Viện Đại Học Đà Lạt

Giữa  Ḷng Dân Tộc Việt Nam

1957-1975

 

Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm

 

PHẦN IV : SINH HOẠT CỦA VIỆN ĐẠI HỌC

Sau khi đă phân tích từng phương diện của mỗi bộ phận trong Viện Đại Học Đà Lạt, một cái nh́n tổng hợp là cần thiết để từ đó mỗi người đọc thấy rơ những mặt tích cực mà tập thể Viện Đại Học đă làm được và khắc phục những mặt tiêu cực sai lệch với những mục tiêu chiến lược đề ra. Người ta thường ưa thích nói đến thành tích mà mau quên những bài học đưa đến tiêu cực. Hy vong khảo luận nhỏ bé này không làm nản ḷng những ai ky vọng vào tương lai đang tới trong việc xây dựng một nền đạo học xứng đáng phù hợp với tầm vóc Việt Nam trong thế kỷ này. Mỗi thế hệ có một vài tṛ của ḿnh để đừng di lụy cho các thế hệ kế tiếp

Chương XVI : Tổng Kết Số Liệu Toàn Viện (1957-1975)

Số Liệu Thống Kê

Những số liệu tổng kết số sinh viên Tốt Nghiệp thuộc tất cả các Trường (Phân Khoa) thuộc Viện, ở ba cấp Cao Đẳng, Cử Nhân và Cao Học (1958-1973) có thể ước lượng, với các số liệu về nhân sự hành chánh và giảng huấn thuộc NK 1973-74, như sau:

 

Biểu Đồ 14. Tổng Kê Số Liệu Toàn Viện Đại Học Đà Lạt (1957-1973)

TT

Trường Đại Học

Sinh Viên

Nhân viên phục vu

Ghi danh

Tốt nghiệp

Giảng huấn

Hành chánh

Cử Nhân

Cao Học

Cao Đẳng

Cử Nhân

Cao Học

Cơ hữu

Thỉnh Giảng

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

(9)

(10)

1

Sư Phạm

02805

 

 

0362

 

05

28

04

2

VănKhoa

08800

0363

 

0363

03

08

70

05

3

Khoa Học

03985

 

 

0046

 

08

48

09

4

Chánhtrị Kinhdoanh

09694

0904

 

0955

51

08

83

16

5

Thần Học

?

 

 

0352 (?)

 

?

?

?

6

Các Bộ Phận Khác

 

 

 

 

 

 

 

82

 

 

25284

01267

 

1726

58

29

200

116

T.C

 

26551

 

1784

229

116

Chú thích: 1/Số liệu Theo Viện Đại Học Đà Lạt: Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74 đd., t. 9,  t. 31(SP), t.49 (VK) t. 74-75 (KH) , t. 103 (CTKD).

2/ Thần học chưa có số liệu. Con số đưa ra chỉ là số ước lượng của Tạ Duy Phong dựa trên một tài liệu nào đó, không được cộng vào tổng số chung của toàn viện

3/ Các cột (3), (6), (7), (8), (9), (10) là những số liệu cho ta thấy được hiệu năng thực sự, ít nhất theo số lượng, của Viện Đại Học Đà Lạt. Chính từ số liệu đó ta có thể đánh giá chất lượng nào đó về kế hoạch đào tạo.

Số liệu nói trên không biểu thị một thành quả lớn lao về số lượng, như điều quan trọng là số người đó nắm giữ có hiệu quả những địa vị quan trọng trong guồng máy của đất nước về các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục. Tác dụng biến đổi đất nước sẽ lớn lao với những nhà lănh đạo, nhà hoạt động cụ thể đó. Nếu trong thời gian từ 1957-1975, một thời gian xáo trộn trong bối cảnh chung của miền Nam mà Viện Đại Học Đà Lạt đă đứng vững và tiếp tục sứ mệnh Thụ Nhân như thế, th́ vấn đề không phải là nhỏ.

Một tập thể gồm khoảng 116 nhân viên tham gia điều hành và 229 nhân viên giảng huấn. Tập thể ấy phục vụ bằng biết bao công sức và tâm lực, với lương tâm trong sáng cho một cộng đồng sinh viên ước lượng là 26.551 người, và đạt tới kết quả 1284 Cử Nhân các khoa cùng 58 Cao Học tiến cử cho xă hội. Thành quả ấy không phải là không đáng kể. Tỷ lệ đào tạo đó vào hoảng 6.8% cho ban Cử Nhân và 4.3% cho Ban Cao Học. Và châm ngôn “quí hồ tinh, bất quí hồ đa” đă là tiêu chuẩn hàng đầu của Viện vậy

Tỷ Lệ Kết Quả Đào Tạo Không Đồng Đều ở Các Khoa.

Trong một thời gian nhất định trường Sư Phạm đă đào tạo theo hợp đồng với chính quyền phụ trách về giáo dục. Nên quyết định về các tiêu chuẩn học tập và tốt nghiệp không hoàn toàn do Ban Điều Hành và Giảng Huấn của nhà trường chủ động, tuy tỷ lệ đó chỉ áp dụng cho một thiểu số trường hợp.

Trường Văn Khoa có lẽ có số sinh viên có tổ chức liên hệ và gắn bó kín đáo nhất, do hoàn cành của mỗi sinh viên thường rất khác nhau trong cuộc sống đời thường, và tính chất của môn học và học chế áp dụng cho từng môn học, cũng như phương pháp giảng dậy rất khác nhau tùy theo mỗi giáo sư đứng lớp.

Trường Khoa Học dường như âm thầm nhất với thành quả tốt nghiệp cũng khiêm tốn. Điều đó các nhà điều hành cần cân nhắc các nguyên nhân chi phối. Phải chăng đó là nét đặc thù của bất kỳ trường Khoa Học nào, hay v́ những động lực mà Viện và Khoa chưa nằm được hết. Dù là lănh vực khoa học tự nhiên, th́ các sinh viên theo học nhiều hay ít cũng tùy thuộc qui luật tâm lư: Lợi và Thú. Điều ǵ đă tác động đến lựa chọn của sinh viên?

Trường Chánh Trị Kinh Doanh có một tỷ lệ tốt nghiệp của một khóa (cuối năm thứ IV) là khoảng 30% so với sĩ số ghi danh nhập học qua trắc nghiệm (đầu năm thứ I). Một tỉ lệ rất cao. Mỗi năm có những sinh viên rơi rụng v́ nhiều hoàn cảnh. Mỗi khóa học kéo dài bốn năm tạo ra một lớp sinh viên tương đói có nhiều liên hệ chặt chẽ với nhau hon so với các khoa khác. Và khi dấn thân vào đời cuộc sống học tập hợp tác trước kia đó dễ khiến họ phát huy khả năng tổ chức và đời sống cộng đoàn cũng như tinh thần tương trợ hợp tác trong bất kỳ t́nh huống nào trong đời thường về sau.

Trường Thần Học tuy nói là thuộc vào Viện Đại Học Đà Lạt, nhưng quá tŕnh hội nhập này đă diễn ra rất chậm và phức tạp trong thời gian sau này, v́ nhiều lư do khác nhau. V́ thế các số liệu về thành quả của Trường này không hoàn toàn phản ảnh đúng ở các thời điểm chính thức. Vả lại, sinh viên của Trường này hầu hết là các sinh viên tu sĩ đă được tuyển lựa tử các giáo phận hay ḍng tu (linh mục triều hay tu sĩ ḍng).

Những điều chung nhất mà khi tổng kết phần lịch sử Viện Đại Học Đà Lạt mà mỗi người tùy theo cương vị và trách nhiệm của ḿnh có thể cần rút ra cho tổ chức của ḿnh và bản thân ḿnh th́ rất nhiều vấn đề. Người viết chỉ gợi ư ra một số chủ đề rút ra từ thực tế làm việc và quan sát kinh nghiệm một số nhiệm vụ đă đảm trách, mà không khai triển. Mỗi người liên hệ tự t́m ra đáp số cho xă hội và cuộc đời chính ḿnh

Vấn Đề Tâm Linh & Nhân Bản

Quan hệ giữa Giáo dân và Linh mục  
Tác phong đạo đức cá nhân của nhân viên trong viện  
Tuyên úy sinh viên  
Đoàn Sinh Viên Công Giáo

Vấn Đề Nhân Sự

Tổ chức Quản Trị  
Hội Đại Học Đà Lạt  
Sinh hoạt văn pḥng hành chánh  
Những công việc về quản lư  
Hợp Tác Giữa Nhân Sự Các Nguồn Đào Tạo  
Cư Xá Giáo sư và Nhân Viên  
Chương tŕnh đi du học
 

Vấn Đề Học Vụ

Công tác Sinh Viên Tất Cả V́ Sinh Viên: Tổ Chức Sinh Viên Vụ đa hiệu  
Các đại học xá sinh viên  
Phương pháp học vụ: giảng dậy, giáo tŕnh, tổ chức hội học  
Tổ Chức Thi Cử  
Những thành quả giáo dục thực sự tại Viện Đại Học Đà Lạt  
Những hậu quả giáo dục tiêu cực từ những người làm việc (hành chánh và giảng huấn) hay thụ huấn ở Viện Đại Học Đà Lạt

Những Dự Phóng Tương Lai

Đầu tư tạo tiện nghi tối đa về mọi phương diện cho công cuộc đào tạo con người  
Mở rộng các quan hệ giao lưu với cơ sở giáo dục nghiên cứu, sinh hoạt kinh tế văn hóa chánh trị trong và ngoài nước  
Tạo điều kiện tối đa như một chiến lược tiến cử bền vững, lâu dài, quảng đại và nhân ái đối với thế hệ được đào tạo vào xă hội  
Phát Huy tính năng một Viện Đại Học Công Giáo thành một Trung Tâm Nghiên Cứu và Phục Vụ Đặc Thù ở Cao Nguyên  
Sáng kiến đóng góp của mỗi đơn vị cho địa phương, xă hội, và khoa học  
Tầm Nh́n Trên và Sau Đại Học  
Phát Huy truyền thống tự trị của nền đại học  
Một cộng đồng trí thức có tầm nh́n xa rộng và thức thời

Việc phân tích vào nhiều chi tiết có thể xới lên những vấn đề ngổn ngang như một cựu sinh viên Ban Triết Học của Trường Đại Học Văn Khoa Đà Lạt đă có những cảm nghĩ bộc trực như có ǵ bất ổn trong thâm tâm anh thế nào đó. Tôi không hoàn toàn đồng ư với tác giả về tất cả các suy nghĩ tự phát của anh, nhất là việc nối kết thành tích vói chất lượng. Vả nếu có một số trường hợp như BD, NHG hay KD, hay nhân vật D và V nào đó, th́ c̣n biết bao điều xây dựng tích cực đă, đang và sẽ diễn ra. Người viết lá thư dưới đây đă đề tất cả các tên rơ ràng, nhưng v́ tôn trọng các danh tính riêng tư đó, tôi xin chỉ viết tắt:

“Minh da doc xong lich su dai hoc Da Lat. Anh viet rat hay nhung con mot phan chua khai thac la nhung sinh vien ra truong dong gop gi cho xa hoi hien tai. Vi du BD la can bo tinh bao gioi cua VC (!). Chinh thanh qua se noi len chat luong cong viec. Pham chat dao duc cung la mot tieu chuan. Vi du ong NHG mo cong ty du lich nho tien cua hoc tro cu vo no, bo? tro^ 'n lam anh sinh vien ay dieu dung do khoc do cuoi. Roi thay KD viet gan 40 cuon sach ve van hoa Dong Phuong ma khong viet noi mot cuon sach ve Duc Ki-to, vay ma cung la linh muc. Chua het nhung cuon sach cua ong KD vo hinh trung tiep tay cho chu nghia ba quyen Nho giao cua Trung Quoc.

Do chi la may goi y cho anh, co the minh sai, nhung minh thay tri thuc mien Nam truoc day to lo mo lam sao ay va co ve nguy tin nua. Vi du ong D noi khong lam chinh tri trong dai hoc nhung co mot dieu chac chan ong biet sinh vien nao den o voi ong thuoc lap truong chinh tri nao, va hinh nhu co mot thoi ong lay quan diem cua ong V lam cua minh. Sent: Sunday, May 28, 2006 6:18 PM Subject: lich su DHDL”

 

Chương XVII : Những Mẩu Sinh Hoạt Rời Rạc Trong Viện

1. Chuyện chung quanh việc thành lập Trường Chính Trị Kinh Doanh.

Theo kư ức của GS Lê Hữu Mục, giảng dậy môn Việt Văn, th́ ấn tượng đáng ghi nhớ có thể là việc mở Trường Chính Trị Kinh Doanh. Sáng kiến này được LM Viện Trưởng Simon Nguyễn Văn Lập có dự định từ khá sớm, nhưng có rất nhiều ư kiến phản đồi từ nhiều giới, từ trong HĐGMVN đến các giáo sư và cộng đồng Công giáo. Theo một trong nhiều lư do phản đối kịch liệt v́ quan niệm cho rằng, là một cơ sở giáo dục Công giáo, tại sao VĐH ĐL không mở phân khoa thần triết học mà lại mở trường kinh doanh? Làm thế không sợ dư luận kết án là chạy theo tư bản sao? Vả lại thế mạnh của nhiều học giả Công giáo là thuộc lănh vực khoa học xă hội nhân văn.

Nhưng với nhận thức, ư chí cương quyết cùng trợ lực hợp tác của nhiều giáo sư quản trị kinh doanh, cuối cùng Trường Chánh Trị Kinh Doanh thành h́nh và đạt hiệu quả đào tạo cao nhất không những về sĩ số của Viện mà c̣n đóng góp lớn lao cho xă hội những chuyên gia quản trị kinh doanh có tầm vóc xuất sắc nổi tiếng ở trong cũng như ngoài nước[1].

Có người đàm tiếu là lúc đó Viện Đại Học Đà Lạt tưởng chừng ở trong t́nh trạng bế tắc, sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ. Đúng là cảnh “dậu đổ b́m leo”, người ta muốn trút cơn giận và muốn đóng cửa và tích thu luôn Viện Đại Học Đà Lạt, chỉ v́ tất cả những cơ sở đó là do chế độ của kẻ đă bị lật đổ dựng nên một cách nào đó. Nhưng Trường CTKD đă củng cố lại uy tín và sức sống của VDHDL!

Người khác lại nói đúng là lúc quyền lực tư bản Mỹ kéo vào Miền Nam Việt Nam theo đồng đô la Mỹ cùng với quân đội Mỹ ồ ập. Nên việc lập ra trường Chánh Trị Kinh Doanh là dọn đường trước cho ảnh hưởng văn hóa, kinh tế tài chánh của Mỹ vào Việt Nam, đúng vào thời điểm 1965! Mấy đầu cầu của Mỹ đă được bố trí từ lâu. Bây giờ là thời của những người ấy. Con đường văn hóa kính tế Mỹ đă lên đường!

3.Tham Gia Triển Lăm 350 Truyền Giáo Tại Việt Nam.

Năm 1972, Viện được mời tham gia cuộc triển lăm cùng với một số đơn vị Công giáo từ nhiều giáo phận và cơ quan khác nhau, nhân kỷ niệm 350 năm Công giáo được truyền đến Việt Nam, tại Trung Tâm Công giáo ở đường Nguyễn Đ́nh Chiểu, Tân định, Sài g̣n.

Nhân dịp này, Pḥng triển lăm trưng bày chủ yếu một sa bàn Viện Đại Học Đà Lạt (với yểm trợ kỹ thuật, mỹ thuật của một số họa viên và chuyên viên kỹ thuật thuộc Trường Chiến Tranh Chánh Trị Đà Lạt), một số sách báo do Viện Đại Học xuất bản, đồng thời biên soạn và phát hành cuốn sách nhỏ, giới thiệu tổng quát về Viện Đại Học Đà Lạt, do ba thành viên phụ trách: GS Đỗ Hữu Nghiêm và Họa sĩ người Hoa Quách Hân Tuyền, cô Nguyễn Thị Thúy, một tín đồ Công giáo, giáo sư Trung Học Đệ I Cấp.

Cùng với nhiều giáo phận và ḍng tu khác, Pḥng triển lăm đă lôi kéo nhiều người biết đến một nỗ lực phát triển văn hóa vá giáo dục Công giáo ở VĐHĐL trong quá tŕnh truyền giáo từ 350 năm qua.

Chuyện gây nên một ấn tượng bất ngờ khó phai mờ là trong ba người chụp h́nh chung để kỷ niệm cuộc triển lăm của Viện Đại Học Đà Lạt đó ở Trung Tâm Công Giáo. Người đứng giữa là một thanh nữ Công giáo đă đột nhiên về với Chúa trong một hoàn cảnh bi thương.

Cô giáo sư THDIC ấy đang tất bật dậy học ở một trường trung học đệ nhất cấp ở vùng Hóc Môn, góp thêm ít tiền nuôi mẹ góa đă luống tuổi. Cái chết tất tưởi lại xảy ra vào đúng ngày ba mươi Tết năm đó, trùng hợp với cái tang của thân sinh cô giáo duyên dáng tươi tắn, trẻ trung, đạo hạnh và đầy hy vọng ấy vào đúng 30 Tết năm trước. Bao nhiêu ngẫu nhiên đau ḷng không thể giải thích. Báo hại cho hai người đàn ông đứng chung h́nh hai bên người con gái. Người mẹ đau khổ nh́n cô con gái tươi tắn nằm chết như đang ngủ, vội khóc lóc nhắc lại chuyện người sống:

Người ta kiêng không dám chụp h́nh ba người, mà tại em nó chụp h́nh lại có hai anh đứng hai bên nên em đi sớm!

Rồi người mẹ đau khổ kể lể, nghẹn ngào trong nước mắt, có lúc như thất thần:

Sao con chọn đúng ngày ba mươi Tết chết theo cha con, ối con tôi! Con dậy đi, cười với mẹ đi, Trúc ơi!

H́nh ảnh ấy lại hiện lên rơ ràng khi những ḍng chữ này đang được viết lên.

4. Chiến Dịch Chỉnh Trang Viện Đại Học Đà Lạt.

Tập Thể Sinh Viên chỉnh trang pḥng ốc và cảnh quan khuôn viên Viện. Pḥng Sinh viên vụ đă tổ chức nhiều buổi xúc đất chỉnh trang mặt tiền của khu đất dẫn lên cổng chính của Viện ở đường Phù Đổng Thiên Vương. Nhiều anh chị em sinh viên hăng hái vui vẻ tham gia vào tạp vụ xây dựng công ích, tinh thần tự nguyện rất cao. Từng toán anh chị em sinh viên chia nhau, đi lại xúc và chuyên chở nhiều mảng đất cỏ đồi, nhờ các xe tải Công Binh, lấy từ phía Suối Vàng về chính trang khu mặt tiền của Viện Đại Học. Trong một sinh hoạt khác, nhiều sinh viên tham gia công tác tổng vệ sinh quét dọn lau chùi pḥng ốc và bồn cầu công cộng trong Viện suốt mấy ngày liền. Bầu không khí vui nhộn như chưa từng thấy, đem lại nhiều kết quả tích cực cho môi sinh chung trong viện.

Tuy việc chỉnh trang vật chất là công việc thường xuyên của Viện, nhưng nỗ lực tạo điều kiện cho sinh viên tham gia vào công việc chung là một trong những phương cách huấn luyện nhân cách, tinh thần tập thể, ư thức về công ích ngay trong môi trường sinh hoạt b́nh thường hằng ngày. Chính môi trường ấy cũng đă tạo thêm tính thương mến đấy phấn chấn giữa những cơi ḷng nam nữ tính nguyện dấn thân vào cuộc sống vị tha.

5. Huấn Luyện Quân Sự Căng Thẳng.

Xen vào những hoạt động nhộn nhịp mệt nhọc mà vui thỏa trong cuộc sống b́nh thường nhởn nhơ, có những buổi huấn luyện quân sự thật là căng thẳng ở quân trường. Lời từ mấy trang hồi niệm của Vũ Khắc Tâm KD5 phản ảnh một khía cạnh cuộc đời nam sinh viên Đại Học Đà Lạt: 

[“Tiến và các bạn phải lên đường thụ huấn khóa Quân Sự Học Đường tại quân trường Lam Sơn gần thành phố Nha Trang, một quân trường nổi tiếng với hai câu thơ bất hủ dán ngay cổng quân trường làm rụng rời đám sinh viên thư sinh: Lam Sơn đi dễ khó về. Khi đi người Việt, trở về người Miên. Tuy nhiên dù ngại ngùng hay không th́ … các bạn cũng phải chấp nhân thêm một cuộc sống mới. Cuộc sống nhà binh dù thực chất cũng chưa bằng được một nửa của cuộc sống của người quân nhân đích thực.

Mới xa nhà để tập tễnh trong cuộc sống tự do tại Đà Lạt th́ nay lại bị ép vào ṿng kỷ luật làm nhiều sinh viên bất măn nên có khuynh hướng chống đối lại kỷ luật trong quân trường và đó cũng là lư do ngay trong tuần đầu tiên đại đội sinh viên đă được nếm mùi h́nh phạt quân trường. Với tay vác súng vai vác balô chạy mấy ṿng quanh sân gần barrack. … các bạn vừa chạy vừa rủa thầm những thằng bạn phá phách làm cả đám bị vạ lây.

Ngoài những bực ḿnh mau qua th́ cuộc sống quân trường cũng có những nét đặc thù của nó, nhưng rơ ràng là nó làm t́nh bạn được gắn bó thắm thiết hơn là ngoài cuộc sống dân sự qua những chia xẻ miếng ăn thức uống giữa những bạn sinh viên có điều kiện vật chất khác nhau hay những giúp đỡ thể chất giữa những sinh viên mạnh yếu v..v . Những tâm t́nh vụn vặt được chia xẻ qua những buổi gác đêm gần giao thông hào hay trong các đêm tuần hành thật xa ra băi tập bắn ban đêm .. những t́nh cảm nho nhỏ này đă gắn bó những người sinh viên Đà Lạt lại với nhau nhiều.hơn.

Trong 3 tuần lễ đầu, các sinh viên không được phép xuất trại nên ngày cuối tuần “Tiến” lang thang ra Khu Tiếp Tân xem cảnh thăm viếng các khoá sinh tân binh từ những thân nhân hoặc người yêu của họ Có nếm mùi quân trường th́ người mới thông cảm cuộc đời người lính trong thời loạn lạc và hiểu được t́nh cảm của họ khi một nhạc sĩ quân nhân nào đó đă gởi gấm tâm sự của ḿnh hay của chung các chàng lính trẻ khi phải xa người yêu lên đường nhập ngũ qua những câu hát thật thấm thía:

"Sao em không đến chiều nay thứ bảy.
Sao em không lại cho áo ai bay.
Sao em không lại
Sao em không lại
Quân trường riêng anh đứng đây đếm từng chiếc lá mưa bay
Sao em không đến
Sao em không đến
Để nắng chiều tắt trên cây soan già
Để bước ḿnh anh bâng khuâng mong chờ
Những chiều mong em đến thăm
V́ anh biết anh c̣n có em"[2]

(Sao Em Không Đến - Anh Bằng ) ]

6. Giao Lưu Sinh Viên Liên Trường. Pḥng sinh viên vụ chuẩn bị cho sinh viên đến sinh hoạt chung về thể thao hay hoạt động giao lưu hội thảo văn hóa nghệ thuật. Những chuyến du ngoạn hè của Đoàn Sinh Viên Công giáo Sàig̣n năm 1962 giao lưu hội thảo với một số giáo sư và sinh viên Đà Lạt. Thế hệ sinh viên trẻ hơn trải qua những giây phút thư giăn, quên nỗi nhớ nhà với những buổi lưu diễn âm nhạc của Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, cùng với nhiều sinh viên liên viện giao lưu với sinh viên Đà Lạt cuối năm 1971. Người ta thoải mái thưởng thức những bản nhạc du dương của cặp nghệ sĩ Lê Uyên Phương (giảng đường Spellman), hay chương tŕnh nhạc chủ đề ở giảng đường Hội Hữu bên Văn Khoa. Với cố vấn và hướng dẫn của GS Vũ Khắc Khoan, nhóm sinh viên Phạm Thùy Nhân[3] đă xây dựng một ban Kich Nghệ. Buổi Tŕnh Diễn Kịch đầu tiên của Nhóm có lẽ là vở Thành Cát Tư Hăn, do chính GS Vũ Khắc Khoan viết phiên bản kịch nghệ. Mệt nhọc nhưng thú vị biết mấy khi nam nữ sinh viên chen chúc thi nhau đi vào Thư Viện gạo bài ban tối mỗi Mùa Thi.

Như một sinh viên nhớ lại:

Cái tính phá phách nghịch ngợm của các chàng sinh viên sống trong Đại Học Xá đă chẳng chừa một ai kể cả Frère giám đốc Đại Học Xá và các nữ sinh viên bên Đại Học Xá nữ trong Viện nhất là vào mùa thi cuối năm. Thư Viện ban đêm đầy sinh viên nam nữ ngồi học bài học cũng có mà phá cũng có”[4].

Các sinh viên c̣n tham gia không biết bao nhiêu cuộc gặp gỡ họp hành với các Viện Đại Học ở Sàig̣n hay Cần Thơ, như Vạn Hạnh, Minh Đức hay trường đại học công lập Cần thơ năm 1972 đến 74. Có lần người viết đă xuống hội thảo với một đại đức phụ trách về sinh viên vụ của Viện Đại Học Vạn Hạnh. Vị đại đức này hiện phụ trách tạp chí Giác Ngộ của Phật Giáo Thống Nhất do Nhà nước quản lư.

7. Trung Tâm Sinh Viên. Năm 1973-1974, Pḥng Sinh Viên Vụ khánh thành ṭa nhà Trung Tâm sinh viên dành cho sinh hoạt sinh viên với tài trợ của tổ chức Asia Foundation. Đây là một nỗ lực ngoạn mục, mở rộng tầm hoạt động văn hóa đa dạng của sinh viên, và cũng là môi trường lôi kéo nhiều ḍng tu và giáo phận khác cử người tham gia vào công cuộc xây dựng Viện Đại Học Đà lạt phục vụ sinh viên về nhiều lănh vực từ vui chơi, giải trí, ẩm thực đến hội họp, học tập, và sinh hoạt văn hóa. Tất cả v́ lư tưởng Thụ Nhân. Mới chào đời mà Trung Tâm Sinh Viên đă đầy ắp những chương tŕnh sinh hoạt của sinh viên.

Trung Tâm Sinh Viên gợi dậy nới kư ức người viết kỷ niệm đặc biệt nhất là một nữ sinh viên Ban Pháp Văn Trường Văn Khoa trong một giờ thi cuối năm có Linh Mục Jean Mais và người viết là giám thị pḥng thi lớn ở Trung Tâm Sinh Viên. Cô sinh viên đang làm bài bỗng ngă lăn ra khỏi bàn, nhũn người bất tỉnh. Báo hại cha Maïs và người viết phải một phen kinh hoàng vất vả. Chúng tôi phải khiêng cô ấy khá xa ra xe để chở vội đến Pḥng Mạch Bác Sĩ Đinh Văn Chức ngoài phố Chợ. Tôi là người suốt chuyến xe phải ôm đỡ cô ấy, rồi ôm xốc người nữ sinh viên trẻ ấy vào pḥng mạch! Bác sĩ cởi hết áo mở lồng ngược trần vội lấy stethoscope khám tim phổi cho cô, lấy nhịp tim mạch. Xong chúng tôi mới ra về. Th́ ra người nữ sinh viên trẻ ấy tuy dă có chồng con, vẫn miệt mài học thi và gắng sức quá ngay trong đêm, nên bất tỉnh khi phải rán làm bài thi ngay lúc sáng sớm hôm sau. Tôi không biết số phận của cô sinh viên đáng thương ấy sau đó ra sao!

8. Những nhóm nghiên cứu hội học sôi nổi. Trong các lănh vực khác nơi nhiều phân khoa, người viết được biết đến hệ thống hội học ở Trường CTKD, nhưng riêng trong lănh vực lịch sử văn hóa văn minh thuộc Trường Văn Khoa, nhiều đề tài đă hấp dẫn sinh viên một cách kỳ diệu. Nhiều nhóm hội học của sinh viên bộ môn “lịch sử văn minh Việt Nam” và “Sử Địa” đă được thành lập ở năm thứ ba và thứ tư. Đây là những nhóm chỉ được thành lập tự do theo lựa chọn của sinh viên, mà không theo chỉ định của giáo sư. Những người nào không thể gia nhập nhóm được phải làm một bài nghiên cứu cá nhân

Nhóm hội học có hỗn danh là Nhóm Đồng Bóng của ban Văn chọn nghiên cứu đề tài về “Đồng Bóng Tại Đà Lạt[5]” có thể đă làm cho các bạn sinh viên kết tụ tham gia nghiên cứu thực tập đông đảo nhất. Họ t́m đến nhiều điểm đồng bóng trong thị xă và nghiên cứu thực địa theo lối tham dự, một phương pháp thịnh hành của dân tộc học. Điều kỳ thú đối với toàn sinh viên này là họ phát hiện một thực tế xă hội rất náo nhiệt là nhiều người vẫn say mê đồng bóng trong chính xă hội tiến bộ hiện đại này. Khó lư giải cho những lư do thâm sâu của tín niệm này!

Điều quan trọng của việc h́nh thành các nhóm nghiên cứu, v́ đây là giai đoạn đầu tiên của phương pháp hội học. Theo đó, ngoài nghe giảng thuyết tŕnh bày về giáo tŕnh thông thường, sinh viên có cơ hội học tập, hội thảo chung với nhau một đề tài, rồi đúc kết thành bài viết hoàn chỉnh. Bài viết được tŕnh bày trước một buổi học đặc biệt có mặt đủ các nhóm và giáo sư hướng dẫn.

Sau khi nghe thuyết tŕnh, giáo sư cũng như tất cả các thành viên mỗi nhóm đều có quyền phê b́nh nhận xét và cho điểm đề tài sau khi đă thảo luận phê b́nh công khai. GS hướng dẫn là người tổng kết và đưa ra nhận định cuối cùng và điểm của mỗi nhóm cùng với điểm của giáo sư là tổng điểm trung b́nh của nhóm đề tài.

Phương pháp hội học như thế mang tính cạnh tranh về chất lượng v́ ai trong mỗi nhóm nghiên cứu cũng muốn hành động đứng đắn, v́ mỗi nhóm lần lượt đều được các nhóm khác và giáo sư cùng nhận định, phê b́nh. Đồng thời vai tṛ của người sinh viên trở nên quyết định, chủ động và trưởng thành hơn.

Nhưng điều kiện và môi trường học tập của sinh viên văn khoa có nhiều khó khăn, một phần v́ tính cách điều hành của khoa và một phần v́ nhiều sinh viên theo học khó chấp hành một kỷ luật làm việc đi vào khuôn thước đễ phục vụ chính họ.

9. Hội Sử Học Trường Văn Khoa. Tại trường văn khoa, do sáng kiến của một số giáo sư như GS Nguyễn Hồng Giáp, GS Lê Văn Khuê và nhân viên giảng huấn khác cùng với một vài giáo sư chuyên sử, như Vơ Sĩ Khải, thuộc Trường Vơ Bị, lập ra Hội Sử Học để nghiên cứu các vấn đề sử học chung quanh môi trường văn hóa vùng Cao Nguyên. Đấy quả là một nỗ lực đáng kể của các giáo sư và sinh viên chủ ư đi sâu vào chiều hướng kết hợp nghiên cứu thực tế với giảng dậy, ngay trên địa bàn Cao Nguyên. GS Nguyễn Hồng Giáp là một thanh niên trí thức hăng say mới từ Pháp về, và ông hăm hở muốn làm tất cả mọi chuyện để bốc Viện Đại Học đi lên theo nhịp tiến của thế giới!

10. Những số phận nghiệt ngă bi hùng. Trong các sinh hoạt hội học của Trường CTKD, các nhóm sinh viên tỏ ra rất năng động. Như trong niên học 1967-68, hơn hai trăm sinh viên Sưu Khảo có 36 nhóm hội học.

Nhóm Gamma do sinh viên Dương Thành Sương đứng đầu v́ có điểm trung b́nh xếp hạng cao đứng thứ ba với 5 sinh viên khác ở thứ hạng thấp hơn cách nhau từng 36 người, có phối hợp uyển chuyển nhóm viên nam và nữ cho âm dương giao thoa quân b́nh, tạo thêm sinh khí cho nhóm. Gamma chọn đề tài về ngoại giao dưới sự hướng dẫn của giáo sư Trần Chánh Thành đang dậy môn “Thời Sự”.

GS TCThành khi đó đang là thành viên của Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện thường ngụ tại Sàig̣n. C̣n Sương lúc nào cũng rất chăm chỉ vùi đầu t́m hiểu trong thư viện về kỹ thuật viết phúc tŕnh để làm cho xong Luận Văn tập thể. Khi Gamma đến lượt thuyết tŕnh, th́ GS Thành làm ngoại trưởng bề bộn công việc. May thay có GS Lâm Lễ Trinh, luật sư, cựu đại sứ, chấp nhận thay thế. Nhưng Luận văn của Gamma vẫn được chuyển cho GS Thành đọc phê, măi sau sáu tuần mới xong thay v́ hai tuần như yêu cầu của nhà trường.

Tốt nghiệp xong, Sương bị động viên vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức và một năm sau cậu trở lại trường thăm lại cảnh cũ người xưa, với tâm hồn có vẻ phấn chấn thoải mái v́ có gia đ́nh mới. Theo khóa huấn luyện đặc biệt, Sương trở thành trung úy, và được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Trường Chiến Tranh Chính Trị, kế cận Trường CTKD. Anh có dịp gặp lại GS Khoa Trưởng Trần Long và hứa sẽ đem vợ đến tŕnh diện.

Nhưng bất ngờ một đêm tháng 4 năm 1970, trong một cuộc đột nhập của du kích CS vào cư xá Trường CTCT, một viên đạn trúng ngực anh, sát hại người thanh niên sĩ quan đầy chí khí và nhựa sống. Hôm sau, GS Trần Long đến thăm người sinh viên yêu mến năng động thuở nào, nay chỉ c̣n là cái xác không hồn, lạnh cóng bất động. Sương mới 24 tuổi đời. Tất cả bạn bè nuối tiếc khóc thương anh, như một con chim Thụ nhân đả găy cánh v́ trúng thương, bỏ lại người vợ trẻ mà chưa kịp giới thiệu với thây dậy cũ. Ôi số phận chiến tranh là thế!

C̣n GS Trần chánh Thành, làm Bộ Trưởng Thông Tin, có quan hệ với GS Trần Long, khi ông c̣n quản lư tờ báo Times of Việt Nam. Năm 1958, ở cương vị Giám Đốc Giao Tế của Công ty Standard Vacuum Oil, Ông Trần Long mời Ông Thành đến khánh thành pḥng trưng bày tranh Stanvac. T́nh bằng hữu giữa hai người được nảy nở và củng cố thêm qua các biên cố. Chính t́nh hữu nghị đó khiến ông Thành nhận lời mời của Trường CTKD đảm nhiệm giảng dậy môn chính trị và hướng dẫn Nhóm Gamma.

Tháng 7/1970, khi GS Trần Long làm Tổng Quản Lư Hội Đại Học Đà Lạt ở Sàig̣n, th́ họ chỉ vài lần gặp lại nhau vào đầu năm 1971, khi GS Trần Long dọn sang căn nhà mới bên Cao Ốc Catinat, nơi ông Thành cũng có một căn pḥng studio ở lầu năm.

GS Trần Long c̣n ghi nhận nơi Ông Thành một cử chỉ chi tiết thật tế nhị thân ái: ông Thành cho ông một ổ khóa để đóng chặt cửa ra vào căn nhà ông mới dọn tới. Thể hiện t́nh thân hữu, một đêm năm 1972, Ông Thành tổ chức một bữa ăn tối ở biệt thự tọa lạc trên đường Duy Tân. Trong số các thân hữu đến dự bữa ăn đó, về phía Đại Học Đà Lạt có LM Viện Trưởng Viện Đại Học Lê Văn Lư và GS Trần Long. Nhưng dưới cái nh́n của người viết, dù Tây hay Mỹ, cuộc nói chuyện trong bữa ăn nên rất thoải mái ấm cúng. Nhưng đáng tiếc cuộc hội ngộ trong bữa ăn đó bất ngờ lại đưa tới một cuộc tranh căi to tiếng tay đôi mà GS Trần Long gọi là cuộc “đụng độ” căng thẳng giữa ông, một người được thụ huấn tại Mỹ với học giả ngữ học Linh Mục Lê Văn Lư, một người được đào tạo tại Pháp, c̣ thể là “bề trên” của ông xét theo cách nào đó. Biến cố đó có thể bắt nguồn từ nguyên nhân văn hóa hay tâm lư rất sâu xa nào đó, đến nỗi phải có sự ḥa giải của người chủ mời có sẵn năng khiếu ngoại giao, nhưng dường như miễn cưỡng phải hành động can thiệp kịp thời ngay trong bữa ăn thân hữu!

Hai người bạn gặp nhau lần cuối, trên đường Gia Long ngay trước số nhà 26 đường Gia Long của gia đ́nh Trần Long, vào buổi trưa ngày 29/4/1975. Chỉ trong phút chốc sau đó gia đ́nh GS Trần Long may mắn thoát khỏi Việt Nam, nhờ trực thăng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ rà xuống sân đậu trên nóc building Catinat bốc vội nhiều người chờ sẵn ra chiến hạm túc trực ngoài khơi Vũng Tàu. Nhưng GS Thành đă lỡ không có mặt, dù có thể có hẹn trước, trong chuyến bay định mệnh hiếm hoi đó.

Sau đó người ta nghe tin ông GS Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng, đă dùng thuốc độc tự sát chết tại nhà riêng, thay v́ ngoan ngoăn ra tŕnh diện chính quyền mới. Người này chủ động t́m cái chết khảng khái bi tráng đó lúc mới 58 tuổi, như gắn liền số phận với chàng thanh niên Gamma họ Sương trước đó ở tuổi 24.

Hai người hai ngả - Dương Thành Sương và Trần Chánh Thành - nhưng đều gặp nhau trong trái tim Gamma và ở cái chết định mệnh Omega bi hùng. Ôi thân phận con người nghiệt ngă trong quê hương điêu tàn v́ chiến tranh!

11. Những Đêm Ngày Hăi Hùng: Nỗi Niềm Không Của Riêng Ai

Mười lăm [15] năm sống ở Đà lạt, khoảng thời gian từ 1961 đến 1975, sư huynh Théophane là người chứng kiến và trải qua nhiều đêm kinh hoàng. Nhiều lần hỏa châu lóe sáng bầu trời Đà Lạt về đêm khuya thanh vắng, bên dưới tiếng bom đạn nổ như pháo rang, mùi thuốc súng khét lẹt, đạn nổ tung tóe khắp nơi xung quang. Viện Đại Học nằm gọn giữa hai trường đại học quân sự, Trường Vơ Bị Quốc Gia và Trường Chiến Tranh Chánh Trị.

*Cư ngụ ở nhà số 6 Trần Hưng Đạo với các tu huynh, và ở trường Adran sư huynh đă trài qua đêm kinh hoàng. Đó là ngôi biệt tự Bonheur Vert. Ban đêm du kích lẻn về bắn phá dinh tỉnh trưởng ngay bên cạnh biệt thự Bonheur Vert. Quân lính pḥng thủ từ trên đồi bắn xuống, quân du kích từ thung lũng bắn lên. Tu viện Bonheur Vert ở giữa hai lằn đạn nổ lốp đốp trên mài nhà, trên vách tường ṭa nhà. Những đêm ấy chẳng c̣n gi là Bonheur nữa mà “Malheur sombre comme la guerre et la mort!”

Đất ở ngôi trường Adran là khu rừng thông có tên thơ mộng là Bois d’Amour (Rừng Ái Ân). Hồi chiến tranh cái tên đầy thi vị này đă biến yêu thương thành oán thù và súng đạn đă hoàn toàn khống chế, đến nỗi cọp phải trốn đi nơi khác, không bao giờ dám về lại bắt heo của người làm việc cho Adran. Toàn thể dân cư phải chạy loạn.

*Ở Viện Đại Học một đêm nọ sư huynh đang yên giấc hầu như chỉ có một ḿnh. Lúc đó trong Viện không c̣n ai, cha Lập đă đi khỏi và cha Lư lên làm Viện Trưởng. Đời cha Lập th́ Viện Đại Học an b́nh, chỉ thiếu tiền. Đời cha Lư có loạn và âu sầu, nhưng lại có đầy dư tiền bạc và có nhiều đồ án xây cất pḥng ốc, thêm nhân công, nhưng cũng thêm rắc rối. “Đa sự th́ đa lự!”

Du kích đố từ Đa Thiện xuống, từ núi rừng Lam Viên kéo lên, bao vây Trường CTCT. Trường này ở thung lũng bên dưới Viện Đại Học Thụ Nhân về phía mặt trời lặn với Thụ Nhân. Đây là Viện trồng người có văn hóa, biết tháo vát làm ăn và chơi giỡn cho vui, chứ không trồng lính đánh giặc hoặc tuyên truyền phe đảng. Du kích không chủ ư đánh Viện Đại Học Thụ Nhân, nhưng “trâu ḅ húc nhau th́ ruồi muỗi chết”. Đêm đó mọi người ngủ yên cả các sinh viên, và giáo sư trên Năng tĩnh

Bất th́nh ĺnh tiếng đại bác “ùng oàng” rầm trời quá nửa đêm về sáng, đạn mưa trên mái nhà, cành cây tàu lá bị cắt đứt, rơi xuống chắn ngang đường. Một kịch bản chiến tranh lặp lại: đạn bay xé trời, tiếng nổ liên miên, tên lửa bắn lên, hỏa châu chiếu sáng khoảng trời phía Tây Viện Đại Học. Các nữ sinh viên bên Kiêm Ái cũng như nam sinh viên bên B́nh Minh đều im ĺm hứng đạn sợ hăi, không ai dám chạy ra khỏi pḥng ḿnh.

Các GS trên Năng Tĩnh cũng phập phồng hoảng sợ, v́ gần Trường TCCT và lại  trên chỗ đỉnh cao nhất. Sáng ra mới thấy đây đó những vỏ đạn hỏa châu, một pḥng bị trúng đạn, mái nhà bị sụp, chịu nhiều thiệt hại. Chỗ khác an toàn. Thư viện cũng lănh một quả đạn pháo, vài tấm ngói bị nát bấy, nhưng sách không hề hấn ǵ.

* Rồi một sáng tinh sương, SH lên Năng Tĩnh cầu nguyện và dự lễ. Không tiếng chó sủa hay bóng chó chạy. Một yên tĩnh kỳ lạ. Lễ xong, xuống ăn lót dạ, mọi chuyện vẫn yên ổn. Trong bữa ăn, ai đó nói du kích VC vào Viện đêm qua. Mọi người hỏi nhau Thật không? Thật đấy!

SH ṿng quanh thử một lúc lên hướng thư viện. Khi đến một pḥng lớp Văn Khoa, bất ngờ toán du kích sáu người xuất hiện, mặt xanh lè như lá rừng, AK đeo vai. Anh trưởng toán vội cất tiếng:

- “Chào Bác! Có lính Chính Phủ ở trong Viện không?”  
- “Không có một lính quốc gia nào ở đây, cảnh sát cũng không. Ch́ có sinh viên và giáo sư mà thôi!”  
- “Bác có thể tập họp sinh viên cho chúng tôi nói chuyện được không?”  
- “Bữa nay có lớp nhưng bây giờ chưa đến giờ học, nên sinh viên tản mát, chúng tôi không thể kêu họ hội họp được!”  
- “Bác có cuốc xẻng ǵ cho chúng tôi mượn vài cái không?”.  
- “Để làm ǵ? Tôi là một tu sĩ dậy học, ở đây không có cuốc xẻng?  
- “Từ đây qua Giáo Hoàng Học Viện có lối đi dễ dàng, có cảnh sát hay lính gác đường không?”  
 
- “Thường không có lính hay cảnh sát chi cả. Nhưng bữa nay có động th́ có lẽ là có lính canh pḥng ở phố xá”.

Nghe xong, mấy chú du kích lỉnh đi về phía sau Năng tĩnh và đến 10 sáng th́ họ xuống thung lũng, biến đâu mất dạng.

Đến quá trưa sinh viên mới đổ ra. Có người tưởng là du kích lôi bắt SH đi theo. Bên Adran mọi người chưa hết hồi hộp, khi chưa gặp lại được nhau.

* Nhịp độ du kích xâm nhập có chiều hướng gia tăng dồn dập hơn

Một lần ngay giữa ban ngày, đồng bào chung quanh hoảng hốt nhớn nhác rủ nhau chạy loạn, từ các xóm Đa Thiện, dồn về tạm trú trong Viện Đại Học. Rối loạn lan sang cả sinh viên. Mọi người trong Viện hú hốn. SH lấy gạo phát cho họ. Đấy là những biến cố báo trước những ǵ sẽ xảy ra vào tháng 3 và tháng 4 năm 1975.

Viện Đại Học và cả miền Nam mất hẳn vào tay CS. “Sinh Kư tử qui”. Cộng đoàn Thụ Nhân phải làm ǵ cho hậu thế cho xứng với một Thụ Nhân, biết nghĩ đến ḿnh và người khác!

 


[1] Xin xem phần liên hệ Trường CTKD.

[2] Vũ Khắc Tâm (KD5), Kỷ Niệm Sinh Viên, Florida. Website Thu Nhan

[3] Chính anh, một cựu sinh viên Văn Khoa Ban Việt Văn, Viện Đại Học Đà Lạt là người đă viết nhiều phim truyện trong nước sau 30/41975, trong đó có phim truyện cho phim “Mê Thảo Một Thời Vang Bóng”, có Đơn Dương thủ vai chính.

[4] Website Thụ Nhân E-zine.

[5] Người viết không nhớ hết các Nhóm Hội Học được thành lập trong môn học “Văn Minh Việt Nam” và “Lịch sử Trung Đại Việt Nam” “Lịch Sử Trung Đại Thế Giới thời Cải Cách”, niên khóa 1973-74, cho các sinh viên theo học các môn này tại Trường Văn Khoa VĐHĐL. Trong số khoảng ba mươi nhóm, có các nhóm thực hiện một số đề tài như: “Trường Yersin”, “Hát Cḥi B́nh Định”, “Ḷ Gốm Vĩnh Tường Đà Lạt“Các Ḍng Tu Nữ tại Đà Lạt” (do một sinh viên nữ tu làm trưởng nhóm), “Chúa Linh Sơn” (do một đại đức đứng đầu nhóm), “Nghề Trồng Rau tại Ấp Hà Đông Đà Lạt”,Đời sống tại Ấp Du Sinh”, Tư Tưởng Martin Luther và Jean Calvin”, “Đạo Tin Lành nơi người Kơho”, “Đạo Bà Cha tại Finnom, quận Đức Trọng”,  Lịch sử Thị Xă Đà Lạt”, “Đào Duy Từ”,Thư Mục về Nhà Tây Sơn”,Những khuôn mặt nước ngoài công tác với Gia Long”.

Nhóm “Tây Sơn” do chính một nữ sinh viên cư ngụ tại Ấp Tây Sơn, Qui Nhơn, Bính Định làm Trưởng Nhóm, cô Nguyễn Thị Huệ. Chị là một người bị mất một tay v́ chiến tranh, nhưng là người rất tích cực tham gia và hướng dẫn các thành viên của Nhóm làm việc tập thể. Người có công nhiều nhất vừa nghiên cứu vừa động viên nhóm này dường như là sinh viên Linh Mục Hoàng Đức Oanh (tốt nghiệp Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt), làm cha giáo tại Tiểu Chủng Viện Kontum, tá túc tại Đà Lạt, nay là Giám Mục Kontum (từ 28/8/2003 đến nay). Đây cũng là một Nhóm hội học điển h́nh về nghiên cứu tập thể của Trường Văn Khoa, VĐHĐL, trong niên khóa 1973-74 


Xem tiếp : Phần V. Tinh Thần Thụ Nhân Trường Tồn

Về lại mục lục