Viện Đại Học Đà Lạt  
Giữa  Ḷng Dân Tộc Việt Nam  
1957-1975

 

Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm

........

 

PHẦN III : KHỐI HỌC VỤ: CÁC PHÂN KHOA

Trong Viện Đại Học, các cơ quan, đơn vị giảng huấn như phân khoa, trường và Thư Viện và cơ quan nghiên cứu, pḥng thí nghiệm trong khối học vụ có tầm quan trọng riêng biệt. Lần lượt chúng ta sẽ phân tích quá tŕnh phát triển của từng bộ phận này xuất hiện theo thời gian.

Chương XI : Trường Sư Phạm

1. Ban Điều Hành

Linh Mục Viện Trưởng ở thời gian ban đầu (1958-1965) trực tiếp điều hành tổng quát Trường Sư Phạm với tư cách Khoa Trưởng. Người tham gia công tác điều hành và giáng dậy ban đầu cùng với LM Viện trưởng là Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm, B.A. về Văn Chương (1965-1967). Tiếp theo sau đó là Linh Mục Vũ Minh Thái, Ph. D. về giáo dục (1967-1975), với LM Mai Văn Hùng, OP, Tiến Sĩ Triết học, làm Phó Khoa Trưởng.

Trong Ban Điều Hành từ 1972-73 về sau, có hai GS Trần Văn Cảnh, GS Trần Văn Mầu (Phụ Khảo) với ông Nguyễn Hữu Thu làm Thư Kư. Điều đáng chú ư là Trường Sư Phạm xây dựng một Hội Đồng Khoa thường xuyên với Lm Vũ Minh Thái làm CT, GS Nguyễn Đ́nh Hoan, PCT và GS Trần Văn Mầu làm thư kư. Ba Ủy viên là SH Nguyễn Văn Kế, Nguyễn Văn Trí và LM Nguyễn Hữu Trọng. Hầu hết những nhân viên giảng huấn này đều ít nhiều có liên quan đến Ḍng La San, chuyên về giáo dục thanh thiếu niên trong các trường học Công giáo.

2. Sinh hoạt chuẩn bị

Trong thời gian ban đầu, Trường Sư Phạm hướng dẫn tráng niên chưa có cơ hội thi lấy văn bằng Tú Tài nhằm hướng dẫn họ theo một giáo tŕnh kỹ thuật[1]. Nhưng chí có 30 người ghi danh học[2], một sĩ số khiêm tốn, và một phân nửa đă bỏ dở nừa chừng. Do đó từ niên khóa 1958-1959, Viện thu nhận các sinh viên đă tốt nghiệp trung học có văn bằng Tú Tài Toàn Phần, nếu muốn theo học các ngành phân khoa đại học.

SH Théophane cũng có thời gian tham gia giảng dậy lớp Sư Phạm Giáo Lư cho một số nữ tu và giáo dân làm giáo lư viên. SH Gérard là người trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức lớp GLSP này. Đây không phải là một phân khoa của Viện Đại Học nhưng được Viện bảo trợ. Trong số các vị phụ trách giảng dậy cho lớp sư phạm giáo lư đó, có LM Nguyễn Thế Thuấn DCCT, Nguyễn Văn Ḥa, gốc địa phận Hà Nội (sau làm GM Nha Trang). Trong lúc đó, ngoài việc tham gia lớp SPGL đó, SH Théophane c̣n hướng dẫn về tu đức và cầu nguyện cho các nữ tu tại Tu viện Mến Thánh Giá Hà Nội ở khu suối Cam Ly.

Biểu Đồ 10. Số Liệu Về Thành Quả Trường Sư Phạm, 1958-1973[3]

Niên Khóa

Sinh Viên

Ghi danh

Tốt nghiệp Cử Nhân

(1)

(2)

(3)

1958-59

49

00

1959-60

109

00

1960-61

163

44

1961-62

177

53

1962-63

140

58

1963-64

112

58

1964-65

051

51

1965-66

000

00

1966-67

109

00

1967-68

183

00

1968-69

120

00

1969-70

250

24

1970-71

336

15

1971-72

543

18

1972-73

565

41

Tổng Cộng

2805

362

Chú thích

1/ Những sinh viên lớp tốt nghiệp đầu tiên chỉ học có ba niên khóa.

2/Từ 1958-1965, Trường Sư Phạm có giảng dậy theo hợp đồng với Bộ giáo dục năm khóa liên tục được 264 giáo sư trung học. Như thế sang niên khóa tiếp (1965-66) đă không có sinh viên nào ghi danh. Do đó bốn năm liền sau khóa đó không có sinh viên nào tốt nghiệp.

3/Bảng thống kê này không tính số sinh viên và môn học niên khóa 1957-58  

 

Hoạt Động Đại Học Sư Phạm Chính Thức

Giai đoạn 1958-65

Viện Đại Học Đà Lạt cũng triển khai hoạt động hợp đồng với Bộ quốc gia giáo dục[4] để giảng dậy hai lớp sư phạm Triết học và Pháp Văn theo học trong ba năm. Mỗi lớp trung b́nh có chừng ba mươi sinh viên đều do BGD tuyển dụng. Các sinh viên được BGD cấp học bổng là 1.500 đồng/tháng. Trong suốt 5 khóa học th́ tổng cộng có 264 sinh viên tốt nghiệp trở thành Giáo sư THĐ2C[5], giảng dậy tại các trường công lập trên toàn quốc.

Sư Huynh (SH, Frère) Pierre Trần Văn Nghiêm, người góp phần sáng lập Phân Khoa Sư Phạm và cũng là Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên ngay lúc ban đầu. Sư Huynh Trần Văn Nghiêm sau này (BA về Văn Chương, 65-67) giảng dậy về Tâm Lư Sư Phạm trong khi giữ nhiệm vụ Khoa Trưởng có chú ư đến một tính cách tân kỳ[6] của Trường Sư Phạm Đà Lạt.

Sư Phạm được quan niệm là một thực năng riêng biệt với văn bằng, v́ văn bằng cử nhân sư phạm chỉ được cấp cho những sinh viên nào có ít nhất ba trong bốn chứng chỉ đ̣i hỏi cho văn bằng Cử Nhân Văn Khoa hay Khoa Học. Bốn năm học về tâm lư sư phạm chỉ cấp chứng chỉ sư phạm, chứ không phải văn bằng Cử Nhân. Những sinh viên nào học trọn khóa chuyên môn, th́ chỉ được cấp văn bằng Cử Nhân chuyên môn đó (Văn Khoa hay Khoa Học). Nhưng trọn khóa chuyên môn với chứng chỉ sư phạm th́ được cấp hai văn bằng cử nhân chuyên môn và cử nhân sư phạm. Các Trường Cao Đẳng Quốc Gia ở Huế, Sàig̣n và Cần Thơ chỉ cấp Văn Bằng Cử Nhân Chuyên môn và chứng chỉ Sư Phạm.

Chương tŕnh tâm lư sư phạm được phân bố trong bốn năm sư phạm là: Tâm lư học đại cương, Tâm lư ứng dụng; Tâm lư thiếu nhi và thanh niên; Khoa sư phạm thực nghiệm; Phương pháp trắc nghiệm, Phân tâm học, Nhi bệnh học; Phương pháp hoạt động; Lịch sử giáo dục, Tính t́nh học, Xă hội học thiếu nhi.

Theo sư huynh P. Trần Văn Nghiêm, sau năm 1975, các sinh viên đến Mỹ định cư, có Văn Bằng Cử Nhân Sư Phạm Đà Lạt được chấp nhận có năng lực tương đương với BA hay BS trong hệ thống giáo dục Mỹ, trong khi từ khước tính cách tương đương đó với các chứng chỉ sư phạm của nhà nước VNCH trước kia!

SH Théophane Nguyễn Văn Kế[7] và SH Mai Tâm là hai vị khác trong số các giáo sư tiên khởi của Trường Sư Phạm. SH Théophane cộng tác với Trường Sư Phạm từ năm 1962, phụ trách giảng dậy các bộ môn: Lịch sử Giáo Dục, Tâm Lư Xă Hội bên Trường Sư Phạm, và sau này Nhiệm Vụ Học[8].SH Théophane coi dậy học là một sứ mệnh ông được mời gọi tham gia. Ông rất hăng say v́ sự nghiệp giáo dục, như dọn bài giảng kỹ lưỡng, in giáo tŕnh thành từng tập, mà sinh viên có thể mua dễ dàng ở cơ sở ấn loát của viện. Các sinh viên theo học với SH Théophane không thể không biết đến giáo tŕnh kể trên, nhưng họ ưa chuộng tập “Giáo Dục T́nh Yêu” hơn cả

 Niên học 1960-61, lớp Pháp Văn năm thứ ba của Trường Đại Học Sư Phạm có lẽ cả lớp gồm 18 sinh viên, trong đó có 8 nữ, c̣n để lại tấm h́nh chụp chung với giáo sư hướng dẫn lớp là một người Pháp. Lễ tốt nghiệp lớp này được tổ chức ngày 23/3/1961. Bảy sinh viên xuất sắc nhận được phần thưởng đặc biệt của nhà trường. Văn bằng tốt nghiệp được cấp phát ngày 29/3/1961 do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Trần Hữu Thế kư ngày 29/3/1971, sau khi LM Viện Trưởng Trần Văn Thiện đă kư hôm trước.  Năm thứ ba có 24 sinh viên Sư Phạm Ban Triết niên khóa 1960-61 lưu lại một tấm h́nh, trong đó chỉ có hai nữ sinh viên. Những h́nh ảnh này là chứng liệu cho thấy lớp học này đă thực sự diễn ra từ năm 1958 đến 1961.

Các sinh viên sư phạm ở giai đoạn ban đầu này được nhà nước tuyển mộ và khi tốt nghiệp sẽ được nhà nước bổ dụng.

Giai đoạn 1965-1967

Trường Sư Phạm đào tạo Giáo Sư giảng dậy trong các trường tư thục. Chính thời gian này, Bộ GD đă cho phép Trung Tâm Sư Phạm Đà Lạt chính thức trở thành một Trường Đại Học Sư Phạm đúng nghĩa theo Giấy Phép số 7166/GD/PC1, kư ngày 26/9/1967.

Giai đoạn 1967-1975

Trường Sư Phạm do LM Vũ Minh Thái, Ph.D. in Education, Hoa Kỳ, làm khoa trưởng. Trường Sư phạm được thiết lập sớm nhất cùng với Trường Văn Khoa, trong hợp đồng giàng dậy Triết học và Pháp văn với Bộ Giáo Dục.

Trường Sư Phạm có dự án mở rộng chuyên môn sang hai phạm vi giáo dục tổng quát ngành Quản Trị Kinh Doanh và Chánh Trị Xă Hội, đồng thời thiết lập thêm Ban Sư Phạm Âm Nhạc. Từ năm 1967, Trường Đại Học Sư Phạm chính thức được tổ chức theo đúng chức năng qui định về học chế bốn năm cho văn bằng Cử Nhân Sư Phạm. Trường Sư Phạm chuyên giảng dậy về chuyên môn sư phạm nhưng dần dần kết hợp với ba Trường Văn Khoa, Khoa Học và Chánh Trị Kinh Doanh về nội dung chuyên ngành giảng dậy.

Thực tế có nhiều ban thuộc các Trường Văn Khoa (Triết, Việt, Sử, Địa, Pháp, Anh) và Khoa Học (Lư, Hóa). Bộ Giáo Dục chấp nhận hợp thức hóa Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt và cho phép cấp văn bằng Cử Nhân Sư Phạm theo Nghị định số 2675/GD/PCHV/NĐ, kư ngày 24/12/1969. Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt mở rộng hoạt động mở mang dân trí cho cộng đồng dân tộc ít người, nên BGD cho Phép Trường được mở khóa huấn luyện cấp tốc cho 100 Giáo Sư Trung Học Đệ Nhất Cấp sắc tộc mỗi năm theo nghị định kư ngày 15/11/1972, mang số 2684/VHGDTN/NGV/NĐ. Khóa huấn luyện cho người dân tộc thiếu số được thực hiện từ năm 1973-74 về sau[9].

 

Chương XII : Trường Văn Khoa      

1. Ban Điều Hành

Phân khoa Văn Khoa, cũng như Sư Phạm, do LM Viện trưởng nắm quyền điều hành tổng quát trong giai đoạn đầu tiên (1958-1965), có Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm tham gia điều hành và giảng dậy đầu tiên. Khóa đầu c̣n là hai năm dự bị đại học. Về sau, Linh Mục Lê Văn Lư làm Khoa Trưởng Trường Văn Khoa (1966-70) rồi làm Phó Viện Trưởng.

Ở những năm 1970-1975, khi LM Lê Văn Lư làm Viện Trưởng có đề xuất Linh Mục Lê Tôn Nghiêm, Tiến Sĩ Triết Học, làm Khoa Trưởng, nhưng ngài từ chối. LM Trần Thái Đỉnh, Tiến Sĩ Triết Học Institut Catholique de Paris, nhận làm Khoa Trưởng nhưng chỉ trên danh nghĩa (1970-72).

Trong thực tế, về sau GS Nguyễn Khắc Dương, Cử Nhân Văn Chương (Sorbonne), được đề bạt làm Phó Khoa Trưởng, nắm Quyền khoa trưởng (1972-75), và tiếp sau có GS Nguyễn Hồng Giáp, Tiến sĩ Lịch Sử Kinh tế, làm Phó Khoa Trưởng (1973-75).

2. Ban Giảng Huấn

Ban Điều hành nói trên có sự cộng tác trực tiếp của một số GS Phụ Khảo như  Nguyễn Thanh Châu, Trịnh Nhất Định, Nguyễn Văn Ḥa, Hoàng Thái Linh, Phạm Duy Lực, Nguyễn Trung Thiếu, Trần Ngọc Cường, Phạm Văn Hải, Lê Văn Khuê. Văn pḥng Trường Văn Khoa có ông Phan Văn Thịnh làm thư kư hành chánh.

Hội đồng Khoa của Trường Văn Khoa, gồm những nhân viên giảng huấn chủ chốt:

GS Nguyễn Khắc Dương, Quyền Khoa Trưởng, kiêm Trưởng Ban Triết

GS Nguyễn Hồng Giáp, PKT

GS Vũ Khắc Khoan, Trưởng Ban Việt Văn

LM Nguyễn Ḥa Nhă, TB Sử Địa

GS Lê Văn, TB Anh Văn

LM J.Maïs, TB Pháp Văn

Càng ngày càng cần có thêm nhiều giáo sư thỉnh giảng tử Sàig̣n và nhiều nơi khác đến, như LM Nguyễn Việt Anh, Tiến sĩ Văn Chương Anh Đại Học Thụy Sĩ, LM Hoàng Kim Đạt, Tiến Sĩ Văn Chương, LM Vũ Đ́nh Trác, Bác Sĩ Triết học Đài Loan, Lương Kim Định, Tiến Sĩ Triết Học Paris, các GS Lê Hữu Mục, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thế Anh, Hoàng Khắc Thành, Phạm Cao Dương học giả Cao Hữu Hoành, Lê Thọ Xuân, Trần Trọng San,…

Theo số lượng, Trường Văn Khoa mời nhiều Giáo Sư thỉnh giảng đông đảo thứ hai (gần 70 giáo sư, không kể nhân viên giảng huấn cơ hữu) sau trường Chánh Trị Kinh Doanh (gần 84 Giáo sư, không kể nhân viên giảng huấn cơ hữu)

3. T́nh h́nh các Ban Chuyên môn

Trường Văn Khoa lần lượt có các Ban Triết Học, Pháp văn (từ 1958-59), Việt Văn (1962-63), Anh Văn (1965-66), Sử Địa (1966-67). Từ niên khóa 1974-75, Ban Sử Địa được tách thành hai ban Sử Học và Địa Lư riêng biệt. Như thế toàn thể các Ban thuộc Trường Văn Khoa nay trở thành sáu ban.

4. Học chế

Trước kia, theo chế độ chứng chỉ, các sinh viên muốn được văn bằng Cử Nhân, phải trúng tuyển năm Dự Bị, đậu thêm Bốn Chứng Chỉ trong bốn năm.

Từ năm 1969-70, nhà trường chuyển sang hệ thống niên chế. Từ đó sinh viên được cấp văn bằng Cao Đẳng Văn Khoa, nếu trúng tuyển Hai năm đầu tiên, và được cấp Văn bằng Cử Nhân, nếu đậu đủ bốn năm học.

Kể từ năm 1972-73, nhà trường lại cải tiến theo “hệ thống tín chỉ”. Từ niên học 1974-75 sinh viên của tất cả các Ban đều theo học cùng một chương tŕnh cho Năm thứ I. Khi đậu xong năm đầu tiên, sinh viên học theo từng tín chỉ. Chỉ cần đủ số tín chỉ chuyên môn theo qui định, sinh viên được cấp văn bằng Cử Nhân Văn khoa 

V́ nhu cầu phát triển, theo đề nghị của Viện Đại Học Đà Lạt, Bộ Giáo Dục cho phép Trường Đại Học Văn Khoa thuộc Viện được cấp thêm bằng cao học, theo nghị định số 1144/GD/KHPC/HV/NĐ, kư ngày 8/6/1971. Như thế, từ năm 1971, nhà trường đă cấp một số văn bằng Cao Học và dự trù năm 1975, phát triển lên cấp văn bằng Tiến Sĩ.

5. Phương Pháp Giảng Dậy

Chủ yếu phương pháp cổ truyền được áp dụng là thuyết giảng trong lớp học. Không có một phương pháp nào thống nhất khác được áp dụng. Một vài giáo sư có tiếp cận với phương pháp điển cứu và hội học theo từng nhóm và có nghiên cứu tập thể trên thực địa nhưng c̣n hạn chế.

Nhà Trường cũng xúc tiên việc lập Hội Sử Học nhưng tất cả chỉ ở giai đoạn thành h́nh ban đầu.

Biểu Đồ 11. Số liệu về Thành Quả Trương Văn Khoa, 1959-73[10]

Niên Khóa

Sinh viên

Cấp Cử Nhân

Cấp Cao Học

Ghi danh

Tốt nghiệp

Ghi danh

Tốt nghiệp

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

1959-60

41

0

 

 

1960-61

74

0

 

 

1961-62

158

3

 

 

1962-63

247

5

 

 

1963-64

271

6

 

 

1964-65

295

16

 

 

1965-66

405

10

 

 

1966-67

633

23

 

 

1967-68

952

36

 

 

1968-69

1074

67

1

 

1969-70

1277

57

6

 

1970-71

1091

68

17

 

1971-72

1003

24

04

03

1972-73

1379

43 (K.4/6/73)

10

00

 Tổng Cộng

8800

363

38

03

Chú thích: 1/ Sinh viên Sư Phạm thưởng học song hành với các khoa khác về phần chuyên môn, nhưng niên khóa 1958-59 không có sinh viên văn khoa. Chắc là v́ năm đầu chỉ học phần chuyên biệt Sư Phạm?

2/ Số 8838 sinh viên ghi danh của hai cột (2)và (4) ở dây không khớp với biểu đồ toàn viện (9870). Cộng lại trên máy là 8144. Như vậy cả hai con số trên hai bảng thồng kê đều sai, vi cộng nhầm. Chúng tôi chưa kiểm tra lại các số liệu khác.

 

Vấn đề điều hành Trường Văn Khoa  

Theo kư ức của GS Nguyễn Khắc Dương, buổi đầu t́nh h́nh Trường Văn Khoa diễn ra như kể trên. Nhưng rồi cả hai vị có những lư do riêng, đều khước từ, v́ thế GS Nguyễn Khắc Dương, đă được đặt làm Trưởng Ban Triết học, nay được chỉ định làm Quyền Khoa Trưởng, dù chỉ có Văn Bằng Cử Nhân[11].  

Những ḍng chữ này cho thấy nhận thức của một Giáo Sư Triết Học, Quyền Khoa trưởng của một người có trách nhiệm gây dựng Trường Văn Khoa suốt một quá tŕnh gần 10 năm trời. V́ muốn hoàn toàn trung thực, xin quí vị độc giả trực tiếp nghe tác giả tự sự. Chắc chắn có nhiều nhận định khác nhau về t́nh h́nh nhiều mặt của Trường Văn Khoa VĐHĐL dưới quyền điều hành của GS Quyền Khoa Trưởng Nguyễn Khắc Dương qua đoạn bút kư này:  

Tôi không phải là Linh mục hay tu sĩ ǵ cả, nhưng tôi sống với cộng đoàn giáo ban tại Đại Học cũng gần như một nhà tu: chỉ lo chu toàn bổn phận chức nghiệp dạy học. Tôi ít lưu tâm đến vấn đề chính trị bên ngoài, trao đổi với anh em đồng nghiệp cũng chỉ ở mặt chuyên môn dạy học và văn hoá mà thôi. Những năm đầu, Đại Học Đà lạt cũng gần như chỉ là chỗ tôi dung thân trong cuộc sống tạm gọi là “lạc bước vào Nam” do sự trật đường rầy trên con đường t́m một dạng thức tu tŕ mà phải bị ném ra giữa cuộc đời thế tục, chứ ḷng tôi chẳng hề dính bén về mặt danh lợi và t́nh duyên. Cuộc sống của tôi có chăng như là một kư túc viên cao cấp: chẳng sắm sửa ǵ chẳng có ư định gây dựng ǵ cả. Ai giao việc ǵ th́ làm việc ấy lương bổng đưa bao nhiêu nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu.”[12]

“Vả lại, tôi cũng có một bảo đảm về tương lai, v́ theo chương tŕnh của Ban Quản trị Hội Đại Học Đà Lạt, th́ thế nào khi tuổi già sức yếu tôi cũng có một bảo đảm về tương lai, có chỗ nương thân, đó là chưa nói có cùng lắm th́ gửi thân cho một tu viện, một giáo xứ nào đó cũng là việc dễ.”[13]  

“Chúa đưa đẩy ḿnh vào vị trí ấy có phải là Ư Ngài muốn ḿnh làm một việc nào đó chăng? Trưởng Ban Triết Học, Quyền Khoa Trưởng Văn Khoa trong thực chất có khác ǵ khoa trưởng thực thụ, v́ giữ chức vụ ấy 3 năm của một Viện Đại học Công giáo, th́ không lẽ chỉ làm việc cá nhân, tài tử, phóng khoáng quá mức như vậy được! Đành rằng ngoài những lư do chủ quan đă tŕnh bày trên, thái độ hơi tài tử của tôi cũng có hơi phần nào do t́nh trạng khách quan của Viện Đại Học Đà Lạt.”[14]  

Vấn đề thi cử. “Do đó thi cử tôi cho là phản triết học, chỉ là chuyện vạn bất đắc dĩ! Các đề thi của tôi thường chỉ để thăm ḍ “chất triết” nơi thí sinh, hơn là kiểu tra vốn liếng tích lũy, nên tôi thường cho điểm khá rộng. Trái lại, vào khẩu vấn, tôi mang tiếng là xoay rất ác! Thực sự là v́ sinh viên đông, trong niên học ít khi có dịp gặp từng người, nhân dịp khẩu vấn, tôi hỏi cho đến khi biết được mức cao nhất của thí sinh, hầu hết cứ câu cuối là kẹt, nên họ tưởng là sẽ rớt, nhưng vẫn có lúc tôi cho đến 15, 16 trên 20. Tôi nhân dịp khẩu vấn để t́m phát hiện tài năng và tiếp tục góp phần bồi dưỡng họ. Càng ngày tôi càng được các vị trong Hội Đồng Quản Lư Viện Đại Học tín nhiệm… Sở dĩ tôi được giao cho giữ các chức vụ (Trưởng Ban Triết Học Và Quyền Khoa Trưởng Khoa Văn) ấy, mặc dù về bằng cấp tôi chỉ có cái Cử Nhân - là v́ một mặt tôi sống gần như các tu sĩ, tiếp cận các linh [trang 151] mục và tu sĩ; một mặt tôi chỉ là giáo dân, dễ tiếp cận với các giáo sư bên ngoài; cũng có phần v́ tôi được cái tính ôn ḥa, vui vẻ dễ tạo được sự hài ḥa giữa đời sống bạn hữu, thầy tṛ, trên dưới; dễ dàng xếp những vụ đối kháng căng thẳng nội bộ. Do đó trong nội bộ Viện Đại Học Đà Lạt, cũng như trong sự tiếp xúc với các tổ chức khác, như các viện Đại Học Huế, Sài G̣n, với các ḍng, các Đại Chủng Viện có gởi tu sĩ và chủng sinh đến học, tôi thường có sự tới lui giao tiếp hài ḥa, đôi lúc đóng vai tṛ trung gian. Tuy học vị của tôi chẳng có là bao, nhưng dần dần có một vị trí nào đó trong giới Đại Học.”

Phương pháp giảng huấn ở Trường Văn Khoa: một thí dụ

Thiết tưởng, do tính chất của môn học, Trường Văn Khoa có tinh thần khá phóng khoáng. Dường như không có bất cứ một sự thảo luận và thống nhất nào về phương pháp tổng quát được áp dụng cho các giáo sư ở Trường Văn Khoa. Hầu như tính thống nhất lớn nhất là mỗi người được quyền áp dụng phương pháp giảng dậy nào mà ḿnh thấy là thích hợp. Phương pháp điển cứu, tham quan, hội học nhóm[15], chương tŕnh “bảo huynh”, sinh hoạt thực địa , … có thể là những cách thức học kết hợp với hành có thể vận dụng trong chừng mực thích hợp cho một số bộ môn, như Sử Địa, thậm chí sinh ngữ, … trong Trường Văn Khoa.  

Một giáo sư chẳng hạn được mời phụ trách về bộ môn lịch sử Việt Nam Cổ Đại, th́ chỉ cần chú tâm soạn bài giảng trong thế kỷ được qui định là từ thế kỷ thứ mấy đến thế kỷ thứ mấy. Không có bắt buộc phải có bất cứ một giáo tŕnh nào, và một điều kiện qui định nào. Về các bộ môn khác, quyền quyết định của từng giáo sư trong mỗi ban và bộ môn là chính yếu. Trường hợp của GS Nguyễn Khắc Dương là một điển h́nh: 

“Tôi dạy học tương đối có kết quả, dần dần được các đồng nghiệp chấp nhận như là đủ tŕnh độ, và được mời đi dạy một số giờ tại Đại Học Sài g̣n và Đại Học Huế. Tôi dạy học tương đối có kết quả, tuy là tận tâm, nhưng hơi [trang 150] “tài tử”. Tự xem ḿnh như là một phụ khảo, một trưởng tràng giúp đỡ anh em sinh viên, chứ không tự coi như là một giáo sư, bởi v́ về học vị tôi mới chỉ có bằng Cử Nhân mà thôi. Đó là lư do khiến tôi không có giáo tŕnh hay cho in sách vở báo chí ǵ cả. Bài giảng cho sinh viên, có ai ghi chép lại mà muốn nhân lên phục vụ anh em cùng lớp, tôi chỉ sửa chữa vài chỗ, rồi tùy ư họ làm ǵ th́ làm.  

Giữa hàng ngũ sinh viên, tôi như một người anh cả hơn là một vị giáo sư, do đó tương quan rất gần gũi, thân mật rất đậm t́nh người. Sinh viên vào pḥng tôi trọ đêm, hay là ngược lại, tôi ngủ tại pḥng trọ của họ là thường. Ngoài giờ học thày tṛ quây quần quanh quán phở, cà phê cũng là thường, không tổ chức thường xuyên, nhưng tôi cố gắng thực hiện cái cung cách của con người cùng với anh em trẻ đi t́m Chân Lư, như tôi học được nơi các thày ở Sorbonne, chứ giáo tŕnh của tôi th́ cũng xoàng thôi. Tôi có quan niệm rằng: không có ai dạy triết cho ai, không có ai học triết với ai được cả! Chỉ là kẻ trước người sau trên đường đi t́m triết lư cho ḿnh, do ḿnh; gặp nhau th́ giúp đỡ nhau, khuyến khích nhau, nâng đỡ trao đổi kinh nghiệm với nhau mà thôi”. 

Nhận thức về trách nhiệm. “Mặc dầu vậy, nay xét kỹ lại, tôi vẫn thấy tôi không thực sự xem đó như là sứ mạng thực sự của ḿnh, tuy vẫn làm việc hết ḿnh, soạn bài kỹ, giảng dậy tận tâm, trên giao cho việc ǵ, ai cần giúp đỡ ǵ, bất cứ mặt nào, từ việc xin hoăn dịch, cho sinh viên mượn tiền ghi danh, cho đến việc tiếp xúc với chính quyền và giáo quyền, tôi đều làm hết sức lực ḿnh để giúp đỡ và phục vụ; nhưng chiều sâu tâm hồn th́ vẫn thấy lạc lơng. Sự tận tâm vẫn có đối với từng việc đưa đến chứ không tự ḿnh vạch ra một ư đồ, một chương tŕnh kế hoạch nào với tư cách như đó là sự nghiệp đời ḿnh hướng về một mục đích rơ rệt. Do đó, tôi không để lại một công tŕnh nào cả!  

Chăm chú từng việc một, có thể nói là gặp ǵ làm nấy, làm hết ḿnh, nhưng xong việc là thôi, rồi sang việc khác, như kẻ phục dịch bảo ǵ làm nấy, chứ không có thái độ tự ḿnh làm việc do ḿnh vạch ra theo một dự kiến duy nhất liên tục nào cả. Tận tụy nhưng tài tử, cần mẫn nhưng lung tung lang tang; lại c̣n cái việc hay lê lết vỉa hè, các quán cà phê, gặp ai cũng chuyện tṛ, cũng ăn cũng uống, cũng ngủ nghỉ, cả ở bến xe, nhà bếp, khách sạn! lân la với đủ hạng người, kể cả cao bồi, hành khất và gái giang hồ, bất chấp mọi quy định thói thường của xă hội.”[16]  

 “Một vài bạn tri kỷ, tuy không hề nghe tôi tâm sự, cũng thấy ở nơi tôi có một cách ǵ u hoài thao thức. Có một cậu sinh viên, sau khi rời Đà Lạt, viết cho lá thư có câu: “Những lúc thầy giảng dạy hay tṛ chuyện th́ vui vẻ, nhưng những lúc thấy thầy lủi thủi đi một ḿnh, em thấy tâm tư thầy mang nặng một nỗi u buồn thầm kín, nhưng h́nh như sâu thẳm lắm, em vừa thương vừa như kính sợ không dám lại quấy rối”. Quả cậu sinh viên ấy có cặp mắt tinh đời.”[17]  

Nhận định tổng quát về Trường Văn Khoa  

V́ người viết tuy giảng dậy chính yếu trong Ban Sử Học Trường Văn Khoa, nhưng có một thời gian đảm nhiệm giảng dậy bộ môn “Văn Minh Việt Nam” bên Trường Chính Trị Kinh Doanh, nên theo thiển ư, th́ thực tế điều hành và tổ chức của Trường Chính Trị Kinh Doanh có thể đáng là một kiểu mẫu để các khoa khác quan tâm nghiên cứu phát triển và áp dụng thích ứng trong phân khoa của ḿnh hay các tổ chức thuộc viện  

Theo phán đoán của người viết, dù giàu cảm tính nhân bản như một nhà tu hành, khi có trách nhiệm điều hành chính thức một phân khoa đại học như thế, nhân bản với mọi thành phần xă hội, một khoa trưởng cần có những đức tính của một nhà lănh đạo. Ngoài uy tín chuyên môn và giao tế hài ḥa, vị đó nên có nhận thức hành chánh tối thiểu, biết hướng dẫn tổ chức hệ thống văn pḥng hành chánh, t́m kiếm, thuyết phục, qui tụ và đào tạo người cộng sự, Vị đó cần sắp đặt một nếp sinh hoạt qui củ, một chương tŕnh học vấn và thi cử cho tất cả giáo sư và sinh viên thuộc các ban ở trong khoa, một cách nghiêm chỉnh. Ư chí muốn làm việc hết ḿnh là một khởi điểm cần thiết, nhưng c̣n cần biết ư chí đó với việc điều hành cụ thể diễn tiến có hiệu quả thế nào làm thay đổi bộ mặt Trường Văn Khoa về các phương diện giảng huấn, hành chánh, thi cử và tuyển chọn sinh viên từng năm.  

Đối với nhân viên giảng huấn, th́ Khoa Trưởng nên nghiêm chỉnh yêu cầu mỗi người nên soạn thảo một giáo tŕnh cơ bản định hướng học tập cho sinh viên. Dựa trên giáo tŕnh đó, sinh viên có thể phát huy các sáng kiến, nghiên cứu mở rộng nhận thức bằng cách đọc các tài liệu sách báo chuyên môn, trao đổi khoa học về vấn đề học tập và có thêm tầm nh́n mới. Chính những vị có trách nhiệm điều hành khoa, nếu nhận dậy học, cũng cần biên soạn một giáo tŕnh để làm chỉ nam cơ bản cho học tập của sinh viên.  

Một nỗ lực cải tiến. “Dần dần mảng văn hóa tinh thần và Ban Triết Học mỗi ngày mỗi tiến lên và trong quăng năm 1970-71, th́ tương đối có vị trí đúng chức năng của nó. Nhất là có một tu sĩ và linh mục ḍng có học vị cao, chịu chấp nhận lên cư trú thường xuyên, đứng vào bộ khung chính thức của nhà trường (lúc đó các giáo sư chỉ lên dạy với tư cách là thỉnh giảng. Như vậy việc xây dựng những người t́nh nguyện làm việc với tư cách thường trú, cơ hữu của Viện, nhất là đối với trường Văn Khoa là một nhu cầu thiết thực. Trường Văn Khoa chủ yếu là ban triết mới đi tới chỗ t́m vạch ra một hướng hoạt động đặc thù [trang 157] hợp với chức năng của một Viện Đại Học Công giáo, chứ không phải là cái đuôi “dập dèo” cho khoa CTKD, và đón nhận các sinh viên từ nhiều địa phương, hoặc muốn “du học” xa nhà cho thoải mái, hoặc bị kẹt về mặt nào đó (hoăn dịch, lư do khác như chính trị).  

Đồng thời, sau khi Đại Học Đà lạt đào tạo một số sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa có tư cách, có khả năng (trong đó một số thuộc Đại Chủng Viện và nhất là Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X), có ḷng hăng say học hỏi nghiên cứu, dần dần cái ư thức tạo nên một đường hướng tư tưởng nào đó, một đường lối phục vụ văn hóa tinh thần nào đó, đúng với chức năng của một cơ quan văn hóa của Giáo Hội - được đặt ra.  

Giáo sư Quyền Khoa Trưởng Trường Văn Khoa, cùng với một số linh mục thường trú tại Viện, hợp tác với một số chủng sinh có tŕnh độ, một số giáo sư, phụ khảo do chính Trường Đại Học Văn Khoa Đà Lạt đào tạo ra, đi đến chỗ phác họa một chương tŕnh làm việc, với sự cộng tác của ban giáo sư Giáo Hoàng Học Viện và Đại Chủng Viện Đà Lạt[18].  

Một lần nữa người viết nhận thấy xu hướng tổ chức và ư thức cùng cách làm việc để đào tạo con người đă diễn ra quá chậm, mặc dù nhân số cùng cộng tác với giáo sư không phải là ít.  

 

Chương XIII : Trường Khoa Học

1. Ban Điều Hành

Các vị sau đây đă tham gia điều hành, với tư cách là Khoa Trưởng Trường Khoa học:

Giáo sư Từ Ngọc Tỉnh, Tiến Sĩ Toán học (1959-65),

GS Vũ Xuân Bằng, Tiến sĩ Vật lư Đệ Tam Cấp (1965-68),

LM Hoàng Quốc Trương, Tiến sĩ Sinh Vật Học (1968-72),

Sau cùng, mới nhất là LM Nguyễn Văn Đời, Tiến Sĩ Khoa Học, có LM Nguyễn Hữu Toản, M.S. in Math, làm Phó Khoa Trưởng (1972-75).

Sinh hoạt trong trường Khoa Học chỉ diễn ra một cách âm thầm không xúc tiến những sáng tạo phát minh có giá trị hay thực hiện những công tŕnh khởi sắc độc đáo hợp tác với cơ quan hay trường khoa học nào khác, trong hay ngoài nước, cho vùng Cao Nguyên

Trường Khoa Học có một số nhân viên cơ hữu, thường là các giáo sư giảng nghiệm trưởng Nguyễn Bào và Phan Nam, các GS giảng nghiệm viên, như Nguyễn thị Quảng Hoa, Trịnh Thị Toàn Hạnh, Lê Ngọc Minh, Nguyễn Thị Phú, với ông Nguyễn Văn Đẩu làm Thư Kư văn pḥng.

Đặc biệt Ban Điều hành chỉ định hai GS giảng nghiệm trưởng Nguyễn Bào và Phan Nam sắp xếp các chương tŕnh giảng dậy, nghiên cứu những vấn đề học vụ phân khoa, hướng dẫn các thắc mắc về học vu, chọn ban học và những vấn đề cá nhân.

Hội đồng khoa làm việc, ngoài hai vị Linh Mục Chánh, Phó Khoa Trưởng, c̣n có LM Hoàng Quốc Trương, Trưởng Ban Động Vật, GS Chu Phạm Ngọc Sơn, GS Cao Xuân Chuân, TB Vật Lư, GS Lê Công Kiệt, TB Thực Vật, với l giảng nghiệm viên được đề cử và 1 đại diện sinh viên khoa học do Ban Đại Diện đề cử. Thành phần đại diện này dường như hợp t́nh và hợp lư nhất, v́ gồm đủ những bộ phận liên hệ tham gia.

Phần khá đông là các giáo sư được mời từ Sàig̣n lên, như Chu Phạm Ngọc Sơn, Cao Xuân Chuân, Dược sĩ Bùi Thị Tiếng, Ph.D in Chemistry, …Số giáo sư thỉnh giảng từ Sài g̣n lên có tới khoảng 48 người.

2. T́nh H́nh Phát Triển

Trường Khoa học bắt đầu ra đời theo học chế Chứng Chỉ, có 37 sinh viên theo ngành MGP, niên khóa 1959-60. Trường chỉ chuyển sang Hệ thống Tín Chỉ vào năm học 1973-74. Các chỉ dẫn về chế độ tín chỉ theo học tŕnh mới khá rơ ràng và tỉ mỉ, giúp độc giả sinh viên nắm được những ǵ phải học và những ǵ đă học trong tiến tŕnh tương đương chuyển từ hệ thống cũ sang hệ thống mới. Số sinh viên ghi danh có khoảng 800 người. Họ theo học ở các giảng đường Minh Thành, Tri Nhất và Đạt Nhân. Trường Khoa Học trang bị và quản lư sáu Pḥng Thí nghiệm và một số máy móc về Địa Chất, Động Vật, Thực Vật, Sinh Học, Vật Lư và Hóa Học.

Trường nhằm mục đích đào tạo các Chuyên gia khoa học, làm việc hoặc trong các pḥng thí nghiệm hay giảng dậy khoa học trong các trường Trung Học, và có dự tính tham gia nghiên cứu khoa học thực địa mở rộng trong vùng Cao nguyên, gắn bó nghiên cứu khoa học với môi trường thiên nhiên và xă hội.

Từ khi thành lập cho đến 1975, nhà trường vẫn chỉ duy tŕ cấp Cử Nhân Khoa Học về các ban Vật Lư, Hóa Học và Vạn Vật.

 

Biểu Đồ 12. Thành Quả Trường Khoa Học, Niên Khóa 1958-73

Cấp Cử Nhân

Niên Khóa

Sinh viên khoa học

Chứng Chỉ

Ghi danh

Tốt nghiệp

(1)

(2)

(3)

(4)

1959-60

1

37

 

1960-61

2

79

 

1961-62

3

91

 

1962-63

4

72

 

1963-64

3

61

 

1964-65

3

94

 

1965-66

4

112

 

1966-67

5

149

 

1967-68

8

253

 

1968-69

10

400

 

1969-70

10

434

 

1970-71

15

685

20

1971-72

18

751

19

1972-73

19

767

07 (K.4/6/1973)

Tổng Cộng

105

3985

46

 Chú thích: Trường Khoa học là trường có sĩ số sinh viên tốt nghiệp thật khiêm tốn, và âm thầm

 

Chương XIV : Trường Chánh Trị Kinh Doanh       

Ban Điều Hành

Người có sáng kiến tổ chức qui tụ người sáng lập ra Trường Chánh Trị Kinh Doanh phải kể đầu tiên là LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. Nhưng người đóng góp nhiều công sức tiên phong thực hiện dự án xây dựng Trường Chánh Trị Kinh Doanh là GS Trần Long (MA in Ecomomics & Public Finance). Ông là người nắm giữ chức vụ khoa Trưởng đầu tiên từ 1964 đến 1970. Nghị định số 1000/GDTN/PCHV/NĐ ngày 13/5/1969 của Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên ấn định việc tổ chức giảng dậy và lề lối thi cử của bậc Cử Nhân Trường CTKD đă hợp thức Lớp Cử Nhân CTKD đầu tiên về sau.   

Niên học 1967-68, khi Lớp Cử Nhân KD1 tốt nghiệp sau năm thứ tư, th́ có nhu cầu mở Ban Cao Học Hai Năm nữa. V́ thế GS Nguyễn Cao Hách, Thạc Sĩ Khoa Học Kinh Tế được cử nhiệm làm Khoa Trưởng Ban Cao học CTKD, điều hành cơ sở CTKD ở Sàig̣n từ năm 1969-72. Nghị Định số 2189/GDTN/PC/NĐ kư ngày 27/12/1968, ấn định qui chế Cao Học Hai Năm cho Trường CTKD.

GS Phó Bá Long, (MBA Harvard, 1956) năm 1971 làm Khoa Trưởng kế vị GS Trần Long tạị Đà Lạt, và kiêm Khoa Trưởng Ban Cao Học CTKD tại Sàig̣n sau năm1972.

GS Ngô Đ́nh Long, MS in Electrical Engineering, làm Phó Khoa Trưởng (1964-1973).

Khi GS Ngô Đ́nh Long được cử nhiệm Giám Đốc Sinh Viên Vụ, th́ GS Tạ Tất Thắng làm Phó Khoa Trưởng CTKD (1973-1975) thay thế.

Ban Cao Học của Trường Chánh Trị Kinh Doanh tại Sàig̣n.

Khi Khóa 1 của Trường CTKD sắp tốt nghiệp sau năm Sưu Khảo, trường CTKD tiên liệu các bước chuẩn bị thu nạp các sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân CTKD và nhiều thành phần tốt nghiệp đại học khác đang hoạt động tại Sàig̣n và vùng chung quanh. 

Ngày 11/12/1967 Trường CTKD xúc tiến mở Ban Báo Chí tại ngay trụ sở cơ quan Việt Tấn Xă ở số 118 đường Hồng Thập Tự Sàig̣n. Nhờ thế sinh viên tốt nghiệp khóa 1 CTKD được chuẩn bị để sẵn sàng ghi danh vào Ban Cao Học khi đó ở lầu 2 trường Taberd và lầu 2 toà nhà Thư Quán Xuân Thu trên đường Tự Do Sàig̣n. Lớp Cao Học CTKD được khai giảng ngày 11/1/1969. Đến cuối năm học 1972-73, cơ sở này mới di chuyển sang lầu 2 Thương xá Tax cho đến ngày 30/4/1975

 

Biểu Đồ 13. Tổ Chức Ban Điều Hành Trường CTKD

Ban Điều Hành

 

 

Khoa Trưởng

 

 

 

 

Phó Khoa Trưởng

 

 

 

 

G.S.Phụ Trách

 

 

Cấp Cử Nhân

Nhập Môn

Khái Luận

Nhiệm Ư

Sưu Khảo

CTXH

QTKD

CTXH

QTKD

CTXH

QTKD

CTXH

QTKD

Cấp Cao Học

Cao Học 1

 

Cao Học 2

 

CTXH

QTKD

CTXH

QTKD

Chú Thích:  Giáo Sư Phụ Trách là những “Giáo Sư Cơ Hữu “ do Trường tuyển dụn, và được đặt dưới sự điều động của Phó Khoa Trưởng, lo điều hành học vụ cho năm liên hệ.

                 

Chuẩn Bị Thành Lập.

Trường Chánh Trị Kinh Doanh, vào giai đoạn cuối cùng 1971-1975, do GS Phó Bá Long, MBA, làm Khoa Trưởng. Trường CTKD là một sáng kiến đặc biệt có dự tính cẩn thận từ lâu cho dù có nhiều thứ khó khăn. LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập đă thảo luận kế hoạch chặt chẽ và phân công trách nhiệm với nhiều chuyên gia quản trị và kinh doanh du học một phần từ Hoa Kỳ, một phần từ Pháp. Các giáo sư như Trần Long, GS Phó Bá Long[19], và sau này GS Ngô Đ́nh Long đóng một vai tṛ cốt cán trong việc xây dụng củng cố Trường CTKD. GS Lê Hữu Mục trong bài tưởng niệm LM Nguyễn Văn Lập có nói đến sự kiện “tam long tề phi”[20] này, một cách dí dơm nhưng đầy ư nghĩa với tâm t́nh cảm phục…. Trường CTKD bắt đầu nhận sinh viên từ niên khóa 1964-1965. Trường Chánh Trị Kinh Doanh (CTKD) là một phân khoa đại học độc đáo đầu tiên mở ra con đường nghề nghiệp trong lănh vực chánh trị và kinh doanh cho thanh niên nam nữ Việt Nam. Trường CTKD cũng là một định chế giáo dục cao cấp đầu tiên ở Việt Nam áp dụng phương pháp điển cứu và nhóm khảo luận[21]. Thành phần ban đầu xây dựng Trường CTKD

Những cuộc gặp gỡ thảo luận tại Sài g̣n.

Các giáo sư theo thư mời của LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập đến họp mặt tại căn nhà riêng của GS Bùi Xuân Bào ở chung cư Hồng Thập Tự. Cuộc họp diễn ra trong khoảng vài giờ gồm có các ông Bùi Xuân Bào, đại diện LM Viện Trưởng, và các ông Trần Long, Phó Bá Long, và Vũ Quốc Thúc.

Ông Trần Long có một vai tṛ đặc biệt với LM Nguyễn Văn Lập. Ông đă biết ông Bùi Xuân Bào từ 1950 khi hai ông c̣n là sinh viên tại Paris, và sau đó Ông Bào tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương Đại Học Sorbonne. Ông Trần Long đi du học tại Mỹ, quen biết sinh viên Phó Bá Long trong một cuộc họp mặt hè ba ngày năm 1964 tại Chicago của Hội Sinh Viên Công Giáo Việt Nam tại Bắc Mỹ. Hai sinh viên tiếp tục thay nhau làm Chủ Tịch Hội này[22]. Sau một thời gian, Phó Bá Long[23] về nước và năm 1964 đang làm một trong các Giám Đốc của Hăng Esso Standard Eastern ở Sàig̣n. Như thế phải chăng sinh viên Phó Bá Long đă đỗ xong Cao Học QTKD và trở về nước đi làm th́ không có thời giờ để làm Chủ Tịch Hội Sinh viên Công Giáo năm 1964 kế tiếp sinh viên Trần Long (?)[24]. GS Ngô Đ́nh Long[25] làm Giám Đốc Nguyên tử lực cuộc Đà Lạt được mời cộng tác

Ông Trần Long quen biết ông Vũ Quốc Thúc từ năm 1956, khi ông này làm Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Ở vai tṛ chủ biên Tuần San Times of Vietnam, ông Trần Long đến phỏng vấn ông Vũ Quốc Thúc để viết bài tường tŕnh về Ngân Hàng. Từ đó họ trở nên bạn hữu. Vào năm 1964, th́ Ông Vũ quốc Thúc đảm nhiệm chức vụ Giáo Sư Khoa Trưởng Trường Đại Học Luật Khoa Sàig̣n.

Điều kiện khả thi của việc mở Trường CTKD

Nội dung cuộc họp thảo luận về điều kiện khả thi của phân khoa Chánh trị, Kinh tế và Kinh doanh cho VĐHĐL ở cách Sàig̣n ba trăm cây số.

Giấy chấp thuận cho mở Trường của Bộ Quốc Gia Giáo dục.

1. Bối cảnh xă hội. T́nh h́nh chính trị không thuận lợi cho việc mở trường, v́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một tín đồ Công giáo, vừa bị sát hại ngày 2/11/1963 tại Sàig̣n, trong lúc đang có cao trào thống nhất Phật Giáo, mà GS Bùi Tường Huân là một thành viên của phong trào, đang làm Bộ Trưởng Giáo Dục. Tướng Nguyễn Khánh, một thành viên khác của phong trào, vừa lật đổ Tam đầu chế Minh-Kim-Đôn tháng 1/1964, nhưng lập tức chính quyền Nguyễn Khánh gặp phải nhiều áp lực, nhất là sinh viên xuống đường đ̣i hỏi một chính phủ dân sự và quyền tự do đối lập.

Sau một thời gian sôi bỏng có nhiều khác biệt không thể giải quyết ổn thỏa, Phó Thủ Tướng Nguyễn Tôn Hoàn, Phụ Trách B́nh Định, rút khỏi chính phủ Nguyễn Khánh vào tháng 5 năm 1964. Đa số các đảng viên Đại Việt cũng ra khỏi chính quyền theo ông. Lúc đó Ông Trần Long đang là một sĩ quan trừ bị cấp thấp được biệt phái làm việc tại Văn pḥng Phó Thủ Tướng, cũng rút lui. Ông được biệt phái sang Bộ Giáo Dục, rồi được đặc phái tiếp sang Viện Đại Học Công Giáo Đà Lạt với công tác thành lập phân khoa mới. Tướng Nguyễn Khánh bị lật đổ tháng 8 năm 1964 do nhóm chính trị dân sự do BS Phan Quang Đán cầm đầu. Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục mới là BS Nguyễn Tiến Hỷ, không thuộc phong trào thống nhất Phật Giáo.

2. Lư do chiến thuật. Những người tham dự cuộc họp đồng ḷng đưa ra một chiến thuật là LM Viện Trưởng cần tŕnh bày việc mở Phân Khoa mới như thế nào để có thể thuyết phục chính quyền của Bộ Giáo Dục coi đó như một giải pháp giảm bớt áp lực gây xáo trộn của sinh viên, nhất là tại Sàig̣n. Như thế, muốn phân tán, lôi kéo sinh viên là giải pháp thành lập một trường mới trên vùng Cao nguyên Lâm Viên. Vùng này cách xa Sài g̣n ba trăm cây số, lại có điều kiện khí hậu tốt cho học vấn và du lịch, có thể khiến sinh viên khỏi tập trung quá đông đảo tại Sàig̣n và nhiều nơi thị tứ khác như ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn và Nha Trang. Đây không phải là cách đánh “hổ ly sơn”, mà chiến thuật “thượng sơn lâm”. Cách lập luận ấy đă thực sự chinh phục được Bộ Trưởng Huân.

Vấn đề tên gọi Phân Khoa

1. Tên nói lên nhận thức. Theo đề nghị của ông Bùi Xuân Bào, bạn thân của LM Nguyễn Văn Lập, đồng thời là đại diện của LM Viện Trưởng trong phiên họp, LM Nguyễn Văn Lập đề nghị chọn tên Phân Khoa mới này là Phân Khoa Khoa Học Chính Trị và Quản Lư Doanh Nghiệp (Faculty of Political Science and Enterprise Administration). Nhưng Ông Vũ Quốc Thúc có ư kiến đặt tên là Phân Khoa Chính Trị, Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh (Faculty of Politics, Economics and Business Management). ÔngTrần Long đề xuất là Trường Chính Trị Kinh Doanh (School of Government and Business).

Cách đặt tên trường mới cho thấy ảnh hưởng về quan niệm, tổ chức, kinh nghiệm học vấn và đào tạo của hai xu hướng trong môi trường văn hóa Pháp và Mỹ. Nhưng chính các học giả có xu hướng Pháp là Bào và Thúc cũng đồng ư là nhà trường nên có chút hương vị Mỹ. Điều này cho thấy sau việc lật đổ chế độ cũ, ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ bắt đầu tác động mạnh mẽ lên xă hội Việt Nam. Xu hướng này cũng lan rộng sang nhiều lănh vực khác nhau, không chỉ là văn hóa giáo dục, …măi về sau.

2. Dự Án học tŕnh. Xác định tên trường xong, Ông Trần Long[26] và Ông Phó Bá Long được phân công soạn thảo học tŕnh cho bốn năm đại học để thảo luận và xác định dự án phân khoa trong hồ sơ xin phép mở trường. Thế là hai người trong nhóm chuẩn bị làm việc tất bật qua kinh nghiệm học tập của bản thân và một số tài liệu tập san của nhiều trường đại học Hoa Kỳ để xây dựng bộ khung học tŕnh với các môn học, nhất là hai năm đầu của Chương Tŕnh Cử Nhân.

Sau một tuần làm việc và thảo luận thêm, với một số thay đổi, dự án thiết lập trường mới được đúc kết hoàn chỉnh hơn và sau đó được tŕnh lên Bộ Trưởng Giáo Dục Huân ở Sàig̣n. Bộ Trưởng chấp thuận cho phép Viện ĐạI Học Đà Lạt được mở thêm phân khoa mớI, nhưng lại đổi tên là Trường Chính Trị Kinh Tế và Quản Lư Xí Nhiệp, (Faculty of Economics and Business Administration), theo nghị định của BGD số 1433/GD/PC/NĐ, kư ngày 13/8/1964.           

Dường như cách đặt tên này lại cho thấy rơ xu hướng là Bộ Trưởng Huân e dè ngại ngùng những chữ đụng chạm tới chính trị, một ấn tượng mạnh mẽ do hoàn cảnh thời sự.

Đến thời BS Nguyễn Tiến Hỷ làm Bộ Trường Giáo Dục mấy tháng sau, th́ một sắc lệnh đổi tên Trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Lư Xí Nghiệp thành Trường Chánh Trị Kinh Doanh[27] từ đó. Nghi định được Bộ giáo dục cho cải danh mang số 72/GD/HV/NĐ kư ngày 18/1/1965.     

Học tŕnh thực tế

Học tŕnh CTKD gồm bốn năm, mỗi năm có hai học kỳ, 18 tuần lễ/học kỳ, trung b́nh khoảng 15 giờ/tuần, tổng cộng 540 giờ học tại lớp/năm. Ngoài các môn Anh Ngữ Căn Bản, Anh Ngữ Đàm Thoại, và Anh Ngữ Chuyên Khoa do các giảng viên Anh Mỹ đảm trách trực tiếp, tất cả môn học được dạy bằng tiếng Việt. GS Phó Bá Long đă hùng hồn ghi lại :

“Tôi diễn giảng bài đầu tiên về Dẫn Nhập Vào Quản Trị Học trong giảng đường Spellman. Giảng đường tràn ngập những người. Tôi thấy thật phấn khởi trước những khuôn mặt thanh niên nam nữ ham hở học hỏi. Xử dụng các kỹ thuật học được trong nhiều kinh nghiệm giáo dục khác nhau của tôi, tôi đă có cách tiếp cận không theo bài bản giảng dậy cổ truyền cho người Việt Nam. Tôi phân phối các tư liệu giáo tŕnh cho sinh viên để họ đọc trước khi nghe giảng bài lần sau. Tôi chỉ định dự án nghiên cứu và triển khai cho các nhóm nghiên cứu thảo luận ngay trong lớp học. Tôi khuyến khích sinh viên nỗ lực học hỏi trong tinh thần phát triển tri thức mà không nhất thiết chỉ học để có được điểm tốt. Tôi giới thiệu phương pháp phân tích điển cứu. Phương pháp này đ̣i hỏi phải sưu tầm, thảo luận, trao đổi ư kiến và nhất là thái độ ứng xử xă hội. Khi đó phương pháp tiếp cận ấy là hoàn toàn mới mẻ đối với các thanh niên này. Họ thường có thói quen thụ động nghe giảng bài, ghi chú, rồi nhớ kỹ để lo thi cử, mà không trao đổi qua lại với giáo sư và sinh viên. Muốn khuyến khích sinh viên tham gia lớp học hơn nữa, có khi tôi lẻn đến chỗ một vài nữ sinh viên trông c̣n nhút nhát, đặt những câu hỏi trước tôi sẽ hỏi trong lớp sau. Khi có người trong các sinh viên hay bép xép mà không trả lời kịp, tôi có thể chỉ đến một “tay đă mớm trước” đưa ra câu trả lời khiến mọi người ngạc nhiên[28].”

Cuối năm thứ hai (Khái Luận), sinh viên phải chọn một trong năm ban chuyên nghiệp để tiếp tục học trong hai năm sắp tới. Các ban chuyên nghiệp gồm có: Bang Giao Quốc Tế, Báo Chí, Quản Trị Kỹ Nghệ, Quản Trị Kinh Doanh, Ngân Hàng và Tài Chánh. Trước khi chấm dứt năm thứ tư (Sưu Khảo), sinh viên phải nộp một khảo luận cá nhân và một phúc tŕnh tập thể về đề tài ngành chuyên môn đă chọn. VĐHĐL cấp phát Văn Bằng Cử Nhân Chánh Trị Kinh Doanh, tương tự như bằng Bachelor of Arts của đại học Mỹ, cho những sinh viên nào đậu tất cả các kỳ thi cuối năm và hoàn tất các yêu cầu khác.

Khi Giáo Sư Phó Bá Long thay thế Giáo Sư Trần Long trong nhiệm vụ Khoa Trưởng từ 1970 đến 1975, có một số thay đổi về môn học.

Chẳng hạn, các môn học được giảng dạy cho Khóa 7 CTKD gồm có:

Năm I (Nhập Môn): Anh Ngữ Căn Bản I và II (Basic English), Tu Từ và Văn Thể I và II (Vietnamese Composition), Lịch Sử Văn Minh Thế Giới I và II (World Civilization), Chánh Trị học Đại Cương I và II (Basics of Political Science), Kinh Tế học I/1 và I/2 (Economics), Quản Trị học I/1 và I/2 (Management), Toán Kinh Thương I và II (Mathematics of Finance), Xă Hội học (Sociology), Khái Niệm Luật Pháp (Basics of Laws).

Năm II (Khái Luận): Anh Ngữ Căn Bản III và IV (Basic English), Kinh Tế học II/1 và II/2 (Economics), Tiếp Thị II/1 và II/2 (Marketing), Kế Toán II/1 và II/2 (Accounting) Quản Trị học II (Management), Định Chế Tài Chánh I và II (Financial Institutions), Kinh Tế Việt Nam I và II (Economy of Vietnam), Thống Kê học (Statistics), Nhiệm Vụ học (Ethics).

Năm III (Nhiệm Ư): các ban học chung: Anh Ngữ Chuyên Khoa I và II (Specialized English), Kinh Doanh Nông Nghiệp I và II (Agricultural Business), Luật Doanh Thương I và II (Business Law), Kế Toán III/1 và III/2 (Accounting), Tương Quan Kỹ Nghệ (Industrial Relations), Tài Chánh Xí Nghiệp (Corporate Finance), hệ Thống và Thủ Tục trong Xí Nghiệp (Systems and Procedure in Business Firms).

Ban B Tài Chánh - Kế Toán (Major: Finance - Accounting) học riêng: Tiền Tệ Ngân Hàng I và II (Money and Banking), Tư Vấn Thuế Vụ I và II (Tax Problems).

Năm IV (Khảo Luận): Nhiệm Vụ học (Ethics), Nghiên Cứu và Thiết Lập Dự Án Đầu Tư (Study and Design of Investment Plans), Kế Toán Quản Trị I và II (Managerial Accounting), Phương Pháp Định Lượng I và II (Quantitative Methods in Business), Luật Thương Hội (Corporate Law), Thức Tập Quản Trị (Managing Practice), Anh Ngữ Chuyên Khoa I và II (Specialized English)

Ban B Tài Chánh - Kế Toán (Major: Finance - Accounting) học riêng: Quản Trị Tài Chánh (Financial Management), Quản Trị Thương Hội (Management of Business Enterprises), Giám Định Kế Toán I và II (Auditing), Kế Toán Ngân Hàng (Bank Accounting), Bảo Hiểm (Insurance).

Các ban đều phải nộp các khảo luận quy định: Khảo Luận Ngắn (Short Term Report), Khảo Luận Dài (Long Term Report) và Phúc Tŕnh Tập Thể (Group Report).

Sinh viên nào thi không đủ điểm th́ được thi thêm một lần nữa, gọi là thi kỳ 2. Nếu vẫn không đủ điểm th́ hoặc bỏ cuộc, hoặc có thể ghi danh học lại trong niên khóa tiếp theo[29].

Điều đáng chú ư là GS Phó Bá Long chú ư đến nhiều khía cạnh đặc biệt liên quan đến kinh nghiệm quản trị của ông. Ông thấy rất rơ có nhiều thách thức đối với việc thay đổi năo trạng, cách cảm nghĩ nhận thức của nhiều thành phần xă hội về nhiều môn học mới.

Chẳng hạn, với vốn liếng giáo dục mà ông thấy như không chính thống và pha tạp, ông đối diện với nhiều chiến lược giảng dậy thành công và nhiều mô thức kinh doanh trên khắp thế giới, như điển cứu, thảo luận trong lớp, lập nhóm học tập, và thăm viếng xí nghiệp nhà máy. Đấy là phương thức trước đây chưa từng được sinh viên và thành viên trong khoa biết tới. Những giáo tŕnh tiếp thị, kế toàn, và tiếng Anh kinh doanh lần đầu tiên được giảng dậy ở cấp đại học. Giới sinh viên có nỗi hoài nghi có phần kiêu kỳ đến độ cho là ông khó ḷng khắc phục nhưng trở ngại đó.

Có người coi nhiều giáo tŕnh CTKD là không cần thiết cho người chỉ có ư sống nghề nghiệp quản trị ở mức cao, và không cần đến những kiến thức theo khả năng của một nhà doanh thương. Một số người chịu ảnh hưởng giáo dục Pháp c̣n chống đối những giáo tŕnh kế toán, mà họ coi là chỉ phù hợp cho thư kư giữ sổ sách. Giáo Sư Phó Bá Long phải khó khăn mất thời gian giải thích khác biệt giữa kế toán đơn và kế toán quản trị. Các sinh viên này nhiễm sâu óc hợm hĩnh, hầu hết thuộc thành phần giai cấp trên c̣n đi đến khiếu nại về những đ̣i hỏi của nhà trường do Khoa Trưởng chủ trương, v́ cho rằng với văn bằng thừa thăi của CTKD, họ chỉ t́m được những công việc tạm thời. Một số người thậm chí đi xa hơn là đưa khiếu nại chống đối lên đến cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. Ngài đă trả lời bằng cách bảo họ cứ nhặt cỏ trên các đường đi lối lại trong viện và ngài trả lương thù lao cho họ theo giờ lao động/ngày.

Cuối cùng không những tư tưởng CTKD được bén rễ sâu trong tâm khảm mỗi người, nó c̣n trở thành nguồn gốc cho niềm hănh diện, khi sinh viên bắt đầu báo cáo quá tŕnh huấn luyện họ bằng công việc thực tiễn như làm hầu bàn, bán hàng trong tiệm và giúp việc nhà[30].

Sĩ số sinh viên Trường CTKD

Trong tháng 8 và 9 năm 1964, hệ thống các nhật báo ở Sàig̣n đều cho phổ biến Thông Cáo Tuyển Sinh vào Trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp, sau được đổi tên là Trường CTKD (School of Government & Business)  từ đầu năm 1965. Sự kiện quảng bá rầm rộ khiến nhiều thanh niên mới sinh viên thích thú và rủ nhau đi ghi danh học. Đây là một trường có nội dung giảng dậy mới mẻ, thực tiễn tại Việt Nam.

1.Sinh viên ghi danh thực thụ. Lúc đầu Trường CTKD dự trù thu nhận 600 sinh viên cho năm đầu tiên, nhưng có tới 1500 đơn xin nhập học. Đến ngày 27 tháng 09 năm 1964, khi khai giảng năm học, có tất cả 1036 sinh viên ghi danh và thực học[31]. Sĩ số này hơn hẳn sĩ số sinh viên thực học của tất cả các phân khoa khác của toàn Viện. Các sinh viên đến từ khắp nước, nhưng phần nhiều từ Sàig̣n, Huế và Cần Thơ, trong khi những nơi này đều đă có trung tâm giáo dục đại học. Con số sinh viên ghi danh cho thấy nhận thức chiến thuật của nhóm giáo sư dự kiến ban đầu là chính xác, tuy hơi được phóng đại!.  Trường CTKD đă nắm bắt được, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng thực tiễn của sinh viên. Sĩ số ấy c̣n tiếp tục gia tăng trong các năm sau, góp phần quan trọng cho sinh khí phấn khởi hoạt náo ở môi trường học tập, làm biến đổi bộ mặt và đà phát triển của Viện Đại Học Đà Lạt tiến lên phía trước.

2. Giáo tŕnh học vấn. Để chuẩn bị giáo tŕnh cho sinh viên, chính giáo sư Trần Long thể hiện phong cách khẩn trương dấn thân vào các hoạt động chuẩn bị. Ông cho nhà trường thu gom giáo tŕnh của tất cả các giáo sư, đánh máy trên stencil và trao cho Hợp Tác Xă Ấn Loát Sinh Viên quay ronêô, rồi bán lại cho sinh viên với giá phí tượng trưng. Linh Mục Ngô Duy Linh, Phụ Tá Viện Trưởng kiêm Giám Đốc Đại Học Xá Nam Sinh Viên, cũng đồng thời là một chuyên viên quay rônêô tích cực. Đa số các giáo sư hưởng ứng tích cực soạn thảo giáo tŕnh. Những giáo sư nào không soạn giáo tŕnh, sẽ không được mời dậy tiếp trong niên khóa mới. GS Trần Long có sáng kiến làm cho môn Kế Toán bớt khô khan bằng cách đặt tên súc vật khôi hài cho các công ty, khách hàng, và nhà cung cấp,…

3. Thi cử sát hạch. Đối với bất cứ sinh viên nào, kỳ thi cuối năm là một kết quả quan trọng, phản ảnh chất lượng giáo dục của nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp đi vào thực tế xă hội một cách tin tưởng và có hiệu lực. Thực tế đó củng cố niềm tin cho mọi thành phần liên hệ, giáo sư, sinh viên, gia đ́nh và xă hội tuyển dụng các sinh viên đó. Cụ thể và cấp bách nhất là nam sinh viên phải đậu để lên lớp, tiếp tục được hoăn dịch v́ lư do học vấn.

Nhưng không v́ thế mà việc thi cử bị coi nhẹ lơ là. Các kỳ thi được tổ chức chu đáo tối đa, vô tư và toàn vẹn để bảo đảm chất lượng đào tạo sinh viên. Một tháng trước khi thi, nhà trường cho thu thập tất cả các đề thi từ các giáo sư và giảng viên. Các đề thi được bảo mật cho đến giờ thi tại pḥng thi ở tất cả các khâu trong quá tŕnh chuẩn bị, in ấn và phân phối. Chính LM Ngô Duy Linh đă góp phần quan trọng trong quá tŕnh này.

Ngoài giảng đường, sinh viên có rất ít cơ hội tiếp xúc với giáo sư. Giáo tŕnh và thư viện là hai phương tiện tốt đẹp c̣n lại để sinh viên thu thập kiến thức cho các môn học khác nhau trong học tŕnh.

3. Một h́nh ảnh thi cử. Gần một ngh́n sinh viên Năm Nhập Môn đă tham dự kỳ thi cuối năm 1964-65. Tất cả chỗ ngồi trong pḥng thi được sắp đặt trước, có đánh số cho mỗi thí sinh. Để tránh t́nh trạng có thể chép bài của nhau, hai sinh viên ngồi cạnh nhau không được làm cùng một đề thi. Toàn bộ nhân sự giảng huấn và hành chánh được điều động làm giám thị. Cách làm việc nghiêm chỉnh đó đă được áp dụng cho suốt quá tŕnh hoạt động của Trường Chính Trị Kinh Doanh và c̣n được cải thiện và rút kinh nghiệm từ các trường khác cho tốt đẹp hơn.

4. Một phương pháp học tập đa hiệu: hội học. Tôi muốn tŕnh bày và phân tích một phương pháp hội học của Trường Chính Trị Kinh Doanh, chỉ áp dụng cho năm Sưu Khảo (IV).

Nhóm Hội Học: mục tiêu

Các sinh viên Sưu Khảo phải dành một phần lớn thời giờ để nghiên cứu tập thể và thuyết tŕnh nhóm, nhắm huấn luyện sinh viên về các khía cạnh sau đây:

* Gây dựng tinh thần và kỹ năng làm việc tập thể, v́ các nhóm viên đều nghiên cứu và tŕnh bày chung một đề tài lựa chọn trước ban giám khảo gồm ba người và toàn lớp.

* Phát huy khả năng lănh đạo và kỷ luật của mỗi người trong nhóm.

* Luyện tập kiến thức và kỹ năng xử dụng ngôn từ, hùng biện thích hợp trước công chúng, cách viết phúc tŕnh, luận văn nghiên cứu.

* Tạo điều kiện cộng tác hỗ tương, giao tế nhân bản giữa các chuyên viên, sinh viên trong các ngành khác nhau như Luật Pháp, Kinh Tế, Tài Chánh, Ngoại Giao, Báo Chí, Công Quyền và Kinh Doanh.

Kỹ thuật tổ chức 

Các nhóm hội học được tổ chức như sau:

Từ đầu năm Nhiệm Ư (III), các sinh viên bắt đầu chọn chuyên ngành Chính Trị hoặc Kinh Doanh. Khi lên năm Sưu Khảo (IV) sinh viên được xếp hạng theo điểm trung b́nh. Năm Sưu khảo đầu tiên có ba mươi sáu nhóm ngành Chính Trị. Theo kế hoạch của GS Trần Long, nhóm đầu tiên gồm 6 sinh viên đứng thứ hạng 1, 37, 73, 109, 145 và 181

Các nhóm ngành Chính Trị lấy tên theo mẫu tự Hi Lap: Alpha, Beta, Gamma, …; các nhóm ngành Kinh Doanh theo mẫu tự Do Thái: Aleph, Beth, Gimel, … Nhiều người bằng ḷng với tên nhóm của ḿnh. Sang nhiệm kỳ Khoa Trưởng Phó Bá Long, các sinh viên được tự do lựa chọn nhóm viên cũng như đặt tên nhóm.

GS Trần Long áp dụng cách điều hành Nhóm có phần chuyên đoán hơn, khi xếp đặt 5,6 sinh viên vào một nhóm, để đạt ngay các mục tiêu hội học, dưới hướng dẫn của chuyên viên KD hay HC làm “giáo sư hướng dẫn”, cùng với Ban Giảng Huấn, thiết lập danh sách đề tài nghiên cứu, và giáo sư hướng dẫn.

Đa số các giáo sư hướng dẫn đều có tiếng tăm, nhưng bận rộn và ở xa tận Sàig̣n. Có thể nhóm được tự do chọn đề tài và giáo sư hướng dẫn, cho những nhóm nào thanh thỏa đủ các điều kiện qui định. Nhờ thế mà đề tài nghiên cứu cũng rất đa dạng, thường tỷ lệ thuận với con số các thân hữu và các nhà bảo trợ; và nhờ đó mà t́nh h́nh của Viện được phát triển thêm, tạo cầu nối giúp các sinh viên dễ dàng t́m việc làm thích hợp ngay. Hai tháng sau cùng là thời gian nhà trường tổ chức thực hiện lịch thuyết tŕnh nhóm.

Tŕnh bày và thẩm định kết quả hội học

Mỗi nhóm phải hoàn thành công tŕnh nghiên cứu, tŕnh bày kết quả cho lớp và thẩm lượng đoàn trong 60 phút, và mỗi nhóm viên không quá 10 phút. Giáo sư hướng dẫn phải thu xếp làm sao có mặt tham dự buổi thuyết tŕnh của nhóm. Ban giảng huấn có thể có mặt cùng với Đoàn Thẩm Lượng gồm 3 người được GS hướng dẫn chủ tọa, chất vấn thuyết tŕnh đoàn trong 3 phút và cho điểm toàn nhóm, rồi từng nhóm viên. Pḥng ốc và máy thu khuếch âm cho thuyết tŕnh được chuẩn bị một bước trước.

Trong hai tháng đó, có thể các nhóm cùng thuyết tŕnh ở nhiều giảng đường khác nhau. Đồng thời cần chú ư t́m người thay thế những thành viên Đoàn Thẩm Lượng nào vắng mặt đột xuất. Xong nhiệm vụ thuyết tŕnh, nhóm phải nộp Luận Văn Tập Thể, giới hạn trong 60 trang đánh máy ḍng đôi. Trong ṿng hai tuần, giáo sư hướng dẫn đọc xong và cho điểm, cho dù thực sự vẫn có người chậm trễ.

Thử theo dơi Nhóm của sinh viên Thái Thị Như Hảo thuyết tŕnh dưới sự hướng dẫn của GS Đinh Xáng:

Suốt hai tuần chuẩn bị về báo biểu, cắt dán. Thứ Hai, ngày 15/4/1974, nhóm thuyết tŕnh đề tài “Vấn Đề Kỹ Nghệ Hóa Miền Trung.” Lần đầu tiên thuyết tŕnh viên đứng trên bục giảng, trước đám đông, Như Hảo cảm thấy rất khớp, nhưng nh́n ánh mắt thầy Đinh Xáng động viên, nét mặt hiền ḥa như bao dung như thầm bảo với cô rằng: “Hăy b́nh tĩnh và tự tin”. Hảo bỗng thấy ḿnh bạo dạn hơn, nói năng lưu loát và trôi chảy hơn. Thế là con đường tốt nghiệp mở ra tương lai cho từng người sau bốn năm đèn sách[32].

Lợi ích của phương pháp hội học:

Hệ thống hội học và kỹ thuật điển cứu (case study) dần dần được nhiều người nhận thức và được nhân rộng hơn. Các khóa tốt nghiệp đều hănh diện lưu lại các Luận Văn đă thực hiện và tŕnh bày tại Thư viện cho các khóa kế tiếp tham khảo. Những độc giả nào muốn tham cứu vấn đề ǵ ḿnh quan tâm đều thấy thật sẵn sàng, dễ dàng và nhanh chóng. Đồng thời tiện nghi đó cũng tạo điều kiện lối cuốn các nhà kinh doanh và viên chức công quyền năng động dấn thân vào cuộc, đào sâu thêm các công việc, khi các sinh viên năng động chăm chỉ kích thích bản thân họ ư thức hơn về trách nhiệm của ḿnh. Mặt khác, Trường CTKD c̣n khai thác được nguồn nhân tài thực tế và chính những con người này đến lượt họ trở thành người hướng dẫn và một thứ khuôn mẫu cho sinh viên tốt nghiệp.

Những người liên hệ đến việc h́nh thành luận văn trở thành một tập thể bạn hữu hay người bảo trợ một cách thân t́nh cảm thông hơn. Tất cả các giáo sư hướng dẫn, nhà doanh nghiệp hàng đầu và viên chức công quyền trực tiếp hay trung gian đều có cơ hội t́m hiểu thuận lợi để tuyển dụng hay giới thiệu sinh viên vào các cơ quan, xí nghiệp ở khắp các địa phương trong nước, góp phần giải quyết những bế tắc lao động có thể gây xáo trộn về mặt xă hội. Dù chế độ VNCH đă sụp đổ nhưng các cựu sinh viên CTKD đă thành nhân, có người trở nên nổi tiếng trên thế giới[33], như Mai Kim Đĩnh, Lê Đ́nh Thông, …

Xây dựng Ban Giảng Huấn.

Tháng Sáu (6), 1964, Ông Trần Long lên Đà Lạt để mở trường CTKD với tư cách là Giám Đốc Học Vụ, theo học tŕnh được Bộ Giáo Dục chấp nhận. Ông để lại gia đ́nh tại Sàig̣n, gồm vợ (bà Danielle Ánh Nguyệt, giáo sư Anh ngữ trường Gia Long) và bốn con. Đấy là con đường ông trở thành vị giáo sư. Ông bắt tay vào việc ngay. GS Trần Long xuất thân là một sinh viên du học tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp Cử Nhân Quản Trị Kỹ Nghệ (Bachelor of Science in Industrial Administration, Universitry of Portland), và Cao Học Kinh Tế Tài Chánh (Master of Arts in Economics and Finance, Syracuse University)

Để kịp khai giảng vào tháng chin (9), trong suốt ba tháng, GS Trần Long phải lo t́m kiếm tuyển mộ, xây dựng Ban Giảng Huấn. Ngay tại Đà Lạt, ông kiếm được năm người có văn bằng đại học về Luật Học, Kinh Tế, Toán Học và Kinh Doanh. Trong số đó, có ông Ngô Đ́nh Long. Hầu hết số c̣n lại là các giáo sư thỉnh giảng được mời từ Viện Đại Học, Trường Quốc gia Hành Chánh Trường Cao Đẳng Thương Mại ở Sàig̣n. Về môn nguyên tắc Kế Toán Nhập Môn ông đành phải chọn một vài giáo sư kế toán tại Sàig̣n. Những giáo sư này đang giảng dậy kế toán theo kiểu Pháp, mà ông lại muốn truyền thụ cho sinh viên phương pháp kế toán theo phương pháp hiện đại kiểu Mỹ. Mấy năm sau đó, chính GS Trần Long kiêm dậy hai môn Nguyên Tắc Kế Toán và Kế Toán Giá Phí dựa trên các sách giáo khoa Hoa Kỳ của các tác giả Finney, Noble, Niswonger và Gohlke.

Về môn Nhiệm Vụ học, GS Trần Long mời một Linh mục ḍng Đa Minh. Tuy Linh mục là một nhà giảng thuyết danh tiếng đang giảng dậy tại phân khoa khác của Viện, nhưng các sinh viên cảm thấy khô khan chán chường. Tuy điều này được phản ảnh lên LM Viện Trưởng, nhưng thực tế hầu hết các sinh viên theo học môn này đều được chấm đậu về môn ấy, v́ các nam sinh viên sợ không đậu sẽ phải ở lại lớp, hay bị quân dịch. Tất cả đều làm chậm đà tiến thân vào xă hội theo những nguyện ước của mỗi người. Việc xây dựng chương tŕnh Trường CTKD này là bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của Mỹ về quan niệm, tổ chức và phương pháp giáo dục thực tiễn trong quản trị và kinh doanh đang được giảng dậy ở Việt Nam do chính các chuyên gia du học trong các trường đại học Mỹ.

Ở thời điểm vừa chấm dứt chế độ Ngô Đ́nh Diệm, hoàn cảnh đất nước đi vào một lộ tŕnh mới, mà ảnh hưởng của Hoa Kỳ trở nên mănh liệt hơn một cách rơ rệt. Chính v́ thế đất nước càng cần có nhiều chuyên gia đa năng tháo vát trong các lănh vực kinh tế cũng như chính trị và xă hội. Việc giảng dậy lư thuyết thuần túy được thay thế bằng những phương pháp thực tiễn, như điển cứu, hội học, thực tập qua nghe nh́n để sưu tập các sự kiện, đúc kết thành những phúc tŕnh, khảo luận cá nhân hay tập thể. Người được thụ huấn không chỉ trau giồi kiến thức, mà phát triển nhân cách và trách nhiệm đầy đủ trong các giao tiếp xă hội. Biết chinh phục ḷng tin, qui tụ người khác để cương quyết theo đuổi và thực hiện những mục tiêu cao đẹp là khả năng lănh đạo cần có.

Ngoài học hỏi và đào luyện trực tiếp trong lớp học, nhà trường c̣n có Parallel Course Program để giúp sinh viên bắt kịp những chuyển biến trong lănh vực chuyên môn của thực tế xă hội để ḿnh không đứng ngoài cuộc mà dấn thân vào ḍng chảy của cuộc sống.

Về phương diện này, khi GS Phó Bá Long kế nhiệm GS Trần Long làm khoa trưởng năm 1971, ông coi nhà trường như một [105] di sản trí thức được truyền lại cho ông. Ông thấy có nhiệm vụ phải duy tŕ, xây dựng và phát triển di sản ấy.  

Ông đưa ra một sáng kiến mà ông cho là đáng giá nhất, tức là hệ thống “Bảo Huynh” trong học tập. Nôm na đó là anh chị em giúp nhau học hành. Mỗi nhóm mươi người trong lớp nhập môn mới được hai hay ba anh chị từ các khóa tốt nghiệp đàn anh chính thức bảo trợ họ và giúp họ trong việc học vấn. Các lớp đàn anh chị được cho điểm thêm trong tín chỉ về thành tích của họ.

Chương tŕnh này gặt hái được nhiều kết quả rơ rệt. Trước hết các nhóm đàn anh chị buộc phải xem lại các giáo tŕnh nhập môn cũ của họ và nhờ đó kiến thức của họ được củng cố thêm. Thường họ c̣n phải đến hỏi các thầy giáo cũ của họ để t́m giải đáp cho các vấn đề mà họ không nhớ. Thứ hai các hoạt động ngoại khóa này làm nẩy sinh mối quan hệ nhiều mặt giữa các nhóm học tập, giữa lớp đàn anh và lớp đàn em. Hơn nữa, họ không quá cách biệt chênh lệch nhau về tuổi tác. Hiển nhiên có một thứ cạnh tranh học thuật và t́nh cảm sôi động nào đó đối với các đàn anh và những thành viên nữ hấp dẫn hơn trong lớp nhập môn. Đă có nhiều cuộc hứa hôn diễn ra và hai ba năm sau là có nhiều đám cưới khi đến lượt các nữ sinh viên lớp đàn em tốt nghiệp nối tiếp lớp các đàn anh trước đó[34].

Trong những hành động đầu tiên khác của khoa trưởng mới là bỏ ban chính trị và giáo tŕnh về báo chí. Thay vào đó là hai giáo tŕnh song song về tiếp thị và kế toán. Hai môn này được giảng hoàn toàn bằng tiếng Anh cho những sinh viên có khả năng, ngoài các giáo tŕnh được dậy bằng tiếng Việt khác. Theo điều kiện nhà trường yêu cầu thanh thỏa,  nhiều sinh viên đă cố gắng để được tiếp nhận vào các lớp này. Trường CTKD cũng lập ra Trường Quản Trị Cơ Sở Xă Hội, hay SSIM. Trường này có số ghi danh cơ bản là các phụ nữ hay cả nam lẫn nữ có niềm thâm tín mạnh mẽ.

 

Biểu Đồ 13. Số Liệu Thành Quả Của Trường CTKD Niên Khóa 1964-1973[35]

Niên Khóa

Sinh Viên

Cấp Cử Nhân

Cấp Cao Học

Ghi danh

Tốt Nghiệp

Ghi danh

Tốt Nghiệp

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

1964-65

700

 

 

 

1965-66

825

 

 

 

1966-67

959

 

 

 

1967-68

1164

295

 

 

1968-69

1036

116

120

 

1969-70

1181

074

205

01

1970-71

1157

103

222

13

1971-72

1366

102

228

15

1972-73

1306

214

402

22

Tổng Cộng

9694

904

1177

51

Chú thích:  1/Tổng số ghi danh học cho cả hai cấp là  (9694+1177) =10871, và số tốt nghiệp của cả hai cấp là (904+51)= 955

2/ Tổng số liệu ở cột (2) [9694] không phù hợp với số liệu của Trường CTKD [13.206] trong bản tổng hợp số liệu toàn viện. Có khác biệt cả số sinh viên ghi danh trong mỗi niên khóa. Không có lư do giải thích về sự khác biệt này. Như vậy có nghĩa ǵ?

3/ Ra đời muộn màng, nhưng Trường CTKD đa sản tăo ra một thành tích quan trọng nhất cho Viện Đại Học Đà Lạt, xét về số lượng cũng như chất lượng, nhưng không phải là không có khuyết điểm cần khắc phục.

 

Tổng số sinh viên Khóa 7 CTKD được chính thức cấp phát văn bằng Cử Nhân vào Ngày Ra Trường, 30 tháng 12 năm 1974, cho cả hai Ban Tiếp Thị và Tài Chánh Kế Toán là 182 người[36]. Cả Lớp có 450[37] sinh viên Nhập Môn, hơn một nửa sĩ số đă đứt gánh giữa đường cho đến năm kết thúc (Sưu Khảo)[38].

Khóa 7 CTKD, nhất là các sinh viên đủ điều kiện để tốt nghiệp, có một ư nghĩa đặc biệt, v́ nhiều lư do. Trước hết đây là khóa thi thực sự cuối cùng, sau chương tŕnh học đầy đủ bốn năm của Trường CTKD. Do đó, trong toàn thể 11 khóa của nhà trường suốt 10 năm hoạt động (1964-1974), khóa 7 CTKD đánh một dấu mốc chấm dứt trọn vẹn, có tính quyết định quá tŕnh hiện hữu (1959-1975) của Viện Đại Học Đà Lạt.

Thành phố Đà Lạt bỏ ngỏ trong t́nh trạng vô chính quyền địa phương khá sớm vào đầu năm sau, từ 30/3/1975. Đúng ra, từ ngày 20/3/1975, nhiều người đă di tản khỏi Đà Lạt sau khi có tin tức về trận tấn công qui mô của quân đội CS vào thị xă Ban Mê Thuột ngày 11/3/1975. Như thế các sinh viên CTKD, từ khóa 8 đến khóa 11 ở ngay Đà Lạt, không được thụ huấn đầy đủ theo chương tŕnh bốn năm của Trường CTKD[39].

Các bạn sinh viên CTKD từ khóa 1 đến khóa 7 có cơ may ngàn năm để Thụ Nhân và Thành Nhân, đă hănh diện và làm vẻ vang cho Viện Đại Học Đà Lạt và cho chính ḿnh thật thanh thản và góp phần duy tŕ Truyền Thống Thụ Nhân như ngọn đuốc sáng ngời măi măi, nêu gương cho các thế hệ tương lai trong ḷng xă hội Việt Nam..

Như vậy phải chăng một ḿnh Trường CTKD có thể lập một thống kê một cách tương đối khoa học về thành quả giáo dục cụ thể trong Kỷ Niệm Thập Niên Thành Lập Trường CTKD (1964-1974)? Các Trường khác nếu có thiết lập Thống Kê các số liệu như thế chắc có thể có khó khăn, như Trường Văn Khoa chẳng hạn? Chắc chắn đơn vị nào có tổ chức quản trị tốt và trung thực, th́ sẽ dễ dàng xác lập một thành tích biểu tốt đẹp, dù đó chỉ là những con số. Nhưng đó là những con số sống động, nói lên được điều ǵ, chứ không vô hồn hay có tính cách thiếu trung thực trước mặt những người đọc có tri thức, phán đoán và lương tri vậy.

Nhận định của người có trách điều hành

1. Từ Trường CTKD.Người viết muốn thuật lại trực tiếp lời lẽ của chính những người có trách nhiệm trong cuộc. Chẳng hạn chứng từ của người đảm lănh xây dựng Trường Chánh Trị Kinh Doanh lúc ban đầu:

“Với quyết tâm và thái độ tích cực của Cha Lập và tôi, cùng nhiệt t́nh của Ban Giảng Huấn và Ban Hành Chánh, chúng tôi đă thành công trong việc biến Trường Chánh Trị Kinh Doanh thành một định chế giáo dục sinh động, vào cuối năm thứ hai th́ tiếng lành đă vang khắp nước. Lứa tốt nghiệp đầu tiên gồm gần bốn trăm sinh viên[40] nhận lănh văn bằng Cử Nhân năm 1968 và khởi sự phục vụ đất nước trong nhiều lănh vực. Đa số phục vụ rất tốt”[41].

“Gia đ́nh nào cũng đều bị ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh, cách này hay cách khác. Vấn đề động viên ám ảnh sâu sắc tâm trí các sinh viên Nhập Môn. Để được tiếp tục hoăn dịch nhập ngũ v́ lư do học vấn, nam sinh viên phải thi đậu lên năm khái luận. Chính sách hoăn dịch nhập ngũ này tạo ra gánh nặng lương tâm cho tất cả giáo sư đại học”[42].

…………………………………………………………………………..

“Tôi điều hành trường CTKD với nhiều hạn chế và dưới nhiều áp lực. Tôi không nhớ rơ cho lắm về bốn năm đầu tiên của trường CTKD. Có lẽ 70% sinh viên Nhập Môn lên được Khái Luận, 80% Khái Luận lên Nhiệm Ư và 80% Nhiệm Ư lên Sưu Khảo. Cuối niên khóa 1967-68, th́ gần 400 sinh viên nhận lănh văn bằng Cử Nhân. Năm Nhập Môn có 1036 sinh viên. Tôi thường tự hỏi điều ǵ đă xảy ra cho hơn 600 sinh viên không tốt nghiệp kia?”[43].

2. Từ Trường khác. Dưới cái nh́n của giáo sư hay sinh viên của những phân khoa khác, ư kiến dường như không hoàn toàn nhất trí với người trực tiếp trong cuộc. Như cảm nghĩ của một giáo sư, được đào tạo trong môi trường giáo dục Pháp, phục vụ tại Trường Văn Khoa về Trường CTKD:

Trong bước khởi đầu và phát triển, buộc ḷng phải có những chủ trương hơi thiên về“thực tế”! Có lẽ đó là lư do khiến cho từ năm 1965 đến quăng năm 1970, trường Chánh Trị Kinh Doanh hơi có phần khuếch trương quá mức so với các khoa khác! Trong giai đoạn ấy, ở xă hội miền Nam nổi lên một phong trào đổ xô về những hoạt động tạm gọi là chính trị (các đảng phái và bè nhóm mọc lên như nấm); rồi chính khách đủ loại, đủ cỡ cũng xuất hiện rầm rộ, danh từ “chính trị” rất ăn khách! Đồng thời với sự xâm nhập của các tổ chức người Mỹ vào miền Nam, một nhu cầu về quản lư, quản trị đă bộc phát: hai tiếng “kinh doanh” cũng chẳng kém phần cao giá! Trường Chánh Trị Kinh doanh phần nào đáp ứng được một số yêu cầu và thị hiếu, cho nên được các bạn trẻ yêu thích, và có lẽ cũng được chính phủ nh́n nhận là đáp ứng cho một điều mà họ cho là cần thiết; họ bớt phần gay gắt và dần dần có phần khuyến khích.

Trong t́nh thế như vậy, Văn Khoa và nhất là Ban Triết Học đôi lúc có cảm tưởng như ḿnh là con ghẻ, lập ra cho lấy có, kẻo mà chỉ lo có Trường Chánh Trị Kinh Doanh!”[44]

Người viết không hoàn toàn chia sẻ những cảm nhận của ư kiến này, dường như mang tính cách trách móc, coi đó là xu thời hơn là khen ngợi, khuyến khích. Có nhiều lư do khiến người viết không nhất trí với cung cách nhận định như thế:

Lư do thứ nhất là người viết quan niệm rằng phát triển vật chất, phát triển kinh tế cũng là một phương diện có ư nghĩa truyền giáo sâu xa không kém các lănh vực văn hóa khác. Không thể đối lập phát triển kinh tế với phát triển văn hóa được, khi hiểu kinh tế là một yếu tố làm thành văn hóa. Tại sao không v́ thế mà thấy sự phát triển Trường Chánh Trị Kinh Doanh trong bối cảnh lịch sử cụ thể của miền Nam lúc đó là một bước đột phá trước nhiều khó khăn bế tắc của Viện? Nếu nhận thức một cách biện chứng nào đó, th́ khía cạnh vật chất có một vai tṛ nhiều khi quyết định, áp đảo và cần thiết cho các khía cạnh văn hóa khác nhau, nhất là khía cạnh tinh thần, trong các yếu tố cấu thành văn hóa.

Lư do thứ hai là “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống” chính là một phương cách nhập thể đạo vào hoàn cảnh thực tiễn của t́nh thế là một cách thể hiện tinh túy của đạo có hiệu quả và sâu xa nhất. Điều ấy có thể c̣n vượt hẳn thành kiến hay ư nghĩ tuy ngay lành nhung không luôn đúng đắn vẫn coi Chánh trị hay Kinh Doanh là chuyện danh vọng thấp hèn, dung tục, xác thịt, chỉ nhắm đến tiền bạc, lợi nhuận, khi dễ đối lập tinh thần cao đẹp hơn vật chất trong ư tưởng nhị nguyên về hiện hữu của thế giới.

Lư do thứ ba: việc mở trường Kinh Doanh vào thời điểm 1964 là một giải pháp đáp ứng thức thời với cái nh́n có tầm vóc chiến lược ứng phó rất hiệu quả cho thực tại xă hội. Trường CTKD thực sự đă tạo được sự hài ḥa, gây thiện cảm từ nhiều giới trong xă hội, cách riêng các phụ huynh, do những thành tựu mà Trường CTKD đạt được. T́nh trạng đó thậm chí đi tới khích lệ thái độ đồng t́nh của toàn xă hội. Trường CTKD c̣n góp phần giải quyết nhiều khó khăn vật chất cũng như chính trị giúp củng cố và phát triển Viện Đại Học này có lúc lâm vào nguy cơ bế tắc v́ thái độ hiểu lầm và muốn xa lánh cô lập[45]. Tuy nhiên vật chất có nguy hiểm là có thể đưa người ta ra xa các mục tiêu nhân bản chân chính.

3. Mở rộng qui mô. Với đà tiến triển khá nhanh, một cơ sở giáo dục ở trên lầu I Thương xá Tax cũng được dùng làm cơ sở II của Trường Chánh Trị Kinh Doanh cho Ban Cao Học tại Sàig̣n, từ trong niên học l968-69, nhằm thu hút các sinh viên đă tốt nghiệp Cử Nhân cư ngụ hay làm việc trong vùng Sàig̣n muốn có cơ hội nâng cao kiến thức Chánh Trị Kinh Doanh.

V́ ư thức về nhu cầu cấp thiết là giữ chân các sinh viên tốt nghiệp không bị động viên vào ngay trong quân đội, Trường CTKD muốn mở rộng chương tŕnh MBA tốt nghiệp sau hai năm. Chương tŕnh quản trị kinh doanh liên ngành này được mở tại Sàig̣n năm 1972. Đó là giáo tŕnh nghiên cứu mới nhất của nhà trường ngơ hầu có thể tiếp nhận tất cả các kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ và nhiều sĩ quan trung cấp.

Ban Cao Học CTKD nhằm phát huy kiến thức chánh trị kinh doanh ở các cấp cao hơn, trong môi trường năng động về kinh doanh tại thủ đô Sàig̣n. Và chính Sàig̣n lại là một một trung tâm đa dạng ở miền Nam, có quan hệ quốc nội và quốc tế rộng lớn. GS Nguyễn Lâu, tốt nghiệp Đại Học Luân Đôn, làm Phó Khoa Trưởng, phụ trách Ban này.

Tưởng cũng nên nói đến một nhận định của GS Phó Bá Long là có nhiều lúc sự mở mang cơ sở và phương tiện học vấn, nhất là ở cấp cao học tại Sàig̣n, vượt quá những yểm trợ tài chánh thích hợp, đúng mức, và kịp thời từ phía Hội Đại Học Đà Lạt khi đó[46].

4. Một nền CTKD nhân bản, dân tộc. Trường Chánh Trị Kinh Doanh theo truyền thống gồm hai bộ phận Quản Trị Kinh Doanh và Chánh Trị Xă Hội. GS Phó Bá Long kế thừa tất cả những di sản tốt đẹp của trường, mà c̣n có sáng kiến đem môn học độc đáo ngơ hầu gây dựng ư thức đạo lư nhân bản và dân tộc trong hoạt động kinh doanh cho các doanh gia Việt Nam tương lai.

Ông đă đề nghị đưa môn Văn minh Việt Nam thêm vào giáo tŕnh kinh doanh, kể từ niên khóa 1973-1974, trong chương tŕnh giảng huấn cho tất cả các sinh viên của hai ngành: Chính Trị Xă Hội và Quản Trị Kinh Doanh. Tất cả các sinh viên của ba năm, trừ năm Sưu Khảo, đều phải theo học môn này, kế từ niên khóa môn này được giảng dậy. Thực sự trong học tŕnh của Trường CTKD, đă có môn Lịch sử Văn Minh Thế Giới. Như thế, môn Văn Minh Việt Nam chỉ là một cách bổ sung, nhấn mạnh đến khía cạnh văn minh dân tộc trong nhận thức về hoạt động của các doanh gia Việt Nam tương lai. Vấn đề c̣n lại chỉ là hoàn chỉnh nội dung bộ môn này, soạn thảo giáo tŕnh đồng bộ và được những giáo sư thích đáng giảng dậy một cách sinh động.

Người viết được GS Khoa Trưởng kế tiếp bố trí vào việc t́m kiếm các giáo sư thích hợp cho bộ môn này. Người viết dù rất hạn chế v́ nhiều công việc, nhưng đả đảm nhận như một công tác, một cơ hội, với ư thức vừa đem sở học làm sở dụng để phục vụ học tập, đáp ứng với một thách thức có phần khó khăn. “Cờ đến tay ai, người ấy phất” nhưng nên phất cao đúng điệu như nhận thức tích cực của GS Trần Long, lúc gánh vác nhiệm vụ xây dựng Trường Chánh Trị Kinh Doanh[47].

Đây là một mảng bộ môn bao quát có tính văn hóa nhân bản và dân tộc cần có quá tŕnh xây dựng dần dần. Để tổ chức đề tài chi tiết, bước đầu người viết phụ trách mấy tiết về “Tín Ngưỡng Trong Văn Minh Việt Nam” và nhạc sĩ Hùng Lân Hoàng Văn Hương mấy tiết về “Dân Ca và Dân Nhạc Việt Nam”.

Thực tiễn giảng dậy chứng tỏ bước đầu có kết quả tốt và sẽ được cải thiện hay có thể bị đào thải như bất cứ một bộ môn mới nào, khi không c̣n hiệu năng. Bộ môn này đang được thực hiện và rút kinh nghiệm thực tế để cải tiến, hay xử lư thích đáng, th́ đất nước đă sang trang v́ biến cố 30/4/1975.

Những khó khăn đủ loại xuất hiện.

Nếu chỉ thấy những mặt tích cực mà không thấy những khó khăn khác với những thứ đă nói trên đến với Trường Chánh Trị Kinh Doanh là một phân tích thiếu sót. Về mặt này, người viết thấy GS Phó Bá Long là người đủ can đảm để nói ra gần như huỵch toẹt.

Tiếng Anh Kinh thương, môn chính khóa? Theo nhận định của ông, ban đầu có nhiều chống đối việc đ̣i hỏi tiếng Anh kinh thương là giáo tŕnh cốt lơi. Nhiều năm sau khi ông đă trở thành Khoa Trưởng, nhiều sinh viên thi rớt trong kỳ thi cuối năm đă đứng lên biểu t́nh chống ông, v́ ông chủ trương duy tŕ tiếng Anh kinh thương ở các cấp lớp trong chương tŕnh bốn năm. Trước t́nh h́nh đó, ông định sẵn sàng từ chức, nhưng Linh Mục Viện Trưởng quyết tâm ủng hộ ông. Dù vậy, hai bên đạt tới một giải pháp dung ḥa là cho phép sinh viên lên lớp nhưng không được cấp bằng nếu họ trở lại thi đậu môn tiếng Anh .

Sau này, theo ông nhớ lại, khi nhiều người trong các sinh viên và giáo sư di tản sang Mỹ trong những ngày đầu tiên sau 30/4/1975, họ đều trở thành người tị nạn và xin định cư tại đó, ông nhận được một điện đàm từ anh Ṭng, người từng lănh đạo nhóm sinh viên đ́nh công tại Đà Lạt. Anh này cám ơn ông v́ ông đă tha thiết làm sao buộc được sinh viên phải học thành thạo môn tiếng Anh. Bây giờ chính tiếng Anh trở nên một công cụ vô giá cho anh trong việc xin tái định cư.

Một vấn đề khó khăn khác là các thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt và tiếng Mỹ liên quan đến nhiều kiểu mẫu kinh doanh được đưa vào trong giáo tŕnh Kinh doanh. Chẳng hạn trong tiếng Việt hay Pháp không có tiếng tương đương với các thuật ngữ như behaviorlost leader[48].

Giảng Viên CTKD phân tích về Di Chúc HCM? Ở Ban Cao Học, GS Phó Bá Long c̣n tuyển dụng một vài người nước ngoài giảng thuyết cho các sinh viên. Có lúc một giảng viên người Mỹ, một học giả chương tŕnh Fulbright, hỏi GS Khoa Trưởng xem ông ta có thể giảng về Di Chúc HCM được không. Năm đó (1973), HCM ở miền Bắc đă chết từ bốn năm trước và ở miền Nam chính quyền cấm đọc nguyên bản tiếng Việt Di chúc tuyên ngôn của ông.

Tuy nhiên, GS họ Phó đă nói với giảng viên đó là ông có thể giảng theo bản dịch Di Chúc bằng tiếng Anh. Sự việc ấy được phổ biến trên Đài Phát Thanh Hà Nội. Thế là GS được Bộ Trưởng Giáo Dục triệu tập và thông báo cho biết là ông sẽ phải đối chất với cáo giác của Cảnh Sát An Ninh Sàig̣n. Trước mặt viên chức an ninh Sàig̣n, GS Long xác nhận việc cáo giác ông là đúng, nhưng ông lập luận rằng bài diễn giảng phân tích về Di Chúc HCM là do một giảng viên người Mỹ dùng một bản dịch Mỹ từ nguyên bản di chúc của HCM. Thế là cáo giác hành động vi phạm an ninh của ông được cơ quan cảnh sát bỏ qua, nhưng ông bị cảnh cáo là nên cẩn thận trong tương lai.

Theo cảm nhận của GS PBLong, vị trí khoa trưởng của ông ở một trường có nhiều uy tín như Trường CTKD không phải không có nguy hiểm, không chỉ về chính trị, mà cả những quyến rũ tham ô tài chánh và đạo lư. Ông kể lại:

“Một lần tôi về đến nhà, thấy một gói đồ, mở ra th́ thấy đầy tiền giấy. Claire (vợ ông) cho biết là có một người đàn bà vừa ném gói đó phía ngoài, rồi bỏ đi mà không để lại tên hay địa chỉ bà ta. Tôi lập tức lên xe, phóng lẹ ra ngoài đi t́m người khách thăm. Rất may, Claire nhận ra bà ấy ở trạm bưu điện đầu tiên. Lăng lẽ tôi vội đến gần bà ấy, bảo bà lấy lại gói đồ của bà ấy, và nói thêm rằng nếu tôi khám phá ra tên của sinh viên nào nhờ bà đút tiền, th́ dù nam hay nữ người ấy sẽ bị loại ngay. Bà ấy chưa kịp trả lời, th́ Claire và tôi bỏ đi ngay. Chúng tôi không hề nghe tin ǵ về người khách ấy nữa, nhưng nhờ tôi có hành động mau lẹ mà có hiệu quả mong muốn, v́ từ đó chúng tôi thấy không hề có ai quyền rũ chúng tôi bằng những cách cho tiền như thế nữa[49].”

Trường hợp khác liên quan đến một vị chức sắc trong giáo hội Công giáo. Theo lời ông ghi lại, “một lần tôi nhận được một lá thư từ một vị … mà tôi không quen biết. Trong thư đó ngài gửi gắm một sinh viên có thành tích quá nghèo nào đến nỗi bị đánh rớt. Tôi tŕnh lá thư lên cha viện trưởng Lê Văn Lư, người kế thừa cha Lập. Cha Lư xé tan lá thư, và lập tức cho loại ngay sinh viên kia. Chúng tôi không bao giờ nghe tin tức về vị… kia nữa”[50].

Thỉnh thoảng có tham ô tập thể như lần anh thư kư Lê Văn Vang ở văn pḥng Khoa Trưởng báo cáo là anh đă nhận được một lá thư nặc danh trong một kỳ thi cuối năm. Thư đó hứa hẹn cho anh một số tiền lớn, nếu anh lấy ra các giấy tờ khảo thí nào đó với các chữ mật mă trên ḍng cuối của tờ giấy và tuồn đến một số nhân viên giảng huấn đặc biệt để cho điểm.

“Chúng tôi điều tra và phát hiện thấy giảng viên liên quan là các giáo sư phụ giảng theo hợp đồng năm. Chúng tôi báo cáo toàn bộ trường hợp mưu mô này cho Viện Trưởng. Ngài quyết định lặng lẽ cho đánh rớt tất cả những sinh viên có liên quan và hủy bỏ hợp đồng với các giảng viên. Một giảng viên vi phạm đă phản đối việc sa thải này – cho đến khi tôi cho biết [105] kư hiệu mật mă, th́ mật mă đó mới làm giảng viên kia câm lặng ngay”.

Một cái nh́n bao quát về Trường CTKD

Người biên khảo sau khi phân tích và tổng hợp đă nh́n thấy Trường CTKD, dù có những sai sót về số liệu công bố, không chỉ đem lại một thành công về kiến thức và kỹ năng chính trị, kinh tế và quản trị kinh doanh trong lănh vực kinh tế chính trị cho một tập thể sinh viên khá đông đảo, góp phần cải thiện h́nh ảnh thiết thực và độc đáo nhất định về một Viện Đại Học Công Giáo. Trong một giai đoạn nhất định Trường đă góp phần đem lại một giải pháp cho cuộc khủng hoảng cả về tài chánh của VĐHĐL.

Nhà trường c̣n cống hiến một thứ kiểu mẫu cho những h́nh thức tổ chức điều hành, học thuật, thi cử và môi trường làm việc tập thể nhân bản tối ưu cho mọi thành phần trong cuộc, mà cho nền giáo dục trong cả giáo hội và đất nước nói chung trên cái nh́n ở tầm vĩ mô bao quát từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Thực tiễn luôn luôn chứng minh và biện chứng với những cảm tưởng, lư thuyết và lư tưởng. Người lănh đạo, quản trị viên có trách nhiệm không thể bảo thủ, chuyên đoán, mà cần thức thời nắm bắt nhạy bén và uyển chuyển thay đổi cho chính xác hơn măi và có hiệu quả đào tạo trong cuộc sống là thế.

Nói như thế không có nghĩa Trường CTKD là toàn bích, không có khuyết nhược điểm để sửa chữa, v́ sai lầm là thuộc về bản tính của con người. Có thể sai lầm trong trường hợp này, người viết trộm nghĩ, là phô trương, phóng đại về các thành quả Trường đạt được. Sai lầm không quan trọng bằng nhận ra ḿnh sai lầm và sửa sai. Đó là cách nói khác về sự thiếu trung thực của con người, khi phát hiện sự thật không hoàn toàn là thế. Nhận thức đó chỉ giúp con người bay cao hơn, xa hơn và nhanh hơn, và vững vàng hơn trong những bước đường sắp tới vậy.

 

Chương XV : Trường Thần Học

Quá tŕnh phát triển

Phân Khoa Thần học, do Ban Giảng Huấn Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X phụ trách, sẽ bắt đầu thực sự từ niên khóa 1975-76. Thực thế, theo kư ức của người tham gia điều hành Trường Văn Khoa VĐHĐL, đến năm 1974, khi có sắc chỉ của Ṭa Thánh, sát nhập khoa Thần học của Giáo Hoàng Học viện vào Viện Đại học Đà lạt, th́ những người có trách nhiệm liên hệ bắt đầu thực thi những dự phóng đă nung nấu, ḍ dẫm, thử nghiệm, thảo luận, đúc kết các vấn đề liên quan từ lâu, để thi hành qua thời gian[51].

Vị Khoa Trưởng Khoa Thần Học đầu tiên là LM San Pedro, STD, Tiến Sĩ Thần Học, SJ. Sau khi rời Việt Nam, ngài làm Phó GM giáo phận Houston-Gaveston, TX, trước khi được bổ nhiệm làm GM giáo phận Brownsville, TX.

Từ năm 1957, các Giám Mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam muốn xây dựng một hàng giáo sĩ bản quốc có giàu khả năng trí thức và đạo đức đă thỉnh cầu Bộ Truyền giáo thiết lập một Học Viện Giáo Hoàng ở tŕnh độ đại học. Ṭa Thánh chấp nhận và đă trao công việc cho các linh mục tu sĩ Ḍng Tên. Ngày 13/9/1958, một số linh mục Ḍng Tên đă xúc tiến công cuộc thành lập Học viện trên cơ sở tạm thời ở ngon đồi B của Viện Đại Học Đà Lạt, gần trường Trung học Trần Hưng Đạo, trước khi chuyển đến cơ sở chính thức ở địa điểm hiện nay.

Công tŕnh được khởi đầu xây dựng từ năm 1961, và từ niên khóa 1963-64 đă bắt đầu sinh hoạt cho đến năm 1978. Cơ sở được một kiến trúc sư người Việt, Ông Tô Công Văn, mặc dù có người đặt nghi vấn[52] là phải chăng Kiến trúc sư Ngô viết Thụ vẽ kiểu và đôn đốc xây dựng, thực hiện đồ án kiến trúc này, phù hợp với môi trường đào tạo, điều kiện chất lượng và tiện nghi cấp trung ương của Ṭa Thánh tại Việt Nam.                                                  

Cơ sở học viện mới có một khuôn viên rộng gần 8 mẫu tây, tọa lạc trên một sườn đồi nên thơ trên đường Phù Đồng Thiên Vương, quay ra đồi cù thơ mộng tiếp nối với Trường Trung Học Bùi Thị Xuân và Viện Đại Học Đà Lạt, được thường xuyên che bóng dưới tán lá xanh mướt của rừng thông.

Ngày 24/4/1964, Đức Ông Francesco de Nittis, thay mặt Khâm Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, cùng HĐGMVN, chính thức khánh thành cơ sở mới với các tiện nghi thích hợp cho việc đào tạo các chủng sinh.

Sau mấy năm đào tạo về Triết học, ngày 31/7/1965, chương tŕnh thần học mới bắt đầu tại cở sở mang tên chính thức là Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X, Đà Lạt. Tiếp theo đó, Ṭa Thánh qua Bộ Truyền giáo, cho phép khoa này liên kết với VĐHĐL.

Thực tế giáo tŕnh thần học đă bắt đầu có từ niên khóa 1963-64, nhưng xử dụng cho nội bộ của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, như một chủng viện giáo hoàng do các Linh Mục Ḍng Tên quản nhiệm.

Cho đến trước 30/4/1975 Học Viện đă thu nhận hơn ba trăm (300) sinh viên chủng sinh thần học theo những học chế khác nhau. Đă có 246 Chủng Tu Sinh thuộc nhiều giáo phận và ḍng tu địa phương. Một số chủng sinh từ các giáo phận nước ngoài như Lào và Kampuchia. Có 112 chủng sinh giáo phận và 63 tu sinh ḍng được thu phong Linh Mục.

Ban Giảng huấn

Ban giảng huấn, gồm hơn ba mươi giáo sư thuộc khoảng 10 quốc tịch khác nhau. Ngoài những vị giáo sư cơ hữu, cũng có nhiều GS thỉnh giảng đến từ các các cơ sở quốc tế, như Sophia University, ở Tokyo bên Nhật, Institut Catholique từ Paris, Pháp, Fujen Catholic University ở Đài Loan, Gregoriana ở Roma, Ư Đại Lợi.

Hai GS Trung Hoa thuộc Ḍng Tên là Linh Mục Joseph Chen Chung Ling và Matthias Chen Van Dzu khi giảng bài, hay nhắc đến Kiến Trúc Sư Tô Công Văn, có thể đề cao tinh thần dân tộc của người Việt Nam.

Ban Giảng Huấn

Mục đích của việc đào tạo

Qua nhiều phiên thảo luận giữa hai cơ quan, Viện Đại Học và Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X đă thảo luận về phương thức liên kết và được các chức trách đôi bên phê chuẩn. Thư của Đức Phaolô VI gửi HĐGMVN ngày 15/9/1966, có đoạn viết:

“Cuộc thành lập Khoa Thần Học tại Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X Đà Lạt trong thời gian sau Công Đồng sẽ khuyến khích tất cả mọi người có thiện chí, dấn thân hoàn thành lời Thánh Phaolô “Hăy thực thi chân lư trong đức ái” (Eph., 4, 5). Khoa Thần Học sẽ là điểm gặp gỡ giữa tinh thần Tin Mừng và di sản triết học và tôn giáo phong phú của dân tộc Việt Nam.”

  Học Viện có mục đích đào tạo các linh mục với qui mô sâu sắc hơn về trí thức và tu đức. Các tuyển sinh theo học ở đây là các chủng sinh được chọn từ khắp các giáo phận miền Nam, và một vài chủng sinh từ Kampuchia và Lào.

Với tư cách một phân khoa của VĐHĐL, khi ra trường, sinh viên sẽ được cấp bằng Cử Nhân Thần Học, nếu đạt các chỉ tiêu học vấn và thi cử qui định. Những ai muốn dọn Tiến Sĩ Thần Học th́ mới tiếp tục theo học cao hơn. Chương tŕnh giáo dục theo tiêu chuẩn của một Học Viện Giáo Hoàng, v́ hầu hết nhân viên ban giảng huấn là các giáo sư danh tiếng có khả năng chuyên môn cao của nhiều cơ sở đại học quốc tế trong và ngoài Giáo hội.

Chương tŕnh huấn luyện của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt

Chương tŕnh dự kiến gồm 8 năm chứ không phải 6 năm, như nhiều chủng viện khác. Chưa kể đi thực tập mục vụ dài hạn, (hay đi giúp xứ), có giáo phận 1 năm, có giáo phận 2 năm chẳng hạn như Long Xuyên. 

Thời gian đầu được chia ra như sau:

    * 1 năm dự bị.

    * 3 năm triết học.

    * 4 năm thần học.

Thời gian sau được đổi thành:

    * 3 năm triết học và có thể là 4 năm.

    * 5 năm thần học.                          

Sở dĩ như vậy, v́ muốn theo đúng qui chế phân khoa thần học của Roma. Đồng thời về triết học, th́ sẽ theo học ở bên Viện Đại Học Đà Lạt. Cụ thể là khoảng 1973-1975 các đại chủng sinh Ban Triết Học đă sang học bên Viện Đại Học. Lúc bấy giờ đă có được sự thỏa thuận giữa Giáo Hoàng Học Viện và Viện Đại Học Đà Lạt. Các đại chủng sinh sẽ học triết học ở Viện Đại Học, c̣n Phân Khoa Thần Học của Giáo Hoàng Học Viện sẽ mở rộng và trở thành một Phân Khoa chính thức của Viện Đại Học.               

Vài nét về nội dung đào tạo của GHHV

Giáo tŕnh thần học này chủ yếu là đào tạo các chủng tu sinh. Tuy theo nguyên tắc giáo dân có thể tham gia, nhưng chưa có trong thực tế, v́ việc quan hệ giữa Học Viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt và Viện Đại Học Đà Lạt có nhiều phức tạp chưa giải quyết xong v́ t́nh h́nh xă hội. Hơn nữa điều kiện để giáo dân tham gia có nhiều yếu tố cần cân nhắc, kể cả chủ quan và khách quan.

Thực tế chu kỳ tám năm đào tạo có thể diễn ra như sau.

1. Giáo tŕnh bốn năm triết học. Các chủng sinh phải học sáu bộ môn chính của triết học kinh viện theo truyền thống từ lâu ở các đại chủng viện của Giáo Hội Côn giáo: Luận Lư Học; Hữu Thể Học; Đạo Đức Học; Tâm Lư Học; Vũ Trụ Học; Thần Học Tự Nhiên.

Ngoài ra chủng sinh c̣n phải học một số bộ môn khác về triết sử.

2. Khẩu Vấn De Universa: Cửa ngơ vào thần học

Sau bốn năm triết học, các chủng sinh phải qua một cuộc sát hạch khẩu vấn Về Vũ Trụ, gọi là De Universa. Các chủng sinh phải trải qua một cuộc thi hỏi đáp bằng tiếng La Tinh hay Tiếng Pháp.

a. Ban thẩm vấn có năm giáo sư giám khảo và mỗi giám khảo đặt một câu hỏi. Thí sinh phải trả lời xuất sắc mỗi câu hỏi đó mới đạt tiêu chuẩn, nghĩa là phải được điểm trung b́nh là 6/10 và được ít nhất là ba giám khảo cho điểm 6/10 trở lên. Như thế một thí sinh có hai giám khảo cho điểm 9/10, nhưng có ba vị chỉ cho điểm 5/10, th́ thí sinh vẫn không được chấm đậu, dù [(2x 9)=18; (3x5)=15; (15+18): 5= 6,6] đă được 6,6/10 trên trung b́nh cộng tổng điểm của 5 môn vấn đáp.

b. Một điều kiện nữa là khi đă thi vấn đáp đạt kết quả tốt, th́ các điểm học về mỗi môn của bản thân thí sinh trong bốn năm học triết trước đó, phải được điểm trung b́nh.

Nếu không đủ điều kiện vượt qua cuộc khẩu vấn De Universa, th́ chủng sinh vẫn được theo học bốn năm thần học, nhưng không đủ điều kiện để được cấp văn bằng Cử Nhân Thần Học sau khi tốt nghiệp.

3. Học hỏi bằng thảo luận, đối thoại

Trong khi học thần học, để củng cố đức tin trong việc t́m hiểu các tôn giáo khác bằng phương pháp đối thoại, các chủng sinh cũng được tiếp xúc thẳng với các vị chức sắc tôn giáo khác để thảo luận, đối thoại.

Cụ thể là trong một khóa học bốn năm thần học, Thượng Tọa Phật Giáo Thích Minh Châu của Viện Đại Học Vạn Hạnh được mời lên tŕnh bày một số vấn đề cơ bản nhất của Phật Giáo và tiếp xúc đối thoại với sinh viên, nhưng hôm đó, Thượng Tọa Thích Minh Châu bận Phật sự, nên cử Thượng Tọa Thích Quảng Độ lên Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt thay thế. Hai câu hỏi được đặt ra cho Thương Tọa là:

Thuyết cấm sát sinh của nhà Phật không thể thi hành tuyệt đối được. Người ta không thể không uống nước. Thế mà ngay trong nước lă thường, đă có không biết bao nhiêu vi sinh vật trong nước. Uống vào là sát sinh rồi?

Câu hỏi về thuyết luân hồi: Phật Giáo giải thích thế nào về dân số học. Mỗi năm dân số mới cao hơn, và v́ thế cơi nhân sinh mỗi năm mỗi tăng thêm. Vậy có phải là nhiều thú vật sống lanh hơn và thăng tiến chức năng?

Trong buổi kết thúc khóa đối thoại liên tôn TT/ TQĐ đă phát biểu mấy ư.

Trước khi tin rằng đó là phát biểu từ tâm thành của Thượng Tọa Thích Quảng Độ, b́nh thường các độc giả nghĩ rằng những ư tưởng phát biểu dưới đây chỉ mang tính xă giao.

1.“Chưa bao giờ tôi gặp một nhóm sinh viên xuất sắc và lịch lăm như thế trong đời”

2.“Những câu hỏi đặt ra rất tốt cho cuộc đối thoại liên tôn trong tương lai”

3.“Phải rất lâu nữa Phật Giáo mới chuẩn bị được một lớp người tương lai như vậy”

4.“Nếu ở thêm một tuần nữa nghe các chủng sinh đặt thêm câu hỏi, th́ chắc tôi sẽ theo Công giáo luôn”

Các phát biểu trong bối cảnh kết thúc một cuộc đối thoại của một vị Thượng Tọa như Thích Quảng Độ không thể lột tả sự chân thành qua lời phát biểu bên ngoài đúng như tấm ḷng của chính người đối thoại.

Câu 1 là một cách tán tụng thuần túy thông thường đối với rất nhiều đối tác xă giao.

 Và câu 2 là một câu bông đùa cho vui hơn là thực chất, nhưng cũng có thể có nhiều hàm ư khác.

Câu 3 dường như nói để có đối thoại, nhưng kết quả của cuộc đối thoại đó hầu như sẽ chẳng giải quyết ǵ cả ngoài một thái độ ḥa hoăn khoan dung, v́ không ai giải thích cặn kẽ được những vấn đề đặt ra cho niềm tin của mỗi tôn giáo, mỗi tín ngưỡng, mỗi con người. V́ thế “đường anh đi anh cứ đi, và đường tôi đi, tôi cứ đi”.

Trong câu 4, chắc chắn về phương diện đào tạo, phải rất lâu nữa Phật Giáo mới chuẩn bị được một lớp người tương lai như trong một chủng viện Công giáo. Nhưng có thể không bao giờ có một lớp người như thế trong Phật giáo, v́ mỗi tôn giáo có những sắc thái môi trường riêng biệt mà tôn giáo khác không có.

Các chủng sinh cũng được ra ngoài tham gia những cuộc tranh luận, như về vấn đề hạn chế sinh sản ở KS Palace, Đà Lạt, do chính GS Phó Bá Long tổ chức với tài trợ hoàn toàn của Mỹ. Nhiều thuyết tŕnh viên khác như các học giả, các Giám mục, Linh Mục chuyên môn cũng được mời đến trao đổi với chủng sinh. Nhà văn Duyên Anh nói về giáo dục tuổi trẻ, nhà văn Hoàng Xuân Việt nói về thái độ cởi mở biết lắng nghe những người nói khác ư ḿnh.

Có những cuộc thăm viếng đặc biệt đến GHHV của các nhân vật nổi tiếng như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967), và Bề Trên Cả Arrupe Ḍng Tên đến VN và đến GHHV (1968).

Thực tập mục vụ

Ngoài chương tŕnh học tập chủng sinh cũng được thực tập mục vụ ngoại khóa bằng nhưng cuộc thăm viếng thực địa, thăm bệnh viện, lao xá, hướng dẫn giáo lư ở các trường trung tiểu học, hướng dẫn JUC, Hùng Tâm Dũng Chí, Thiếu Nhi Thánh Thể, giúp các nhóm trẻ em bụi đời cao bồi vùng Đà Lạt.

Nhưng biến cố 30/4/1975 đă chặn đứng tất cả mọi dự tính.

 


[1] Xem biểu đồ 4, ở trên

[2] Con số này không phù hợp với số liệu của Dalat University, đd., t. 27

[3] Tham khảo Chi Nam Sinh Viên NK 1973-74 đd., t.31

[4] Xem số liệu chi tiết về công tác xây dựng ban đầu của Linh Mục Viện Trưởng Trần Văn Thiện (1957-1961) ở Chương Năm về Quá Tŕnh thành Lập Viện Đại Học Đà Lạt

[5] Trong quá tŕnh viết khảo luận nghiên cứu này, người viết bất ngờ gặp được một cựu sinh viên tốt nghiệp khóa Sư Phạm Triết Đà Lạt năm 1964 (Ông Nguyễn văn Chi, hiện ở tại Montréal Canada, cùng học với ông Nguyễn Văn Lục, GS Triết Học, cũng ở Montréal)

[6] Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm, sau này có MA in Education: Souvenirs. Paris (?), 1999, Lưu hành nội bộ, in vi tính, 117 trang, font, tt.54-55. Nhưng lá thư từ các cựu sinh viên trường sư phạm Đà Lạt từ khắp nơi gửi đến Sư Huynh Pierre, như lá thư ngày 25/2/1993, 6/4/1993 từ Phú Nhuận của cựu nữ sinh viên sư phạm Phước (1968-71), thư ngày 22/6/1992 15/12/1993, của Lê Thị Đào từ Nha Trang.

Trong lá thư ngày 15/3/1996, có lẽ từ Canada, cô viết:

 Con sung sướng cho thầy biết là con đi lại con đường nhà trường từ cuối tháng 9 vừa qua. Mỗi tuần con có 36 tiết học: ở bốn lớp hoa vải, ba lớp may vá, hai lớp văn học. Và tuần tới một lớp khác về nghệ thuật kết hoa. thưa Sư huynh, tất cả v́ yêu nghề và học tṛ. Thầy có biết ngoài văn chương học được thời Cử Nhân văn khoa, con đều học hết những thứ khác do chính con không? Và cái tốt nhất chính là con đă đi đến chỗ thành công là giảng dậy mọi chuyện. Một tin mừng chắc sẽ làm Thầy vui: hội đồng thanh tra tỉnh đă chỉ định con gái Thầy hiến những bài học mẫu mực cho tất cả các giáo viên tỉnh! Thầy xem một con mẹ đi bán hàng rong lại hiến những bài mẫu cho các thầy cô giáo. Sư Huynh ơi, thầy hăy hănh diện v́ các học tṛ của thầy. Họ sẽ mang lạt vinh dự cho Thầy! Con cầu nguyện Chúa chúc lành cho Thầy và Thầy ǵn giữ chúng con. Lê Thị Đào. (Souvenirs, t.86). Vói lời lẽ như thế, sư huynh Pierre thấy ḿnh có thể hát “Nunc dimittis” như tiên tri Simêon để bước vào Cơi Ngh́n Thu ở tuổi 90, khi đă biết Chúa!

[7] Cậu Kế sinh ra ngày 17/12/1912 tại Phú lương, rửa tội ngày 20/12/1912 tại Họ Đạo Phú Lương (Lương tràng), thuộc Xă Định Xá, Huyện B́nh Lục, tỉnh Hà Nam, thuộc Địa Phận Hà Nội, Đồng Bắng Bắc Việt, tuy có tài liệu đồng hóa với Phú Lương ở tỉnh Thái Nguyên, miền Trung Du Đông Bắc Bắc Việt. Nhưng các sự kiện ngay trong tài liệu của SH Théophane không chứng minh điều ấy.

Giai đoạn tu học 1927-1933. Từ 15 tuổi, cậu xin gia nhập ḍng sư huynh La San, trở nên tu huynh ứng sinh  Ḍng La San từ ngày 3/8/1927. Chỉ năm năm sau, Thầy được khấn trọn đời ngày 27/7/1937 và trở thành một sư huynh trẻ tuổi của Ḍng La San. Sau đó SH theo học Trường Đại Học Văn Khoa Sàig̣n (1956-58) về văn chương và triết học. Đồng thời SH tranh thủ học thần học ở Đại Chủng Viện Xuân Bích (Saint Sulpice) Thị Nghè, Gia Định

SH được nhà ḍng cho du học (1958-61). Ở Rôma SH thụ huấn tại Trường Laterano (58-61) về thần học, sư phạm giáo lư, tính tỉnh học, linh đạo. Rồi SH theo học tại Trường Angelicum về nghệ thuật làm Master of the Novices (1959). Trong hành tŕnh đến Rôma năm 1958, SH vừa có nhận thức vừa du hành vừa học hỏi qua các trạm dừng chân Singapore, Tích Lan, Colombo, Ấn Độ Dương, Djibouti, Địa Trung Hải, Pháp, Ư. Rồi Anh (1959), Pacific Ocean, Philippin, Guam, USA (1975) Pháp, Bồ, Tây Ban Nha, Monaco, Ư, Đức, Úc, Thụy sĩ, Ḥa Lan, Bỉ và Anh (1985).

SH tham gia giảng dậy và làm việc ở nhiều môi trường khác nhau, như: Trung học Th. Thomas Nam Định (1933-34), Pellerin (34-38), Th. Thomas Trung Linh (38-39), Puginier Hà Nội (1939-41), làm nhạc trưởng, chơi orgue nhà thờ, Taberd Sàig̣n (41-49) dậy Pháp, Ngôn ngữ, Latinh, Hy Lạp, chơi Orgue, Piano, Violin), Adran (49-50) dậy Latinh, violin, piano, Lasan Taberd (50-58).

Viện Đại Học Đà Lạt 62-75: Tập Viện La San Nha Trang (63-67), thông tín viên Giáo Dục (1963-75), dậy thần học, lịch sử giáo dục, nhiệm vụ học (62-75) Giám Đốc Thư Viện VDHDL Phó GĐ Đại Học Xá (1968),

Đến Hoa Kỳ 1975-2003: Dậy ở St Mary’s College of Northern California, curator Thư Viện (75-76), Latinh, Ban Cổ điển (76-99), tiếng Anh, Hy Lạp, Pháp, thông tín viên tập san Liên Lạc ở San Jose (1976-1984). Dịch một số sách thần bí về Anna Catharina (4 cuốn), Maria Valtorta (10 cuốn) sang Tiếng Việt, nghiên cứu học hỏi văn hóa Pháp, Anh, … cho đến lúc từ trần hồi 10.45am ngày 2/11/2003.X tại nhà ḍng Lasalle, San José, California, Hoa Kỳ, thọ 91 tuổi. (Ban Điều Hành Hội Ái Hữu Thụ Nhân Viện Đại Học ĐàLạt Nam California: Đặc San Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế. “Frère Kế, Thụ Nhân và một đời hiến dâng cho giáo dục.” Southern California, USA (12/2003), 183 t., pdf., in font 12. Ban Biên Tập Đặc San: Tiểu sử Frère Théophane Kế. Đặc San Frère Kế, Southern California 12/2003, t. 99-101; cũng xem BBT ĐSKD7: “Cố Frère Théophane Nguyễn Văn Kế. ĐSKD7, tt. 43-49)

[8] Chánh Trị Kinh Doanh.

[9] Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74, đd., tt.29-34

[10] Tham Khảo Chỉ Nam Sinh Viên, 1973-74, đd., tt. 74-75

[11] Thế Tâm: Sđd., t.150.

[12] Thế Tâm, Sđd., t.149.

[13] Thế Tâm, Sđd., t.153.

[14] Thế Tâm, Sđd., t.155. Người viết không h́nh dung được hết t́nh trạng khách quan của Viện Đại Học Đà Lạt theo ư tác giả nói là ǵ? Luộm thuộm, không được tổ chức, không đoàn kết, không có tương lai v́ nhiều khó khăn, … ?

[15] Thực tế, ở nhiệm vụ giảng dậy, người viết đă áp dụng phương pháp hội học, tham quan thực địa có nhiều kết quả tốt cho các lớp lịch sử Việt Nam và thế giới, cùng văn minh Việt Nam

[16] Thế Tâm, Sđd., tt.149, 150, 151.

[17] Thế Tâm, Sđd., t.159.

[18] Thế Tâm, Sđd., tt.157-158.

[19]Ông Phó Bá Long xuất thân từ các trường: Trung học St. Francis Xavier (Thượng Hải, Trung quốc); Trường Bưởi (École de Protectorat), Albert Sarraut và Đại Học Dược Khoa Hà Nội, Việt Nam.

Tháng 7, 1954, ông trúng tuyển chương tŕnh học bổng Fulbright. Ông xin theo học ngành Kinh Doanh tại trường Công Giáo Georgetown ở Washington, D.C. Nhưng trường này không có ngành ông muốn theo học và v́ thế được giới thiệu theo học bậc Cao Học Kinh Doanh hai năm tại Trường đại học Harvard (Harvard Business School, Boston).

Năm 1956, ông về nước làm Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Ḥa I ở Miền Nam. Ông đă làm Tổng Giám Đốc Nhà Máy Gạch Bắc Kỳ và Công Ty Thủy Tinh, và làm Giám Đốc bản xứ cho hăng dầu Esso tại Sài G̣n. Năm 1970, ông làm Khoa Trưởng Trường Chánh Trị Kinh Doanh, Viện Đại Học Đà Lạt, và thỉnh giảng tại Trường Đại Học Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa cho đến 1975

Sang Hoa Kỳ, Giáo Sư dạy Anh văn tại trường trung học công lập Montgomery Blair, MD, Marketing tại American University, và thỉnh giảng môn Đông Nam Á Học trên du thuyền Đại Học Pittsburg, PA. Ông đă làm Đồng Giám Đốc Trung Tâm Hướng Dẫn định cư tại Viện Ngữ Học Thực Hành và đă cộng tác tại các trại tỵ nạn Pulau Bidong, Palawan, Bataan, Galang, Sikew, Macao, Hong Kong, và Bắc Hải ở Trung quốc.

Ông làm thông dịch viên công chứng của Bộ Ngoại Giao Mỹ, nên đă công tác tại các Hội nghị quốc tế về quân nhân mất tích và định cư tỵ nạn tại Hawaii, Geneva, và Paris.

Từ năm 1983-1989 Giáo Sư làm Giám Đốc Chương Tŕnh Đào Tạo Kinh Doanh cho người Việt Nam, dưới bảo trợ của Georgetown University School for Summer and Continuing Education. Chương tŕnh này được đem vào giảng dạy tại các đại học Việt Nam, Lào và Kampuchea.

Ông Bà sinh được bốn trai, hai gái và đến nay đă có bốn cháu nội ngoại. Hiện nay Ông Bà Phó Bá Long đang nghỉ hưu tại Washington, D.C., Hoa Kỳ.

[20] Theo Hồi Kư của GS Trần Long, ba nhân vật Long này đều đến Hoa Kỳ du học vào đầu thập niên 1950, có hỗn danh thời c̣n làm sinh viên ở Hoa Kỳ là Mập (Phó Bá Long, 1922, Hà Nội, Quản Trị Kinh doanh, University of Havard, vợ Đặng Trung Nghĩa 1960 ở Sàig̣n), Lùn (Trần Long, 1928 Ninh B́nh, kinh tế thương mại, University of Portland, và Syracuse, vợ Ánh Nguyệt 1959 học ở Reed College), và Cao (Ngô Đ́nh Long, 1931, Huế, điện học, University of Wisconsin, vợ Trâm Anh 1954, học ở Mundelein College, Chicago). Cả ba có lúc cùng dậy học ở Trường CTKD Đà Lạt. Cuộc đời tương đối xuông xẻ, thành công và bề thế trong xă hội. (Trần Long, Sđd., t.7/7; “Giáo Sư Khoa Trưởng Trần Long”. Đặc San Khóa 7 CTKD, t. 37-41)

[21] Trần Long; Hồi Kư đă dẫn. Đặc San Khóa 7 CTKD, t. 9, chú 7: “It was also the first institution of higher learning in Vietnam that applied the case study method and group research system”. Thực ra khi người viết c̣n thụ huấn ở Trường Văn Khoa Sài g̣n từ 1961-1968, phương pháp điển cứunghiên cứu tập thể đă được áp dụng từ sớm trong môn Xă Hội Học do GS Phạm Thị Tự phụ trách, và trong môn Địa Lư Nhân Văn, do GS Nguyễn B́nh Minh hướng dẫn. Thực sự lúc đó tất cả đă từ hai nữ giáo sư này. Nhưng phương pháp mới mẻ này chưa có ảnh hương rộng lớn.

[22] Trong hồi kư ông Trần Long ghi thời điểm anh làm Chủ tịch Hội Sinh viên Công giáo vào các năm 1962-64, và Phó Bá Long kế tiếp từ 1964 là không chính xác. Đúng là các thời điểm 1952-54, v́ Phó Bá Long đă tốt nghiệp xong Cao Học QTKD Harvard từ 1956 và về làm việc tại Sàig̣n, như GS PBL xác nhận với người viết qua điện đàm, chứ không phải năm 1964 như GS Trần Long ghi.

[23] Tài liệu gia phả của họ Phó có một mức độ khác biệt nà đó đối với con đường đi tới của GS Trần Long: “…GS Trần Long và tôi được biết là cột trụ của SBG, làm việc với nhau và yểm trợ nhau và khuyến khích nhau. Tôi có cái thú là đă giới thiệu ông với vợ ông, Danielle và bà có với ông chín mặt con. Tôi đă làm ông trở nên một thành phần chính sáng lập và quản trị Học Viện Anh Ngữ Lam Sơn. Tôi khuyến khích ông tham gia vào Esso. Ỏ đó ông giữ chức giám đốc giao tế. Rồi khi ông bị động viên vào trong quân đội, tôi giới thiệu ông với cha Lập.” Phó Bá Long: On the Long Way Home, Part I: Autobiography. Place unknown, July 2, 2000, 66th Commemorative of  Phó Bá Thuận, the author's father, 114 pages, in A2, font 9, p. 104.

[24] Trần Long: Hồi Kư đă dẫn, t.1/7.

[25] GS Ngô Đ́nh Long theo học Trường Quốc Học Khải Định và đậu Tú Tài II năm 1952. Cũng trong năm này, ông được học bổng của Quốc Trưởng Bảo Đại, du học Kỹ Sư Điện tại trường đại học Wisconsin thuộc Madison, Wisconsin ở Hoa Kỳ. Nơi đây, ông đă liên tục tốt nghiệp các văn bằng: Bachelor of Science, Electrical Engineering (1956), Master of Science, Electrical Engineering năm (1957) đồng thời làm Phụ Tá Giảng Huấn cho nhiều lớp Kỹ Thuật điện học (1957-1959). Năm 1959, đáp ứng lời mời của Nguyên Tử Lực Cuộc Việt Nam, ông hồi hương cộng tác xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử Đà Lạt.

Năm 1964, ông được Giáo Sư Trần Long mời cộng tác và giảng dạy môn "Toán Kinh Thương" cho sinh viên Chánh Trị Kinh Doanh từ Khóa 1-8. Ngoài ra ông c̣n có dịp dạy môn Vật Lư Hạch Tâm cho sinh viên Khoa Học và lớp Nghệ Thuật Phiên Dịch Anh-Việt, Việt-Anh cho sinh viên Văn Khoa cũng thuộc Viện Đại Học Đà Lạt. Ông phụ trách liên tục môn Toán Kinh Thương từ Khóa 1 đến Khóa cuối cùng gồm các đề tài chi tiết như: tiền lăi, lăi đơn, lăi kép, các niên khoản, xác suất và ứng dụng trong các ngành bảo hiểm, v.v. Sau này ông Ngô Đ́nh Long c̣n kiêm nhiệm một số công việc khác ở Viện.

[26] Trần Long sinh ngày 8/6/1928 tại Ninh B́nh Phát Diệm, Bắc Việt. Từ 1935-46, thụ huấn với các Sư Huynh và Linh mục trong chủng viện. Sau ba năm diến ra cuộc chiến tranh Việt Pháp, anh được giáo phận Phát Diệm cho đi du học Pháp. Sau đó, ở Pháp được 8 tháng, anh ra đời và sang Mỹ du học. Trong thời gian 1950-54, sinh viên Trần Long theo học chương tŕnh Cử Nhân (B.S.) Quản Trị Công Nghiệp tại University of Portland, Oregon. Tốt nghiệp tháng 9/1954. Năm 1954-56, ông tiếp tục học lên Cao Học (M.A.) Kinh tế và Tài Chánh, University of Syacuse, New York.

Sau khi tốt nghiệp đầu năm 1956, ông về Sàig̣n và ở lại Miền Nam Việt Nam trong 16 năm. Ông điều hành tờ Tuần Báo The Times of Viet Nam (1956). Trong thời gian 1957-61, làm quản đốc Công ty Standard Vacuum Oil, Phân Bộ Việt Nam-Cambốt. Ông gia nhập quân đội VN với tính cách sĩ quan trừ bị Ban Huấn luyện (1961-63), biệt phái làm Khoa Trưởng Trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạ t (1964-1970), Tống Quản Lư Hội Đại Học Đà Lạt (1970-1975). Di tản ngày 29/4/1975 từ Sàig̣n sang Hoa Kỳ, với vợ và tám con.  Ông làm giảng viên Kinh tế tại Đại Học Cộng đồng Portland (1975-76), Kiểm toán viên trưởng tại Far West Federal Savings and Loan Association (1976-93), Viên chức kiểm toán Washington Mutual Savings Bank (1993-96). Hồi hưu ngày 8/6/1996. Hiện cư ngụ tại Portland, Oregon

[27] Trần Long, Hồi kư đă dẫn trên, t.2/7

[28] Phó Bá Long: Autobiography “On The Long Way Home”, sđd., t.92

[29] Ban Biên Tập ĐSKD7: “Tổng quát về Viện, Trường và Khóa 7 CTKD”. ĐSKD7, t.10, trích từ Phiếu Điểm Tổng Quát của K7 CTKD, Ban Quản Trị Tài Chánh Kế Toán. Cũng xem Thái Văn Hùng: “Những chặng đường gian nan”. ĐSKD7, tt. 76-80.

[30] PBL: Autobiography, đd., t.104

[31] Con số này do chính GS Trần Long ghi trong Hồi Kư, đd., t. 3/7 (xem nguyên văn ở dưới)  không phù hợp với số liệu trong bảng thống kê của Ch́ Nam Sinh Viên 1973-74 đưa ra là 1964-65: 700 người (?!) [t.103], trong khi ở Bảng Thống Kê tổng hợp toàn viện ở t. 9 lại ghi là 1075. Cùng năm học đó, ba trường Sư Phạm, Văn Khoa và Khoa học theo bảng tổng kê có (51+295+94) = 440 người.

(nguyên văn đoạn hồi kư: “Cuối niên khóa 67-68 gần 400 sinh viên nhận lănh văn bằng Cử Nhân. Năm Nhập Môn có 1036 sinh viên”. Thục ra tống kê chính thức của Trường CTKD theo CNSV 73-74 chỉ là 295 sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân Kinh Doanh thuộc năm 1967-68!

[32] Thái Thị Như Hảo: “Viết về Thầy (GS Đinh Xáng)”. ĐSKD7, tt. 98-103.

[33] Trần Long, Hồi Kư đă dẫn trên, t.5-6/7

[34] PBL, Autobiography, đd., t.105

[35] Tham Khảo Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, đd., t.

[36] Dĩ nhiên chưa được ghi trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74.

[37] V́ có sai số trong ba bản thống kê liên quan đến một đề mục thống kê (các sai số toàn viện với Trường Văn Khoa và Trường Chánh Trị Kinh Doanh) mà tôi phát hiện trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, nên các số liệu về số sinh viên Nhập Môn (450) và tốt nghiệp (182) của K7 CTKD chính xác đến mức nào? Thống Kê chính thức trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, ghi số sinh viên ghi danh năm Nhâp Môn (tức K7 /CTKD) năm 1970-71 là 1157 sinh viên (!) chứ không phải là 450 như DSK7 ghi (!) 

[38] Ban Biên Tập ĐSKD7: “Tổng quát về Viện, Trường và Khóa 7 CTKD”. Đặc San K7/CTKD, t.10.

[39] Người viết được GS Phó Bá Long cho biết LM Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt có dự tính tổ chức thi cuối năm 1974-1975 cho toàn thể sinh viên của Viện có mặt ở Sàig̣n, nếu t́nh h́nh đất nước không thay đổi vào 30/4/1975.

[40] Thực sự số liệu này không đúng với Thống Kê chính thức do trường công bố trong CNSV 73-74 (295)

[41] Trần Long: Sđd., t.2/7.

[42] Trần Long, Sđd., t.3/7.

[43] Trần Long: Sđd., t.3/7. Nếu các số liệu GS Trần Long đưa ra theo hồi kư là chính xác, th́ đương nhiên mới có thể phán đoán chính xác về trường CTKD, dù tương đối. Nếu không những lập luận dựa trên các số liệu sai lại đưa người đọc đến nhiều suy nghĩ và phân tích khác về thành quả của nhà trường cũng như khả năng của chính Ban Điều Hành nhà trrường.

[44] Thế Tâm: Sđd., t.156.

[45]Sau chính biến 1963, Viện Đại Học Đà Lạt bị chính phủ miền Nam cho là gắn liền với chế độ Ngô Đ́nh Diệm, nên có cái nh́n không mấy quân b́nh mà có phần ác cảm. Do đó vào những năm 1963, 64, 65, Viện đă gặp rất nhiều trở ngại. Ví dụ về tài chánh, một số tài sản làm cơ sở tài chánh của Viện bị phong tỏa, thậm chí có lúc vấn đề tịch biên được đặt ra, ban giáo sư bị hạn chế, nơi ăn ở của sinh viên từ các nơi khác đến cũng nan giải. Có lúc LM Viện Trưởng phải chạy đi mượn tiền để thanh toán tiền lương cho giáo sư và nhân viên” (Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương: Sđd, t.156.)

[46] Phó Bá Long: Trao đổi qua điện thoại với người viết ngày 1-2/5/2006.2&3.

[47] Trần Long, Hồi Kư, Tài liệu đă dẫn, t.2/7

[48] “Chúng tôi phải chế ra những từ mới như “hành xử” cho behavior có nghĩa đen là thái độ hành động. Đă có nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về thuật ngữ marketing cho đến khi chúng tôi t́m đển chữ “tiếp thị”, tức “cung ứng thị trường”. Năm 1968, tôi hội với Oliver Giscard d’Estaing (anh em của Tổng Thống Pháp) người cùng học dưới tôi một hay hai năm ở Harvard. Lúc đó, ông làm nhà sáng lập/giám đốc Institut Européen d’Administration d’Entreprises tức là INSEAD. Tôi hỏi ông đầu tiên là tiếng Pháp ông nói marketing là thế nào?” Ông cười to tiếng và vỗ vào lưng tôi và nói “Bồ ạ, chúng tôi cứ gọi là marketing.” PBL: Autobiography, đd., t.105.

[49] PBL: Autobiography, đd., t. 106. Đó là một cử chỉ ứng xứ thích đáng.

Nhưng tôi tự hỏi là có bao nhiêu trường hợp có thể đă xày ra, tinh vi hay lộ liễu, ở trong Trường ông hay trường khác trong Viện mà ông không ai biết? Dĩ nhiên những chuyện ḿnh không biết th́ ḿnh không chịu trách nhiệm. Thực tế có thể đă có nhiều việc xảy ra làm cho con người áy náy, mà không ai biết ngoài lương tâm những người có liên quan, và Trời?

[50] PBL, Autobiography, đa d., t. 106

[51] Thế Tâm: Sđd.t.157-158. Xin xem thêm tiết

 [52] Người viết có tham khảo Tiểu sử của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ trên website do một con trai ông xây dựng. Trong các công tŕnh đáng kể của ông không có Đồ án kiến trục Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt trong thời gian này. (SELECTED WORKS : 1955-1958 Planning Project: The Conurbation of Saigon and Cholon; 1961-1966 Presidential Palace (or Independent Palace, now renamed Unification Palace), Saigon; 1961-1963 University of Education, Hue; 1962-1965 Atomic Institute, Dalat; 1962- National University Campus, Thu Duc; 1962 Huong Giang 1 Hotel, Hue; 1962 Central Market of Dalat). Website NGO VIET THU (1926-2000) Architect D.P.L.G, Planner, 1er Grand Prix de Rome, Honorary Fellow of the American Institute of Architects, by Dr. Ngo-Viet Nam-Son at vnsngo@u.washington.edu or NamSonNgoViet@gmail.com . Ngày 13/5/2006.7.  

Trao đổi với Tiến Sĩ Ngô Viết Nam Sơn trên email, thi ông trả lời “The author of that project is architect To Cong Van. That's all I know. He would have passed away already.”.  

Nhưng v́ tài liệu chính thức của Niên Giám Công Giáo Việt Nam 2004 có nói đến kiến trúc do người Đức, nên có thể có sự công tác với KTS Tô Công Văn đến một mức nào đó đế tránh khó khăn về pháp lư nếu người ngoại quốc đứng tên chính thức. Trong các tu sĩ Ḍng Tên người nước ngoài, th́ có nhiều tu sĩ Ḍng Tên Đức có thể từng là Kiến Trúc Sư (?) và đủ khả năng để thiết kế và thực hiện dự án kiến trúc phúc tạp nhưng rất tiện nghi cho một đại chúng viện!.

 


Xem tiếp :   Phần IV. Sinh Hoạt Của Viện

  Về lại mục lục