă nói với giảng viên
đó là ông có thể giảng theo bản dịch
Di Chúc bằng tiếng Anh. Sự việc ấy
được phổ biến trên Đài Phát Thanh
Hà Nội. Thế là GS được Bộ Trưởng
Giáo Dục triệu tập và thông báo cho biết là
ông sẽ phải đối chất với cáo giác
của Cảnh Sát An Ninh Sàig̣n. Trước mặt
viên chức an ninh Sàig̣n, GS Long xác nhận việc
cáo giác ông là đúng, nhưng ông lập luận
rằng bài diễn giảng phân tích về Di Chúc
HCM là do một giảng viên người Mỹ dùng
một bản dịch Mỹ từ nguyên bản di
chúc của HCM. Thế là cáo giác hành động vi
phạm an ninh của ông được cơ quan
cảnh sát bỏ qua, nhưng ông bị cảnh cáo
là nên cẩn thận trong tương lai.
Theo
cảm nhận của GS PBLong, vị trí khoa trưởng
của ông ở một trường có nhiều uy
tín như Trường CTKD không phải không có nguy
hiểm, không chỉ về chính trị, mà cả
những quyến rũ tham ô tài chánh và đạo
lư. Ông kể lại:
“Một
lần tôi về đến nhà, thấy một gói
đồ, mở ra th́ thấy đầy tiền
giấy. Claire (vợ ông) cho biết là có một người
đàn bà vừa ném gói đó phía ngoài, rồi
bỏ đi mà không để lại tên hay địa
chỉ bà ta. Tôi lập tức lên xe, phóng lẹ ra
ngoài đi t́m người khách thăm. Rất may,
Claire nhận ra bà ấy ở trạm bưu điện
đầu tiên. Lăng lẽ tôi vội đến
gần bà ấy, bảo bà lấy lại gói đồ
của bà ấy, và nói thêm rằng nếu tôi khám
phá ra tên của sinh viên nào nhờ bà đút
tiền, th́ dù nam hay nữ người ấy
sẽ bị loại ngay. Bà ấy chưa kịp
trả lời, th́ Claire và tôi bỏ đi ngay. Chúng
tôi không hề nghe tin ǵ về người khách
ấy nữa, nhưng nhờ tôi có hành động
mau lẹ mà có hiệu quả mong muốn, v́
từ đó chúng tôi thấy không hề có ai
quyền rũ chúng tôi bằng những cách cho
tiền như thế nữa.”
Trường
hợp khác liên quan đến một vị
chức sắc trong giáo hội Công giáo. Theo lời
ông ghi lại, “một lần tôi nhận
được một lá thư từ một
vị … mà tôi không quen biết. Trong thư đó
ngài gửi gắm một sinh viên có thành tích quá
nghèo nào đến nỗi bị đánh rớt. Tôi
tŕnh lá thư lên cha viện trưởng Lê Văn
Lư, người kế thừa cha Lập. Cha Lư xé
tan lá thư, và lập tức cho loại ngay sinh viên
kia. Chúng tôi không bao giờ nghe tin tức về
vị… kia nữa”.
Thỉnh
thoảng có tham ô tập thể như lần anh thư
kư Lê Văn Vang ở văn pḥng Khoa Trưởng báo
cáo là anh đă nhận được một lá thư
nặc danh trong một kỳ thi cuối năm. Thư
đó hứa hẹn cho anh một số tiền
lớn, nếu anh lấy ra các giấy tờ
khảo thí nào đó với các chữ mật mă
trên ḍng cuối của tờ giấy và tuồn
đến một số nhân viên giảng huấn
đặc biệt để cho điểm.
“Chúng
tôi điều tra và phát hiện thấy giảng
viên liên quan là các giáo sư phụ giảng theo
hợp đồng năm. Chúng tôi báo cáo toàn
bộ trường hợp mưu mô này cho Viện
Trưởng. Ngài quyết định lặng
lẽ cho đánh rớt tất cả những sinh
viên có liên quan và hủy bỏ hợp đồng
với các giảng viên. Một giảng viên vi
phạm đă phản đối việc sa thải
này – cho đến khi tôi cho biết [105] kư
hiệu mật mă, th́ mật mă đó mới làm
giảng viên kia câm lặng ngay”.
Một cái
nh́n bao quát về Trường CTKD
Người
biên khảo sau khi phân tích và tổng hợp đă
nh́n thấy Trường CTKD, dù có những sai sót
về số liệu công bố, không chỉ đem
lại một thành công về kiến thức và
kỹ năng chính trị, kinh tế và quản
trị kinh doanh trong lănh vực kinh tế chính
trị cho một tập thể sinh viên khá đông
đảo, góp phần cải thiện h́nh ảnh
thiết thực và độc đáo nhất định
về một Viện Đại Học Công Giáo.
Trong một giai đoạn nhất định Trường
đă góp phần đem lại một giải pháp
cho cuộc khủng hoảng cả về tài chánh
của VĐHĐL.
Nhà
trường c̣n cống hiến một thứ
kiểu mẫu cho những h́nh thức tổ
chức điều hành, học thuật, thi cử
và môi trường làm việc tập thể nhân
bản tối ưu cho mọi thành phần trong
cuộc, mà cho nền giáo dục trong cả giáo
hội và đất nước nói chung trên cái nh́n
ở tầm vĩ mô bao quát từ quá khứ,
hiện tại đến tương lai. Thực
tiễn luôn luôn chứng minh và biện chứng
với những cảm tưởng, lư thuyết và
lư tưởng. Người lănh đạo,
quản trị viên có trách nhiệm không thể
bảo thủ, chuyên đoán, mà cần thức
thời nắm bắt nhạy bén và uyển
chuyển thay đổi cho chính xác hơn măi và có
hiệu quả đào tạo trong cuộc sống là
thế.
Nói
như thế không có nghĩa Trường CTKD là toàn
bích, không có khuyết nhược điểm để
sửa chữa, v́ sai lầm là thuộc về
bản tính của con người. Có thể sai
lầm trong trường hợp này, người
viết trộm nghĩ, là phô trương, phóng
đại về các thành quả Trường đạt
được. Sai lầm không quan trọng bằng
nhận ra ḿnh sai lầm và sửa sai. Đó là cách
nói khác về sự thiếu trung thực của
con người, khi phát hiện sự thật không
hoàn toàn là thế. Nhận thức đó chỉ giúp
con người bay cao hơn, xa hơn và nhanh hơn,
và vững vàng hơn trong những bước
đường sắp tới vậy.
Chương
XV :
Trường Thần Học
Quá
tŕnh phát triển
Phân
Khoa Thần học, do Ban Giảng Huấn Giáo
Hoàng Học Viện Thánh Piô X phụ trách, sẽ
bắt đầu thực sự từ niên khóa
1975-76. Thực thế, theo kư ức của người
tham gia điều hành Trường Văn Khoa VĐHĐL,
đến năm 1974, khi
có sắc chỉ của Ṭa Thánh, sát nhập khoa
Thần học của Giáo Hoàng Học viện vào
Viện Đại học Đà lạt, th́
những người có trách nhiệm liên hệ
bắt đầu thực thi những dự phóng
đă nung nấu, ḍ dẫm, thử nghiệm,
thảo luận, đúc kết các vấn đề
liên quan từ lâu, để thi hành qua thời gian.
Vị
Khoa Trưởng Khoa Thần Học đầu tiên
là LM San Pedro, STD, Tiến Sĩ Thần Học, SJ.
Sau khi rời Việt Nam, ngài làm Phó GM giáo phận
Houston-Gaveston, TX, trước khi được
bổ nhiệm làm GM giáo phận Brownsville, TX.
Từ
năm 1957, các Giám Mục trong Hội Đồng Giám
Mục Việt Nam muốn xây dựng một hàng giáo
sĩ bản quốc có giàu khả năng trí
thức và đạo đức đă thỉnh
cầu Bộ Truyền giáo thiết lập một
Học Viện Giáo Hoàng ở tŕnh độ đại
học. Ṭa Thánh chấp nhận và đă trao công
việc cho các linh mục tu sĩ Ḍng Tên. Ngày
13/9/1958, một số linh mục Ḍng Tên đă xúc
tiến công cuộc thành lập Học viện trên
cơ sở tạm thời ở ngon đồi B
của Viện Đại Học Đà Lạt, gần trường Trung học Trần Hưng Đạo,
trước khi chuyển đến cơ sở chính
thức ở địa điểm hiện nay.
Công
tŕnh được khởi đầu xây dựng
từ năm 1961, và từ niên khóa 1963-64 đă
bắt đầu sinh hoạt cho đến năm
1978. Cơ sở được một kiến trúc
sư người Việt, Ông Tô Công Văn,
mặc dù có người đặt nghi vấn
là phải chăng Kiến trúc sư Ngô viết
Thụ vẽ kiểu và đôn đốc xây
dựng, thực hiện đồ án kiến trúc này,
phù hợp với môi trường đào tạo,
điều kiện chất lượng và tiện
nghi cấp trung ương của Ṭa Thánh tại
Việt Nam.
Cơ
sở học viện mới có một khuôn viên
rộng gần 8 mẫu tây, tọa lạc trên
một sườn đồi nên thơ trên
đường Phù Đồng Thiên Vương,
quay ra đồi cù thơ mộng tiếp nối
với Trường Trung Học Bùi Thị Xuân và
Viện Đại Học Đà Lạt, được
thường xuyên che bóng dưới tán lá xanh mướt
của rừng thông.
Ngày
24/4/1964, Đức Ông Francesco de Nittis, thay mặt Khâm
Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, cùng HĐGMVN, chính
thức khánh thành cơ sở mới với các
tiện nghi thích hợp cho việc đào tạo các
chủng sinh.
Sau
mấy năm đào tạo về Triết học,
ngày 31/7/1965, chương tŕnh thần học
mới bắt đầu tại cở sở mang tên
chính thức là Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X,
Đà Lạt. Tiếp theo đó, Ṭa Thánh qua Bộ
Truyền giáo, cho phép khoa này liên kết với VĐHĐL.
Thực
tế giáo tŕnh thần học đă bắt đầu
có từ niên khóa 1963-64, nhưng xử dụng cho
nội bộ của Giáo Hoàng Học Viện Thánh
Piô X, như một chủng viện giáo hoàng do các
Linh Mục Ḍng Tên quản nhiệm.
Cho đến trước 30/4/1975 Học
Viện đă thu nhận hơn ba trăm (300) sinh viên
chủng sinh thần học theo những học
chế khác nhau. Đă có 246 Chủng Tu Sinh thuộc
nhiều giáo phận và ḍng tu địa phương.
Một số chủng sinh từ các giáo phận nước
ngoài như Lào và Kampuchia. Có 112 chủng sinh giáo
phận và 63 tu sinh ḍng được thu phong Linh
Mục.
Ban
Giảng huấn
Ban
giảng huấn, gồm hơn
ba mươi giáo sư thuộc khoảng 10 quốc
tịch khác nhau. Ngoài
những vị giáo sư cơ hữu, cũng có
nhiều GS thỉnh giảng đến từ các các
cơ sở quốc tế, như Sophia University,
ở Tokyo bên Nhật, Institut Catholique từ Paris, Pháp,
Fujen Catholic University ở Đài Loan, Gregoriana ở
Roma, Ư Đại Lợi.
Hai
GS Trung Hoa thuộc Ḍng Tên là Linh Mục Joseph Chen
Chung Ling và Matthias Chen Van Dzu khi giảng bài, hay
nhắc đến Kiến Trúc Sư Tô Công Văn,
có thể đề cao tinh thần dân tộc
của người Việt Nam.
Ban
Giảng Huấn
Mục
đích của việc đào tạo
Qua
nhiều phiên thảo luận giữa hai cơ quan,
Viện Đại Học và Học Viện Giáo Hoàng
Thánh Piô X đă thảo luận về phương
thức liên kết và được các chức trách
đôi bên phê chuẩn. Thư của Đức
Phaolô VI gửi HĐGMVN ngày 15/9/1966, có đoạn
viết:
“Cuộc
thành lập Khoa Thần Học tại Học
Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X Đà Lạt trong
thời gian sau Công Đồng sẽ khuyến khích
tất cả mọi người có thiện chí,
dấn thân hoàn thành lời Thánh Phaolô “Hăy
thực thi chân lư trong đức ái” (Eph., 4, 5).
Khoa Thần Học sẽ là điểm gặp
gỡ giữa tinh thần Tin Mừng và di sản
triết học và tôn giáo phong phú của dân
tộc Việt Nam.”
Học Viện có mục đích đào tạo các
linh mục với qui mô sâu sắc hơn về trí
thức và tu đức. Các tuyển sinh theo học
ở đây là các chủng sinh được
chọn từ khắp các giáo phận miền Nam, và
một vài chủng sinh từ Kampuchia và Lào.
Với tư cách một phân khoa
của VĐHĐL, khi ra trường, sinh viên
sẽ được cấp bằng Cử Nhân Thần
Học, nếu đạt các chỉ tiêu học
vấn và thi cử qui định. Những ai
muốn dọn Tiến Sĩ Thần Học th́
mới tiếp tục theo học cao hơn. Chương
tŕnh giáo dục theo tiêu chuẩn của một
Học Viện Giáo Hoàng, v́ hầu hết nhân viên
ban giảng huấn là các giáo sư danh tiếng có
khả năng chuyên môn cao của nhiều cơ
sở đại học quốc tế trong và ngoài
Giáo hội.
Chương tŕnh huấn luyện của Giáo Hoàng
Học Viện Piô X Đà Lạt
Chương
tŕnh dự kiến gồm 8 năm chứ không
phải 6 năm, như nhiều chủng viện khác.
Chưa kể đi thực tập mục vụ dài
hạn, (hay đi giúp xứ), có giáo phận 1 năm,
có giáo phận 2 năm chẳng hạn như
Long Xuyên.
Thời
gian đầu được chia ra như sau:
* 1 năm dự bị.
*
3 năm triết học.
* 4 năm thần học.
Thời
gian sau được đổi thành:
* 3 năm triết học và có thể là 4 năm.
* 5 năm thần học.
Sở
dĩ như vậy, v́ muốn theo đúng qui
chế phân khoa thần học của Roma. Đồng thời về triết học, th́ sẽ
theo học ở bên Viện Đại Học Đà
Lạt. Cụ thể
là khoảng 1973-1975 các đại chủng sinh
Ban Triết Học đă sang học bên Viện
Đại Học.
Lúc bấy giờ đă có
được sự thỏa thuận giữa Giáo
Hoàng Học Viện và Viện Đại Học
Đà Lạt. Các đại chủng sinh sẽ
học triết học ở Viện Đại
Học, c̣n Phân Khoa Thần Học của Giáo Hoàng
Học Viện sẽ mở rộng và trở thành
một Phân Khoa chính thức của Viện Đại
Học.
Vài
nét về nội dung đào tạo của GHHV
Giáo
tŕnh thần học này chủ yếu là đào
tạo các chủng tu sinh. Tuy theo nguyên tắc giáo dân
có thể tham gia, nhưng chưa có trong thực
tế, v́ việc quan hệ giữa Học Viện
Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt và Viện Đại
Học Đà Lạt có nhiều phức tạp chưa
giải quyết xong v́ t́nh h́nh xă hội. Hơn
nữa điều kiện để giáo dân tham gia
có nhiều yếu tố cần cân nhắc, kể
cả chủ quan và khách quan.
Thực
tế chu kỳ tám năm đào tạo có thể
diễn ra như sau.
1.
Giáo tŕnh bốn năm triết học. Các
chủng sinh phải học sáu bộ môn chính
của triết học kinh viện theo truyền
thống từ lâu ở các đại chủng
viện của Giáo Hội Côn giáo:
Luận
Lư Học; Hữu Thể Học; Đạo Đức
Học; Tâm Lư Học; Vũ Trụ Học; Thần
Học Tự Nhiên.
Ngoài
ra chủng sinh c̣n phải học một số
bộ môn khác về triết sử.
2.
Khẩu Vấn De Universa: Cửa ngơ vào thần
học
Sau
bốn năm triết học, các chủng sinh
phải qua một cuộc sát hạch khẩu
vấn Về Vũ Trụ, gọi là De Universa. Các
chủng sinh phải trải qua một cuộc thi
hỏi đáp bằng tiếng La Tinh hay Tiếng Pháp.
a.
Ban thẩm vấn có năm giáo sư giám khảo và
mỗi giám khảo đặt một câu hỏi. Thí
sinh phải trả lời xuất sắc mỗi câu
hỏi đó mới đạt tiêu chuẩn, nghĩa
là phải được điểm trung b́nh là
6/10 và được ít nhất là ba giám khảo
cho điểm 6/10 trở lên. Như thế một
thí sinh có hai giám khảo cho điểm 9/10, nhưng
có ba vị chỉ cho điểm 5/10, th́ thí sinh
vẫn không được chấm đậu, dù
[(2x 9)=18; (3x5)=15; (15+18): 5= 6,6] đă được
6,6/10 trên trung b́nh cộng tổng điểm
của 5 môn vấn đáp.
b.
Một điều kiện nữa là khi đă thi
vấn đáp đạt kết quả tốt, th́
các điểm học về mỗi môn của
bản thân thí sinh trong bốn năm học
triết trước đó, phải được
điểm trung b́nh.
Nếu
không đủ điều kiện vượt qua
cuộc khẩu vấn De Universa, th́ chủng sinh
vẫn được theo học bốn năm
thần học, nhưng không đủ điều
kiện để được cấp văn
bằng Cử Nhân Thần Học sau khi tốt
nghiệp.
3.
Học hỏi bằng thảo luận, đối
thoại
Trong
khi học thần học, để củng cố
đức tin trong việc t́m hiểu các tôn giáo khác
bằng phương pháp đối thoại, các
chủng sinh cũng được tiếp xúc
thẳng với các vị chức sắc tôn giáo khác
để thảo luận, đối thoại.
Cụ
thể là trong một khóa học bốn năm
thần học, Thượng Tọa Phật Giáo Thích
Minh Châu của Viện Đại Học Vạn
Hạnh được mời lên tŕnh bày một
số vấn đề cơ bản nhất
của Phật Giáo và tiếp xúc đối
thoại với sinh viên, nhưng hôm đó, Thượng
Tọa Thích Minh Châu bận Phật sự, nên
cử Thượng Tọa Thích Quảng Độ
lên Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt thay
thế. Hai câu hỏi được đặt ra
cho Thương Tọa là:
Thuyết
cấm sát sinh của nhà Phật không thể
thi hành tuyệt đối được. Người
ta không thể không uống nước. Thế mà
ngay trong nước lă thường, đă có không
biết bao nhiêu vi sinh vật trong nước.
Uống vào là sát sinh rồi?
Câu
hỏi về thuyết luân hồi: Phật Giáo
giải thích thế nào về dân số học.
Mỗi năm dân số mới cao hơn, và v́
thế cơi nhân sinh mỗi năm mỗi tăng thêm.
Vậy có phải là nhiều thú vật sống
lanh hơn và thăng tiến chức năng?
Trong
buổi kết thúc khóa đối thoại liên tôn
TT/ TQĐ đă phát biểu mấy ư.
Trước
khi tin rằng đó là phát biểu từ tâm thành
của Thượng Tọa Thích Quảng Độ,
b́nh thường các độc giả nghĩ
rằng những ư tưởng phát biểu dưới
đây chỉ mang tính xă giao.
1.“Chưa
bao giờ tôi gặp một nhóm sinh viên xuất
sắc và lịch lăm như thế trong đời”
2.“Những
câu hỏi đặt ra rất tốt cho cuộc
đối thoại liên tôn trong tương lai”
3.“Phải
rất lâu nữa Phật Giáo mới chuẩn
bị được một lớp người tương
lai như vậy”
4.“Nếu
ở thêm một tuần nữa nghe các chủng
sinh đặt thêm câu hỏi, th́ chắc tôi
sẽ theo Công giáo luôn”
Các
phát biểu trong bối cảnh kết thúc một
cuộc đối thoại của một vị Thượng
Tọa như Thích Quảng Độ không thể
lột tả sự chân thành qua lời phát
biểu bên ngoài đúng như tấm ḷng của
chính người đối thoại.
Câu
1 là một cách tán tụng thuần túy thông thường
đối với rất nhiều đối tác xă
giao.
Và câu 2 là một câu bông đùa cho vui hơn
là thực chất, nhưng cũng có thể có
nhiều hàm ư khác.
Câu
3 dường như nói để có đối
thoại, nhưng kết quả của cuộc
đối thoại đó hầu như sẽ
chẳng giải quyết ǵ cả ngoài một thái
độ ḥa hoăn khoan dung, v́ không ai giải thích
cặn kẽ được những vấn đề
đặt ra cho niềm tin của mỗi tôn giáo,
mỗi tín ngưỡng, mỗi con người. V́
thế “đường anh đi anh cứ đi, và
đường tôi đi, tôi cứ đi”.
Trong
câu 4, chắc chắn về phương diện
đào tạo, phải rất lâu nữa Phật Giáo
mới chuẩn bị được một
lớp người tương lai như trong
một chủng viện Công giáo. Nhưng có thể
không bao giờ có một lớp người như
thế trong Phật giáo, v́ mỗi tôn giáo có
những sắc thái môi trường riêng biệt mà
tôn giáo khác không có.
Các
chủng sinh cũng được ra ngoài tham gia
những cuộc tranh luận, như về vấn
đề hạn chế sinh sản ở KS
Palace, Đà Lạt, do chính GS Phó Bá Long tổ
chức với tài trợ hoàn toàn của Mỹ.
Nhiều thuyết tŕnh viên khác như các học
giả, các Giám mục, Linh Mục chuyên môn cũng
được mời đến trao đổi
với chủng sinh. Nhà văn Duyên Anh nói về giáo
dục tuổi trẻ, nhà văn Hoàng Xuân Việt
nói về thái độ cởi mở biết
lắng nghe những người nói khác ư ḿnh.
Có
những cuộc thăm viếng đặc biệt
đến GHHV của các nhân vật nổi
tiếng như Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu (1967), và Bề Trên Cả Arrupe Ḍng Tên
đến VN và đến GHHV (1968).
Thực
tập mục vụ
Ngoài
chương tŕnh học tập chủng sinh cũng
được thực tập mục vụ
ngoại khóa bằng nhưng cuộc thăm
viếng thực địa, thăm bệnh
viện, lao xá, hướng dẫn giáo lư ở các
trường trung tiểu học, hướng
dẫn JUC, Hùng Tâm Dũng Chí, Thiếu Nhi Thánh
Thể, giúp các nhóm trẻ em bụi đời cao
bồi vùng Đà Lạt.
Nhưng biến cố
30/4/1975 đă chặn đứng tất cả
mọi dự tính.
Giai đoạn tu học 1927-1933. Từ 15 tuổi,
cậu xin gia nhập ḍng sư huynh La San, trở
nên tu huynh ứng sinh
Ḍng La San từ ngày 3/8/1927. Chỉ năm năm
sau, Thầy được khấn trọn đời
ngày 27/7/1937 và trở thành một sư huynh
trẻ tuổi của Ḍng La San. Sau đó SH theo
học Trường Đại Học Văn Khoa
Sàig̣n (1956-58) về văn chương và
triết học. Đồng thời SH tranh
thủ học thần học ở Đại
Chủng Viện Xuân Bích (Saint Sulpice) Thị Nghè,
Gia Định
SH được nhà ḍng cho du học (1958-61).
Ở Rôma SH thụ huấn tại Trường
Laterano (58-61) về thần học, sư phạm
giáo lư, tính tỉnh học, linh đạo.
Rồi SH theo học tại Trường Angelicum
về nghệ thuật làm Master of the Novices (1959).
Trong hành tŕnh đến Rôma năm 1958, SH
vừa có nhận thức vừa du hành vừa
học hỏi qua các trạm dừng chân
Singapore, Tích Lan, Colombo, Ấn Độ Dương,
Djibouti, Địa Trung Hải, Pháp, Ư. Rồi Anh
(1959), Pacific Ocean, Philippin, Guam, USA (1975) Pháp,
Bồ, Tây Ban Nha, Monaco, Ư, Đức, Úc,
Thụy sĩ, Ḥa Lan, Bỉ và Anh (1985).
SH tham gia giảng dậy và làm việc ở
nhiều môi trường khác nhau, như: Trung
học Th. Thomas Nam Định (1933-34), Pellerin
(34-38), Th. Thomas Trung Linh (38-39), Puginier Hà Nội
(1939-41), làm nhạc trưởng, chơi orgue nhà
thờ, Taberd Sàig̣n (41-49) dậy Pháp, Ngôn
ngữ, Latinh, Hy Lạp, chơi Orgue, Piano, Violin),
Adran (49-50) dậy Latinh, violin, piano, Lasan Taberd
(50-58).
Viện Đại Học Đà Lạt 62-75:
Tập Viện La San Nha Trang (63-67), thông tín viên
Giáo Dục (1963-75), dậy thần học,
lịch sử giáo dục, nhiệm vụ
học (62-75) Giám Đốc Thư Viện VDHDL
Phó GĐ Đại Học Xá (1968),
Đến Hoa Kỳ 1975-2003: Dậy ở St Mary’s
College of Northern California, curator Thư Viện
(75-76), Latinh, Ban Cổ điển (76-99), tiếng
Anh, Hy Lạp, Pháp, thông tín viên tập san Liên
Lạc ở San Jose (1976-1984). Dịch một
số sách thần bí về Anna Catharina (4
cuốn), Maria Valtorta (10 cuốn) sang Tiếng
Việt, nghiên cứu học hỏi văn hóa Pháp,
Anh, … cho đến lúc từ trần hồi
10.45am ngày 2/11/2003.X tại nhà ḍng Lasalle, San José,
California, Hoa Kỳ, thọ 91 tuổi. (Ban Điều Hành Hội Ái
Hữu Thụ Nhân Viện Đại Học
ĐàLạt Nam California: Đặc San Sư
Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế. “Frère
Kế, Thụ Nhân và một đời hiến
dâng cho giáo dục.” Southern California, USA
(12/2003), 183 t., pdf., in font 12. Ban
Biên Tập Đặc San: Tiểu sử Frère
Théophane Kế. Đặc San Frère Kế,
Southern California 12/2003, t. 99-101; cũng xem BBT ĐSKD7:
“Cố Frère Théophane Nguyễn Văn Kế.
ĐSKD7, tt. 43-49)
Ông
Phó Bá Long xuất thân từ các trường:
Trung học St. Francis Xavier (Thượng Hải,
Trung quốc); Trường Bưởi (École de
Protectorat), Albert Sarraut và Đại Học Dược
Khoa Hà Nội, Việt Nam.
Tháng 7, 1954, ông trúng tuyển chương tŕnh
học bổng Fulbright. Ông xin theo học ngành
Kinh Doanh tại trường Công Giáo Georgetown
ở Washington, D.C. Nhưng trường này không
có ngành ông muốn theo học và v́ thế
được giới thiệu theo học
bậc Cao Học Kinh Doanh hai năm tại Trường
đại học Harvard (Harvard Business School,
Boston).
Năm 1956, ông về nước làm Quản
Trị Ngân Hàng Quốc Gia thời Việt Nam
Cộng Ḥa I ở Miền Nam. Ông đă làm
Tổng Giám Đốc Nhà Máy Gạch Bắc
Kỳ và Công Ty Thủy Tinh, và làm Giám Đốc
bản xứ cho hăng dầu Esso tại Sài G̣n. Năm
1970, ông làm Khoa Trưởng Trường Chánh
Trị Kinh Doanh, Viện Đại Học Đà
Lạt, và thỉnh giảng tại Trường
Đại Học Quốc Pḥng Việt Nam
Cộng Ḥa cho đến 1975
Sang Hoa Kỳ, Giáo Sư dạy Anh văn tại trường
trung học công lập Montgomery Blair, MD, Marketing
tại American University, và thỉnh giảng môn
Đông Nam Á Học trên du thuyền Đại
Học Pittsburg, PA. Ông đă làm Đồng Giám
Đốc Trung Tâm Hướng Dẫn định
cư tại Viện Ngữ Học Thực Hành
và đă cộng tác tại các trại tỵ
nạn Pulau Bidong, Palawan, Bataan, Galang, Sikew, Macao,
Hong Kong, và Bắc Hải ở Trung quốc.
Ông làm thông dịch viên công chứng của
Bộ Ngoại Giao Mỹ, nên đă công tác
tại các Hội nghị quốc tế về
quân nhân mất tích và định cư tỵ
nạn tại Hawaii, Geneva, và Paris.
Từ năm 1983-1989 Giáo Sư làm Giám Đốc
Chương Tŕnh Đào Tạo Kinh Doanh cho người
Việt Nam, dưới bảo trợ của
Georgetown University School for Summer and Continuing Education.
Chương tŕnh này được đem vào
giảng dạy tại các đại học
Việt Nam, Lào và Kampuchea.
Ông Bà sinh được bốn trai, hai gái và
đến nay đă có bốn cháu nội
ngoại. Hiện nay Ông Bà Phó Bá Long đang
nghỉ hưu tại Washington, D.C., Hoa Kỳ.
GS Ngô Đ́nh Long theo học Trường
Quốc Học Khải Định và đậu
Tú Tài II năm 1952. Cũng trong năm này, ông
được học bổng của Quốc Trưởng
Bảo Đại, du học Kỹ Sư Điện
tại trường đại học Wisconsin
thuộc Madison, Wisconsin ở Hoa Kỳ. Nơi
đây, ông đă liên tục tốt nghiệp các
văn bằng: Bachelor of Science, Electrical Engineering
(1956), Master of Science, Electrical Engineering năm (1957)
đồng thời làm Phụ Tá Giảng
Huấn cho nhiều lớp Kỹ Thuật điện
học (1957-1959). Năm 1959, đáp ứng
lời mời của Nguyên Tử Lực
Cuộc Việt Nam, ông hồi hương
cộng tác xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử Đà
Lạt.
Năm 1964, ông được Giáo Sư Trần
Long mời cộng tác và giảng dạy môn
"Toán Kinh Thương" cho sinh viên Chánh
Trị Kinh Doanh từ Khóa 1-8. Ngoài ra ông c̣n có
dịp dạy môn Vật Lư Hạch Tâm cho sinh viên
Khoa Học và lớp Nghệ Thuật Phiên
Dịch Anh-Việt, Việt-Anh cho sinh viên Văn
Khoa cũng thuộc Viện Đại Học
Đà Lạt. Ông phụ trách liên tục môn Toán
Kinh Thương từ Khóa 1 đến Khóa
cuối cùng gồm các đề tài chi tiết
như: tiền lăi, lăi đơn, lăi kép, các niên
khoản, xác suất và ứng dụng trong các
ngành bảo hiểm, v.v. Sau này ông Ngô Đ́nh
Long c̣n kiêm nhiệm một số công việc khác
ở Viện.
“Chúng tôi phải chế ra những từ
mới như “hành xử” cho behavior có nghĩa
đen là thái độ hành động. Đă có
nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về
thuật ngữ marketing cho đến khi chúng
tôi t́m đển chữ “tiếp thị”,
tức “cung ứng thị trường”. Năm
1968, tôi hội với Oliver Giscard d’Estaing (anh em
của Tổng Thống Pháp) người cùng
học dưới tôi một hay hai năm ở
Harvard. Lúc đó, ông làm nhà sáng lập/giám
đốc Institut Européen d’Administration
d’Entreprises tức là INSEAD. Tôi hỏi ông đầu
tiên là tiếng Pháp ông nói marketing là thế nào?”
Ông cười to tiếng và vỗ vào lưng tôi
và nói “Bồ ạ, chúng tôi cứ gọi là
marketing.” PBL: Autobiography, đd., t.105.
|
|