Viện Đại Học Đà Lạt  
Giữa  Ḷng Dân Tộc Việt Nam  
1957-1975

 

Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm

.......

 

PHẦN II :  LỊCH SỬ THÀNH LẬP

 

Chương III : Điều Kiện Hợp Pháp Đến Hoạt Động Thực Tiễn

1. Việc Thành Lập Theo Luật Pháp

Về pháp lư dân sự, Hội Đại Học Đà Lạt được giấy phép hoạt động chính thức theo Nghị Định số 67/BNV/NA/P5 của Bội Nội Vụ kư ngày 8/8/1957[1] và bắt đầu từ niên khóa 1957-58. Nhưng trong thực tế chính nhiều người có trách nhiệm của Viện Đại Học Đà Lạt lại nói Viện này được thành lập vào những thời điểm khác nhau. Như vậy thực sự Căn bản pháp lư của Hội Đại Học Đà Lạt đă có từ ngày 8 tháng 8 năm 1957.

Và để tạo điểu kiện cho Hội ĐHĐL hoạt động th́ nhà nước gửi sinh viên của chính phủ lên thụ huấn bởi chính những giáo sư từ Sàig̣n đến Viện Đại Học Đà Lạt giai đoạn ban đầu, ít nhất là ba năm từ các niên khóa 1958-1959 đến 1961. Đây là năm có khóa tốt nghiệp đầu tiên của ba năm thụ huấn tại Đà Lạt của sinh viên ban Triết Học và Pháp Văn, do nhà nước gửi tới.

Văn kiện ắc Lệnh số 232/NV do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hỏa kư ngày 9/9/1959[2] công nhận Hội Đại Học Đà Lạt là một hội công ích và công nhận Hội Đồng Quản Trị của Hội này là một tổ chức pháp nhân[3]. Căn bản đó giúp Hội Đại Học có đầy đủ tư cách pháp nhân để tạo măi tài sản hợp pháp, được hưởng nhiều thứ quyền lợi về kinh doanh, nhất là xuất nhập cảng, với nhiều ưu tiên khác, như không phải đóng thuế v́ hoạt động công ích.

Đây là hai văn kiện pháp lư đầu tiên giúp Hội Đại Học Đà Lạt có điều kiện để hoạt động kinh tài xây dựng Viện Đại Học. V́ thế việc tạo măi đầu tiên mà Hội Đại Học Đà Lạt đă thực hiện do việc thành lập một Nhóm Cố Vấn Pháp Lư[4] để thi hành các thủ tục và thương thuyết với Chính Phủ. Chỉ đến tháng Ba năm 1960, Chính Phủ Việt Nam mới chấp nhận yêu cầu của Hội. Chính Phủ đă dành cho Đai Học Đà Lạt quyền chiếm hữu khuôn viên hiện có trong thời gian vô hạn định.

Như thế theo thủ tục pháp lư, Hội đă mua hẳn cơ sở Trường Thiếu sinh quân mà nhà nước Việt Nam tiếp quản từ quân đội Pháp với giá tương trưng là 1 đồng bạc Việt Nam. Với lợi tức phát triển dần dần, Hội Đại Học đă mua hẳn những tài sản kinh doanh để tài trợ cho các hoạt động giáo dục lâu dài, ổn định của Viện Đại Học

Những văn kiện tiếp theo chỉ có tính cách bổ sung về các phương diện học vụ củng cố cho việc phát triển của Viện Đại Học Đà Lạt ở những giai đoạn khác nhau về sau. Những văn kiện đó sẽ được khai triển trong quá tŕnh cấu trúc thích hợp của nghiên cứu này.

2. Những Cảm Nhận Và Chứng Từ Thực Tế Khác

Chính hai thời điểm của văn kiện pháp lư đó và những cuộc thương lượng gay go có liên quan đă giải thích những cảm nhận khác nhau về quá tŕnh h́nh thành Viện Đại Học Đà Lạt sau này. Theo Niên Giám 2005 của HĐGMVN trang 777, Viện Đại Học Công giáo được thành lập vào tháng 8 năm 1957[5] tại Đà Lạt, thuộc quyền sở hữu của Hội Đại Học Đà Lạt, mà hội viên là toàn thể các giám mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Viện có mục đích phát huy văn hóa dân tộc, bảo lưu các giá trị văn hóa cổ truyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, kết hợp hài ḥa với luồng văn hóa quốc tế, phù hợp với tinh thần Tin Mừng Công giáo và góp phần vào giáo dục các thế hệ để phát triển đất nước và dân tộc. Trong bối cảnh xă hội tại Việt Nam, thiết tưởng nên phân tích thêm một số mặt để làm rơ mục tiêu tôn chỉ[6] này như trên.

 

Chương IV : Hội Đại Học Đà Lạt

1. Quá Tŕnh H́nh Thành.

Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng.

Ban đầu chính TGM Ngô Đ́nh Thục chủ động thiết lập “Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng[7]” ngay từ năm 1957, nhằm mục đích kinh tài yểm trợ cho các hoạt động phục vụ xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt.

Có nhiều vận động yểm trợ từ Cơ quan Viện Trợ Công giáo Hoa Kỳ, qua các ông Đinh Văn Bài[8] và Công Chứng Viên Phạm Quang Lộc, khi đó là cố vấn cộng tác với LM phụ trách do HĐGMVN chỉ định[9]. Ông Bài, một nhân viên xă hội làm việc tại Cơ Quan đó, cho biết có nhiều bất động sản khởi đầu được dự tính trao cho Hội làm phương tiện kinh doanh.

Các lợi tức có được, dùng để tài trợ cho việc tạo măi tài sản, thiết lập và duy tŕ liên tục công cuộc phát triển Viện Đại Học Đà Lạt. Khi đó, có cả những bất động sản như: khu rừng Cao su ở Củ Chi, Trảng Bàng, B́nh Long, và Thủ Đức, do người Pháp trao trả hay bỏ lại. Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng dường như có vai tṛ hoạt động kinh tài song hành một thời gian nhất định yểm trợ cho việc thành lập Hội Đại Học Đà Lạt. Hội Đại Học này trở thành chính thức vào tháng 8/1957.

Công tŕnh xây dựng. Nhờ tài trợ[10] của Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng, các bộ phận sau đây đă lần lượt được xây dựng trên khuôn viên VĐHĐL: các pḥng thí nghiệm Lư Hóa, Thư Viện, văn pḥng, giảng đường, xe hơi, sách vở, trang thiết bị pḥng thí nghiệm, pḥng đọc sách, nhà chơi, nhà y tế, sửa chữa, bài tŕ giảng đường, nhà cơm, nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà bảo vệ, san bằng nền đất, thiết trí điện thoại, xây dựng nhà hội để cử hành lễ nghi tôn giáo (1958-61)

Yểm Trợ tài chánh ngắn hạn để sửa chữa bảo tŕ cơ sở vật chất, để trả lương giáo sư và nhân viên, để lập Quỹ Dự Trữ từ đầu tài khóa 1958 đến hết tháng 6/1961.

Yểm trợ tài chánh dài hạn để tạo măi ba cơ sở:  

   - Bất động sản hạng nhất ngay trung tâm Sàig̣n, ở góc Lê Lợi-Nguyễn Huệ (133 Nguyễn Huệ Sàig̣n).  

   - Bất Động Sản ở Đa Kao, ở góc Đinh Tiên Hoàng-Nguyễn Văn Giai  

   - Bất Động sản ở Công Trường Lam Sơn.  

Các tài sản khác đă lần lượt được tạo măi làm phương tiện phục vụ công ích của Hội Đại Học Đà Lạt

 

Hội Đại Học Đà Lạt.

Hội Đại Học Đà Lạt được tổ chức theo quy chế[11] đă được ấn định và có thể h́nh dung theo biểu đồ sau đây:

 

Biểu Đồ 1: Cơ Cấu Tổ Chức Hội Đại Học Đà Lạt

 

Hội Đại Học Đà Lạt

 

 

Hội Đồng Quản Trị

 

 

Ủy Ban Thường Trực

 

 

Tổng Quản Lư

 

 

(Các Cơ Sở Kinh Doanh)

Thương Xá TAX

Thư Quán Xuân Thu

Ngân Hàng Nông Thôn Đức Trọng

Thương Xá  Đinh Tiên Hoàng

Cao Ốc Lam Sơn

Đồn  Điền Đại Nga

Cơ sở Viện Đại Học tại Đà Lạt

 

Đồn Điền Di Linh

Chú thích: 1/Chức vụ Tổng Quản Lư có nhiệm vụ Quản Trị & Điều Hành các Cơ Sở Kinh Doanh của Hội Đại Học Đà Lại. Lợi Tức Thuần Tính (Net Income) do những Cơ Sở này mang lại, một phần lớn đượcc đưa vào Ngân Sách Chi tiêu của Viện Đại Học Đà Lạt. Từ 6/70-4/75, Các Cơ Sở Kinh Doanh do G.S Trần Long phụ trách)

2/ Cơ sở xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt gồm ba khu đồi A, B, C.  Diện tích khuôn viên khu A xây dựng trường sở gồm chừng 38-40 ha

                              

Hội Đồng Quản Trị Hội Đại Học Đà Lạt hoạt động khởi đầu theo Qui Chế ấy, được đính kèm Nghị Định số 67-BNV/NA/P5 ngày 8/8/1957. Hội Đồng Quản Trị cho năm 1961 gồm có TGM Ngô Đ́nh Thục, Chưởng Ấn quản trị viên, và ba Giám Mục quản trị viên là Nguyễn Văn B́nh, Nguyễn Văn Hiền và P. Piquet[12]. Vào thời gian đầu ấy, Ông Phạm Quang Lộc, công chứng viên tại Sàig̣n được chọn làm cố vấn pháp lư và tài chánh cho Hội Đồng. 

Hội Đồng Quản Trị về sau được thành lập gồm: Chủ Tịch (GM Nguyễn Văn Hiền, GM Đà Lạt), Hội Viên 1 (GM Phạm Ngọc Chi, GM Đà Nẵng), Hội viên 2, Chưởng Ấn VĐHĐL (Giám Mục Nguyễn Ngọc Quang, Gp Cần Thơ)[13]. HĐQT cử nhiệm một Ủy Ban Thường Trực để điều hành công việc.

Ủy Ban Thường Trực cuối cùng gồm Chủ tịch (linh mục Viện Trưởng Lê Văn lư), một ủy viên tổng quản lư (GS Trần Long) và một ủy viên tổng kiểm soát (Ông Trần Văn Bốt). Trong một thời gian lâu dài, chính LM Nguyễn Văn Thạnh làm Quản lư của GP Sàig̣n kiêm nhiệm quản lư Hội Đại Học Đà lạt. LM Nguyễn Hữu Trọng[14] làm kiểm soát viên. Ông Đỗ Văn Thành coi nhà sách Xuân Thu, kiêm thư kư phụ trách Chánh Văn Pḥng Liên Lạc của Viện Đại Học Đà Lạt tại Sàig̣n.

Khi Linh Mục hồi hưu, th́ người được cử nhiệm làm Tổng Quản Lư là GS Trần Long.                                                                   

Theo Hồi Kư của GS Trần Long, th́ “tháng 7/1970, tôi được bổ nhiệm làm Tổng Quản Lư Hội Đại Học Đà Lạt (Dalat University Foundation), và về Sàig̣n để cai quản những cơ sở sinh lợi của Hội. Đầu năm 1971, khi tôi dọn vào căn pḥng mới lầu hai Catinat Building ở trung tâm Sàig̣n”[15], có ông Vũ Anh Tuấn đặc trách hành chánh địa ốc.

2. Những Vấn Đề Của Hội Đại Học Đà Lạt

Theo LM Viện Trưởng tiết lộ cho người viết [16], trước khi cha đi Pháp năm 1980. Theo đó, ít tháng trước biến cố 30/4/1975, GS Trần Long làm Tổng Quản Lư có yêu cầu với LM Viện Trưởng là được hoàn toàn đứng tên một ḿnh, chứ không phải hai người, trên các chứng từ hành chánh và tài chánh. Đó là thông lệ vẫn áp dụng cho những chữ kư quan trọng (chi tiêu, thu nhập) trên các chứng từ hành chính và tài chính của Hội Đại Học Đà Lạt, theo luật pháp chung của quốc gia cũng như quốc tế đối với người đại diện một Hiệp Hội có pháp nhân. Lư do GS Trần Long nêu ra là uy tín cụ thể của GS ở cương vị một Tổng Quản Lư của Hội Đại Học Đà Lạt trong Giáo Hội Công Giáo. Nếu không, trong bối cảnh đang diễn ra ở miền Nam (VNCH), GS không thể làm việc được. LM VT đứng trước nhiều áp lực do t́nh h́nh, trong đó có việc Linh Mục Nguyễn Hữu Trọng xin nghỉ hưu, đă nhượng bộ.

Sau 30/4/1975, một hôm, LM Lê Văn Lư nói với người viết là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có hỏi ngài về t́nh h́nh các bất động sản và tài khoản của Hội Đại Học Đà Lạt hiện ra sao, th́ ngài trả lời là bất động sản và tài khoản (tiền mặt, ngân chi phiếu, chứng thư, chứng từ tài chánh…) đều do nhà nước mới quản lư và phong tỏa các trương mục có thể kiểm soát được.

Như vậy số phận các tài sản - nhất là ngân quỹ chung của Giáo Hội do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam quản nhiệm cao nhất - trong các trương mục ở trong nước hay ở nước ngoài mang danh nghĩa Hội Đại Học Đà Lạt như thế nào khi Cộng Sản chiếm toàn miền Nam từ ngay trước và sau 30/4/1975 đến nay?

3. Các Tài Sản Của Hội.

Thực sự về sau, v́ nhiều nguyên nhân phức tạp khác nhau, Hội Đại Học Đà Lạt chỉ c̣n sở hữu và quản lư các cơ sở ở vùng Sàig̣n và Bảo Lộc, Đà Lạt như:  

Thương Xá Tax (Ô. Thái Văn Phải giám thị).

Thương Xá Đinh Tiên Hoàng Đa Kao (Ô. Âu Văn Kiệt khán thủ).

Cao Ốc Lam Sơn (Ô. Nguyễn Văn Thành làm giám thị).

Nhà sách Xuân Thu (tiếp quản từ nhà sách Portail do người Pháp trao lại. Bà Ánh Nguyệt tức Bà Trần Long  làm giám đốc).

Các cơ sở trực thuộc VĐHĐL tại Sàig̣n, do LM Nguyễn Hữu Trọng, Đại Diện VT điều hành với ông Đỗ Văn Thành làm Tổng Thư Kư phụ trách gồm ba bộ phận:

Pḥng Liên Lạc (Ô. Nguyễn Hữu Phước và Ô. Đoàn Văn Gấm),

Pḥng đại diện sinh viên vụ (Ô. Dương Hiệp Nghĩa, cô Lê Ḥa Ánh), và Ban Cao Học Trường Chánh Trị Kinh Doanh. Ngoài GS PBL làm Khoa Trưởng, có các GS Nguyễn Lâu, Pt Khoa Trưởng, GS Nguyễn Chánh Đoan, GS Nguyễn Đ́nh Quế làm GS đặc vụ, Ông Đỗ Văn Thành làm CVP, với một số nhân viên (Bà Công Tằng Tôn Nữ Thị Cảnh, Cô Phạm Thị Chính, Ông Nguyễn Tri Lương, Ông Vơ Lang, và ông Nguyễn Văn Yến)

Đồn Điền Đại Nga (cơ sở ở Lâm Đồng, trồng trà và nhiều loại cây ăn trái, do Tu Huynh Đinh Quang Trí, CSC, trông coi).

Đồn Điền Di Linh Djirato (do Tu huynh Bùi Chu Tràng, CSC, trông coi)

Ngân Hàng Tín Dụng Nông Thôn Đức Trọng (Lm Nguyễn Hữu Trọng đặc trách, dường như một thời gian có GS Lương Hữu Định làm Giám Đốc)

Ba Khu Đồi xây dựng làm cơ sở Viện Đại Học tại thị xă Đà Lạt.                                                                                                                                           

4. Các Nguồn Tài Trợ.

Trong quá tŕnh xây dựng và phát triển Viện Đại Học Đà Lạt, phục vụ ngày càng đông sinh viên, các quản trị viên không chỉ trông nhờ vào nguồn tài trợ giới hạn từ các cơ sở của ḿnh mà cần có tài trợ của các nguồn khác, như:

Các mục thu:

a. Nguồn thu học phí của sinh viên.

b. Trợ cấp của chính phủ Việt Nam.

Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, Nguyễn Quang Tŕnh), nhất là Viện Đại Học Sàig̣n và Trường Văn Khoa, Trường Sư Phạm, Trường Khoa Học[17]

Bộ Tài Chánh (thời Viện Trưởng Lê Văn Lư)

c. Trợ cấp của chính phủ hay tổ chức kinh doanh, thiện nguyện, tôn giáo, văn hóa giáo dục. quốc tế, như

Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng

Cơ Quan Catholic World Service, CWS 

US Catholic Relief Service, CRS 

World University Service, WUS.

Canada và Pháp (giúp tài trợ và cử nhiệm giáo sư sang giảng dậy tại VĐH Đà Lạt

Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation).

Phái Bộ Viện Trợ Hoa Kỳ (The USAID Mission)

Đức Phao Lô VI

Hồng Y Spellman

Khâm Sứ Ṭa Thánh

Chính GM Ngô Đ́nh Thục

Hội Đồng GMCHLB Tây Đức, nhất là Ṭa Giám Mục Koln giúp 10.000 Đức Mác mua sách)

Trường Đại Học Công Giáo George Mason University (4400 University Drive, Fairfax, VA 22030) bảo trợ.

d. Trợ cấp nói chung của các tổ chức hay cá nhân ân nhân khác, …

Tất cả những nguồn tài trợ đó chi cho các mục, như:

Lương, vận phí các giáo sư và nhân viên công tác

Chi Phí Xây Cất Mới, Trang Thiết Bị, Pḥng Thí Nghiệm và Bảo Tŕ các Cơ Sở

Dự Trữ Tiếp Tân và các hoạt động an toàn xă hội tối thiểu

Học Bổng, Hoạt Động Sinh Viên

 

Biểu Đồ 2. Tổ Chức Tổng Quát Hội và Viện Đại Học Đà Lạt[18]

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Viện Đại Học Đà Lạt

 

Hội Đại Học Đà Lạt

Chưởng Ấn

Hội Đồng Quản Trị

Hội Đồng Viện –VT-UỳBPhTr&KếH - UBHVụ

 

Uỷ Ban Thường Trực

 

 

 

 

Tổng Quản Lư 

Văn Pḥng Viện

Đại Diện VT/Sàig̣n

Cơ Sở Kinh Doanh

1.GĐ/ĐHX(TVKư,Kiêm Ái,Bminh)

1.Văn Pḥng Liên Lạc

1.Thương Xá Tax

2.GĐ/Sinh Viên Vụ

2.TrCTKD/Ban Cao Hoc

2.Cao Ốc Lam Sơn

3.TU/Tuyên Úy Vụ

3.VP Dại Diện Sinh Viên

3.Thương Xá ĐTHoàng

4.GĐ/Tu Thư & Báo Chí

 

5.Thư Quán Xuân Thu

5.GĐ/Thư Viện

6.Đồn Điền Đại Nga

6.QL/Pḥng Quản Lư

7.Đồn Điền Di Linh

7.KT/TrCTKDoanh/Ban Cử Nhân

8.Ngân Hàng NT Đức Trọng

8.KT/TrĐH Khoa Học

 

9.KT/TrĐH Sư Phạm

10.KT/TrĐH Văn Khoa

11.KT/TrĐH Thần Học

TC: (11) bộ phận

(3) bộ phận

(8) bộ phận

Chú thích: Biểu đồ này cho thấy tương quan giữa các bộ phận của Hội Và Viện Đại Học Đà Lạt

           

5. Cơ Sở Viện Đại Học tại Đà Lạt.

Cơ sở bất động sản khu đồi chính dùng để xây dựng, phát triển tiện nghi sinh hoạt quản trị, giảng huấn, cư trú của Viện Đại Học Đà Lạt được tiếp quản từ cơ sở cũ của Trường Thiếu Sinh Quân do người Pháp để lại. Ngay thời điểm trước 30/4/1975, bất động sản này gồm có ba Khu:                                                                                              

Khu A: Khu đồi chính ở đường Phù Đổng Thiên Vương cuối Đồi Cù phía Tây thành phố Đà Lạt; Diện tích chừng 40 ha, cách Trung Tâm Thành phố Đà Lạt 1 km 5 Khuôn viên Đại Học Đà Lạt Khu A khởi đầu chỉ có chừng hơn mười ṭa nhà, với các đường đi lối lại được trải đá dăm.

Khu B:  Khu đồi Minh Ḥa, nơi lúc đó có cư xá sinh viên Rạng Đông và Chủng viện Minh Ḥa thuộc GP Đà Lạt, ở đường Thông Thiên Học.

Khu C: Khu C ở đường Vạn Kiếp và đường Trần Hưng Đạo có chừng 38 biệt thự sẵn sàng dùng làm Cư Xá Nhân Viên Giảng Huấn[19].

Cả ba khu đang có kế hoạch mở mang theo đúng chức năng được hoạch định. Chính Linh Mục Viện Trưởng, ủy nhiệm cho GS phụ tá hành chánh vai tṛ chuẩn bị với sự trợ giúp của Ṭa Tỉnh Trưởng Đà Lạt, thu xếp một chuyến máy bay trực thăng từ Nha Trang lên, và đă bay ở cao độ 300 m để chuyên viên nhiếp ảnh (nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngà của Photo Hồng Châu, Khu Chợ Ḥa B́nh Đà Lạt) có thể chụp các không ảnh cả ba khu ABC của Viện Đại Học Đà Lạt. Chính nhờ những không ảnh này mà các chuyên viên kỹ thuật tùng sự tại Trường Chiến tranh chính trị Đà lạt có thể giúp thiết lập một mô h́nh (sa bàn) thu nhỏ toàn bộ Khu A của Viện Đại Học Đà Lạt. Mô h́nh này cũng được dùng để triển lăm tại Trung Tâm Công giáo ở số 72/12 Đường Nguyễn Đ́nh Chiểu Tân Định Sàig̣n nhân kỷ niệm 350 năm truyền giáo ở Việt Nam vào thời điểm 1972 trước khi được trưng bày ở Trung Tâm Sinh Viên VĐH Đà Lạt.

Các bất động sản thuộc cả ba khu A, B và C nói trên, theo người viết được biết, đă được Đại Diện của HĐGMVN cho nhà nước mới mượn theo một hợp đồng được kư kết sau 30/4/1975, giữa đại diện hai phía Giáo Hội và Nhà Nước Việt Nam.                                    

6. Cảnh Quan Khuôn Viên Viện Đại Học

Nói đến Viện Đại Học Đà Lạt mà không nói đến cảnh quan tuyệt diệu yêu kiều, đầy mộng mơ, là một thiếu xót khó chấp nhận, như chưa biết ngỏ lời khen tặng một bông hồng đẹp đẽ duyên dáng trong ḍng đời thanh xuân. Thay cho một mô tả khô khan, thiết tưởng nên dơi theo ḍng suối ấn tượng của những đôi mắt nam nữ sinh viên ghi lại những cảm nhận rất chân thành hồn nhiên của ḿnh:

“ Sau buổi cơm chiều, tôi thường đi dạo sân trường, thơ thẩn thưởng thức Khung Trời Đại Học, nhớ lời một vị Giáo Sư: “Viện Đại Học Đà Lạt là một trường đại học đẹp nhất Đông Nam Á, dù quy mô không phải là lớn nhất.”… Nét đẹp thơ mộng lăng mạng, và rất thiên nhiên. Từng con đường ngọn cỏ in dấu bước chân học tṛ, in dấu trong kư ức tôi cho đến hôm nay và có lẽ măi măi…

Con dốc Kiêm Ái đây, nhưng sao không đưa tôi về những dăy pḥng trọ, nơi tôi có nhiều niềm buồn vui với bạn bè, với tiếng cười rộn ră vô tư, với những đêm thức học bài, xúm nhau nấu ḿ gói ăn khuya. Nhớ nhiều buổi trốn học, tôi đi phố mua dâu tây, về học xá lặt rửa sạch sẽ, trộn đường cho lên men thành rượu, dành khi về Sàig̣n tặng Má…”[20]

Hay

“Viện Đại Học Đà Lạt rộng, cổ kính và quí phái, bốn mùa thắm sắc những loài hoa, Mùa Đông hoa anh đà nhuộm hồng phố xá, trên những lối nhỏ dẫn đến giảng đường, dọc bờ Hồ Xuân Hương, thắm thềm bướm trắng…”[21]

Nhưng có những bạn nam sinh viên biểu tả vẻ đẹp của Viện Đại Học Đà Lạt dưới ng̣i bút “hoa không thua thắm, liễu hờn kém xanh!” thế này:

“Phong trào sinh viên học sinh băi khóa biểu t́nh chống chính quyền dữ quá, nên tôi quyết định về quê và xin phép gia đ́nh đi học trường Chánh Trị Kinh Doanh. Đây là quyết định quan trọng đầu đời của tôi, may sao lại là quyết định hoàn toàn đúng. Trường Chánh Trị Kinh Doanh có cuốn hút diệu ḱ bao hoài băo và ước mơ bay bổng của tôi.

Hơn nữa Đà Lạt là thành phố đẹp nhất mà tôi từng được biết. V́ vậy bốn năm học ở Đà Lạt là thời tuổi trẻ tươi đẹp mà tôi chẳng thể nào quên. Buổi sáng tinh sương đi học, ḥa vào ḍng người bước chân đến trường mới tuyệt làm sao. Con dốc dưới chân đồi leo lên cổng viện, một bên có hàng mimosa nở hoa trắng xóa, từ nhóm bạn bè đi bên nhau nói cười vui vẻ, mưa bụi li ti bám trên tóc, trên vai, trên mặt các bạn nữ má đỏ môi hồng, nên thơ và đẹp đẽ làm sao… Ở trường CTKD có những môn học hồi đó đối với tôi hay đến lạ: “điển cứu”, “tu từ văn thể”, “quảng cáo tiếp thị”, “xác xuất thống kê”, v.v…”[22]

 

Chương Năm: Quá Tŕnh Thành Lập Viện Đại Học

1. Các Cơ Cấu Tổ Chức

Biểu Đồ 3: Tổ Chức Thực Tế Viện Đại Học

 

Viện Đại Học Đà Lạt

 

 

Chưởng Ấn

 

 

Viện Trưởng

 

 

Hội Đồng Viện

 

Uỷ Ban Hành Chánh & Kế Toán

Uỷ Ban Học Vụ & Hội Đồng Kỷ Luật

 

Khối Hành Chánh

Khối Tâm Linh

Khối Học Vụ

Khối  Phục Vụ

Văn Pḥng Viện

Nhà Nguyện

Thư Viện

Pḥng Quản Lư

Tại Đà Lạt

Pḥng Liên Lạc tại  Saigon

 

Tuyên Úy Vụ

Tu Thư & Báo Chí

Nhà Khách

Sinh Viên Công Giáo

Tri Thức

Thụ Nhân

SIVIDA

 

 

Sư Phạm

Sinh Viên vụ

Tại Đàlạt

Pḥng Đại Diện/Sàig̣n

 

 

Văn Khoa

Đại Học Xá

B́nh Minh

Kiêm Ái

Trương VĩnhKư

 

 

Khoa Học

Pḥng Y Tế

 

 

Chánh Trị Kinh Doanh

Nhà Bếp Viện Trưởng

Ban Cử Nhân (Đà Lạt)

Ban Cao Học (Sàig̣n)

 

 

Thần Học

 

                   

Biểu đồ trên đây phản ảnh tổ chức và sinh hoạt thực tế của Viện Đại học Đà Lạt và được mô tả theo các khía cạnh hoạt động chức năng của mỗi đơn vị trong Viện.

2. Các Chưởng Ấn.

HĐGMVN khởi đầu xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt, với thúc đẩy tích cực của GM Ngô Đ́nh Thục[23]. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhất trí cử một vị Chưởng Ấn[24].

Vị Chưởng Ấn đó sẽ cử một người quản trị. Vị Chưởng Ấn đại học đầu tiên vận

động cho sáng kiến thiết lập Hội Đại Học Đà Lạt là chính GM Phêrô Martinô Ngô Đ́nh Thục, khi đó c̣n làm Giám Mục quản trị Địa Phận Vĩnh Long. Giám Mục có một vị thế có nhiều ảnh hưởng trong xă hội và giáo hội thời đó. Năm 1963, GM Ngô Đinh Thục đi dự Công Đồng Vatican II rồi kẹt v́ chính biến ngày 2/11/1963 không về được[25], nên HĐGMVN bầu ngay Vị Chưởng Ấn kế tiếp là chính GM Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho, và cũng là Viện Trưởng tiên khởi[26] đảm nhiệm mọi trách vụ Chưởng Ấn Viện Đại Học. GM Trần Văn Thiện làm Chưởng Ấn đến năm 1970, th́ HĐGMVN bầu GM Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang[27], GP Cần Thơ (1965-1990) làm Chưởng Ấn cuối cùng cho đến 30/4/1975.

3. Các Viện Trưởng

Viện Trưởng đầu tiên là Linh Mục Trần Văn Thiện (1957-1961). Khi LM Trần Văn Thiện làm Giám Mục năm 1961, Lm Simon Nguyễn Văn Lập, Cử Nhân Sử Địa (Sorbonne, Paris), mới được bổ nhiệm làm Viện Trưởng[28] (1961-1970).

Linh Mục Viện Trưởng Trần Văn Thiện.

Nhiệm vụ Viện Trưởng đầu tiên chính là xây dựng, tổ chức và quản trị giai đoạn h́nh thành Viện Đại Học Đà Lạt. Mấy lănh vực quan trọng nhất là quản trị ban đầu, tổ chức kỹ thuật, và xây dựng cơ sở học thuật, tiếp nhận và sử dụng viện trợ. Sau cùng là tính chất công ích của Hội Đại Học Đà Lạt.

T́nh H́nh Quản Trị Ban Đầu. Bộ Quốc Gia Giáo Dục đă biệt phái một số nhân sự chuyên biệt có nhiệm vụ điều hành những công việc về hành chánh quản trị. Các chuyên gia này đều nhận tiền lương từ Bộ Giáo Dục và họ chỉ nhận thù lao chức vụ của Viện. Như vậy làm nhẹ bớt gánh năng chi phí ban đầu.

Kỹ Thuật..Trường Văn Khoa tiếp nhận một số linh mục giáo sư đang giữ nhiều trọng trách tại Sàig̣n lên giảng dậy tại Đà Lạt. Trường Sư Phạm và Khoa Học cũng được nhiều giáo sư từ các phân khoa Sàig̣n lên như vậy

Học Vấn. Việc học vấn của sinh viên đă diễn ra chật vật như những số liệu thống kê dưới đây chứng minh. Việc tổ chức các môn học của Trường Văn Khoa và Sư Phạm theo chế độ học vấn không giống nhau.

Trong khi Sư Phạm có xu hướng áp dụng Niên Chế th́, Văn Khoa có xu hướng theo Chứng Chỉ. Riêng Khoa học th́ được tổ chức theo Giáo tŕnh. Đặc biệt là ở Khoa này, hai năm đầu tiên có khóa đào tạo kỹ thuật. Các kỳ thi cuối năm của mỗi Phân Khoa cũng được chia nhỏ cho từng lớp học, dù theo chế độ học vấn nào. Sau ba năm học, khóa đầu tiên tốt nghiệp. V́ thế Viện Đại Học đă phải làm tờ phúc tŕnh tổng thế này lên chính phủ  (Bộ Giáo Dục) để có thể đề xuất hướng cải tiến các phương diện cần bổ sung trong giai đoạn tiếp theo và được trợ giúp của chính phủ.  

Biểu đồ 4. Tổ chức giảng dậy, sĩ số và kết quả bốn năm đầu (1957-1961)[29]

Năm Học 1957-58

Phân Khoa

Môn Học

Thí Sinh

Tốt nghiệp

Chú thích

Sư Phạm

Khoa Học Kỹ thuật Năm I

85

49

Khóa  năm 1 dự bị khoa học, đào tạo kỹ thuật[30]

Năm Học 1958-59

 

Khoa Học Kỹ Thuật Năm II

56

13

 

 

Sư Phạm

Triết Năm I

27

27

Có các lớp cho học viên chưa tốt nghiệp trung học, trau giồi thêm và lớp sư phạm giáo lư

 

Pháp Văn Năm I

22

22

 

 

49

49

Năm Học 1959-60

Sư Phạm

Triết Năm I

30

29

Ngoài phần chuyên môn về sư phạm, các sinh viên cũng ghi danh học phần nội dung kiến thức của ngành chuyên môn  ở các khoa khác

 

Triết Năm II

27

25

 

 

57

54

Văn Khoa

Dự Bị

28

11

 

C/c Văn Chương Pháp

03

00

 

C/c Đạo đức và Xă Hội Học

10

02

 

 

41

67

Khoa Học

Toán Học Đại Cương

37

16

 

 

37

16

Năm Học 1960-61

Sư Phạm

Triết Năm I

25

21

Tổng số sinh viên tốt nghiệp sau ba năm học là 143 so với sĩ số ghi danh là 160. Một tỷ lệ rất cao

 

Triết Năm II

32

29

 

Triết Năm III

24

24

 

Pháp Năm I

34

30

 

Pháp Năm II

28

21

 

Pháp Năm III

20

18

 

 

160

143

Văn Khoa

Dự Bị

43

18

 

 

Văn Chương Pháp

04

01

 

 

Đạo Đức và Xă Hội Học

14

03

 

 

Tâm Lư

13

03

 

 

 

74

25

 

Khoa Học

Toán Học Đại Cương

45

06

 

 

Toán Lư Hóa

34

06

 

 

 

79

12

 

 

LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập.

Trong suốt chín năm trời LM Nguyễn Văn Lập thực tế là vị Viện Trưởng xây dựng truyền thống của Viện Đại Học[31]. Ngài đă tổ chức lễ kỷ niệm mười năm thành lập Viện Đại Học Đà Lạt vào năm 1969 (1959-1969). Như một công tŕnh giáo dục có hiệu quả tác dụng truyền giáo lớn lao, năm 1969, Đức Phaolô VI gửi lời chúc mừng đến ngài và toàn thể các thành viên của Viện Đại Học Đà Lạt rất ưu ái của Toà Thánh. Nguyên văn bằng tiếng Pháp, kèm theo bản dịch tạm thời bằng tiếng Việt như sau:

Cher Fils, le Révérend Père Nguyên Van Lâp,
Recteur Magnifique de l’Université Catholique de Dalat

Au moment où va être célébré le dixième anniversaire de l’Université catholique de Dalat, Nous sommes heureux de Nous associer aux Evêques protecteurs, aux autorités civiles et académiques et à tous les membres de l’Université, pour féliciter tous ceux qui ont courageusement contribué à son développement. De grand cœur, Nous formons le voeu que cette jeune Université poursuive le service culturel et moral si appréciable qu’elle rend aux familles vietnamiennes et à tout le pays, en préparant notamment des maîtres et des cadres compétents, en même temps qu’elle aide les jeunes chrétiens à approfondir leur foi et à témoigner activement de leur charité.

En priant le Seigneur de favoriser cette œuvre éducative dans un avenir paisible, Nous implorons sur tous les assistants, et spécialement sur le Recteur, les professeurs et les élèves de l’Université de Dalat, en témoignage de Notre affectueuse bienveillance, l’abondance des bénédictions divines.

Du Vatican, le 6 janvier 1969.

PAULUS PP. VI[32]

***********

Con thân yêu, Cha Nguyễn Văn Lập trọng kính,

Viện Trưởng Huy Hoàng của Viện Đại Học Công giáo Đà Lạt

Vào lúc Viện Đại Học Công Giáo Đà Lạt sắp cử hành lễ kỷ niệm thứ mười, Ta sung sướng cùng liên kết với các Giám Mục bảo trợ, các nhà chức trách dân sự và hàn lâm và tất cả các thành viên của Viện Đại Học, ngơ hầu khen ngợi tất cả những ai đă can đảm đóng góp vào sự phát triển Viện Đại Học. Từ thâm tâm, Ta nguyện chúc Viện Đại Học trẻ trung này theo đuổi công cuộc phục vụ văn hóa và đạo đức rất đáng trân trọng mà Viện Đại Học đă đem lại cho các gia đ́nh Việt Nam và cho cả nước. Nhất là bằng cách chuẩn bị các thầy dậy và các cán bộ xứng đáng, Viện đồng thời cũng giúp đỡ các thanh niên Kitô hữu sống đức tin sâu xa hơn và chứng tỏ ḷng bác ái tích cực hơn.

Xin Chúa đoái thương công cuộc giáo dục này trong một tương lai an b́nh. Với tấm ḷng nhân hậu tŕu mến, Ta khẩn cầu Thiên Chúa xuống dồi dào ơn lành cho tất cả những người giúp tay vào, và nhất là cho cha Viện Trưởng, các giáo sư, và các sinh viên của Viện Đại Học Đà Lạt.

Từ Vatican, ngày 6 tháng 1 năm 1969  
Phaolô VI[33]

Linh Mục Nguyễn Văn Lập đă củng cố nền móng vật chất và truyền thống tinh thần “trồng người” cho Viện Đại Học Đà Lạt. Trong suốt nhiệm kỳ của cha, cách ứng xử nhân bản và tài năng lănh đạo của cha đă gây ấn tượng sâu xa đối với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp.

LM Viện Trưởng F.X. Lê Văn Lư.

Ngài được HĐGMVN cử nhiệm làm Viện Trưởng thứ ba và sau cùng (1970-1975). Từ ngày thành lập cho đến trước 30 tháng 04 năm 1975, Viện Đại Học Đà lạt lần lượt có năm phân khoa: Viện khai giảng thực tế từ năm 1958 với các khoa Sư Phạm, Văn Khoa với ba môn Văn Học, Triết lư và Địa Lư học, và Khoa học, về sau đến khoa Chánh Trị Kinh Doanh. Khoa Thần học th́ cũng đă có ở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X từ 1958, nhưng chưa hoàn toàn được công nhận về giáo quyền cũng như thế quyền là một phân khoa thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.[34]

Linh Mục Lê Văn Lư[35] được bổ nhiệm làm Viện Trưởng. Ngài đậu văn bằng Tiến Sĩ Văn Chương Quốc Gia do Viện Đại Học Paris (Sorbonne, Luận án chuyên khoa Ngữ Học), Pháp cấp. LM Hoàng Quốc Trương, Ph.D. in Biology, làm Phó Viện Trưởng, với GS Đỗ Hữu Nghiêm, Cao Học Sử Học, làm phụ tá hành chánh cho LM Viện Trưởng Lê Văn Lư thực sự từ năm 1972. Thời kư ban đầu, LM Nguyễn Ḥa Nhă từng giữ nhiệm vụ Phó Viện Trưởng cho LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập.

Nhiệm kỳ của LM Lê Văn Lư quá ngắn ngủi, nên chưa thể phát huy các sáng kiến của ngài một cách đầy đủ. Chắc chắn LM Lê Văn Lư có học vấn uyên bác và hội đủ văn bằng đại học cần thiết, và có uy tín đối với giới học giả, giáo sư và sinh viên. Nhưng ngài chỉ thi hành trách nhiệm trong thời gian ngắn ngủi, cải tiến một số lănh vực nhất định[36]. Linh mục gặp nhiều khó khăn diễn ra trong bối cảnh xáo trộn quân sự, chính trị, xă hội ở trên toàn lănh thổ quốc gia, nhất là ở phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, sau cuộc chiến Tết Mậu Thân (1968) trở về sau.

4. Tổ Chức Hội Đồng Viện và Hội Đồng Khoa.

Có thể chưa thể hiện hoàn chỉnh các văn kiện qui định chính thức, như Quyết Định thành lập, xác định Hiến chế, Nội qui điều hành và hoạt động cùng quyền hạn và trách nhiệm, giấy tờ thành văn mô tả từng chức vụ trong Viện, để kiện toàn sinh hoạt của Viện Đại Học Đà Lạt. Thực tế, có thể diễn tả mô h́nh tổ chức như sau:

a. Hội Đồng Viện.Tất cả các Khoa Trưởng hợp thành Hội Đồng Viện, do LM Viện Trưởng chủ tọa với Phó Viện Trưởng và một số nhân sự chủ chốt, như Tổng Thư Kư Viện Đại Học (vẫn không liên tục), các Phó Khoa Trưởng, Giám Đốc hay/và Phó Giám Đốc Pḥng Sinh Viên Vụ, Giám Đốc Thư Viện, Pḥng Quản Lư, Pḥng Tuyên Úy, Pḥng Cư Xá Sinh Viên, các Phụ Tá, và một số nhân sự được mời tham dự. Nói chung Viện vẫn cần bổ sung đầy đủ hơn nhiều văn kiện điều hành, bổ dụng nhiều nhân sự chủ chốt có khả năng đức độ và uy tín quản lư các bộ phận sinh hoạt trong Viện. Đó là công việc thường xuyên cho bất cứ tổ chức nào trong quá tŕnh phát triển.

Ủy Ban Hành Chánh & Kế Toán có vai tṛ Hành Ngân Kế, theo Qui chế chính thức, nghiên cứu các dự án, chiết tính các chi phí cần thiết đề giúp các cơ quan quản trị trong Viện làm việc.

Ủy ban Học Vụ và Hội Đồng Kỷ Luật là bộ phận hoạch định tiên liệu trong tổ chức của Viện về học vụ và kỷ luật. Nhưng trong thực tế quá tŕnh hoạt động của Viện, tác dụng của hai cơ cấu này hầu như chưa được vận dụng đúng mức trong thực tế[37]

b. Hội Đồng Khoa, thường gồm Khoa Trưởng, Phó Khoa Trưởng và một số nhân viên cốt cán trong khoa như các Trưởng Ban phụ trách các bộ môn, Chánh Văn Pḥng Khoa và các nhân viên giảng huấn được mời tham gia.

Nhiệm vụ của Hội Đồng Khoa thường giải quyết các vấn đề liên quan đến hành chính cơ bản, chương tŕnh giảng dậy, thi cử, nguyên tắc đánh giá điểm học và điểm thi, cùng các vấn đề linh tinh thuộc quyền hạn của mỗi khoa.

Hội đồng Khoa khi cần thiết cũng đóng vai tṛ Hội Đồng Kỷ Luật như có sinh viên vi phạm Kỷ Luật hay Học Vấn trong Phân Khoa[38]

Nhiệm vụ của Viện thường bao quát hơn liên quan đến các vấn đề về học vụ, tài chánh chung, giao tế hợp tác đối ngoại, quản trị tổng quát, phối hợp hoạt động học vụ hay phục vụ học vấn của các khoa và các bộ phận khác trong Viện, và vấn đề quan hệ với Hội Đại Học Đà Lạt. Sau cùng là trách nhiệm với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về công việc điều hành và những vấn đề nảy sinh cần giải quyết liên quan đến Hội và Viện Đại Học Đà Lạt.

5. Qui chế nội bộ Viện Đại Học.

Để kiện toàn tổ chức Viện Đại Học Đà Lạt, một qui chế điều hành tổng quát cho Viện Đại Học Đà Lạt cũng được Giám Mục Chưởng Ấn ban hành theo văn thư số 183/71/VC, kư ngày 23/8/1971 và chính thức áp dụng từ ngày 25/11/1971.

Triển khai cụ thể hơn, GM Chưởng Ấn cũng ban hành liên tiếp văn thư số 285/72/VC, kư ngày 20/11/1972, xác định quy chế cho nhân viên giảng huấn. Tất cả những qui chế này chỉ được áp dụng một cách giới hạn, linh động và uyển chuyển theo t́nh h́nh chung như lịch sử và tài chánh cùng sáng kiến cụ thể ở mỗi giai đoạn. Đây chính là chiều hướng ổn định trong việc quản trị Đại Học dưới thời Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng                                    

6. Nhân Sự Giảng Huấn Và Hành Chánh.

Ban Giảng huấn niên khóa 1960-61 có khoảng 29 nguời cả giáo sĩ và giáo dân thường. Trong số các giáo sĩ, các các linh mục ḍng Tên, Đa Minh 1 linh mục ḍng SAM và 1 sư huynh Lasan, 1 linh mục Xuân Bích. Các giáo sư thuộc nhiều quốc tích: Việt Nam, Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha.

Đây là một số vị giáo sư ban đầu mà cựu sinh viên Triết Nguyễn Văn Lục[39] c̣n nhớ được:

Về triết lư có: Ô. Lư Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Bửu Lịch, BS Đào Huy Hách, Bà Monavon; Giám Mục Hoàng Văn Đoàn OP; Các Linh mục Bửu Dưỡng OP, Lê Tôn Nghiêm; SH Pierre Trần Văn Nghiêm Lasan; Các Linh mục Alexis Cras OP, Marie-Bernard Pineau OP, Joseph Tchen SJ, Matthias Tchen SJ, C. Larre SJ, Palacios SJ, Y. Raguin SJ, Gaultier SJ.

Về Pháp Văn có: Bùi Xuân Bào, Vơ Văn Lúa, Trương Bửu Lâm, Đoàn Mừng, Linh Mục Nguyễn Ḥa Nhă; René Cabrière, Beucher, Lm Alexis Cras OP, Mlle Tiot, Père Duluth, Donini

Ngoài một số nhân viên giảng huấn cơ hữu gia tăng của Viện, về sau gồm có một số giáo sư và các phụ khảo, hai nguồn cung ứng nhân sự chính yếu cho Đại Học Đà Lạt được tận dụng là:

Nguồn nhân sự tại chỗ: nhiều sĩ quan, giáo sư thỉnh giảng từ nhiều cơ sở giáo dục và nghiên cứu, như Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đại Chủng Viện Minh Ḥa, Trung Tâm Nguyên Tử Lực, Trường Vơ Bị Đà Lạt, Trường Chiến Tranh Chánh Trị và Trường Bùi Thị Xuân cùng một số ḍng tu tại Đà Lạt

Nguồn từ các Trường đại học, Viện nghiên cứu và các Giáo phận trong nước nhưng ở ngoài Đà Lạt, như nhiều trường thuộc các Viện Đại Học công và tư tại Sàig̣n, và Huế, Hải Học Viện Nha Trang, …

 

Biểu đồ 5. Phân Bố Nhân Sự Hành Chánh Niên Khóa 1973-74

TT

Bộ Phận

 Hành Chánh

Giảng huấn

Chú thích

1

Hội Đại Học Đà Lạt

06

 

 

2

Hội Đồng Viện ĐHĐL

11

 

 

Đà Lạt

3

Văn Pḥng VĐH/ĐL

07

 

 

4

Trường Sư Phạm

04

28

Hầu hết là thỉnh giảng, chung cha cả Đà Lạt và Sàig̣n

5

Trường Văn Khoa

05

70

6

Trường Khoa Học

09

48

7

Trường Chánh Trị KD

07

83

8

Thần Học

 

 

Chưa có

9

Thư Viện

02

 

 

10

Tu Thư & Báo Chí

02

 

 

11

Tuyên Úy Vụ

01

 

 

12

Sinh Viên Vụ

01

 

 

13

Pḥng Quản Lư

21

 

 

14

Đại Học Xá B́nh Minh

02

 

 

15

ĐHX Kiêm Ái

05

 

 

16

ĐHX Trương Vĩnh Kư

04

 

 

17

Pḥng Y Tế

02

 

 

Sàig̣n

18

Hệ Thống Tổng Quản Lư

09

 

8 cơ sơ kinh doanh

19

Cơ Sở thuộc VĐHĐL

16

 

3 bộ phận: VPLL, SVV, Ban Cao học CTKD

 

 

116

229

 

Tổng Kết: Tổng cộng 19 bộ phận gồm 342 người cả về hành chánh và giảng huấn. Một số người kiêm nhiệm cả hai lănh vực hành chánh và giảng huấn, hay cùng một người giảng dậy ở nhiều phân khoa khác nhau.

Nhân viên hành chánh nói chung gồm một số người cố định tham gia công việc hành chánh và quản trị, nhưng tŕnh độ đào tạo chưa được chuyên môn hóa cao và cần được chỉnh đốn cho thích hợp với đà tiến chung của xă hội. Các nhân viên hành chánh làm việc tại các đơn vị khác nhau, như ở Văn pḥng Hành Chánh Viện, Khoa, Thư Viện, Trung Tâm Sinh Viên, Sinh Viên Vụ, Pḥng Quản lư, Tu Thư & Báo Chí                             

7.  Sĩ Số Sinh Viên Ghi Danh.

Với lư tưởng Thụ Nhân, Viện Đại Học Đà Lạt lấy mục tiêu giáo dục con người, “trồng người” là chính. V́ thế Viện không nhắm nhiều đến sĩ số sinh viên ghi danh để tính lợi nhuận kinh tế. Tuy nhiên sĩ số thay đổi theo từng niên khóa trong giai đoạn đầu tiên 1958 đến 1975. Cho đến nay, với một số chứng liệu cơ bản, có thể lập được một bảng thống kê đầy đủ về tiến tŕnh thay đổi sinh viên trong tất cả các năm. Trong những năm đầu chắc là con số rất khiêm tốn. Nhưng từ năm 1970-1975, con số sinh viên ghi danh thay đổi từ khoảng 3000-4000, chỉ tại cơ sở Viện Đại Học ở Đà Lạt.

 

Biểu Đồ 6.  Sĩ Số Sinh Viên Theo Học Viện Đại Học Đà Lạt (1958-1973)[40]

PhânKhoa

Sư Phạm

VănKhoa

Khoa Học

CTKD

Thần Học

Tổngcộng

Niên Khóa

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

1958-59

019

 

 

 

 

0019

1959-60

109

0011

037

 

 

0187

1960-61

163

0071

079

 

 

0316

1961-62

177

0158

091

 

 

0456

1962-63

140

0247

072

 

 

0459

1963-64

112

0271

061

 

 

0444

1964-65

051

0295

094

1075

 

1515

1965-66

000

0405

112

0865

 

1382

1966-67

109

0633

149

0878

 

1769

1967-68

083

0952

253

1165

 

2153

1968-69

120

1071

400

1136

 

2750

1969-70

250

1277

434

1386

 

3347

1970-71

336

1091

685

1379

 

3191

1971-72

343

1003

751

1391

 

3891

1972-73

565

1379

767

1708

 

4319

1973-74

 

 

 

 

 

 

1974-75

 

 

 

 

 

 

Tổng cộng

2805

9870

3985

13206

[0352 (?)]

27866

Chú thích: 1/Tổng Kê này (Chỉ Nam SV 73-74, t. 9) chỉ có tính tương đối, v́ đối chiếu với các số liệu do chính phân khoa [Chỉ Nam SV 73-74, t.31 (SP) ghi 2805; t. 49 (VK) ghi tổng số sinh viên của khoa là 8838; t.74-75 (KH) ghi 3985; t. 103 (CTKD) ghi tổng số sinh viên của Trường là 10.871, th́ chỉ có trường SP và KH là phù hợp, c̣n hai Trường VK và CTKD là không phù hợp, trong cùng một tài liệu nói trên.

2/ Tổng kê này không phản ảnh số liệu về sinh viên nam và nữ.

3/ Nếu đối chiếu với các số liệu về sinh viên ở bảng thống kê toàn viện 1958-73 (CNSV 73-74), bản thống kê 1957-61 (Dalat University), và các thống kê 1958-73 của từng Phân Khoa trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, th́ rất khó phê phán chính xác về nhiều phương diện, v́ các số liệu không trùng khớp nhau!

Như thế vấn đề tổ chức giảng dậy và sinh hoạt cho sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt cũng thật là phức tạp, v́ hầu hết sinh viên từ nơi khác đến và c̣n bị chi phối bởi vấn đề thời cuộc, như quân dịch (quân sự học đường). Số lượng sinh viên ghi danh hằng năm làm tăng cường nhịp sống kinh tế, th́ cũng làm cho các vấn đề văn hóa xă hội ở thành phố Đà Lạt trở nên nhiều khê hơn. Nhịp độ các hoạt động liên hệ như thăm viếng du lịch, chuyên chở các thân hữu của giáo sư, nhân viên và sinh viên đến và đi khỏi thành phố miền Cao nguyên này, nhất là những tháng cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa tại Miền Nam cũng tăng tốc.

Khi sĩ số sinh viên lên cao, th́ các nhu cầu chuyên biệt cho tập thể sinh viên cũng lớn lên. Có thể đó là một khía cạnh trong cách giải thích sự xuất hiện cần thiết của tổ chức Sinh Viên Vụ.

8. Chung quanh những ngày hấp hối của Viện Đại Học Đà Lạt

Vài h́nh ảnh những ngày cuối cùng của Viện.

Vào những ngày cuối tháng 3/1975, Sư huynh Théophane Nguyễn Văn Kế đang băn khoăn có nên ở lại hay chạy đi khỏi Đà Lạt. Các sư huynh trẻ đang vội vă lấy Honda rủ nhau đi theo lối xuống Nha Trang, v́ ngả đường đi theo dốc đèo Prenn đă bị cắt đứt. Ông chưa sẵn sàng đi, th́ cô Hoàng Yến, một cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt bay từ Kontum về Đà Lạt bằng trực thăng quân sự. Cô t́m đến ngay biệt thự số 6 Trần Hưng Đạo, như một sứ thần báo tin. Gặp cô, ông hỏi ngay:

“Phải làm ǵ trong giờ phút quyết liệt này?”.

Thưa Frère, con vừa trên Dinh Tỉnh Trưởng xuống đây. Ông Tỉnh Trưởng ra lệnh đóng cửa tất cả các ngơ ra vào Đà Lạt khởi sự từ chiều nay. Con đến nói với Frère là nên rời Đà Lạt ngay cho sớm. Từ biệt Frère.

Ấy thế là ông quyết định rời bỏ Đà Lạt và từ biệt VĐHĐL vào 1 giờ trưa một ngày vào hạ tuần Tháng Ba năm 1975

Ngày 30/3/75, một ḿnh Giáo sư Nguyễn Khắc Dương bám trụ tại khuôn viên Viện Đại Học tại Đà Lạt. Trước đó người viết, sau ngày 20/3/1975, nhận được từ Đà Lạt gửi xuống Sàig̣n một danh thiếp cá nhân GS Nguyễn Khắc Dương, Q. Khoa Trưởng Trường Đại Học Văn Khoa Đà Lạt. Mặt sau danh thiếp có ghi chú mấy lời là ủy nhiệm người viết làm Quyền Khoa Trưởng trông coi về công việc liên quan đến Trường Văn Khoa qua Văn Pḥng Liên Lạc của Viện tại Sàig̣n.

Trong những ngày cuối củng c̣n ở Đà Lạt, GS Phó Bá Long đến Viện c̣n tận mắt thấy GS Nguyễn Khắc Dương qú lạy trước cha Viện Trưởng Lê Văn Lư, tha thiết van xin ngài ra đi khỏi Viện trong cảnh hỗn loạn, và hăy để một ḿnh GS đứng mũi chịu sào đối phó với những người chủ mới đến Viện![41]

Trong Hồi Kư Quia Dilexit Humilitatem Meam ghi lại một số chi tiết ngay trước và ngay sau những ngày Đà Lạt đổi chủ:                              

 “ …nằm sau đường mương đàng sau nhà Ḥa Lạc, tức là nhà của Viện Trưởng Đại Học Đà Lạt, nh́n trường Vơ Bị Quốc Gia, ḿn đạn nổ như sáng rực cả một góc trời, tôi như người sực tỉnh khỏi một cơn mơ dài”[42].

“Ở lại Đà lạt tôi có ư: một là sớm được cùng gia đ́nh đoàn tụ, hai là nếu Viện Đại Học Đà Lạt vẫn được chế độ mới chấp thuận để cho Giáo hội quản lư, th́ tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại Viện Đại Học; nếu như chế độ mới không cho phép Viện Đại Học Đà Lạt được tiếp tục dưới sự quản lư của Giáo Hội, th́ có thể tôi vẫn được lưu dụng, [trang 168] c̣n nếu không được lưu dụng th́ tôi sẽ đề nghị Toà Giám mục Đà Lạt sử dụng tôi làm việc ǵ cũng được. V́ vậy, trong ban giáo sư thuộc Viện Đại Học Đà Lạt cũ, tôi là giáo sư

duy nhất (cùng với một phụ khảo duy nhất có gia đ́nh tại Đà Lạt) ở lại, không di tản về Sài G̣n. Sau khi toàn bộ Ban Giám Hiệu rời Đà Lạt, tôi được Đức Giám Mục chỉ định ở lại Viện như thành phần của Ban Giám Hiệu, bảo quản cơ sở vật chất, cùng với toàn bộ anh em công nhân lao động chân tay đều ở lại cả.                                                                                                                                        

Từ đêm 30/3/1975 chính quyền cũ rút khỏi Đà Lạt, cho đến ngày tôi bị đưa vào trung tâm thẩm vấn Đà Lạt (24/4/75), mọi sinh hoạt đều b́nh thường, tôi có tŕnh diện tại Ủy Ban Quân Quản, vị đại diện cho biết rằng: tại Đà lạt, thành phần giáo sư Đại học chỉ có một ḿnh tôi, nên tôi hăy chờ đợi có chính sách chung. Và sau khi một số anh em giáo sư di tản xuống Phan Rang vài ngày, tôi trở về Đà Lạt, tôi có cử người tiếp xúc với bộ phận đặc trách văn hóa giáo dục của Cách Mạng th́ cũng được trả lời như vậy. Và điều sau đây là cái sai lầm lớn (đúng hơn là cái khờ dại của tôi) trong những ngày ấy: đó là tham gia vào việc thành lập Hội Liên Tôn ở Đà Lạt!!!”[43]

[“Nay tôi cũng không nhớ rơ, trước hoặc sau khi Ủy Ban Quân Quản ra mắt đồng bào một hôm, tức là ngày 2 hoặc 4 tháng 4 (h́nh như trước một hôm, tức là ngày mùng 2 tháng 4 th́ có lẽ đúng hơn), trong lúc tôi đứng trước Rạp Chiếu Bóng Ḥa B́nh (nay là rạp 3/4) một nhà sư áo vàng thuộc hệ khất sĩ, c̣n trẻ tuổi (khoảng trên dưới 30) đến chào tôi và tự xưng là “Đại Diện” của Phật giáo nhờ tôi giới thiệu với Ṭa Giám Mục Đà Lạt, bàn về việc tổ chức thành lập một tổ chức gồm đại diện các tôn giáo để thực hiện hai mục đích:                                                                               

1. Là tạo sự đoàn kết, hài ḥa giữa các thành phần nhân dân, tránh những xô xát tranh chấp do sự chưa ổn định thời cuộc (lúc ấy Sài G̣n chưa giải phóng).

2. Là giải quyết vấn đề ổn định những xáo trộn xă hội: cướp phá, thiếu lương thực, thực phẩm, các gia đ́nh ly tán neo đơn. Tôi thấy hai mục đích ấy không có tính cách chính trị mà chỉ là vấn đề nhân đạo [trang 169] xă hội phù hợp với tinh thần nhân ái của các tôn giáo, nên tôi đă dẫn vị sư này đến Ṭa Giám Mục.

Đức Giám Mục vui vẻ nhận lời, và chỉ định một Linh Mục Đại Diện, c̣n tôi Đại Diện Giáo Dân đến dự cuộc họp thành lập Hội Liên Tôn nói trên lại Chùa Linh Sơn. Sở dĩ như vậy là v́ từ năm 1963, hầu hết giới Công Giáo đều nghĩ rằng: giữa Phật Giáo và Cách Mạng có một sự thỏa thuận, cho nên những ǵ do Phật Giáo đề xướng hẳn là đều có sự chỉ đạo hoặc đồng ư của Cách Mạng! Hội Liên Tôn ấy hoạt động không đầy 10 ngày th́ tan ră, sau khi nhiều lần xin Ủy Ban Quân Quản cho yết kiến để lănh ư mà không được!

Thế nhưng có ai ngờ, h́nh như v́ việc thành lập Hội Liên Tôn ấy mà phần nào tôi trở nên đối tượng của sự ngộ nhận khá nặng nề! Thậm chí có người cho rằng: đó là lư do làm cho tôi bị đưa đi học tập cải tạo. Riêng tôi, tôi không nghĩ như vậy, v́ tôi nghĩ rằng Cách mạng đủ sáng suốt để thấy Hội Liên Tôn túc ấy thực chất chẳng có ǵ là phản cách mạng cả. H́nh như đương sự (tức là vị sư khất sĩ áo vàng nói ở trên đây) chỉ có ư đồ là nấp ḿnh ở dưới Hội Liên Tôn, không phải để chống đối Cách mạng mà chỉ là để né tránh sự xử lư của Cách Mạng đối với một số sai lầm của đương sự trong chế độ cũ (mà có lẽ đương sự là một Tuyên Úy Phật giáo của quân đội chế độ cũ, nay muốn nhờ Liên Tôn mà xóa nḥa cái vết tích ấy, sự việc có lẽ chỉ có vậy).

C̣n việc tôi bị đưa đi học tập cải tạo xảy ra như sau: theo chính sách của Cách mạng th́ những ai ra khỏi hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền trước hiệp định Paris, th́ xem như không có vướng mắc ǵ cả; mà tôi th́ giải ngũ năm 1956, từ đó tôi chỉ sống hoàn toàn trong khuôn khổ Hội Thánh, không dính líu một tổ chức hoạt động chính trị nào cả! Hơn nữa, dưới cái nh́n của một số anh em sinh viên và giáo chức tại Đà Lạt có ít nhiều tương quan với cá nhân tôi, tôi được xem như là thành phần tốt (hay ít nhất là vô can, vô sự; chỉ là một tu sĩ hụt, một trí thức trùm chăn!)                                       

Hơn nữa, nếu v́ lư do chính trị mà tôi bị đưa đi học tập tại các trung tâm dành cho những thành phần ấy! Đàng này tôi đi học tập với tư cách là sĩ quan ngụy (mặc dù đă giải ngũ năm 1956) và như vậy là không đúng [trang 170] chính sách. Đến nay tôi cũng chưa rơ tại sao lại xảy ra sự việc như vậy! Lầm lẫn chăng? Nhưng thôi, chuyện đă qua rồi, hậu quả chẳng có ǵ trầm trọng lắm! Trái lại chỉ có lợi cho tôi về nhiều mặt như tôi đă tŕnh bày trên kia, và tôi cũng xác nhận rằng: chế độ của trại học tập của Tổng Trại 8 do Quân Khu 5 quản lư tại Sông Mao là rất tốt, hầu hết anh em học tập ở đó ra đều giữ một kỷ niệm tốt về thời gian học tập nhất là đối với số cán bộ thuộc thành phần bộ đội: cởi mở, chân thành đúng với truyền thống chân chính của danh hiệu “Bộ Đội Cụ Hồ”[44]]

“Sau ngày tôi trở về Viện Đại học Đà Lạt, tôi tiếp tục cư trú tại Trường Đại học (bấy giờ do một ban quản lư gồm đại diện của Nhà nước và đại diện của Giáo hội quản lư, nghiên cứu thể thức chuyển giao cho Nhà nước). Trong quy ước giữa hai bên th́ tất cả mọi giáo viên, nhân viên cũ của Đại học, nếu c̣n ở lại th́ được Nhà Nước lưu dụng, ngày 3/4/ 1975 tôi là giáo sư duy nhất ở lại. Thế nhưng, trong danh sách những người ở lại (lập trong thời gian tôi đi học tập vắng mặt, tôi bị lọt sổ hay bị gạch sổ) nên khi Đại học Đà Lạt hoạt động lại dưới sự quản lư của Nhà nước, tôi không được lưu dụng. Tôi bắt đầu tự mưu sinh bằng cách làm vườn trồng rau, đây là một kinh nghiệm quư và là một vinh dự lớn: tôi làm được ba vụ rau bắp cải, bán cho hợp tác xă phường 4 Đà Lạt!

Nhân dịp này tôi cũng xin ghi lên đây lời thành tâm tri ân đối với một số anh chị em đă có ḷng thương giúp đỡ tôi về mọi mặt, trong thời gian tôi lưu trú tại Đại học Đà Lạt; giúp đỡ lao động sản xuất, chia sẻ lương thực thực phẩm, áo quần và tiền nong - quả là bát cơm phiếu mẫu đáng giá ngh́n vàng! Điều quư hóa là phần đông các ân nhân ấy là những người đôi khi không có liên lạc ǵ với tôi trước, nay biết tôi ở vào hoàn cảnh khó khăn th́ giúp đỡ v́ ḷng từ thiện, ngoài ra tôi cũng [trang 171] như bất cứ người nào đi học tập về đều gặp nhiều khó khăn đôi khi khá căng thẳng về mọi mặt”[45].                                                                                         

“Từ cuối đêm 26 rạng ngày 27 tháng 8 năm 1976, đêm đầu tiên tôi trở về lại Đà Lạt sau 16 tháng cải tạo, tại nhà Hoà Lạc của Đại Học Đà Lạt, tôi quỳ gối phỏng ư bài thơ “Lên Đỉnh Cát Minh”, ghi lại những ḍng sau đây:

“Đêm nay mới thật là đêm  
Bao năm lạc bước êm đềm về đây  
Về đây sau những tháng ngày  
Đau thương phúc lạc tràn đầy cả hai  
Bắt đầu tất cả đêm nay:  

B́nh an, phúc lạc, an b́nh, b́nh an”
. [trang 191]

Và sau mấy câu thơ ấy, tự nhiên tôi thay đổi chữ kư.

Trước th́: [chỗ này có chữ kư dài]

Nay đổi sang như sau: [chữ kư tắt]

Sự thay đổi tự nhiên bột phát đêm hôm ấy có phải chăng là dấu hiệu tôi bước sang một giai đoạn mới hoàn toàn mới của cuộc đời? Sự thay đổi mà trước kia bao nhiêu người khuyên tôi, v́ họ cho chữ kư cũ là rất xấu và rất nguy, nhưng tôi đă nhất định không chịu nghe. Đêm ấy, gần như một cách vô thức, vô ư định, tôi đổi chữ kư, một việc làm mà tôi không hiểu do đâu, mà chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên! Và quả thực, cuộc đời tôi đổi mới hoàn toàn”[46].                                                                                            

 “Sau ngày trở về lại Đà Lạt, anh Viện[47] là người đầu tiên đến thăm tôi tại trường Đại học Đà Lạt. Điều đáng nói nhất là trong một buổi toạ đàm do trường tổ chức tại pḥng khách nhà Viện trưởng cũ. Tôi ngồi nghe anh Viện nói chuyện, mà cứ như trong mộng. Thật khó ngờ được rằng lại có cái ngày anh Viện tôi đến thuyết tŕnh cho anh em cán bộ Trường Đại Học Đà Lạt, ngồi tại chính cái pḥng khách ấy! Và lẽ ra, ít nhất tôi cũng được đón anh tôi với tư cách giáo sư duy nhất ở lại Viện Đại Học, lúc toàn ban giáo sư di tản, thế nhưng, lại ngồi nghe anh như một anh ngụy quân đi học tập về chưa có quyền công dân! Tôi thương ḿnh th́ ít mà thương anh th́ nhiều! Chẳng biết thâm tâm anh ra sao, nhưng tôi thấy anh có thương tôi nhiều mới lên thăm tôi để hai anh em chúng tôi phải sống những giây phút khá oái oăm như vậy!”[48]

Trong lúc GS Nguyễn Khắc Dương phải rắc rối với nhiều chuyện nan giải, th́ số phận Viện Đại Học Đà Lạt vẫn được những người làm chủ mới quyết định. Năm 1975, Ban Quân Quản thị xă Đà Lạt và GS Nguyễn Lam Kiều từ phía Bắc vào tiếp quản Viện, phối hợp với nhân viên của Viện “canh gác bảo vệ” cho Viện[49].

 

Chương VI : Khối Hành Chánh    

1. Văn Pḥng Hành Chánh

Gồm các thư kư phụ trách một số công việc khác nhau, điện thoại viên, tùy phái trong Ṭa Viện Trưởng, phụ tá các hoạt động hành chánh cho Viện Trưởng. Viện Trưởng có một Phó Viện Trưởng công tác. Một Tổng Thư kư đôn đốc mọi việc hành chánh và một sống công việc do Viện Trưởng uỷ nhiệm trong văn pḥng Viện. Lần lượt có các Phó Viện Trưởng Nguyễn Ḥa Nhă làm việc dưới thời LM Nguyễn Văn Lập, và ông Trần Quang Diệu làm Tổng Thư Kư. Trước đó, anh Sử[50] nắm nhiệm vụ Chánh Văn Pḥng Hành Chánh ở Toà Viện Trưởng. Đến thời kỳ Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng th́ có LM Hoàng Quốc Trương làm Phó Viện Trưởng nhưng không có chức vụ Tổng Thư Kư. Năm 1972, Lm Viện Trưởng bố trí GS Đỗ Hữu Nghiêm làm Phụ Tá Hành Chánh[51] cho Viện Trưởng trông coi việc hành chánh[52].

Ṭa nhà hành chánh (Ḥa Lạc) Viện Đại Học Đà Lạt gồm các ông Phan Phát Tường, Nguyễn Viết Khai, Nguyễn Hữu T́nh, Nguyễn Đức Hảo.

Hầu hết các nhân viên kế thừa từ nhiệm kỳ của LM Viện Trưởng tiền nhiệm Nguyễn Văn Lập. Một vài vấn đề khó khăn tự nhiên trong giai đoạn chuyển tiếp nhiệm kỳ giữa Viện Trưởng mới và cũ về tâm lư của những người cùng cộng tác nhưng chưa hiểu nhau rơ và chưa ḥa đồng được ngay. Có những khó khăn do tŕnh độ đào tạo, địa phương của một số người. Nhưng cách xử dụng người theo tinh thần bác ái nhân bản không thể một sớm một chiều làm thay đổi tất cả.  Nhưng rồi mọi việc vẫn diễn tiến êm xuôi ít ra trước mắt cho đến ngày 30/3/1975 ở vùng Đà Lạt

2. Pḥng Liên Lạc tại Sàig̣n: Viện có một Văn Pḥng Liên Lạc tại Thương xá Tax ở Sàig̣n, do Ông Đỗ Văn Thành phụ trách chung vào giai đoạn năm 1971-1974.

Một trong những hoạt động chính yếu của Pḥng Liên Lạc là chuẩn bị việc đưa rước các giáo sư đi Đà Lạt để dậy học và đưa các vị đó về lại Sài g̣n. Pḥng Liên Lạc mua vé máy bay cho các giáo sư nào muốn đi đường hàng không hay điều chuyển xe chuyên chở các giáo sư nào muốn đi lại bằng đường bộ.

Văn pḥng này lúc đầu đầu được đặt tại số 262 Trương Minh Giảng Sàig̣n 3. Nhân sự gồm một Trưởng Pḥng với một vài thư kư và tài xế. Khi Ban Cao Học CTKD được thiết lập tại Sàig̣n và khai giảng ngày 11/1/1969 tại Lầu II, Ṭa Nhà Thư Quán Xuân Thu và Trường Taberd. Sau đó Cơ sở trường chuyển sang Lầu II, Thương Xá Tax, đường Nguyễn Huệ Sàig̣n 1 th́ Văn Pḥng này cũng chuyển theo.

Chương VII  : Khối Tâm Linh

1. Nguyện Đường:

Khu nguyện đường đi liền với sinh hoạt tâm linh này, năm 1970-1975, có một Lm tuyên úy sinh viên là Lm Lă Thanh Lịch cũng từ Gp Cần Thơ, gốc Gp Hà Nội lên phục vụ.

Nguyện đường Năng tĩnh là kiến trúc biểu trưng cao đẹp nhất của lư tưởng phục vụ của Viện Đại Học Đà Lạt. Ngôi thánh đường được xây dựng ở khu đất trang trọng, uy nghi, trên đỉnh đồi cao nhất khu A được san bằng. Thánh đường được thiết kế theo đồ h́nh tổng quát là tam giác, phù hợp với ngọn tháp tam giác cao vút lên trời xanh, biểu tượng huyền nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, cao 38 mét.

Toàn thể cấu trúc ấy hiển nhiên nói lên quan hệ Trời Đất Người – Thiên Địa Nhân, trong tâm thức giao lưu của văn hóa Á Đông cổ truyền - triết lư Tam Tài. Trước Ṭa Nhà Năng Tĩnh là một sân trải sỏi đất đỏ được vẫn dùng làm nơi tổ chức những buổi lễ tiếp đón quan khách hay nghi lễ truyền thống, kỷ niệm như lễ quan thầy của Viện và lễ phát bằng tốt nghiệp hằng năm. Nguyện Đường này là nơi cử hành thành lễ hằng ngày của Linh Mục Viện Trưởng và các Linh Mục sinh hoạt trong Viện Đại Học phục vụ tại chỗ hay từ nơi khác đến. Thời LM VT NguyễnVăn Lập, thánh lễ hằng ngày được cử hành ở ṭa nhà có văn pḥng Viện

H́nh ảnh một nguyện đường đại học

Kư ức sau này của một nữ sinh viên cho thấy cảnh đầy trang trọng tôn nghiêm của khu Năng Tĩnh bây giờ tiêu điều thế nào:

Đầu năm 1976, có ba GS ở Hà Nội được đưa vào tiếp nhận thay thế: GS Hiệu Trưởng Trần Thanh Minh, GS Phó Hiệu Trưởng Phạm Bá Phong và anh Nguyễn Hữu Mỹ. Ba người t́m đến anh Hương B́nh, một sinh viên cũ của Viện, giúp chấn chính lại máy móc kỹ thuật trong Văn Pḥng Viện. Rồi theo chỉ đạo của Ban Giám Hiệu mới, Hương B́nh phải làm một ngôi sao năm cánh, lắp trên tháp Năng Tĩnh, bao phủ mà không đập bỏ cây Thánh Giá một cách phũ phàng, kịp ngày khai giảng niên khóa 1976-77.

Ở thời điểm ấy, đưa ngôi sao lên đỉnh tháp cao 38 m không phải là chuyện đơn giản, nên anh Hương B́nh yêu cầu có chừng hai mươi người phụ giúp. Trong số đó có ba người leo lên tháp là GS Nguyễn Hồng Giáp, anh Trần Tưng và Nguyễn Vinh Quang cùng với Hương B́nh lấy bù long xiết chặt các cánh ngôi sao ôm chặt cây Thánh Giá.

Cho đến ngày hôm nay, cây Thánh Giá, biểu tượng cho tinh thần Công giáo Thụ Nhân, vẫn sừng sững vững vàng trong ḷng ngôi sao, như đang giang đôi cánh tay đỡ ngôi sao đứng ngạo nghễ giữa Khung Trời Đại Học[53]. H́nh ảnh ấy phải chăng ám chỉ đă đến thời người Cộng Sản phải xây dựng chủ nghĩa trên nền tảng Công Giáo lấy t́nh thương thay cho hận thù giai cấp chồng cao ngất trời!?

Nhưng dưới con mắt của nhiều cựu sinh viên khác, những cảm nhận được biểu lộ khác, có phần cay đắng, buồn tủi, pha lẫn bàng hoàng, ngỡ ngàng như t́nh cảm và niềm tin linh thiêng nhất của ḿnh bị những con người có hành động bạo tàn xúc phạm:

“Những bước chân vô thức dẫn tôi dần trở lên khu Năng Tĩnh tự lúc nào. Tôi ngước nh́n ngọn tháp Năng Tĩnh, biểu tượng tôn giáo đă được thay thế, một nỗi buồn ùa đến trong tôi trước cảnh vắng ngắt của sân Năng Tĩnh, nơi cách đây không lâu chúng tôi đă nhộn nhịp dự lễ phát bằng ra trường…

Tôi bước lên cổng chính Năng Tĩnh và thực sự cảm thấy kinh hoàng và bị xúc phạm đến ḷng tin tôn giáo của ḿnh, khi đập vào mắt tôi là h́nh ảnh những chiếc nồi, xoong chảo quánh, đen thui, treo lủng lẳng trên bức tường chính của gian giữa, nơi có bàn thờ, mà tôi đă từng dự thánh lễ. Bàn thờ xưa giờ là chiếc bàn đá trơ trụi, đă biến thành bếp tập thể, rất lộn xộn dơ bẩn. Quanh Năng Tĩnh, các pḥng nghỉ của Giáo sư từ các nơi lên Đà Lạt lưu lại trong thời gian giảng dậy tại đây ngày xưa, nay đă biến thành nhà ở tập thể, các dẫy ghế ngồi trong gian chính chỉ c̣n mấy chiếc, không nguyên vẹn, chiếc th́ chỏng gọng, chiếc th́ mất chân. Thật là một cảnh tượng xé ḷng”[54].

Ôi! một cuộc đổi đời “hạnh phúc (!?)” mà biết bao người đă “đón nhận” bằng cách chạy trốn, kể cả hiểm nguy đến sinh mạnh của ḿnh!

2. Tuyên Úy Vụ

a. Linh Mục Tuyên Úy được thành lập từ năm 1959 cho một tập thể sinh viên nhỏ bé ban đầu. Nhiệm vụ chính của Tuyên úy là “phát huy văn hóa Việt Nam trong khía cạnh nhân bản, dân tộc và khoa học, dung ḥa các giá trị cổ truyền quốc gia với mọi tư tưởng quốc tế, nhất là tinh thần Phúc Âm Công Giáo[55]”. Pḥng Tuyên úy c̣n giúp đỡ các sinh viên ngoài Công giáo muốn t́m hiểu đức tin Kitô.  Khi sinh viên Công giáo đông hơn, th́ các sinh viên được qui tụ và tổ chức thành Đoàn Sinh Viên, rồi Liên Đoàn Sinh Viên Công giáo, do các trường hay phân khoa hợp thành. LĐSVCG được các vị LM tuyên úy sau đây lần lượt hướng dẫn:

Palacios, SJ

Phạm Văn Nhượng, gốc giáo phận Phát Diệm

Trịnh Việt Yên, gốc giáo phận Thanh Hóa

Từ năm 1971, Lm Lă Thanh Lịch, gốc giáo phận Hà Nội, sát nhập giáo phận Cần Thơ, được cử nhiệm làm tuyên úy[56].

b. Đoàn Sinh Viên Công Giáo Đà Lạt. Tập thể sinh viên Công Giáo Đà Lạt có tỷ lệ trung b́nh là khoảng 41% (sau Phật giáo là khoảng 45%) theo thống kê tháng 4/1973 trong sĩ số sinh viên ghi danh thụ huấn ở các khoa trong Viện. Đó là một số liệu thanh niên Công giáo tương đối cao trong một nước mà đa số không phải là Công Giáo

LĐSVCGĐL qui tụ các đoàn sinh viên thuộc các đại học xá: B́nh Minh, Kiêm Ái, Trương Vĩnh Kư, Trinh Vương và sinh viên ngoại trú. Ban Chấp Hành LĐ gồm các chức vụ Chủ Tịch, Tổng Thư Kư và hai Ủy Viên Nội và Ngoại Vụ, làm việc chặt chẽ với Ban Chấp Hành các đoàn hội viên.

Các hoạt động SVCG được các Pḥng chuyên biệt phụ trách. Pḥng Cố Vấn và Nội Vụ lo Ca Đoàn Thụ Nhân, ca đoàn Phụng vụ, Tĩnh Tâm, Giáo Lư và Truyền bá Phúc Âm. Sau cùng, Pḥng Nội vụ cũng hợp tác với Đoàn Thanh Niên Công Giáo Đại Học (JUC) tổ chức thuyết tŕnh và ấn hành nội san Năng Tĩnh để thông tin và huấn luyện. Pḥng Ngoại vụ cùng Ban Chấp Hành mỗi đoàn lo các hoạt động đối ngoại và xă hội, quốc nội cũng như quốc tế

LĐSVCG Đà Lạt cũng giao lưu sinh hoạt với LĐSVCG các nơi như Sàig̣n, Huế và sau này Cần Thơ lập nên một Tổng Liên Đoàn SVCGTQ, từ sau chính biến 1/11/1963.

Ba phái đoàn sinh viên Công Giáo Sài g̣n, Đà Lạt và Huế gặp nhau tại Trung Tâm Phục Sinh ở Sàig̣n vào đúng ngày 1/11/1963. Ngày thảo luận về qui chế tổ chức và hoạt động của giới sinh viên Công giáo toàn quốc lại là ngày đất nước Việt Nam đi vào một chiều hướng chính trị mới. Ngày 2/11/1963, các thành viên của ba phái đoàn sinh viên vẫn lặng lẽ kiên tŕ làm việc cẩn trọng.

Kể từ khi thành lập TLĐ/SVCGVN th́ TLĐ trực thuộc hệ thống Phong Trào SVCG Quốc Tế Pax Romana (MIEC). TLĐ/SVCGVN được điều hành bởi Văn Pḥng Tổng Thư Kư, TLĐ/SVCGVN, gồm có Tổng Thư Kư, Phó TTK Nội Vụ, Phó TTK Ngoại Vụ và Thủ Quĩ.

Hội nghị bầu cử một Ban Chấp Hành Lâm Thời, gồm các thành phần sau đây:

Chủ Tịch: Đào Duy (Đại Học Sàig̣n)

Phó Chủ Tịch: Lê Thị Thiện (Đại Học Đà Lạt)

Tổng Thư Kư kiêm Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Đương (Đại Học Huế)

Ban Tuyên Úy của TLĐ gồm có các Lm Nguyễn Huy Lịch (Sàig̣n), Nguyễn Ḥa Nhă (Đà Lạt) và Nguyễn Văn Trinh (Huế).

 Tổ chức TLĐSVCGVN được tài trợ từ TGM Nguyễn Văn B́nh (1000$ làm quỹ hoạt động ban đầu), và Lm Nguyễn Văn Lập, Viện Trưởng Viện Đại Học Đà lạt.

Chính vào khoảng năm 1966, LĐSVCGSG, Đoàn SVCG Huế, Đoàn SVCG Đàlạt (năm sau mới có Đoàn SVCG Cần Thơ) họp tại Sàig̣n, đồng ư tiếp tục xúc tiến tổ chức Tổng Liên Đoàn SVCGVN, đặt trụ sở và BCH tại Sàig̣n.

Phái đoàn Đà Lạt gồm có:

Nguyễn Sĩ Bạch (VK), Chủ Tịch (nay là Thầy Sáu, Houston, TX),

Huỳnh Đắc Chương (CTKD), Phó Chủ Tịch (nay Thầy Sáu, Houston, TX)

Đặng Đ́nh Soạn (hiện ở Houston, TX).

Năm 1969, Tổng Liên Đoàn SVCG được tổ chức ở Huế, đại diện cho Viện Đại Học Đà Lạt là Nguyễn Sĩ Bạch là Chủ Tịch Đoàn SVCG Đà Lạt, dù có thể NSB đă ra trường[57]. 

Về phương diện tôn giáo, ngày 16/4/1973, Viện cũng thống kê t́nh h́nh tín ngưỡng tôn giáo cho tập thể sinh viên là 3475 người, không kể sinh viên Ban Cao Học CTKD ở Sàig̣n. Đây là một bức tranh liên tôn đẹp đẽ hiếm có trong tập thể sinh viên thuộc nhiều xu hương tín niệm khác nhau cùng chung vai sát cảnh thi nhau học tập để trở nên người hữu ích cho xă hội. Thụ nhân để thành nhân chắn hẳn là một mẫu số chung hay một sợi chỉ xuyên suốt những tấm ḷng các tầng lớp thanh niên ưu tuyển trong xă hội Việt Nam khi đó.

Dù đất nước đang bị chiến tranh xâu xé, họ vẫn tiến lên để giành một vị trí xứng đáng trong công cuộc xây dựng xứ sở thân yêu nhưng đau khổ này. Điều có nhiều ư nghĩa là không phải càng trở nên tri thức th́ người ta càng xa tôn giáo và tín ngưỡng mà trái lại những tín niệm ấy trở nên cần thiết, trưởng thành và sâu sắc hơn. Con người có niềm tin tôn giáo chân chính và thuần thành càng sống nhân bản và vị tha hơn. Điều này cũng chứng minh một chân lư khác là con người càng nhân bản th́ càng gần gũi với tôn giáo, chứ không phải ngược lại như một số chủ trương nào đó. 

 

Biểu đồ 7. T́nh h́nh tôn giáo sinh viên VĐHĐL tháng 4/1973[58]

PhânKhoa

 

 

 

Ch.Trị

K. Doanh

Khoa Học

Sư Phạm

Văn Khoa

Tổng Số Liệu

 

Toàn Viện

Tỷ Lệ

%

 Tín Niệm

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

Phật Giáo

597

229

151

331

1308

45,45%

Tin Lành

014

003

011

019

0047

01,63%

Cao Đài

019

000

002

003

0024

00.83%

Ḥa Hảo

000

000

000

001

0001

00.34%

Khổng giáo

069

021

025

038

0153

05,3%

Gia Tiên

008

007

002

023

0040

01,39%

Công Giáo

344

151

231

445

1181

41,11%

Không TG

311

045

035

059

0450

15,63%

Không rơ

000

88

111

072

0271

07,29%

Tổng Cộng

1362

544

568

991

3475

 

Chú thích: Tỷ lệ đáng chú ư nhất là Phật Giáo, rồi Công giáo, và không Tôn giáo trong một Viện Đại Học Công giáo ở Việt Nam. Nền tảng tin người cổ truyền như Khổng giáo và Thờ Cúng gia tiên không mấy quan trọng trong thực trạng này. Thống kê này cũng toát lên tinh thần liên tôn và dung hợp rất đậm đà nhân bản, dù có hay không có tôn giáo.

Có dự kiến hoạt động tâm linh này phát triển thành một Pḥng Tuyên Úy qui mô hơn trong tương lai, đáp ứng cho khát vọng và niềm tin của thanh niên trí thức ưu tú của quê hương và dân tộc Việt Nam.

           

Chương VIII : Khối Phục Vụ Chuyên Biệt

1. Pḥng Quản Lư:

Khoảng năm 1972-75, LM Phan Công Chuyển, từ Gp Cần Thơ, gốc Gp Phát Diệm và Thầy Đinh Quang Trí, Ḍng Đồng Công phụ trách, quản lư bộ phận tạp vụ, trông coi và bảo tŕ các cơ sở vật chất và phương tiện vận chuyển và điện nước, thực phẩm trong Viện.

Từ trước, trong một thời gian sư huynh Théophane đảm lănh trách nhiệm quản lư cho Viện (1964-1968). SH Théophane được mọi người coi là người nội trợ đảm đang cho cha Viện Trưởng. Đi vào chi tiết th́ việc quản lư rất đa đoan khó khăn. Chinh v́ thế công việc quản lư vật chất được quan niệm là một loại công việc chuyên biệt.

Khi ông làm quản lư, th́ vào chính thời gian ấy, tài chánh của Viện phong phú hơn hết. Tài năng xoay sở của GS Trần Long đă giúp cải thiện t́nh h́nh kinh tài cho Viện, đặc biệt dưới thời LM Lê Văn Lư làm viện trưởng. Ông thầm cảm tạ những nỗ lực của GS Trần Long lo cho việc chung.

Không bao giờ thiếu tiền chợ, nên thịt cá, cơm ngon, gạo thơm lúc nào cũng đầy đủ no nê. Có tiền trả thù lao cho các Giáo Sư, nhân viên của viện. Mọi người đều thấy thoải mái kư sổ trước khi lănh lương ra về. Đúng là “Có tiền mua tiên cũng được”, và “Phú quư đa nhân hội”

VĐH phải tự cung cấp nước dùng hằng ngày. Có lúc t́nh h́nh cung cấp nước khó khăn. Nước được bơm từ sườn đồi lên bể lọc ở đỉnh đồi khu Năng Tĩnh rồi phân phối lại cho các ṭa nhà ở các cao độ thấp hơn. Hồ cạn, thường Quản lư Viện phải điều đ́nh với nhà máy nước Đà Lạt, xin nước đổ vào giếng của Viện, để bảo đảm cho mọi sinh hoạt b́nh thường trong viện

Phải luôn luôn dự trữ xăng đầy đủ để bảo đảm xe chạy đều đặn, đưa đoàn giáo sư lên xuống sân bay Liên Khương, nhất là khi vận chuyển khó khăn. Xăng cần thiết cho mọi loại hoạt động bất thường khác như đưa sinh viên ốm đi bệnh viện, và vô vàn thứ việc không tên đột xuất khác. Quản lư lo trữ xăng, c̣n phải giữ xăng cẩn thận. Nếu không, có thể gây cháy nổ nguy hiểm…

Qua vai tṛ ấy, SH để lại một kho tàng kinh nghiệm giao tế nhân sự trong môi trường Đại Học Thụ Nhân. Để làm tṛn trách nhiệm quản lư, SH thấy cần phải sống chan ḥa b́nh dị. Ông thực sự đă sống gần gũi đặc biệt với mọi người mà Văn pḥng Quản Lư chịu trách nhiệm trực tiếp. SH biết pha tṛ cười trong lúc cần giảm bớt căng thẳng. Là một nhà giáo dục, SH không bao giờ bi kịch hóa chuyện làm việc chung với nhau ở bất kỳ hoàn cảnh nào.

SH Théophane coi việc đắc nhân tâm là một bí quyết quản lư quan trọng trong giao tế nhân sự và xă hội. Học hỏi tâm lư học, tâm tính học, đạo đức học trong sách vở, ông c̣n rút tỉa kinh nghiệm sống lâu năm với nhiều người, từng trải về tâm lư giáo sư và sinh viên, tim hiểu tính tính mọi loại người Trung Nam Bắc, Tây Tàu. Thời gian du học của ông ở Rôma, sống chung với bốn mươi sư huynh dị chủng là một trường học kinh nghiệm quốc tế về giao tế cộng đoàn. SH thấy phải sống đời sống nội tâm sâu xa, để tự biết ḿnh chính xác, th́ ḿnh sẽ hiểu người. Câu châm ngôn ở cửa miệng người đời “Suy bụng ta ra bụng người” là ch́a khóa dẫn đến thành công mà SH cố áp dụng trong những năm làm việc ở Viện Đại Học Đà Lạt.

SH Théophane chú ư t́m hiểu sở thích của từng Viện Trưởng như một “nhà t́nh báo thượng thặng”, nhưng chỉ để làm vui ḷng nhau. Cha Lập th́ thích hút cigare, nên có ai cho, th́ SH liền đem biếu cha Lập. Cha Lư th́ sống khổ hạnh, không hút thuốc mà cũng không uống rượu, chỉ ghiền tennis mà thôi. Cha Lư thường hay nhắc nhở mọi người câu nói bất hủ gây ấn tượng thật mạnh mẽ như một điệp khúc: “Rồi cũng chết!”. Ngài cũng thích vui đùa với SH Théophane như hồi hai người c̣n là bạn học thời thơ ấu ở Hà Nội. Sau này SH mới có cơ hội cộng tác với những Linh Mục khác, như cha Vũ Minh Thái tươi trẻ và dễ tính.

Ông làm quen thân với từng nhân viên dưới quyền, t́m hiểu các nhu cầu của họ. Họ cần thứ ǵ, như thuốc men, th́ ông giúp, có gạo, có quà th́ ông cũng nhớ phân phối cho họ, chia sẻ với họ. Sư huynh nhớ một điều họ thích nhất là đề nghị cha Viện Trưởng chia đất trồng trọt cho họ. Linh Mục Viện Trưởng Lê Văn Lư đă đồng ư cho họ đất đai làm của riêng với văn tự chính thức kèm theo.

Nhiều bài học sư huynh đúc kết được trong cuộc sống: Phải rất tế nhị với những người nghèo túng và ít học làm việc chung với ḿnh, ứng xử công b́nh với mọi người. Chớ quở trách ai mà không có lư do rành mạch; hăy rất b́nh tĩnh nhă nhặn khi bị chỉ trích.

Mấy tháng trước biến cố 30/4/75, sư huynh nhận được một lá thư như đùa bỡn nhưng có tính tiên tri: “Chúc Frère ở lại măi măi trong Viện để cho sinh viên và nhân viên trong Viện được gặp Frère cới cái áo ḍng thâm và cái cổ trắng mỗi ngày. Nhưng có người lại nói: “Frère ơi! rất tiếc là chúng ḿnh phải ly biệt nhau. Frère ở lại đây không được lâu đâu…”

2. Nhà khách Năng Tĩnh

Thực tế đây là nhà khách văng lai dành cho các giáo sư thỉnh giảng cư ngụ tạm thời trong thời gian lên giảng dậy hay công tác tại Viện Đại Học Đà Lạt. Được bố trí ở nơi gần thánh đường nhất và ở nơi cao nhất, thể hiện tinh thần “tôn sư trong đạo”, và “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”, mỗi căn pḥng trên Ṭa nhà này được trang bị đầy đủ tiện nghi như một pḥng khách sạn. Ngay bên ngoài khu pḥng cá nhân là một pḥng khách lớn liên hợp với nhà cơm. Một phần ṭa nhà Năng Tĩnh dùng làm pḥng riêng của Lm Tuyên Úy và các bàn thờ phụ dùng để các Linh Mục giáo sư cần dâng thánh lễ mỗi buổi sớm, khi công tác trên Viện Đại Học.

Sư huynh làm việc trên Năng Tỉnh, ân cần tiếp đón các giáo sư, lo pḥng nghỉ ngơi, chuẩn bị bữa ăn ngon miệng, sắp đặt tiền lương giáo sư và trao tận tay cho từng người trước khi họ rời Đà Lạt trở về Sài g̣n. Ông c̣n nuôi thỏ chuẩn bị những món ăn đặc biệt tiếp đăi các GS[59]. Đó là món civet lapin. Nhà bếp học cách làm món này thật thơm ngon hợp khẩu vị, nấu với rượu trắng hoặc bia. Ông c̣n pha chế thêm rượu anh đào và có cả Bénédictine, Cointreau mà phụ huynh sinh viên khi lên Đà Lạt thăm con, đem biếu tặng sư huynh.

3. Sinh Viên Vụ.

Tổ chức Sinh Viên Vụ được h́nh thành từ niên học 1970-71, có mục đích tạo điều kiện cho mọi sinh hoạt của sinh viên, ngoài chương tŕnh giảng huấn trực tiếp. Tất cả đều là môi trường giáo dục để sinh viên tập luyện và phát triển toàn diện nhân cách về các đức tính và tác phong lănh đạo, giao tế xă hội, nghệ thuật ăn nói trước công chúng và thể dục thể thao. Những sinh hoạt sinh viên cũng là nơi cho họ gặp gỡ trao đổi, phát triển t́nh thân hữu.

Tổ chức sinh viên. Một Ban Đại Diện Sinh Viên Liên Khoa có nhiệm kỳ một năm, do Ban Đại Diện các Phân Khoa và các Đại Học Xá  (Trương Vĩnh Kư, Kiêm Ái, B́nh Minh) bầu lên. BĐD có CT, PCT, TTK, TQ và nhiều Ủy viên. Dưới có các Nhóm (theo Ban học), Lớp. Sinh Viên Đà Lạt gồm nhiều đoàn thể: nào Tôn giáo (SV Phật Tử, Công Giáo, Thanh Sinh Công), nào Văn hóa (Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Công Tác Xă Hội, Kappa Delta, Scipéco, Hoài Băo, Sinh Viên Phụng Sự Khoa Học, kịch đoàn Thụ Nhân), hay Địa phương (Sinh Viên Đất Quảng, Huế, Cần Thơ, Biên Ḥa, Nha Trang, Phú Yên, Cam Ranh, B́nh Định, Quảng Ngăi, Phan Rang, Lâm Đồng)

Tổ chức sinh viên ngoài chương tŕnh giảng huấn trực tiếp này cũng đồng thời được phát triển ở cơ sở Trường CTKD tại Sàig̣n, đặt trụ sở tại Lầu II, Thương Xá Tax, 135, Nguyễn Huệ Sàig̣n, do Ông Dương Hiệp Nghĩa làm phụ tá.

Sinh Hoạt Sinh Viên. Trung Tâm Sinh Viên được xây dựng tại Đà Lạt với tài trợ của tổ chức Asia Foundation năm 1972. Vừa được thiết lập, TT đă có nhiều loại sinh hoạt đa dạng được tổ chức, như bầu cử Ban đại diện Lớp, Tổng Hội Sinh Viên Viện, Ngày Huynh Đệ (tựu trường), Ngày Cựu Sinh Viên (do Hội Cựu Sinh Viên Đà Lạt), Lễ Ra Trường (Đầu năm dương lịch), Ngày Sinh Viên, Ngày Đại Học (Giới thiệu Dại Học và Cao Đẳng cho học sinh lớp 12 ở thị xă Đà Lạt). Sinh viên c̣n tổ chức những cuộc họp mặt lớn như Trại Sinh Hoạt Liên Viện, Trại Nối Ṿng Tay Lớn, Công Tác Thiện Nguyện. Sau cùng là các tập thể sinh viên nhỏ hơn tổ chức Picnic Thân Hữu, Báo Chí, Văn Nghệ, Bầu Cử, Học Tập, Du Khảo, Diễn Thuyết, …

Năm 1970-1973, LM Vũ Minh Thái làm giám đốc có LM Nguyễn Hữu Toản và GS Đỗ Hữu Nghiêm làm phụ tá cùng với một số nhân sự cộng tác như sinh viên Nguyễn Văn Năm sinh viên SP/VK, huấn luyện viên thể thao Nguyễn Văn Khiêu. Cơ quan sinh viên vụ quản lư tất cả các hoạt động sinh viên, như Trung Tâm Sinh Viên. Ớ đó, có quán cơm sinh viên do tu sĩ Đồng Công hợp tác với các nữ tu Tu Hội Tận Hiến, với LM Giáo sư Nguyễn Việt Anh làm Trưởng Tu Hội. Đoàn Sinh Viên Công giáo đă do LM Nguyễn Ḥa Nhă, gốc Bắc Ninh, thuộc Gp Sài g̣n, làm tuyên úy một thời gian. Ban thể thao phụ trách các sinh hoạt và cơ sở thể dục thể thao sinh viên, và hoạt động du lịch của sinh viên nhưng c̣n thiếu huấn luyện viên.

Trước năm 1970, dưới thời Giáo Sư Trần Long và năm 1971, khi Giáo Sư Phó Bá Long nhận chức Khoa Trưởng Trường CTKD, Giáo Sư Ngô Đ́nh Long đều được cả hai vị cựu và tân Khoa Trưởng tín nhiệm và đề cử giữ chức vụ Phó Khoa Trưởng Trường này.

Giáo Sư Ngô Đ́nh Long giữ chức vụ này đến năm 1973 th́ được Linh Mục Viện Trưởng Lê Văn Lư bổ nhiệm làm Giám Đốc Sinh Viên Vụ do. Nhiệm vụ Phó Khoa Trưởng được trao lại cho Giáo Sư Tạ Tất Thắng. Ở chức vụ mới này, Giám Đốc Sinh Viên Vụ đă có dịp cộng tác mật thiết với các anh chị em sinh viên trong Ban Kịch Thụ Nhân, các ban nhạc, cũng như các hội đoàn sinh viên sắc tộc, thể thao[60], v.v. Các vị tiền nhiệm như LM Vũ Minh Thái, và lăo thành như SH Théophane Nguyễn Văn Kế, tiếp tục làm cố vấn cho hoạt động sinh viên vụ[61].

Nội Qui Sinh Viên. Đề điều ḥa các loại hoạt động của sinh viên, Viện ban hành một Nội Qui Sinh Viên. Nội Qui này gồm 37 điều được chia làm Năm Chương: Ch. I (mục đich và tôn chỉ, 1-2), Ch. II (nhập học, kỷ luật học vấn, tác phong sinh viên, 3-10), Ch. III (những quyền lợi sinh viên, 11-27), Ch. IV (biện pháp chế tài, 28-34), Ch. V (viễn ảnh tương lai, 33-37)

Một sinh hoạt khác do Sinh viên Công giáo phối hợp với Lm Tuyên Úy là tổ chức một ca đoàn và ban hợp xướng sinh viên thật điêu luyện, nhưng việc này chưa được kiên tŕ liên tục v́ thiếu các Linh mục và giáo sư chuyên môn và say mê các bộ môn âm nhạc này, tuy một thời gian LM Ngô Duy Linh, nhạc sư Trần Hải Linh, nhạc sĩ Hùng Lân từng tham gia hoạt động, giảng dậy trong Viện này. Sau chuyến đi tu nghiệp tại Pháp, LM Ngô Duy Linh không bao giờ trở lại Viện Đại Học Đà Lạt nữa. Hơn nữa sinh viên sau khi tốt nghiệp, th́ không c̣n sinh hoạt trong ca đoàn dành riêng cho sinh viên, nên có nhiều khó khăn

4. Các Cư Xá Sinh Viên

Đại Học Xá Nữ Sinh Viên. Cư xá này được thành lập năm 1960 tại đường Trương Vĩnh Kư dành cho nữ sinh viên.

Đầu năm 1971, các nữ sinh viên được chuyển từ đại học xá Trương Vĩnh Kư vào trong đại học xá B́nh Minh.

Với nhu cầu phát triển, một học xá nữa được thiết lập dành cho nữ sinh viên, mang tên Kiêm Ái. Thực ra học xá này đă xuất hiện từ năm 1962, dành riêng cho nữ sinh nguyên là nữ tu, ở phía Tây Đồi Năng Tĩnh. Khu này được tổ chức gồm bốn “Lầu” với những tên rất thánh thiện: Khiêm Ái, Từ Ái, Nhân Ái. Sinh viên thường gọi chung là các lầu “Từ Ái” đủ chỗ sinh hoạt cho khoảng 80 sinh viên. Các nữ sinh viên được săn sóc theo từng cụm 20 người và có một Chị Cả trông nom săn sóc. Khoảng năm 1971-1975, các nữ tu ḍng MTG Thanh Hóa được mời làm quản nhiệm coi sóc hai cư xá trong khuôn viên của Viện.

 

Biểu đồ 8. T́nh h́nh cư xá sinh viên VĐHĐL, 1957-1973[62]

Niên khóa

T́nh h́nh cư xá

Trương Vĩnh Kư

Kiêm Ái

B́nh Minh

Lưu sinh

Giám đốc

Lưu sinh

Giám Đốc

Lưu sinh

Giám Đốc

1957-58

75

Tr.V.Thiện

 

 

 

 

1958-59

76

 

 

 

 

 

1959-60

76

 

 

 

 

 

1960-61

77

 

 

 

50

CôTrt Điều

1961-62

78

N.H. Nhă

 

 

50

 

1962-63

102

 

15

 

50

 

1963-64

140

NgD. Linh

15

 

50

 

1964-65

150

 

20

NDLinh

80

Nt NTLan

1965-66

182

 

20

 

80

 

1966-67

190

 

20

 

80

 

1967-68

198

TV Bích

20

 

90

Nt Tt Hường

1968-69

205

TrVNghiêm

48

B. T.Long

100

 

1969-70

185

 

48

 

120

Nt Tt Thương

1970-71

175

 

82

Nt Tt Yến

180

 

1971-72

080

ĐN Hưởng

82

 

180

 

1972-73

080

 

82

 

180

Nt Mt Thêm

Tổngcộng

2069

6 GĐ

 452

3GĐ

1110

5 GĐ

Chú thích: 1/Từ 1958-1973, VĐHĐL quản nhiệm ba cư xá sinh viên. Tổng cộng có (2069+1110+452)= 3637 lượt nam nữ sinh viên lưu trú, với 14 giám đốc khác nhau. Giám Đốc đầu tiên là chính LM Viện Trưởng Trần Văn Thiện, và ba giám đốc cuối cùng là LM Đặng Ngọc Hưởng, hai nữ tu MTG Thanh Hóa là Trần Thị Yến và Mai Thị Thêm, chưa kể cư xá sinh viên Rạng Đông do các tu sĩ ḍng Đồng Công quản nhiệm.

2/Thời điểm nhiều sinh viên lưu trú nhất có thể là niên khóa 1970-71: (175+82+180)= 437 sinh viên

3/ Đại học xá lâu đời nhất là Trương Vĩnh Kư (1958-59), rồi đến B́nh Minh (1960-61), Kiêm Ái (1962-63)

 

Học xá nam sinh viên ban đầu. Đại Học Xá Nam Sinh Viên từ niên học 1957-1958, có ba khu ABC trong khuôn viên của Viện. Thời LM Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng, khi Trường CTKD bắt đầu hoạt động, những dăy nhà B́nh Minh dùng làm đại học xá cho nam sinh viên. Lúc đó có khoảng 100 nam sinh viên. Vào mùa hè năm 1965, khi cha Ngô Duy Linh c̣n làm giám đốc, một số sinh viên KD1 như Vũ Văn Thượng, Dương Tấn Hải, Tôn Thất Tạo, Hồ Quang Nhựt được phân bổ cư trú ở trên dăy lầu II của khu học xá  này.

Đại Học Xá B́nh Minh gồm ba dăy nhà trệt. Không biết tên của mấy dăy nhà này bắt đầu từ đâu và khi nào. Nếu chỉ nghe tên gọi mà chưa đến hay sinh sống tại đó, th́ rất khó hiểu. Nào là dăy lầu một, dăy lầu ba, dăy lầu bốn và dăy lầu năm mà thực sự chỉ có ba dăy nhà trệt. Tiếng “lầu” được thi vị hóa, phải chăng v́ mỗi dăy nhà ở trên cao độ khác nhau, cho cả khu Đại Học xá B́nh Minh lẫn Kiêm Ái?

Chính mùa hè năm đó ở đây có câu truyện ma kinh dị mà Dương Tấn Hải kể lại. Cha Ngô Duy Linh tin rằng có quỷ đến quấy phá, nên sau câu truyện đó đă đích thân lấy nước thánh rẩy khắp các pḥng của sinh viên để trừ quỷ. Thực ra khung cảnh Viện Đại Học Đà Lạt lúc đó c̣n thưa thớt sinh viên, và đại học xá lại ở chỗ tương đối xa vắng, nên những chuyện kinh dị giàu tưởng tượng, như Dương Tấn Hải KD1 ghi lại thường dễ xảy ra. Khi Linh Mục Ngô Duy Linh đi du học tu nghiệp âm nhạc tại Pháp, th́ Sư Huynh Trần Văn Nghiêm làm Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên.

Muốn được nhận vào học xá. Nhu cầu trọ học của sinh viên rất lớn, v́ đây là trường đại học ở cao nguyên có khí hậu khá lạnh. Thường lưu trú sinh là những sinh viên năm thứ I có giấy giới thiệu của các ḍng tu hay linh mục ở những cơ sở, xứ đạo tin cậy. Sinh viên phải chấp hành nội quy tối thiểu là giữ trật tự, chăm học, tôn trọng đời sống chung và tạo môi trường thuận lợi cho việc học vấn. Sinh viên học đến năm thứ III thường phải nhường chỗ cho nhưng người mới tới và không thuê được nhà trọ ở bên ngoài Viện.

Cuộc sống sinh viên học xá rất đơn giản: sinh viên muốn dùng nước nóng để tắm hay nấu ḿ gói, thường nhúng giây điện trở vào nước hay dùng bếp dầu hôi.  C̣n việc nấu ăn chung đều do các nữ tu Tu Hội Tận Hiến phụ trách ít nhất từ niên khóa 1970-71 hay 1971-1972. Sinh viên thường thấy khó ăn, theo thực đơn được lặp lại nhiều lần gồm những món giản dị, như canh khoai môn nấu với tôm khô có rau th́ là![63]

Khi số sinh viên ngày càng đông, th́ trong khuôn viên của Viện, hai học xá dần dần dành hết cho các nữ sinh viên từ xa đến lưu trú. Đó là Cư xá Kiêm Ái song song với đường Hùng Vương gần ngă tư Phù Đổng Thiên Vương, và B́nh Minh ở sâu trong sườn đồi phía Đông, gần Trung Tâm Nguyên Tử Lực hơn.

C̣n các nam sinh viên được chuyển đến Cư Xá Trương vĩnh Kư ở khu chợ Đà Lạt, trước kia dành cho các nữ sinh viên. Nguyên do chính của việc hoán chuyển nữ sinh viên Trương Vĩnh Kư với nam sinh viên B́nh Minh lại từ câu chuyện “ma”.

Lại chuyện ma tái diễn khá dai dẳng. Hôm đó là một đêm học mùa thi năm 1970, một nhóm “ma” sinh viên hiện h́nh với Trần Thế Hào KD6 làm “ma cà kheo” về hùa với Đồng Lương Nhơn KD7 và một số “ma chơi” khác. Từ cư xá nam sinh viên, “mấy con ma” rủ nhau ẩn núp thấp thoáng trong lùm cây trên lối dốc đồi khuất hẳn giữa hai hàng cây ven đường. Thế rồi, đợi mấy cô sinh viên lên trễ hay đi học khuya từ trên thư viện trở về Kiêm Ái đang măi nói chuyện, “ma cà kheo” lênh khênh chợt hiện ra … Mấy cô chạy ù té, thất kinh, hét lên “ma, ma, ma…”. Đám sinh viên nữ đang cười nói bị một phen … kinh hoàng… gặp ma…Nữ tu giám đốc Trần Thị Yến phải điên đầu đối phó với lũ “ma cà kheo”.

Một kư túc xá Nam sinh viên Rạng Đông được xây dựng gần bên đường Thông Thiên Học trên khu B của Viện Đại Học Đà Lạt. Cư xá này do chính các tu sĩ Ḍng Đồng Công trông coi xây dựng và quản lư trực tiếp, có lẽ bắt đầu từ thời LM Lê Văn Lư.

Một số sinh viên cư ngụ tại một vài kư túc xá bên ngoài Viện phần nhiều do các ḍng tu thiết lập (Trường Nazarét, Trường Adran, Trường Oiseaux, Ḍng Mến Thánh Giá Thanh Hóa, Tu Hội Tận Hiến, Nhà thuê ở phố gần Viện...)

Sinh viên học xá: chuyện dài bất tận. Sau 1968, SH Théophane vào Đại Học Xá Nam sinh viên với tư cách Phu Tá Giám Đốc cho SH GĐ Trần Văn Nghiêm.

*Công việc của Học Xá thật bề bộn:

Thế rồi nào là chăm lo cho sinh viên, giữ ǵn trật tự, chăm sóc sức khỏe, trông nom đôn đốc cho họ đi học đều đặn liên tục, nào là thúc dục họ đóng tiền đầy đủ và đúng thời hạn theo qui định. SH từng nói làm cảnh sát bọn học tṛ con trai không dễ dàng chút nào. SH nói như một chân lư vững chắc muôn đời: “Thằng con trai th́ luôn luôn vẫn là thằng con trai”

Quả nhiên SH phải điên đầu lo cho bọn trẻ, mất ăn mất ngủ. Thường đến 12 giờ đêm, các sinh viên học khuya mới kéo từ Thư viện về pḥng ngủ, đi ngủ và hay đi qua pḥng của ông. Đám sinh viên nghịch ngợm đủ tṛ, muôn h́nh vạn trạng. Có tối vừa đi vừa rao to Phở! Phở!, có tối lại thay mó n “Gà!”, hay có đêm vừa chạy vừa hát to: “Cái nhà là nhà của ta, Frère Kế Frère Nghiêm làm ra…” Có khi cả toán dậm bước theo nhịp quân hành, dù sinh viên nào chả ngán đời lính! Dường như sinh viên diễn đủ tṛ khuây khỏa trước khi yên thân ném xác vào giường đi ngủ. “Nhất quỉ nh́ ma thứ ba sinh viên đại học”, nhất là sinh viên CTKD …

* Hồi đó sinh viên bất b́nh chuyện bắt lính, hay bắt đi tập trong những tháng hè. Gần bữa trưa nọ, một đám sinh viên kéo nhau đến trước ṭa nhà hành chánh của Viện sát cổng vào. Cả đám hè nhau phá cửa văn pḥng bắt lính, lấy hết hồ sơ ra, chất đống trước sân của biệt thự hành chánh. Bọn thanh niên phóng hỏa tất cả những tên tuổi có trong các giấy tờ bắt lính ấy. Tất cả đều biến thành tro bụi trong chốc lát. Mấy chú lính và sĩ quan phụ trách bắt lính đứng đấy, thản nhiên án binh bất động, trước cửa văn pḥng, chỉ nh́n xem thanh niên tha hồ bạo động. Th́ ra hồ sơ chính thức đă được họ đem đi cất giữ nơi khác an toàn trước rồi!

Cha Viện Trưởng Lê Văn Lư lúc ấy đang bách bộ thong thả ở pḥng riêng của Ngài trên lầu. Ngài nh́n xuống thản nhiên và lặng lẽ theo dơi toàn cảnh hành động của sinh viên dưới sân. Cha Trương, Phó Viện Trưởng th́ nổi cơn tam bành, chạy ra can thiệp, và la rầy đám sinh viên nổi loạn.

C̣n SH Théophane thấy thế liền cưỡi Honda chạy vội ra phố. Lướt nhanh qua chỗ đám thanh niên lộn xộn, SH chỉ nh́n thoáng, không tỏ thái độ, thầm tự nhủ: “Chuyện của tụi nó để chúng lo, ḿnh tội ǵ mà can thiệp, không may chúng đốt cả ḿnh th́ bỏ bố!”.

Đến chiều tối vào nhà cơm, cha Lư góp ư ra chiều suy tư: “Để chúng nó yên, ông Trương ra can thiệp mà làm chi! Dại dột!”. Cha Trương nghe được câu nói đó mà ngán đời!”. Biết đâu. Có thể có những thanh niên bất măn từ phía đối phương được mua chuộc cài lẫn vào đó để gây hỗn loạn lớn trong hàng ngũ sinh viên!?

* Buổi tối về khuya một hôm dưới thời cha Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng, một đám sinh viên đi chơi ở phố về cư xá trong Viện. Đi qua nhà cha Viện Trưởng. Thấy trong nhà đèn tắt tối thui, chúng bèn hè nhau vào thăm mấy con gà trong chuồng của cha. Một chàng nhanh tay vào bóp mỏ mấy con gà bắt về pḥng làm thịt nấu cháo ăn đêm cho đỡ đói ḷng trước khi đi ngủ.

Hôm sau Cha Viện Trưởng Lập biết chuyện đă nói tỉnh bơ: “Gà ḿnh mua về chưa được ăn, chúng nó đói th́ cho chúng xơi, chúng ăn sau này chúng sẽ nhớ trả.”

* Sinh viên ăn cắp hoa hồng đem biếu người yêu. Đây là chuyện xảy ra từ ban đầu trước khi SH Théophane vào VDH, nhưng hầu như đă đi vào kho tàng truyện cổ của những ai từng sống trong Viện Đại Học. Ăn cắp hoa rồi đem hiến cho người t́nh. Theo cảm nghĩ của sư huynh Théophane, anh chàng hay cô nàng sinh viên si t́nh nào đó chỉ có tim mà không có óc. “Le coeur a des raisons que la raison condamne”. Người t́nh mà nhận của gian th́ không phải là người tính đáng yêu. Con trai nào mà nhận của gian là gă si tính hèn mạt hạng bét, đó là hạng mơ trong xă hội! Văn hóa cổ truyền VN vẫn thường coi xă hội có bốn hạng người: thánh nhân, hiền nhân, quân tử, mơ làng. Sinh viên phải bắt đầu là hạng quân tử, biết suy tư và phê phán sáng suốt trong mọi t́nh huống, v́ đấy là điều tối quan trọng trong giáo dục.

* Làm sao mà SH xử sự ổn thỏa được bao nhiêu việc đó? Ông cho biết “Tôi thường lên Năng Tĩnh lần chuỗi và cầu nguyện, để khôn ngoan b́nh tĩnh đối phó với những trường hợp đó.

Đă lo nhiều trách nhiệm cùng một lúc, ông c̣n gặp đủ thứ chuyện với những sinh viên đến tâm sự cùng ông, kể cả t́nh yêu và tội lỗi… Ông t́m được niềm an ủi khích lệ khi thấy sinh viên tin cậy ông. Ông vững ḷng tự tin đế sống ở giữa họ mà không ác cảm, không khinh miệt họ, trái lại yêu thương quư trọng họ như người thân yêu trong gia đ́nh ḿnh vậy. Hai mươi bảy năm dậy học nhiều nơi khác nhau đă giúp SH vượt khó như thế. Làm sao mà biết tha thứ và thông cảm, đó là nhiệm vụ giáo dục, đó chính là sự nghiệp “trồng người”.

*Thời cha Lê Văn Lư làm Viện Trưởng, có đám nữ sinh viên khác ở trong đại học xá làm loạn. Sau cuộc điều tra, Viện phát hiện ra nữ sinh viên đứng đầu là cô Tiên. Lập tức cô được mời lên tham dự Hội Đồng Giáo Sư để nghe những phân tích của mọi người tham dự. Theo ư kiến của Hội Đồng, Cha Viện Trưởng tuyên bố đuổi học, cô Tiên không giải thích, nhưng chắc cô cảm thấy tủi nhục bất măn. Cô nốc luôn mấy viên thuốc tự tử, xùi bọt mép . Có dấu hiệu trụy tim, khó thở. T́nh trạng nguy ngập, v́ cách hành xử nhân ái, Viện phải cấp bách chuyên chở cô vào bênh viện cứu cấp. Hôm sau Cha Viện Trưởng t́m đến sư huynh Théophane cho biết t́nh h́nh.

Sau khi vấn kế kín đáo với cha Viện Trưởng Lê Văn Lư ở Thư Viện, Sư Huynh đến yên ủi cô ở bệnh viện, khuyên cô uống thuốc giải độc và hứa sẽ vẫn cho cô tham dự kỳ thi cuối năm và cô sẽ thi đậu. Vâng lời Sư huynh, cô sinh viên đáng thương đó liền uống xong liều thuốc giải độc. SH tiếp tục vào thăm và khuyên cô hăy yêu đời mà sống, đồng thời trao cho cô một tấm ảnh tượng Đức Mẹ, cùng cầu nguyện cho cô. Một tuần sau, cô Tiên trở lại lớp học, lạc quan yêu đời, và phấn khởi đi vào sinh hoạt b́nh thường[64].

5. Pḥng Y Tế

Được thành lập có thể đồng thời ngay khi Viện Đại Học ra đời. Khởi đầu do BS Hoàng Khiêm thuộc Dân Y Viện (Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Lạt) phụ trách, nhưng hoạt động không liên tục và đều đặn. Từ niên khóa 1972-73, LM Vũ Minh Thái và người viết liên lạc với BS Đinh Văn Chức và y tá Nguyễn Hữu Quảng, phục hồi và tổ chức lại hoạt động y tế trong Viện. Lúc đầu hoạt động lại, Pḥng y tế chỉ giới hạn phục vụ các giáo sư và nhân viên trong viện.

Pḥng y tế khi đó được đặt ở căn đầu tiên dăy nhà Dĩ Lễ là cư xá dành cho các giáo sư và một vài nhân viên, quay ra sân thể thao dưới tầng nền được san bằng vẫn dùng làm sân tennis, bên dưới dốc đồi nh́n sang Nguyên Tử Lực Cuộc ở phía Đông.

Chắc chắn chưa thể tiến hành rộng khắp việc lập phiếu sức khỏe cho sinh viên và yểm trợ họ trong công tác y tế bên ngoài viện, như tài liệu Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74 có nói đến. Dự kiến cho tương lai gần là mở rộng cho các đối tượng sinh viên c̣n hạn chế, v́ thiếu nhân sự và phương tiện. Có dự kiến trước mắt là mở rộng hoạt động y tế phục vụ sinh viên trong các hoạt động cấp cứu, sơ cứu

6. Pḥng Ẩm Thực (Nhà Bếp)

Việc ăn uống tại nhà bếp riêng của Linh Mục Viện trưởng vẫn do ông Trần Văn Thơ trực tiếp trông nom, nấu nướng từ lâu dưới thời LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. Lúc trước, tất cả các giáo sư thỉnh giảng trong việc đều dùng cơm chung với Linh Mục Viện Trưởng. Về sau v́ số giáo sư lên đông hơn, nên các giáo sư dùng cơm trên pḥng ăn của ṭa nhà Năng Tĩnh. Pḥng Quản Lư của Viện lo chăm sóc trực tiếp khu nhà ăn của các giáo sư. Như vậy Nhà Bếp riêng ở Ṭa Nhà của LM Viện Trướng thực tế phục vụ các linh mục, tu sĩ và khách mời cùng một số giáo sư có hoàn cảnh đặc biệt, như GS Nguyễn Khắc Dương và một thời gian GS Đỗ Hữu Nghiêm và GS Nguyễn Hồng Giáp, thường trú trong khuôn viên đại học.

 

Chương IX : Khối Học Thuật

1. Giá Trị Văn Bằng của Viện Đại Học Đà Lạt.

Ngoài uy tín chất lượng của các giáo sư và toàn bộ nhân viên của một Viện Đại Học, giá trị văn bằng của các trường trong Viện Đại Học c̣n tùy thuộc tính cách pháp lư. Các văn bằng ấy cần được các cơ quan nhà nước và các trường đại học quốc nội hay quốc tế khác công nhận

Ngày 28/3/1961, Trường Sư Phạm Ban Triết học tổ chức lớp tốt nghiệp đầu tiên trong Viện. Theo luật pháp quốc gia, nhiều cơ quan tuyển dụng đặt vấn đề giá trị văn bằng do Viện Đại Học Đà Lạt cấp phát. V́ thế, theo yêu cầu của VĐHĐL, Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm đă cho VĐHĐL, do Hội Đại Học Đà Lạt thành lập, được cấp phát văn bằng đại học theo sắc lệnh số 199/GD, kư ngày 28/8/1961[65].

Sắc lệnh đó, tuy do Tổng Thống ban hành, vẫn cần được hợp thức và chi tiết hóa bằng Nghi Định của cơ quan chức năng được phân nhiệm trong chính phủ là Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Bộ này đă chính thức xác định cho Viện Đại Học được cấp văn bằng đại học thực thụ theo nghị định số 206/GD/PC/NĐ, được Bộ Trưởng Trần Hữu Thế kư ngày 4/9/1961

Về phía quốc tế, một số cơ sở đại học Mỹ và Pháp cũng có tiếng nói đầu tiên đối với giá trị văn bằng của Viện Đại Học, chẳng hạn:          

Trường Đại Học Sorbonne, Paris ở địa chỉ số 12 Place Panthéon, Paris 75005, France đă công nhận các chứng chỉ từ Dự Bị đến Văn Bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp.

Trường Đại Học Công Giáo George Mason University (4400 University Drive, Fairfax, VA 22030) bảo trợ không những về tài chánh mà c̣n về học thuật.

Các cơ quan tài trợ cho Viện Đại Học cũng gián tiếp ủng hộ giá trị đào tạo và văn bằng của cơ quan này. Về sau, tùy từng thời điểm phát triển của các trường trong Viện, văn bằng Cử Nhân hay Cao Học đều có văn kiện chính thức công nhận.

Sau cùng lời chúc lành của Vatican cho tập thể Viện Đại Học Đà Lạt nhân kỷ niệm mười năm xây dựng (1959-1969) là một cử chỉ làm tăng uy tín và khích lệ sứ mệnh trồng người của Viện này.

2. Các Ṭa Nhà và Giảng Đường Đại Học

Một đặc điểm rất Á Đông là cách đặt tên Hán Việt từ các cổ thư như Tứ Thư Ngũ Kinh cho các kiến trúc và giảng đường đại học theo truyền thống văn hóa châu lục. Cách đặt tên không khô khan giống như con số giảng đường ở các đại học thường thấy bên phương Tây. Các ṭa nhà hay giảng đường cũng được xây dựng xoáy trôn ốc theo dốc đồi lần lượt từ trên các cao độ khác nhau và được liên kết với nhau bằng những bậc đá lên xuống hay cầu bằng gỗ xinh xinh, những lối đi có trang điểm len lỏi quanh co giữa những khóm hoa ôn đới duyên dáng đủ loại màu sắc như mimosa, hồng, anh đào, thược dược, tầm xuân, huệ trắng, glaïeul… . Các tỏa nhà hay giảng đường ấy lại được đan xen thơ mộng, như ngẫu nhiên bên cạnh, chen giữa hay khuất dưới, đàng sau những lùm cây tươi mát thiên nhiên.

Những nam thanh nữ tú đă Đôn Hóa, Minh Thành, Thụ Nhân trong chốn giảng đường Spellman, giải trí lành mạnh ở Trung Tâm Sinh Viên, miệt mài ở đại học theo gương Trương Vĩnh Kư, biết sống tiết trực Thượng Hiền, Ḥa Lạc, Năng Tĩnh, Cư Dị, Dị An,Tri Nhất, Kiêm Ái, th́ cuộc đời sẽ trông thấy B́nh Minh Rạng Đông lâu dài như không bao giờ kết thúc.

Trong thời đại ngày nay giáo hội Công giáo muốn nhập thể vào cộng đồng dân tộc Việt Nam trên nền tảng văn hóa Á Đông. Từ ban đầu, như một truyền thống qua cách đặt tên các tỏa nhà và giảng đường, Viện Đại Học Đà Lạt đă đề cao ư tưởng Tin Mừng bàng bạc trong triết học phương Đông. Nhiều tư tưởng Tin Mừng Công Giáo được diễn dịch trong các sách Kinh Thánh theo cảm quan phương Tây cũng được chứa đựng Kho tàng Tứ Thư Ngũ Kinh phương Đông. V́ thế Cổ Thư phương Đông không thiếu những tư tưởng thâm thúy, làm phương châm cho lư tưởng Thụ Nhân, tuy kho tàng ấy không phải là tất cả chân lư Tin Mừng

Nói cách khác, trong trào lưu hội nhập văn hóa của Giáo Hội Công Giáo ngày nay, có thể nói rằng Tứ Thư Ngũ Kinh cũng là một thứ Kinh Thánh với ư nghĩa nào đó theo khẩu vị truyền thống văn hóa phương Đông. Theo nhăn quan đó, có thể giải thích ư nghĩa của từng Ṭa Nhà hay giảng đường Đại Học chốn Cao Nguyên thơ mộng, khó quên này.

Từ khi hoạt động trong Viện Đại Học Đà Lạt, người viết không mấy chú ư đọc hay nghe ai giải thích chính thức về lư tưởng Thụ Nhân và các ư nghĩa ẩn ngụ trong tên gọi các ṭa nhà và giảng đường thuộc Viện. Nhưng một số thành viên của Thụ Nhân, như cựu sinh viên Tạ Duy Phong KD1, hay Phạm Văn Bân KD7, đă nêu ra cách lư giải một số từ ngữ của gia đ́nh Thụ Nhân. Người viết cho đây là những nỗ lực giải đáp khá lư thú về một số từ ngữ phương châm ấy, mặc dù trong Chỉ Nam Sinh Viên của VĐHĐL có dẫn giải một phần những nét chính yếu[66]. Chính cộng đồng Thụ Nhân dần dần chủ động góp phần làm cho truyền thống trở nên phong phú và bền vững vậy.

Nguồn gốc các tên gọi kia đều hàm chứa ư nghĩa giáo dục thâm thúy. Dưới đây là một số ư nghĩa cơ bản mà người viết t́m kiếm đúc kết được một phần nhờ chính những truy tầm của các “hậu sinh khả úy” trong Viện. 

Thụ Nhân (Giảng Đường) được coi là danh hiệu lư tưởng soi đường cho tôn chỉ Đại Học Đà Lạt. Tư tưởng Thụ Nhân, theo t́m kiếm nhận thức chủ quan của người viết, bắt nguồn từ các nỗ lực sự nghiệp và kế hoạch trồng người ở trong câu nói của cổ thư phương Đông “Kế Hoạch Một Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Lúa, Kế Hoạch Mười Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Cây, Kế Hoạch Trăm Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Người” (Nhất Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Nhân.)[67]  

Nhưng người viết đồng ư với tác giả họ Phạm là nguồn gốc ư tưởng Thụ Nhân có thể từ trong sách Quản Tử, rồi v́ tam sao thất bản qua con đường lưu truyền từ đời này đến đời khác. Dù từ ngữ trong câu nói có thể thay đổi, nhưng ư tưởng cơ bản vẫn không thay đổi như câu này:

Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. Nhất thụ nhất hoạch giả, cốc dă; nhất thụ thập hoạch giả, mộc dă; nhất thụ bách hoạch giả, nhân dă.” (Kế một năm, không ǵ bằng trồng lúa; kế mười năm, không ǵ bằng trồng cây; kế trọn đời, không ǵ bằng trồng người. Cái ǵ trồng một cho kết quả một, tức là trồng lúa; cái ǵ trồng một cho kết quả mười, tức là trồng cây; cái ǵ trồng một cho kết quả một trăm, tức là trồng người)[68].

Năng Tĩnh (Nhà nguyện) là con đường trọng đại, để t́m thấy chính ḿnh trong cơi thiêng liêng sau những giờ phút miệt mài học tập mệt mỏi căng thẳng. Tu dưỡng tâm tính bằng tĩnh lặng là cách thức ưa thích của nhà Nho. Chính Thiên Chúa hay bày tỏ ḿnh cho con người trong cơi ḷng tĩnh lặng: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện. Trí chỉ, nhiên hậu hữu định. Định, nhiên hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhiên hậu năng an. An, nhiên hậu năng lự. Lự, nhiên hậu năng đắc." (Con đường học lớn của người làm sáng thêm cái đức sáng suốt, ở gần dân, trụ hẳn vào nơi chí thiện. Đạt được trí, sau đó mới định được. Có định, sau đó mới có thể tĩnh. Có tĩnh, sau đó mới có thể an. Có an, sau đó mới có thể lo nghĩ. Có lo nghĩ, sau đó mới có thể thành tựu)[69].

Cư Dị (Giảng đường) là tinh hoa trong tư tưởng "Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị dĩ sĩ mệnh. Tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hănh." (Trên không trách trời, dưới không trách người. Do vậy, người quân tử ăn ở dễ dàng, qua đó mà chờ mệnh trời. Kẻ tiểu nhân làm điều nguy hiểm, qua đó mà cầu may)[70].

Dĩ lễ (Cư xá giáo sư): Sống theo lễ giáo. Luận ngữ có câu: “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách” (Lấy đức dẫn đạo, lấy lễ mà làm cho tề theo, người ta sẽ biết hổ thẹn mà trớ về đường ngay nẻo chính vậy).

Dị An (Giảng đường): dễ ở. Đào Tiềm (Đào Uyên Minh, 372-427) trong “Qui Khứ Lai Từ” có nói về chốn ở ẩn của ḿnh là: “Thảm dung bất nhi Dị an” (Chỗ đó tuy nhỏ hep, nhưng dễ yên hàn hơn)

Dương Thiện (Đại học xá): Biểu lộ cái tốt ra. Sách Trung Dung có ghi lại lời Khổng Tử tán dương vua Thuấn. Ở đó Khổng Tử ca tụng vua Thuấn là biết che dấu cái xấu của người khác mà biểu dương cái tốt đẹp của người khác như sau: “Ẩn ác nhi dương thiện”[71]

Đạt Nhân (Pḥng thí nghiệm): Tới đức Nhân, tức là đi tới nhân cách viên măn.

Đôn Hóa (Văn pḥng). Đôn đốc, phổ cập sinh hoá theo chiếu hướng tốt đẹp. Đạo Trởi Đất là con đường vạn vạt sinh sống hài ḥa mà không hại lẫn nhau. “Tiểu đức xuyên lưu . Đại đức đôn hóa” (Đức nhỏ như sông ng̣i chảy khắp, đức lớn như phổ cập sinh hóa)[72].        

Ḥa Lạc (Toà Viện trưởng) lấy ư từ câu: “Huynh đệ kư hấp, Hoà Lạc Thả Thầm” (Anh em xum họp, Ḥa Vui biết mấy)[73]

Hội Hữu (Giảng đường) gợi lên ư tưởng đi t́m một phương cách học tập hữu hiệu nhất. Nếu chọn bạn mà chơi, th́ cũng phải biết chọn bạn mà học. Cách thế học tập có kết quả nhất là hội hữu, một bí quyết thành công của đại học chi đạo: "Tăng Tử viết: Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân." (Tăng Tử nói: người quân tử lấy văn chương mà họp bạn, lấy bạn mà giúp nhau giữ ḷng nhân)[74].

Kiêm Ái (Đại học xá sinh viên): Mặc Tử, triết nhân đời Xuân Thu, chủ trương kiêm ái, tức là yêu thương mọi người như nhau, không phân biệt kẻ thân người sơ, lâu mau.

Lạc Thiện (Đại học xá): Vui với điều tốt lành.

Minh Thành (Giảng đường, Pḥng Thí Nghiệm) bộc lộ một ư chí chân thành trong sáng. Đạt được một nhân cách minh thành, đấy là mục tiêu của giáo dục vậy: "Tự thành minh, vị chi tính. Tự minh thành, vị chi giáo. Thành tắc minh hĩ. Minh tắc thành hĩ." (V́ có ḷng thành thật mà sáng suốt, đó là do tính. V́ sáng suốt mà có ḷng thành thật, đó là do giáo dục. Vậy nên ai có ḷng thành thật th́ sáng suốt. Ai sáng suốt th́ có ḷng thành thật)[75].

Spellman (Đại giàng đường ): Hồng Y Francis Joseph Spellman, (4/5/18892/12/1967) là vị giám mục thứ chín và Tổng GM thứ sáu của Giáo Phận Công Giáo Nữu Ước[76]. Đối với Việt nam, ngài đến VN lần đầu tiên năm 1955. Đang cử hành Thánh lễ tại Nhà Thờ Đức Mẹ La vang  tại Quảng trị, ngài vừa khóc vừa giảng: “Tôi cầu nguyện, tôi tin chắc Đức Mẹ La vang sẽ thắng, và sẽ sớm mang lại Ḥa B́nh cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” [77]. Hai lần kế tiếp năm 1964 và 1965, nhân dịp Lễ Giáng Sinh hằng năm ngài sang với tư cách Tổng Tuyên Úy đến thăm viếng và úy lạo nhiều đơn vị Quân Đội Hoa Kỳ đồn trú ở Việt Nam. Ngài từ trần ngày 2/12/1967 tại New York trong giáo phận của ngài.        

Thượng Chí (Giảng đường): Nêu cao chí hướng sống theo nhân nghĩa. Sách Mạnh Tử kể lại rằng ông Điếm, con vua Tề hỏi: “Kẻ sĩ làm ǵ? Mạnh Tử trả lời: “Thương Chí!” (nâng cao chí hướng lên. Ông đă giải thích “Thượng Chí” như sau: “Chẳng qua là làm điều nhân nghĩa đó thôi. Giết một người vô tội là bất nhân. Chẳng phải của ḿnh mà dành lấy là phi nghĩa. Kẻ sĩ là ở nơi nào? Ở đức nhân. Kẻ sĩ đi đường nào? Ở đức nhân. Noi theo đức nghĩa, sự nghiệp của đại nhân như vậy là đă đầy đủ rồi vậy.

Thượng Hiền (Giảng đường): Quan niệm chính trị của người xưa là biết quí trong người hiền đức.

Tri Nhất biểu lộ cảm nghĩ bể học của thánh hiền th́ vô tận và con người phải toàn tâm toàn ư mới tới gần vị tri thức độc nhất vô cùng phong phú đó: "Hoặc sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc khốn nhi tri chi. Cập kỳ tri chi nhất ." (Có người hoặc sinh ra đă biết; hoặc học mới biết; hoặc khốn khó mới biết. Khi đạt th́ cái biết chỉ có một)[78].

3. Cơ Quan Nghiên Cứu Đại Học.

Cơ quan tu thư được thành lập rất muộn màng sau này vào ngày 2/6/1973. Ban Tu Thư chịu trách nhiệm cho ra đời tập san Tri Thức và nội san Thụ Nhân. Tập san Tri Thức vừa là tài liệu nghiên cứu, dịch thuật, trao đổi chuyên môn thuộc các lănh vực khoa học khác nhau của các giáo sư, đồng thời là tài liệu học tập cho sinh viên. LM Mai Văn Hùng OP, Tiến Sĩ Triết học, điều hành báo chí và Tập San Tri Thức từ năm học 1973-1974

Nội san Thụ Nhân cũng được phát hành định kỳ như một thông tin sinh hoạt của Viện. Viện cũng phát hành những Chỉ Nam Sinh Viên hằng năm để giới thiệu cho các khách thăm, để hướng dẫn sinh viên tiếp xúc làm quen với môi trường Viện Đại Học Đà Lạt và chọn lựa các ngành học tập. LM Trần Thiện Cẩm OP, Tiến sĩ Triết học, giám đốc và chủ nhiệm nội san Thụ Nhân (1973-75)

4. Pḥng Ấn Loát (Ấn Quán SIVIDA).

Dường như từ khi thành lập trường CTKD, hoạt động của Pḥng Ấn Loát mới nhộn nhịp, và có Linh Mục Ngô Duy Linh, Phú Tá Viện Trưởng kiêm Giám Đốc Đại Học Xá Nam Sinh Viên, đă góp sức tích cực. Ông Trần Văn Ngọ là một trong những người phụ trách về kỹ thuật (tiếp nhận các giáo tŕnh cần in, in, đóng sách, sửa chữa trục trặc máy móc, giấy mục, …) Về sau, sinh viên nắm giữ việc ấn loát, chủ yếu là các giáo tŕnh của chính sinh viên

Về sau dưới thời Linh Mục Viện Trưởng Lê Văn Lư th́ ấn quán được trao cho Lm Trần Thiện Cẩm, OP, phụ trách. LM Trần Thiện Cẩm đảm nhiệm điều hành toàn thể hoạt động ấn loát (1974-1975), tổ chức lại bộ phận ấn loát đặt một danh hiệu mới là Ấn Quán Sinh Viên Đại Học Đà Lạt, viết tắt thành SIVIDA. Ấn quán này lo việc ấn hành tài liệu học tập, nghiên cứu, giáo tŕnh của các Giáo sư và các ấn chỉ giấy tờ văn thư báo chí của các bộ phận trong Viện, nhất là các giáo tŕnh của Trường CTKD.

5. Thư Viện Viện Đại Học Đà Lạt

Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế[79] làm giám đốc từ khoảng cuối năm 1968, thay thế bà Trần Long xin về Sàig̣n.

Thư viện mang tên Hồng Y Agagianian do chính ngài khánh thành năm 1959, nhân cuộc thăm viếng Việt Nam với tư cách Sứ Thần của Đức Phaolô VI tham dự Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc năm 1959. Vào tháng 6/1965, theo yêu cầu của Bà Ánh Nguyệt (Bà Trần Long), một số chuyên gia thư viện học là các ông Pirrel, Zerrold Orne, Trần Ngọc Hải và cô Vơ Thị Hồng đă góp phần tổ chức lại các tài liệu sách báo thư viện theo hệ thống phân loại Dewey.

Các vị sau đây lần lượt nắm giữ nhiệm vụ điều khiển thư viện với tư cách giám đốc: LM De Roeck (1957-1965), Bà Ánh Nguyệt (1965-1968) và Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế, Licentia in Religiosis Scientiis, từ 1970 đến 1975

Tính đến năm 1975, nhờ nhiều cơ quan văn hóa yểm trợ, như Trung Tâm Học Liệu Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Trung Tâm Văn Hóa Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Cơ Quan Văn Hóa Á Châu,… Thư viện tích lũy được khoảng gần 30.000 cuốn sách đủ loại, với 348 thứ tạp chí Anh, Pháp, Mỹ, Hàn, Đức, Nhật, Hoa... Trung b́nh lượng sinh viên đến học tập và tham khảo tài liệu tại thư viện là 326 lượt người/ngày.

Kể từ khi thánh lập, quá tŕnh tích lũy sách của thư viện đă gia tăng theo từng thời điểm. Chắc chắn không thể không xảy ra cảnh mượn sách, rồi sách mất tích luôn. Điều quan trọng chắc chắn là người Việt có yêu sách, nhưng không phải ai ai cũng thích đọc sách, một nếp văn hóa rất đẹp của nhiều người phương Tây. GS Vương Hồng Sển có nói đến thú chơi sách, nhưng ngoài việc bỏ tiền mua, c̣n có màn “chôm” sách, để kinh doanh. Hầu hết những người mê sách lại là những người buôn bán sách cũ, mua đi bán lại với giá cắt cổ, mà không hẳn là những người say mê kiến thức mà sách mang lại. Tri thức mà không được chia sẻ là tri thức chết!

Đối với độc giả sinh viên Đà Lạt, nhiều người nhắm đến mục tiêu thực tế là cần đến thư viện để gạo bài trong mùa thi cử. Đó cũng là một động lực thực tế, nhưng chỉ v́ lư do đó th́ chưa thể nâng cao dân trí một cách cơ bản. Rồi cũng từ những cuộc lui tới thư viện có những t́nh bạn và cả t́nh yêu được nhen nhúm. Và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho thư viện đông đúc người thăm viếng hơn.

Biểu Đồ 9. Số Lượng Sách ở Từng Thời Điểm, 1958-1972[80]

Thời gian

I. Số lượng sách

Chú thích

1958-64

04000

Sách ban đầu với tài trợ của Giáo Hội Đức

1964

09365

 

1965

10325

 

1966

10.925

 

1967

13.425

 

1971

16525

 

1972

22430

 

II. Các loại sách trong thư viện

Tác phẩm tổng quát

0800

 

Vấn đề triết học

2800

 

Tôn giáo

0740

 

Khoa Học Xă Hội

4000

 

Ngôn ngữ

0450

 

Khoa Học thuần túy

2100

Không rơ nghĩa

Khoa học thực nghiệm

1000

 

Kỹ thuật

0900

 

Văn học

6400

 

Sử Địa

3240

 

III. Nhịp sinh hoạt tại Thư Viện, 1971-72

Độc giả vào nghiên cứu

13181

 

Sách mượn về nhà

0382

 

Tham khảo tài liệu

1725

 

Lượt người vào thư viện

326 lượt người /ngày

 

 

Thường sinh viên nam nữ chen chúc rủ nhau đến học đêm qui định từ 7-10 giờ tối để bảo vệ sức khỏe .Bối cảnh êm đềm cho sinh viên cũng như mọi người tại Thư viện tao ra một thứ chu kỳ hẹn ḥ, vừa học vừa trao t́nh cảm cho nhau. Sư huynh nhân cơ hội đó cho in nhiều bài viết đối thoại và hướng dẫn sinh viên nam nữ nhận thức được con đường tính yêu họ đang đi[81].

Chắc chắn dù sư huynh Giám Đốc Thư Viện tận tụy hết sức, nhưng việc tổ chức Thư Viện, quan hệ giữa các Thư Viện trong nước và nước ngoài để có trao đổi, cung cấp, và mua bàn các tài liệu nghiên cứu học tập cho giáo sư và sinh viên vẫn chưa được cải tiến nhiều. Việc trang bị các tiện nghi học tập nghiên cứu, như tủ kệ, bàn ghế máy móc in ấn, chiếu phim, chụp ảnh, slide projector, … Đây là một trong muôn vàn thí dụ về sự thiếu thốn của thư viện trong kế hoạch đ̣i hỏi phải cập nhật hóa.

GS Phó Bá Long yêu cầu từng nhóm lập một thư mục tất cả các sách về quản trị học trong Thư Viện của Viện Đại Học Đà Lạt. Nhưng v́ phương tiện giới hạn, danh sách các sách về quản trị chỉ vỏn vẹn hai trang giấy, mà so với thư viện một đại học nước ngoài th́ không biết bao nhiêu là sách vở về “management”![82]

 

Chương X : Một Số Dự Án của Viện Đại Học Đà Lạt

Vào năm 1974, Hội Đồng Viện Đại Học Đà Lạt đă có phiên họp đi đến một số quyết định quan trọng:

1. Hợp Thức Xây Dựng Phân Khoa Thần Học: Để phát huy tính năng cơ bản là một Viện Đại Học Công giáo toàn quốc, Viện chấp nhận toàn bộ Chương tŕnh và Ban Giảng Huấn của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X là hợp thức để có thể đủ tư cách cấp phát văn bằng Cử Nhân Thần Học, theo danh nghĩa của Phân Khoa Thần Học của Viện Đại Học Đà Lạt

Học viện này có tên là Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt (Dalat Pius X Pontificale Collegium. Cơ sở này là một tài sản của Giáo Hội Trung Ương tại Vatican, và thực tế được giao cho Ḍng Tên quản trị.

2. Huấn Luyện Nhân Viên Giảng Huấn:

Các phân khoa của Viện xúc tiến dự án cho nhiều nhân viên giảng huấn c̣n trẻ có nhiều triển vọng đi du học đào tạo tại các nước tiền tiến như Pháp, Anh, Đức, Mỹ, … như các sinh viên Lê Văn Khuê, Nguyễn Văn Ḥa (VK) đi Mỹ; Trần Văn Cảnh (SP), Lê Ngọc Minh (KH) đi Pháp, …Dưới thời Linh Mục Viện Trưởng Lê Văn Lư, sinh viên đầu tiên được cho đi du học tại Mỹ là Phạm Văn Hải, chuyên về Ngữ Học. Sau này anh được mời vào giảng dậy tại Trường Đại Học Georgetown ở Thủ Đô Washington, DC. Khi đó tất cả các sinh viên được gửi đi du học ở nước ngoài đều do học bổng của các cơ quan bên ngoài. Thực tế Viện chưa đủ điều kiện để tài trợ toàn bộ học phí, và các phi tổn liên quan như cư trú và sinh hoạt, bảo hiểm y tế, chuyên chở, … cho nhiều sinh viên.   

3. Nâng Cao Kỹ Năng Quản Trị Đại Học

Viện Đại Học Đà Lạt cũng gửi đi tu nghiệp một số nhân viên có triển vọng tham gia guồng máy quản trị xây dựng Viện Đại Học sau này. Cụ thể là Viện cử đi hai người: GS Phạm Thiên Hùng, GS Đỗ Hữu Nghiêm, đi tham dự khóa tu nghiệp về Quản Trị Đại Học trong sáu tháng tại Manila (Asian Institute of Management, Học Viện Quản Trị Á Châu), từ ngày 31/5/1974, do tài trợ của cơ quan Asia Foundation.

Về sau, có thêm Bà Ánh Nguyệt được cử đi tham dự. Bà đă được bổ nhiệm một thời gian ngắn làm Giám Đốc Thư Viện trước khi Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế thay thế.

Ngoài ra một số chuẩn bị cho các dự án đă được LM Viện Trưởng dự kiến nhưng chưa đem ra bàn bạc rộng răi và quyết định trong Hội Đồng Viện.

4. Hoàn Thiện Từng Bước Cơ Cấu Tổ Chức Và Nhân Sự.

Một số chức vụ cần thiết của Hội cũng như Viện, đảm nhiệm việc quản trị điều hành hành chánh xử lư thường vụ tổng quát và công tác văn pḥng của Viện, cải thiện một số chức vụ nhân viên giảng huấn, tuyên úy, thư viện, soạn thảo các văn kiện xác định rơ trách nhiệm và quyền hạn các chức vụ quản trị khác. Dưới thời LM Simon Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng, trên Thẻ Sinh Viên của sinh viên Nguyễn Thị Phấn Hoa KD7, Năm Nhập Môn CTKD, c̣n chữ kư của Tổng Thư Kư Trần Quang Diệu kư TL Viện Trưởng ngày 30 tháng 12 năm 1969 tại Đà Lạt[83]. Phải chăng, chức vụ Tổng Thư Kư này của Viện Đại Học Đà Lạt gắn liền với sự chấm dứt nhiệm kỳ của Linh Mục Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập? Khi người viết được liên Bộ Giáo Dục và Quốc Pḥng biệt phái đến làm việc tại Viện vào cuối năm 1971, th́ không thấy c̣n chức vụ này[84]

5. Kiến thiết Cư Xá Nhân Viên.

Song song với kế hoạch đó, việc mở rộng cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt tại Khu C đă được tiến hành, sơ khởi dành cho các nhân viên giảng huấn. Đă có gia đ́nh GS Nguyễn Hồng Giáp, và Phụ Khảo Nguyễn Thanh Châu t́nh nguyện ra dọn về cư ngụ tại khu này từ 1973. Hiện nay dưới chế độ mới, GS Nguyễn Thanh Châu - Quảng Hoa vẫn được tái tuyển dụng giảng dậy trong Viện Đại Học và đang cư ngụ tại cư xá nhân viên giảng huấn khu C. Được biết GS Nguyễn Thanh Châu là con trai của một liệt sĩ kháng chiến chống Pháp.

6. Dự Án Xây Dựng Phân Khoa Mới

Viện Đại Học quyết định dự án vận động nhân sự và tài chính để thiết lập thêm trường Đại Học Y Khoa. LM Viện Trưởng Lê Văn Lư với GS phụ tá hành chánh tháp tùng, đă có dự tính vào kỳ nghỉ hè năm 1975, sẽ du hành vận động tài chính và nhân sự tại ít nhất ba nơi là Pháp, Đức và Mỹ, cho kế hoạch thiết lập Trường Đại Học Y Khoa Đà Lạt cho vùng Cao Nguyên. Việc chuẩn bị một khu đất nền rộng lớn đă được san bằng sẵn ở một sườn đồi Khu A quay về hướng bắc, gần phía Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc Đà Lạt. Yểm trợ cho hoạt động xây dựng này, Viện Đại Học không thể thiếu được sự hợp tác tích cực quí báu của anh em Công Binh Đà Lạt Tuyên Đức do Thiếu Tá Nguyễn Văn Huấn (nay ở San Diego, Calif.) làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn công binh đóng tại Tam Bố ở quận Đức Trọng.

7. Mở Rộng Hợp Tác Và Phát Huy Tính Năng Viện Đại Học Cao Nguyên

VĐHĐL cũng xúc tiến xây dựng quan hệ hợp tác với nhiều cơ sở giáo dục nghiên cứu trong cũng như ngoài nước dự án phát huy thế mạnh của một Viện Đại Học vùng Cao nguyên về nhiều phương diện, như ngữ học, dân tộc học, và khảo cổ học, lâm khoáng sản và thủy điện nơi cộng đồng dân tộc ít người ở Cao Nguyên Miền Trung Việt Nam:

- Với Viện Đại Học Honolulu cụ thể qua giáo sư Wilhem Solheim II[85] (khảo cổ Cao Nguyên)

- Với Viện Chuyên Khảo Ngữ Học Mùa Hè[86] của Đại Học North Dakota qua Tiến Sĩ David Thomas, mà LM Lê văn Lư đă có quan hệ từ rất sớm (1957) khi ngài c̣n dậy ở Tiểu chủng viện Piô XII, Ngă Sáu Chợ Lớn. Dự án này thành h́nh, Viện Đại Học Đà Lạt c̣n có thể trở nên một Trung Tâm Nghiên Cứu Đa-Liên Ngành và Học Tập Đặc Trưng về các vấn đề nhân chủng, xă hội và thiên nhiên của cộng đồng các dân tộc ít người ở Cao Nguyên Miền Trung Việt Nam.

Được biết từ cuối niên khóa 1960-61, Ban Điều Hành đầu tiên của Viện Đại Học Đà Lạt đă muốn thi hành dự án lập các Phân Khoa Kỹ Thuật lúc đó chưa có trong các Viện Đại Học Quốc Gia. Viện đă dự tính thiết lập Trường Nhân Viên Ngoại Giao (School for Diplomatic Agents[87]) tại Viện vào năm học 1962-63. Nhưng t́nh h́nh sau đó đă không cho phép.

8. Thành Lập Hội Thân Hữu Thụ Nhân, qui tụ Giáo Sư và Cựu Sinh Viên Viện Đại Học Đà Lạt. Một dự án bắt đầu được xúc tiến thi hành khẩn trương từ niên khóa 1975-76. Nhưng thời cuộc đă xóa hết bàn cờ xă hội của đất nước.           



[1] Toàn bộ bản dịch tiếng Anh theo Nguyên Văn trong Dalat University, đd., t.42

[2] Toàn bộ bản dịch tiếng Anh theo Nguyên Văn trong Dalat University, đd., t.43

[3] Chỉ Nam Sinh Viên niên khóa 1973-74, đd, t.8

[4] Dalat University, đd., t. 29-30

[5] Niên Giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Hà nội, NXB Tôn giáo, 2005, 965t., 15x21cm. đóng b́a cứng. Theo kư ức của Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế th́ VĐHĐL được thành lập từ 1956. Nhớ lại cảnh cũ người xưa: Đại Học Đà Lạt. Đặc San Frère Kế, California 12/2003, t. 156-158 trong Ban Điều Hành Hội Ái Hữu Thụ Nhân Viện Đại Học ĐàLạt Nam California: Đặc San Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế (ĐSSHKế). “Frère Kế, Thụ Nhân và một đời hiến dâng cho giáo dục.” Southern California, USA (12/2003), 183 t., pdf., in font 12, t. 156

Theo diễn văn của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đọc ngày 7 tháng 10 năm 1957, trước phiên họp Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa tháng 10 năm 1957, có câu: “Authorization has been granted for the creation of a private University in Dalat. Đă thuận cấp phép thành lập một Viện Đại Học tư tại Đà Lạt”.

Tài liệu thứ hai là bài tóm tắt về tiểu sử của GM Ngô Đ́nh Thục của Jean Marie Roger Kozik, (được GM Ngô Đ́nh Thục truyền chức GM sái phép năm 1978), sáng lập hội Fraternité Notre Dame ở Chicago, Hoa Kỳ ghi rơ: “Mở và chuẩn bị ban đầu cho Viện Đại Học Đà Lạt do Giám Mục Ngô Đ́nh Thục thành lập, 1957; được thăng Tổng Giám Mục đầu tiên của Gp Huế, do Giám Mục Brini xướng lập và được bổ nhiệm làm Khâm Sứ Ṭa Thánh tại Đông Dương năm 1959”. Như vậy năm thành lập VĐHĐL chắc chắn là năm 1957.

Tài liệu của Griff Ruby nói GM Ngô Đ́nh Thục cũng lập VĐHĐL. “Viện này trên thực tế đă được thành lập từ chỗ đổ nát, nhưng khi một trong những anh em của GM NĐT đă lên nắm quyền, th́ ông cho GM Thục được quyền khai thác một khu rừng để thu lợi gây quỹ cần thiết.”

GS Trần Long đă viết căn cứ theo tài liệu của Viện, nhưng không kể rơ văn kiện nào: "Tháng 8, 1957 Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam thành lập VDHDL tọa lạc ngay trung tâm văn hóa của thành phố du lịch Đà Lạt. Cố Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập, Viện Trưởng VDHDL từ năm 1961 đến 1970, chọn từ ngữ Thụ Nhân làm phương châm cho Viện để thể hiện quan điểm thăng hoa con người qua thành quả giáo dục." [“Tổng quát về Viện, Trường, Khóa 7 CTKD” trong Đặc san Khóa 7/CTKD (12/2005), t.9]

Nhưng ngày 16 tháng 01năm 1969, Đức Phaolô VI có gửi một lá thư chúc mừng cho LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập và toàn thể Viện Đại Học nhân lễ tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Đại Học Đà Lạt (1959-1969). Như vậy có thể giải thích là năm 1956 đă có cuộc vận động thành lập VĐHĐL, nhưng năm 1957 mới có giấy phép mở VĐHĐL, thực sự từ năm 1958 đă bắt đầu và năm 1959 hoạt động chính thức. V́ thế LM Viện Trưởng mới làm Kỷ niệm 10 năm (1959-1969) vào năm 1969.

[6] Theo GS Nguyễn Khắc Dương, Viện Đại Học Đà Lạt được thành lập năm 1959 dưới thời Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, do Giám Mục Phêrô Martinô Ngô Đ́nh Thục sáng lập. Năm 1966, lên VĐHĐL ông vẫn thấy ba năm sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam c̣n gặp nhiều khó khăn về Viện này. (Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương: Sđd, t.156.)

[7] Dalat University, đd., t. 30

[8] Đỗ Hữu Nghiêm: Phỏng vấn ông Đinh Văn Bài tại Norfolk, Virginia Beach, ngày 25 tháng 5, 2004

[9] Có lẽ thực tế là LM Nguyễn Văn Thạnh, phụ trách trông coi nhiều tài sản thuộc giáo phận Sàig̣n. Phải chăng sở dĩ có điều chưa được rơ rệt trong giai đoạn này, v́ sự phân phối quyển quản nhiệm một số tài sản của giáo hội giữa địa phận Sàig̣n và Viện Đại Học Đà Lạt chưa ổn định xong khi đó?

[10] Tài liệu Dalat University liệt kê những khoản tiền của Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng để xây dựng các hạng mục trong Viện Đại Học Đà Lạt từ 1958-1961. Sau giai đoạn này, th́ không thấy nói đến Hội này nữa.

[11] Qui Chế (Statutes) này được làm tại Sàig̣n ngày 20/6/1957, do các Giám Mục kư tên sau đây: Ngô Đ́nh Thục, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Phaul Seitz (Kim), Marcel Piquet (Lợi), Nguyễn Văn Hiền, J.B. Urrutia (Thi), Trương Cao Đại và Nguyễn Văn B́nh. Qui chế này đính kèm Nghị Định số 67/BNV/NA/P5 ngày 8/8/1957 có chữ kư Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Hữu Châu xác nhận đính kèm cùng ngày, vào sổ pḥng 4 Sàig̣n, quyểhn 375, tờ 32, số 196, lệ phí 24 VN$. Bản Dịch tiếng Anh theo y Bản Chính ngày 4/7/1961 do Thông dịch viên hữu thệ với chữ kư của Trần Văn Thoan, Sollicitor General cùng ngày tháng năm.

Qui chế HĐHĐL gồm có 5 chương. I. Mục đích (điều 1,2,3) Ch.II Hội Viên (đ. 4,5) Ch.III Hội Đồng Quản Trị (đ. 6, 7,8, 9,10). Ch.IV Đại Hội Đồng (đ. 11,12,13,14, 15, 16. 17). Ch. V Giải tán (đ. 18). Dalat University, đd., tt. 35-41

[12] Dalat University, đd., t. 32

[13] Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74 đd., t. 18

[14] Hiện nay hữu dưỡng tại nhà riêng của ngài trên khu nhà đất ở bên trái xa lộ Điện Biên Phủ, nếu đi từ Sài g̣n đi ra ngoại thành ở phía Bắc.

[15] Trần Long: Hồi Kư đă dẫn trên

[16] Dường như với tính cách Phụ Tá Hành Chính cho Viện Trưởng khi trước, và vừa với tính cách người làm việc gần gũi tin cậy của ngài.

[17] Dalat University, đd., t. 26

[18] Tham khảo Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, đd., t. 16

[19] Nhưng khi người viết đến thăm khu C, th́ nhiều biệt thự và đất đai đă được dân cư từ nhiều nơi đến chiếm ngụ từ khoảng trước năm 1973 về sau.

[20] Nguyễn Thị Xuân Phương: “Hồn Thu Thảo”. ĐSKD7, tt.126-128.

[21] Trịnh Thị Hải: “Nhật Kư”. ĐSKD7, tt.132-135.

[22] Phạm Ngọc Vy: “Thời Tuổi Trẻ Không Thể Nào Quên (Tự Sự)”. ĐSKD7, tt.81-83.

[23] Cậu Ngô Đ́nh Thục sinh ngày 6/10/1897 tại Phủ Cam, Huế, du học tại Trường Truyền giáo Rôma năm 1921 Ông Ngô Đ́nh Khả có 9 người con: Con cả là Ngô Đ́nh Khôi (1885?-1945). Con thứ hai là Ngô Đ́nh Thục(1897-1984),  du học Roma (1919-1927): Tiến sĩ Triết học (1922), thụ phong Linh mục ngày 20/12/1925, Tiến sĩ Thần học (1926), Tiến sĩ Giáo luật (1927). Qua Pháp học Đại Học Công Giáo Paris: Cử nhân Triết học (1929). Con thứ ba là Ngô Đ́nh Diệm, (1901-1963), Tổng Thống VNCH (1957-1963) Con thứ tư là Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963). Con thứ năm là Ngô Đ́nh Cẩn (1912- 1964). Con út là Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990) . Ba con gái là Ngô Thị Giáo, chết 1944; Ngô thị Hoàng, thường gọi là bà Cả Lễ, v́ lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Lễ; Ngô Thị Hiệp, lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Ấm, thân sinh của HY TGM FX Nguyễn Văn Thuận, làm Bộ Trưởng Bộ Công Lư và Ḥa B́nh tại TT Vatican trước khi tạ thế ngày 16/9/2002, tại Rôma.

Ngài được chọn làm GM hiệu ṭa Sesina, quản trị địa phận Vĩnh Long với tư cách GM Đại diện Tông Ṭa từ 1938 đến 1960, thụ phong ngày 4/5/1938 tại Nhà thờ chính ṭa Huế do Khâm Sứ Ṭa Thánh ở Đông Dương là GM Antonio Drapier, OP. Với tính cách thành viên HĐGMVN, rồi sau đó với tính cách Chưởng Ấn, ngài tích cực chuẩn bị xây dựng Viện Đại Học từ 1956 đến 1959. Nhân dịp Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thành lập chính thức ngày 24/11/1960, ngài được thăng TGM GP Huế được GM Mario Brini Khâm sứ Ṭa Thánh lập. TGM Phêrô được mời tham dự Công Đồng Vatican II năm 1963.

Khi xảy ra chính biến ngày 1-2/11/1963, th́ ngài ở lại ngoại quốc. Sau đó ngài được chỉ định làm Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Hội Đông Phương, rồi Tổng Giám Mục hiệu ṭa Bulla Regia (1968), Phụ tá Ngai Giáo Hoàng.

Một hành động đáng tiếc là ngài tự ư phong chức sái phép Jean Marie Roger Kozik và Emmanuel Marie Michel Fernandez năm 1978 làm GM, do một Sắc lệnh mà sau này ngài nh́n nhận là giả mạo mang tên một Motu Proprio “Giám Mục Ngô Đ́nh Thục được Đức Piô XI ban cho Quyền hành giáo hoàng như tấn phong giám mục mà không cần thông báo và được chấp thuận trước của Giáo Hoàng đương nhiệm “.

Sau khi thống hối v́ nhiều sai lầm cuối đời như truyền chức giám mục không được phép như thế, ngài về hưu tại Ḍng Đồng Công ngày 28/4/1984. Ngài qua đời trong niềm hiệp thông hoàn toàn với giáo hội Công giáo, ở Nhà Hưu Đồng Công, tại Carthage, MO, ngày 12/12/1984, nhưng Niên Giám CGVN năm 2004 lại ghi ngày RIP của ngài là 13/12/84 (NGCG 2004, t. 276, Thứ tự 3 trong danh sách GM) (Tư liệu Kozik: Bishop Pierre Martin Ngo Dinh Thuc, Website. Xem thêm: Griff Ruby: “Chapter 8: The Bishops of Pierre Martin Ngo Dinh Thuc” in Griff Ruby: The Resurrection of The Roman Catholic Church. A guide to the Traditional Roman Catholic Movement. All rights reserved by the Author @ 1998, 1999, 2002, 2004. www.the-pope.com/church08.html). Bảng thông báo c̣n ghi ở Nhà Hưu Ḍng Ḍng Công ở Carthage, MO ghi ngày RIP là 12/12/84

[24] http://en.wikipedia.org/wiki/Chancellor_(education) cho biết hệ thống Chưởng Ấn trong cac trường đại học, kể cả trong giáo dục Công giáo lẫn ngoài xă hội, rất khác nhau theo danh xưng cũng như chức vụ tùy mỗi quốc gia, tùy giai đoạn lịch sử. Chẳng hạn trong Trường Đại Học Công Giáo Mỹ, người cầm đầu là một President (Viện Trưởng) và Tổng Giám Mục Washington làm Chưởng Ấn. Vị Tổng Giám Mục và Chưởng Ấn hiện nay là Hồng Y Theodore McCarrick. Ngài là đại diện cho Trường Đại Học trước Ṭa Thánh.

[25] Người viết đặt vấn đề là khi TGM Ngô Đ́nh Thục đi trước biến cố ngày 1-2/11/1963, th́ phải chăng có thể có một sự sắp đặt trước của một người nào đó của nhóm đảo chánh, gián tiếp hay trực tiếp? Vấn đề đó thực ra không có bằng chứng để trả lời.

[26] Từ năm 1956, Các GMVN đề xướng thiết lập một Đại Học trên Đà Lạt từ cơ sở huấn luyện các con Tây lai của quân đội Pháp. Cũng từ 1956, Viện Trưởng đầu tiên là LM Trần Văn Thiện. Tiếp theo đ̣ là hai năm dự bị vào đại học 1956-1957 (“Nhớ lại cảnh cũ người xưa: Đại Học Đà Lạt”. Đặc San Frère Kế, Southern California 12/2003, t. 156-158, đoạn 3, 7.) Tiếp theo đ̣ là hai năm dự bị vào đại học 1956-1957.

Cậu Giuse Trần Văn Thiện, sinh ngày 13/3/1908, thụ phong Linh mục ngày 21/9/1935 (1957-1961) sau làm GM GP Mỹ Tho (1961-1973). GM Trần Văn Thiện là giám mục tiên khởi giáo phận Mỹ Tho vào dịp ngày 27/11/1960 Toà Thánh ban Sắc Chỉ Quod Venerabilis Fratres thiết lập tân giáo phận này. Khi đó giáo phận Mỹ Tho có 39 giáo xứ, với 32 nhà thờ, 54 nhà nguyện, 50.249 giáo dân, 43 linh mục và 28 đại chủng sinh theo học Học Viện Piô X và Đại Chủng Viện Sàig̣n, cùng 77 tiểu chủng sinh ở Cần Thơ và Sàig̣n. Ngoài ra giáo phận c̣n có 153 tu sĩ thuộc các ḍng Sư Huynh La San, MTG Cái Nhum, Saint Paul. GM Trần Văn Thiện đặc biệt chú ư đến việc đào tạo con người qua hoạt động Công giáo Tiến Hành. Chuẩn bị người kế nhiệm ngài truyền chức linh mục Nguyễn Văn Nam làm Giám Mục ngày 10/6/1975. Từ đó GM TVThiện tập chú vào việc dậy giáo lư và giáo dục cộng đoàn dân Chúa Mỹ Tho. Ngài qua đời ngày 24/2/1989.

Chú ư: Có nhiều người lẫn với GM Nguyễn Văn Thiện, sinh ngày 13/3/1906, chịu chức Linh mục ngày 20/2/1922, thụ phong Giám Mục ngày 22/1/1961, về nhiệm chức giáo phận Vĩnh Long. Khi bị bệnh ngài sang Pháp nghỉ hưu từ năm 1968 đến nay. Hiện ngài dang cư ngụ tại Nice (Les Cèdres, 30 rue de Lilas, Nice, France 06100. Tél.: 93.84.18.27. (Như SH Pierre Trần Văn Nghiêm: Souvenirs. Không đề nơi, 1999, lưu hánh nôi bộ, in vi tính, 117p., khổ 14x25cm, t. 54)

[27] Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, đd., t.18

[28] Cậu Nguyễn Văn Lập, sinh ngày 6/6/1911 tại Giáo xứ Vạn Thiện, làng Vạn Kim, Gio Linh Quảng Trị. Tháng 9/1923 cậu gia nhập chủng viện An Ninh (Cửa Tùng), Quảng Trị dưới quyền bảo trợ của LM Simon Hoàng Văn Tâm. Măn Chủng Viện, Thầy Simon Nguyễn Văn Lập thụ phong Linh Mục ngày 18/10/1938 tại Đại Chủng Viện Huế. Được Gp Huế cho di du học ở Pháp từ 1939 đến 47. Tốt nghiệp Cử Nhân Sorbonne, Paris về văn chưng. Từ 1947, lần lượt ngài giữ các chức vu: giáo sư Trường Thiên Hựu, Giám Đốc Giáo Dục GP Huế (1947-1955); Cha xứ họ đạo Phancicô Huế, Đại Diện Viện Trợ Công Giáo Mỹ (CRS). Ngài làm sáng lậm viên và hiệu trưởng Trường Bính Minh Huế (1953-1958). Giám Đốc Công Giáo Tiến Hành Tiàn Quốc (1958-61). Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt (1961-70). Sáng lập Trường Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt (1964). Khi có biến cố Mậu Thân (1968), VT đề nghị SVSQ trường Vơ Bị huấn luyện quân sự cho sinh viên Đà Lạt. Năm đó cũng là năm ra trường của Khóa 1/CTKD, ngài cho tổ chức rất trọng thể lễ tốt nghiệp đầu tiên của Trường CTKD này. Ngài bao tất cả chi phí cho anh chị em tốt nghiệp chụp h́nh ở tiệm Hồng Thủy Đà Lạt. Chính Khóa này có nhiều người tham gia sinh hoạt chánh trị. Ngài từ chối đề xuất của Ṭa Thánh làm giám mục kế vị GM Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền Đà Lạt. Kẹt lại tại Sàig̣n sau 30/4/1975. Cha sở GX Fatima B́nh Triệu Thủ Đức (1977-2000). Linh Phụ Tu Hội Bác Ái B́nh Triệu (31/12/1983). Thụ Huấn Linh Đạo Tu Hội tại Chateau Neuf de Galaure Pháp (12/9-16/11-1994). Găp gỡ một số thành viên Thụ Nhân Đại Học Đà Lạt. Phong tước Đức Ông (9/11/1998). Qua đời 19/12/2001 tại B́nh Triệu, thọ 91 tuổi. ĐSKD7, đă dẫn, t. 34-35).

Xin xem Bài viết riêng về tiểu sử của ngài: Đỗ Hữu Nghiêm: “Linh Mục Simon Nguyễn Văn Lập (1911-2001) Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt (1961-1970)”. Dayton, OH, 11t., A4, font 12.

[29] Tham khảo Dalat University, đd., tt. 16 và 27-28. Ở giai đoạn đầu các số liệu dường như không hoàn toàn chính xác.

[30] Tham khảo Dalat University, đd., t.27

[31] Trong một tám h́nh chụp khoảng năm 1961, ở hàng đầu từ trái qua phải có đầy đủ nhiều khuôn mặt quan trọng đạo đời của thời thế: Ô.Ô. Lê Văn Thới (Khoa Trưởng Trường Khoa Học Sàig̣n), Trần Văn Phước (Thị Trưởng Đà Lạt), Trần Hữu Thế (Bộ Trưởng Giáo Dục), TGM Huế Ngô Đ́nh Thục (Chưởng Ấn Đại Học), GM Trần Văn Thiện (Cựu Viện Trưởng), GM Cần Thơ Nguyễn Kim Điền, LM Nguyễn Văn Lập (Viện Trưởng đương nhiệm).

[32] Website Vatican

[33] Đỗ Hữu Nghiêm tạm dịch.

[34] “Nhớ lại cảnh cũ người xưa: Đại Học Đà Lạt”. Đặc San Frère Kế, Southern California 12/2003, t. 156-158, đoạn 5.

[35] Cậu Lê Văn Lư sinh ngày 30/5/1913 tại làng Lệ Thủy, Xă Châu Giang, Giáo Xứ Bút Đông, Duy Tiên, Hà Nam. Tập tu ở xứ đạo Bút Đông (1920). Vào nhà tràng Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Đông, Gp Hà Nội (1928). Du học tại Saunt-Pol-de-Léon, Finistère, Bretagne, Tây Bắc Pháp (1930). Theo học Đại Chủng Viện Xuân Bích ở Issy-les-Moulineaux (1936-1941). Thụ Phong Linh Mục (1941, Notre Dame de Paris). Theo học Université de Paris (Sorbonne), (1941-1948). Cử Nhân Văn Chương và tốt nghiệp Nhật Ngữ (1944, École Nationale des Langues Orientales de Paris). Tốt nghiệp Hoa ngữ củng trường (1946). Tiến Sĩ Văn Chương Sorbonne (1948). Hồi hương Việt Nam (1950). Giáo sư Tiểu Chủng Viện Piô XII Hà Nội, Trường Cao Đẳng Sư Phạm, Hiệu Trưởng Trường Dũng Lạc Hà Nội (1951-54), Tiểu Chủng Viện Piô XII Chợ Lớn (1954-1958). Hội Nghị Khoa Học Thái B́nh Dương tại Bangkok (1957). Chuyển về làm GS TCV Thánh Giuse đường Cường Để, Sàig̣n 1 (1958). GS Trường Văn Khoa Huế, rồi Sàig̣n (1960), Phó Viện Trưởng kiêm Phó Khoa Trưởng Văn Khoa, Viện Đại Học Đà Lạt (1966). Hội Nghị Các Trường Đại Học Công Giáo Đông Nam Á ở Manila (1967). Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt (1970-1975). GS Tiểu và Đại Chủng Viện Sàig̣n (1975-80). Xin đi chữa bệnh tại Paris (1980). Hưu tại Nhà hưu Dưỡng Ḍng Đồng Công tại Carthage, MO, Mỹ. Qua đời 3/10/1992 tại Carthage. An tang tại nghĩa trang Springfield, MO. Công tŕnh ngữ học: Le Parler Vietnamien (The Spoken Vietnamese), (Luận Án Tiến Sĩ Văn Chương 1948), và Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam (1968, Trung Tâm Học Liệu Việt Nam Cộng Ḥa. (ĐSKD7, đă dẫn, t. 17-18). Xin xem bài viết riêng về tiểu sử của ngài: Đỗ Hữu Nghiêm: “Linh Mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Lư (1913-1992) Viện Trưởng Viện Đại Đá Lạt (1970-1975)”. Dayton, OH, 13t., A4, font 12.

[36] LM Viện trưởng kế vị dường như có hạn chế phần nào trong hoạt động giao tế và ứng xử nhân bản.

[37] Tạ Duy Phong, Lịch Sử Thụ Nhân Viện Đại Học Đà Lạt. 1994, Houston, TX, 21t, A4 font 8, tt.5-6. Người viết nghĩ là Uỷ Ban này có giá trị sắp đặt cương lĩnh và nguyên tắc ứng xử vể học vấn và hạnh kiểm cho các đơn vị của Viện, nhất là các phân khoa. Theo sơ đồ tổ chức của Viện trang 16 của Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74, không thấy nói đến Hội Đồng Kỷ Luật này 

[38] Điều 27, Chương III. Những Quyền Lợi Sinh Viên, ghi rơ: “Sinh viên vi phạm kỷ luật về học vấn và hạnh kiểm sẽ được xét xử trước Hội Đồng Khoa hay Học Viện. Thành phần Hội Đồng Kỷ Luật gồm có Khoa Trưởng hay Giám Đốc Học Viện liên hệ làm Chủ Tịch, hai giáo sư do Hội Đồng Phân Khoa hay Học Viện đề nghị làm hội viên và một đại diện sinh viên tham dự có quyền phát biểu ư kiến nhưng không có quyền quyết định” (Nội Quy Sinh Viên VĐHĐL trong Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74, đd., t. 172)

[39] From: "Van Luc Nguyen" To: nghiem. Sent: Wednesday, June 07, 2006 5:16 PM

[40] Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74 đd., t. 9

[41] Phó Bá Long: điện đàm từ Washington DC với người viết ở Dayton, Ohio ngày 10/5/2006.5.

[42] Thế Tâm: Sđd., t.163.

[43] Thế Tâm: Sđd., tt.167-168.

[44] Thế Tâm, Sđd., tt.168,169170

[45] Thế Tâm, Sđd., tt.170-171.

[46] Thế Tâm, Sđd., tt.190-191.

[47] Bác Sĩ Nguyễn Khắc Viện, một đảng viên Cộng Sản, người anh của GS Nguyễn Khắc Dương, từng du học ở Paris, và trở về miền Bắc phục vụ.

[48] Thế Tâm, Sđd., t.192.

[49] Khoảng cuối năm 1975, nhờ một người em họ bên vợ thuộc thành phần bộ đội bị đưa vào chiến đấu ở miền Nam (đi B), người viết đi Đà Lạt và vào được trong căn pḥng riêng ở dăy nhà Dĩ Lễ, bên trong phía Đông khuôn viên Viện, nhận một số đồ đạc và sách vở chuyển về Sàig̣n. Hai nhân viên cũ của Viện là Nguyễn Văn Ngật và Nguyễn Văn Khúc là người được “Cách Mạng” chỉ định trông coi Viện. Hai nhân viên cũ ấy lại là người chủ “cách mạng” mới giám sát và cho phép người viết chở vội vàng như có vẻ lén lút một số đồ đạc và sách vở lên hai xe GMC mới tinh mà bộ đội miền Bắc chiếm dụng làm chiến lợi phẩm từ quân đội Sàig̣n trước kia. Người viết nhớ đến lời cha Lê Văn Lư nhắc với người viết từ trước năm 1975. Ngài nghi ngờ trong hàng ngũ nhân viên của Viện có người ngấm ngầm hoạt động cho CS. Ngài đặc biệt lưu ư đến hai nhân viên nói trên, và sự kiện Nguyễn Văn Khúc cầm đầu đám nhân viên yêu cầu Viện phải chia đất đai trồng trọt trong Viện khi trước, với bằng khoán chủ quyền đất sở hữu đầy đủ. Sư Huynh Théophane có nhắc đến sự kiện chia đất này.

[50] Thông tin của Hồ Trí Thức, Cựu sinh viên GHHV/PIOX, ngày 6/6/2006.2

[51] Đây chỉ là công việc tạm thời chưa có bất kỳ danh chính ngôn thuận nào. Nhưng khi được lệnh LM Viện Trưởng kư thay một chứng từ hành chánh liên quan đến các Khoa, người viết đă gặp phản ứng v́ hai chữ TM hay TUN Viện Trưởng. Trước khi thi hành lệnh từ Viện Trưởng, chính người viết có đặt vấn đề về vai tṛ của LM Phó Viện Trưởng, và nên làm cách thế nào khi LM Viện Trưởng văng mặt. Dường như có những dấu hiệu giao dịch không b́nh thường giữa hai vị đương chức vào thời điểm ấy. LM Viện Trưởng nói: “Con cứ việc “kư thay cha” trong lúc cha phải đi vắng mà công việc này không thể đợi cha về!” Phải chăng LM Viện Trưởng đă thấy vấn đề ǵ khi ngại ngùng phải đặt chữ kư của ḿnh trên văn thư ấy trước khi đi Sàig̣n?

Đấy là một khía cạnh tế nhị nhưng phức tạp, một bài học vào đời trong giao tế nhân sự ở môi trường trí thức đại học, mà người viết không thể quên. Phải chăng người viết chỉ là người mới tới, lại tương đối c̣n trẻ, thiếu kinh nghiệm thực tế và tốt nghiệp ở một đại học trong nước, dù đă lăn lộn trong môi trường giáo dục trung học nhiều năm vùng Sàig̣n, Chợ lớn và Gia định? Hơn nữa nhiều vị khoa trưởng lại là các linh mục và giáo sư từng du học ở nước ngoài về. Người trẻ tuổi mới vào đời sẽ nghĩ sao về thái độ ứng xử đó của các vị trí thức khoa bảng đàn anh đi trước trong trường đời, khi chính LM Viện Trưởng nói lại cho người viết được biết ngay sau khi sự việc xảy ra không lâu. Phải chăng không có một thái độ xây dựng nào khác của thế hệ tiền sinh đối với thế hệ hậu sinh? Người viết ghi lại như một chứng từ lịch sử của Viện Đại Học Đà Lạt.

[52] Công việc mà Phụ Tá Hành Chánh đă làm th́ không xác định rơ rệt.

Có khi đóng vai tṛ một bí thư viết một diễn văn với tư cách Viện Trưởng để ngài đọc khi tham dự một hội nghị giáo dục văn hóa, … ở Sàig̣n, như lễ kỷ niệm Nguyễn Trường Tộ năm 1973 ở Sàig̣n. Có khi là một chuyến đi nhận cả mấy trăm triệu ở Pḥng Chuẩn Chi dành cho Viện Đại Học ở Bộ Tài Chánh (khi đó là Bộ Trưởng Nguyễn Văn Điệp) và mang tiền trở về bằng đường bộ trong tinh h́nh có rất nhiều cuộc phục kích bất ngờ vẫn hay diễn ra trên quốc lộ 20, từ Sàig̣n đến Đà Lạt.

Có khi thảo hoạch một dự án theo yêu cầu của LM Viện Trưởng, như đo đạc và thiết kế công việc phát triển Viện Đại Học trên cả ba khu ABC. Để phục vụ cho công tác này người viết đă phối hợp trợ giúp của Đại Tá Tỉnh Trưởng Đà Lạt để xin một chuyến bay trực thăng. Thế là một phi vụ của quân đội Mỹ từ Nha Trang bay lên chỉ để chụp một số không ảnh trên vùng trời Viện Đại Học Đà Lạt, như đă nói. Đồng thời Tiểu Đoàn công binh do Thiếu Tá Nguyễn Văn Huấn chỉ huy ở Tam Bố, quận Đức Trọng, đă sẵn sàng giúp đem xe ủi công binh đến san bằng một số nền đất nhằm chuẩn bị việc xây Trường Đại Học Y Khoa và các kiến trúc khác, và tạo điều kiện chuyên chở sinh viên lấy đất cỏ từ Suối Vàng về chỉnh trang Viện.

Có khi điều khiển xây dựng và thi hành một chương tŕnh triển lăm Viện Đại Học Đà Lạt, như ở Trung Tâm Công Giáo tại Sàig̣n nhân kỷ niệm 350 Công giáo truyền đến Việt Nam. Có khi đại diện cho LM Viện Trưởng dự một hội nghị ở Bộ Giáo Dục về những vấn đề liên quan đến Đại Học, và biết bao việc không tên khác, thầm lặng nhưng có hiệu quả cải tiến môi trường Viện Đại Học….

[53] Hương B́nh: “Cây Thánh Giá Trên Tháp Năng Tĩnh” (Đà Lạt, 30/4/2005). ĐSKD7, tt.196-197.

[54] Nguyễn Thị Xuân: “Hồi Ức” (Sàig̣n). ĐSKD7, tt. 147-151.

[55] Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74 đdt., t. 150

[56] Theo cảm nhận của người viết khi có kinh nghiệm sống thực tế với cha Lă Thanh Lịch. Đó là một tâm hồn thật đạo đức, nhưng có cung cách giữ đạo và linh hướng tương đối cổ điển, có phần không thích hợp hẳn cho tâm thức của giới trẻ thanh niên sinh viên đại học. Có phần nào chưa có sự dấn thân tự nhiên giữa một tuyên úy với anh chị em sinh viên, mặc dù Cha rất nhiệt t́nh đạo đức.

[57] Đỗ Hữu Nghiêm: “Tập Thể Sinh Viên Công Giáo Việt Nam Cộng và các Linh Mục Ḍng Đa Minh Chi tỉnh ḍng Lyon”. Dayton, OH, ngày 7/11/2005.2- 18/11/2005.6 Bổ sung ngày 27/12/2005 tại VN đến 10/3/2006.6 tại HK, nhân chuyến đi Việt Nam Tết Bính Tuất. Đỗ Hữu Nghiêm. t. 17-19) Website Dũng lac

[58] Tham khảo Chỉ Nam Sinh Viên NK 1975-74 đd., t. 152

[59] Cựu sinh viên Phạm Văn Bân có ghi lại mấy trang hồi kư về chuồng thỏ khoảng hai trăm con mà SH Kế nuôi vào năm 1970, để làm món ăn nấu cho các giáo sư thỉnh giảng từ Sàig̣n hay các tỉnh tới. Về sau, rành đường đi nước bước, Phạm Văn Bân rủ rê Hoàng Văn Thắng, một sinh viên cùng pḥng trọ tại kư túc xá B́nh Minh đi “chôm chỉa vài chú thỏ làm thịt “ăn chui”. Nhưng nhưng tay mơ đó không biết nấu món thỏ, đă phải ăn thịt thỏ chán muốn “oẹ” luôn. Mà lại bắt đúng vào chú thỏ được SH Théophane chú ư đặt cho tên riêng trong chuồng thỏ! Đúng là “Nhất quỉ nh́ mà thứ ba học tṛ các Frères! (Phạm Văn Bân: Kỷ niệm nuôi thỏ với Frère Kế”8/2002, Calif.), Đặc San Frère Kế (sđd., t.179-180)

[60] Tự thuật, Giáo Sư Ngô Đ́nh Long, Đặc San Kỷ Niệm 30 năm, Khóa 1 CTKD, 1999, p. 53; cũng xem “GS Phó Khoa Trưởng Ngô Đ́nh Long”, ĐS K7CTKD, t.30-31.

[61] Người viết chưa có cơ hội làm việc cụ thể với giáo sư Ngô Đ́nh Long về công tác sinh viên vụ, từ khi GS nhận trách nhiệm làm Giám Đốc năm 1973, dù đă từng thực hiện nhiều việc, phụ tá sinh viên vụ với Lm Giám Đốc Vũ Minh Thái và Linh Mục Phó Giám Đốc Sinh Viên Vụ Nguyễn Hữu Toản và các anh Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Văn Khiêu. Có thể người viết quá bận rộn với một số hoạt động, phụ tá cho Linh Mục Viện Trưởng, từ 1971 đến 20/3/1975 ở Đà Lạt.

[62] Tổng hợp các số liệu ở Chỉ Nam Sinh Viên NK 1973-74 đd., tt. 160-62

[63] Nguyễn Thị Hạnh: “Tạ Tội”. ĐSKD7, tt.136-138 (Sydney, AU).

[64] Frère Kế: “Nhớ lại cảnh cũ người xưa: Đại Học Đà Lạt”. Đặc San Frère Kế, California 12/2003, t. 156-158 (Đoạn 11, t. 158).

[65] Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, đdt., t. 10

[66]Ư Nghĩa Tên Gọi Các Ṭa Nhà Trong Viện” trong Viện Đại Học Đà Lạt: Chỉ Nam Sinh Viên Niên Khóa 1973-74. Đà Lạt, 1973, 174t., 14.5x25cm., tt. 12-14.

[Ghi đến đây, người viết muốn mở một dấu ngoặc, thầm cảm phục tác giả cựu sinh viên, họ Tạ KD1, họ Phạm KD7, nhớ đến câu nói chí lư của Giáo Sư Phó Bá Long:

Đệ Tử Tầm Sư Dị,

Sư Tầm Đệ Tử Nan! [66]”.

Người viết có trao đổi với Giáo sư họ Phó là sinh viên nào đạt đến lư tưởng Thụ Nhân, th́ dù có bước lên đầu Thày mà nh́n cao xa hơn, bằng cấp lớn hơn, th́ vẫn không bao giờ mất ḷng tri ân và kính trọng đối với bậc ân sư trong đời, dù “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, phương chi cả một hay hai niên khóa cuối cùng của nhà trường. Giáo sư có nhắc đến một câu giáo sư phát biểu trước đám đông cựu sinh viên trong ngày hội ở khuôn viên Viện Đại Học Đà Lạt ở Việt Nam ngày 31/12/2005:

Chắp Tay Con Tạ Ơn Trời,

Cho Con Sứ Mệnh Làm Thầy Nơi Đây”.

Những phát biểu tiếp theo nghẹn ngào hôm ấy trong cổ họng người Thầy tận tụy đă 85 tuổi, xúc động, đang dưỡng thương, v́ vừa té ngă hai giờ đêm hôm trước, khi đi xuống bậc thang cuốn trong sân bay Tân Sơn Nhứt. Lập tức, nỗi ḷng nức nở thầm lặng ấy được ấp ủ sưởi ấm trong ṿng tay thân thương của nhiều môn sinh vội đến d́u Thầy xuống chỗ ngồi bên dưới!

Trong cuộc điện đàm sáng ngày 3/5/2006 với người viết, giáo sư họ Phó c̣n chú ư đến tấm h́nh chân dung trang trọng của ba Vị Tu Sĩ Viện Trưởng đáng kính có công khai sáng, phát triển và xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt: Linh Mục Giuse Trần Văn Thiện (1957-1961), Linh Mục Simon Nguyễn Văn Lập (1961-1970), Linh Mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Lư (1970-1975)]

[67] Thơ Quản Trọng (Quản Tử)

[68] Quản Tử/http://www.gutenberg.org/etext/7367, dẫn theo Phạm Văn Bân K7 CTKD (Santa Ana, California): “Vài Nhận Xét Trong Việc Dịch Chữ Hán.” Đặc San K7 CTKD (12/2005) PDF (1-7), t.2. ĐSKD7, tt. 202-208

[69] Đại Học.

[70] Trung Dung, chương 14.

[71] Trung Dung VI

[72] Trung Dung

[73] Kinh Thi

[74] Luận Ngữ, Tăng Tử. Thiên Nhan Hồi 12. (Vô danh: “Tổng Quát về Viện, Trường và Khóa 7 CTKD” trong Đặc San Khóa 7 CTKD (12/2005), (9-12), tt. 11-12)

[75] Trung Dung, chương 21.

[76] Ngài sinh tại Whitman, Massachusets William và bà Ellen (nhũ danh Conway) Spellman. Ngài thụ huấn tại Fordham University và tốt nghiệp B.A. năm 1911; tốt nghiệp S.T.D. (Tiến Sĩ Thần Học), tại North American College; tốt nghiệp Học Viện Giáo Hoàng Urbania (Pontifical Urbanian Athenaeum) tại Rôma, và thụ phong linh mục ngày  14/5/1916. Sau khi thụ phong LM, ngài được bổ nhiệm Curate tại Roxbury, Massachusetts, rồi chủ bút báo “The Pilot” của Giáo Phận Boston (1918-22). Ngài làm Phó Chưởng Ấn, Chưởng Ấn Giáo Phận này (1922-25). Tùy viên cho Hồng Y Gaspari, Tổng Trưởng Ngoại Giao của Ṭa Thánh (1925). Thông dịch viên cho Đức Piô XI. Được phong tước Dức Ông (1926), rồi được bổ nhiệm Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Boston, Massachusetts vào tháng 7/1932 và thụ phong ngày 8 tháng 9 dưới hiệu ṭa Sila. Sau khi HY Hayes (1867-1938) từ trần, ngài được bổ nhiệm Tổng Giám Mục Giáo Phận New York ngày 15/4/1939 (1939-1967) và ngày 11/12 được bổ nhiệm Tổng Giám Mục Tuyên Úy Phục Vụ Quân Đội (Archbishop for the Military Services) tức Tổng Tuyên Úy Quân Đội Hoa Kỳ (1940-1967). TGM Spellman được phong Hồng Y Giáo Chủ New York (1945) (với danh hiệu Ss Giovanni e Paolo) ngày 18/2/1946, và phục vụ với danh nghĩa TGM đến khi chết. Ngài đươc an táng tại hầm mộ dước bàn thờ Thánh Đường Chính tỏa Thánh Patrick. Grand Prior of USA of the Sovereign Order of Malta. Grand Prior of America of the Military and Hospitaller Order of St. Lazarus. Ngài đạt danh hiệu TGM New York lâu dài nhất trong hơn 28 năm. [Tham Khảo thêm (http://en.wikipedia.org/wiki/Cardinal_Spellman)]

[77] Tạ Duy Phong: Lịch Sử Thụ Nhân Viện Đại Học Đà Lạt, đd., t. 1 & 3

[78] Trung Dung, chương 20.

[79] Cậu Kế sinh ngày 17/12/1912 tại Phú Lương, Tuyên Quang (?) và được rửa tội ba ngày sau. Như thế phải chăng có sự lầm lẫn Phú Lương ở Thái Nguyên với giáo xứ Phú Lương (Giáo phận Hà Nội, có số giáo dân vào năm 1939 là 816 người, Kỷ Yếu Ái Hữu Hà Nội, sđd., t.198), thuộc xă Định Xá, huyện B́nh Lục, tỉnh Hà Nam. Theo các sự kiện và địa danh được SH ghi và chuyển lại cho nhóm cựu sinh viên VĐHDL công bố trong Đặc San Frère Kế (Calif., 12/2003), th́ có thể có nghi vấn về nhưng ngày thơ ấu của chú Kế. Tài liệu nhắc đến Kẻ Đầm (tức Bích Tŕ năm 1939 có 1689 giáo dân, thuộc xă Thanh Nam, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Kỷ Yếu Hà Nội đdt., t. 145) , đến cha Đoán là những chi tiết liên quan đến GP Hà Nội. Hơn nữa, nếu cha Đoán rửa tội cho cậu Kế vào ngày 20/12/1912, tức là ba ngày sau khi sinh, th́ khó có thể hiểu được điều kiện di chuyển ở Việt Nam vào thời điểm đ̣, từ Tuyên Quang đến Hà Nam cho một người mẹ mới sinh con được ba ngày, vỉ khi rửa tội trẻ sơ sinh, có tập quán được khuyến khích là khi sức khỏe không có ǵ bất thường th́ bà mẹ cũng nên tham dự!? Vả lại, trong gia tộc của họ Nguyễn bên vợ người viết, tại Ư Yên, Nam Định, xác nhận là SH. T. Kế có liên hệ gia tộc với họ vợ của người viết. Nhưng không thấy SH, khi c̣n sống, đă  cho biết là gia đ́nh SH đá chuyển từ Phú Lương (hay cư trú ở nơi này) về (hay thuộc) miền Phủ Lư (Hà Nam) khi nào và trong hoàn cảnh nào. Như vậy, khó thể hiểu Phú Lương là ở Tuyên Quang!

[80] Tham khảo Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, đd., t. 148

[81] Điều đó tốt, nhưng phải chăng đó là mục đích chính của thư viện? Nếu nhân cơ hội đó giáo dục được tốt cho thanh niên th́ luôn luôn tốt, nhưng cần chú ư đến nhiệm vụ chủ yếu của thư viện!

[82] Trần Bá Hồng Minh: “Spellman, dấu chân kỷ niệm”. ĐSKD7, tt. 88-92.

Trước khi chia tay rời khỏi đất Cao Nguyên Lâm Viên, người viết nhận được một số h́nh ảnh, kỷ vật, trong đó có chiếc office-case Echolac và vài trang kỷ niệm cuộc đời của Sư Huynh. Điều quan trọng nhất là những tâm sự của Sư Huynh đối với người viết về nhiều dư luận và tháí độ của các linh mục giáo sư đồng nghiêp và sinh viên đă có giao tiếp hay tham dự những lớp mà người viết phụ trách ở Trường Văn Khoa, CTKD và hoạt động ở các đơn vị khác trong Viện đối với người viết Trong đó Sư Huynh có lưu ư những khuyết nhược điểm và những ưu điểm của người viết trong môi trường đại học, nhất là những điều cần thận trọng để tránh hiểu lầm và suy b́ ở nơi từng hạng người! Những điều ấy không có liên quan ǵ đến Thư Viện, nhưng về giao tế nhân bản vả tương quan xă hội trong đại gia đ́nh Thụ Nhân th́ có giá trị giáo dục tế nhị và chân thành vô cùng. Người viết chưa kịp nói lời chia ly với Sư Huynh, th́ sư huynh vội về với Chúa đúng một tháng trước khi người viết bước chân lên đất Mỹ (11/2003)! Xin ghi lại chứng từ này như một tri ân sâu thẳm nhất, chân thực nhất, như một chứng liệu lịch sử, để chia sẻ với mọi thành viên Thụ Nhân.

[83] Nguyễn Thị Phấn Hoa: “Hoài Niệm”. ĐSKD7, h́nh chụp Thẻ sinh viên NTPH, t. 84.

[84] Như thế chức vụ Tổng Thư Kư đă có, nhưng bắt đầu và kết thúc năm nào, và v́ những lư do nào, cùng giải pháp được chọn lựa thế nào?  

[85] Giáo Sư W. Solheim có gửi cho người viết ít nhất hai là thư thúc dục kế hoạch hợp tác phát quật mấy di chỉ khảo cổ ở Blao, nhưng không thể tiến hành trong thời chiến, dù phía GS W. Solheim sẵn sàng tài trợ về tài chính và kỹ thuật cùng các chuyên gia khảo cổ. Về sau này, sau 30/4/1975, Viện Khảo Cổ Hà Nội và Ban Khảo Cổ thuộc Viện Khoa Học Xă Hội tại Sàig̣n thực hiện nhiều cuộc khai quật khảo cổ ở Cao Nguyên Lâm Đồng

[86] Tức là tổ chức Summer Institute of Linguistics (SIL), University of North Dakota, USA. Tổ chức này thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu ngữ học bằng cách gửi nhiều sinh viên Ph.D. đến Cao Nguyên và biên soạn Luận Án Tiến Sĩ Ngữ Học qua các field studies nơi các bộ tộc khác nhau. Khi các nhà khoa học VN miền Bắc vào tiếp quản cơ sở SIL này ở số 279 Đường Nguyễn Minh Chiếu, Phú Nhuận (cũ), th́ máy móc và nhiều tài liệu khoa học bị phá hủy và người viết chứng kiến các sách vỡ ḷng và nghiên cứu ngữ học, dân tộc học (do nhiều nhà truyền giáo dân tộc học Tin Lành ghi chép tại thực địa) khác bị nhiều nhân viên mang về cho con chơi hay cắt nhỏ làm phiếu nháp!

[87] Dalat University, đd., t. 20.


Xem tiếp :   Phần III. Khối Học Vụ: Các Phân Khoa  

  Về lại mục lục