|
Viện
Đại Học Đà Lạt
Giữa
Ḷng Dân Tộc Việt Nam
1957-1975
Hoà
Giang Đỗ Hữu Nghiêm
.......
PHẦN II : LỊCH
SỬ THÀNH LẬP
Chương
III : Điều
Kiện Hợp Pháp Đến Hoạt Động
Thực Tiễn
1. Việc
Thành Lập Theo Luật Pháp
Về
pháp lư dân sự, Hội Đại Học Đà
Lạt được giấy phép hoạt động
chính thức theo Nghị Định số
67/BNV/NA/P5 của Bội Nội Vụ kư ngày 8/8/1957
và bắt đầu từ niên khóa 1957-58. Nhưng
trong thực tế chính nhiều người có trách
nhiệm của Viện Đại Học Đà
Lạt lại nói Viện này được thành
lập vào những thời điểm khác nhau. Như
vậy thực sự Căn bản pháp lư của
Hội Đại Học Đà Lạt đă có
từ ngày 8 tháng 8 năm 1957.
Và
để tạo điểu kiện cho Hội
ĐHĐL hoạt động th́ nhà nước
gửi sinh viên của chính phủ lên thụ
huấn bởi chính những giáo sư từ Sàig̣n
đến Viện Đại Học Đà Lạt
giai đoạn ban đầu, ít nhất là ba năm
từ các niên khóa 1958-1959 đến 1961. Đây là
năm có khóa tốt nghiệp đầu tiên
của ba năm thụ huấn tại Đà
Lạt của sinh viên ban Triết Học và Pháp Văn,
do nhà nước gửi tới.
Văn
kiện ắc Lệnh số 232/NV do
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hỏa kư ngày
9/9/1959
công nhận Hội Đại Học Đà Lạt
là một hội công ích và công nhận Hội
Đồng Quản Trị của Hội này là
một tổ chức pháp nhân.
Căn bản đó giúp Hội Đại Học có
đầy đủ tư cách pháp nhân để
tạo măi tài sản hợp pháp, được hưởng
nhiều thứ quyền lợi về kinh doanh,
nhất là xuất nhập cảng, với nhiều
ưu tiên khác, như không phải đóng thuế
v́ hoạt động công ích.
Đây
là hai văn kiện pháp lư đầu tiên giúp
Hội Đại Học Đà Lạt có điều
kiện để hoạt động kinh tài xây
dựng Viện Đại Học. V́ thế
việc tạo măi đầu tiên mà Hội Đại
Học Đà Lạt đă thực hiện do
việc thành lập một Nhóm Cố Vấn Pháp Lư
để thi hành các thủ tục và thương
thuyết với Chính Phủ. Chỉ đến tháng
Ba năm 1960, Chính Phủ Việt Nam mới chấp
nhận yêu cầu của Hội. Chính Phủ đă
dành cho Đai Học Đà Lạt quyền
chiếm hữu khuôn viên hiện có trong thời
gian vô hạn định.
Như
thế theo thủ tục pháp lư, Hội đă mua
hẳn cơ sở Trường Thiếu sinh quân mà
nhà nước Việt Nam tiếp quản từ quân
đội Pháp với giá tương trưng là 1
đồng bạc Việt Nam. Với lợi
tức phát triển dần dần, Hội Đại
Học đă mua hẳn những tài sản kinh doanh
để tài trợ cho các hoạt động giáo
dục lâu dài, ổn định của Viện
Đại Học
Những
văn kiện tiếp theo chỉ có tính cách bổ
sung về các phương diện học vụ
củng cố cho việc phát triển của
Viện Đại Học Đà Lạt ở
những giai đoạn khác nhau về sau. Những
văn kiện đó sẽ được khai
triển trong quá tŕnh cấu trúc thích hợp
của nghiên cứu này.
2.
Những Cảm Nhận Và Chứng Từ Thực
Tế Khác
Chính
hai thời điểm của văn kiện pháp lư
đó và những cuộc thương lượng
gay go có liên quan đă giải thích những cảm
nhận khác nhau về quá tŕnh h́nh thành Viện
Đại Học Đà Lạt sau này. Theo Niên Giám
2005 của HĐGMVN trang 777, Viện Đại
Học Công giáo được thành lập vào tháng
8 năm 1957
tại Đà Lạt, thuộc quyền sở
hữu của Hội Đại Học Đà
Lạt, mà hội viên là toàn thể các giám
mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam. Viện có mục đích phát huy văn hóa dân
tộc, bảo lưu các giá trị văn hóa
cổ truyền tốt đẹp của dân
tộc Việt Nam, kết hợp hài ḥa với
luồng văn hóa quốc tế, phù hợp
với tinh thần Tin Mừng Công giáo và góp
phần vào giáo dục các thế hệ để
phát triển đất nước và dân tộc.
Trong bối cảnh xă hội tại Việt Nam,
thiết tưởng nên phân tích thêm một số
mặt để làm rơ mục tiêu tôn chỉ
này như trên.
Chương IV : Hội
Đại Học Đà Lạt
1.
Quá Tŕnh H́nh Thành.
Hội
Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng.
Ban
đầu chính TGM Ngô Đ́nh Thục chủ động
thiết lập “Hội Việt Nam Viện Trợ
Giáo Dục Cao Đẳng”
ngay từ năm 1957, nhằm mục đích kinh tài
yểm trợ cho các hoạt động phục
vụ xây dựng Viện Đại Học Đà
Lạt.
Có
nhiều vận động yểm trợ từ Cơ
quan Viện Trợ Công giáo Hoa Kỳ, qua các ông
Đinh Văn Bài
và Công Chứng Viên Phạm Quang Lộc, khi đó là
cố vấn cộng tác với LM phụ trách do HĐGMVN
chỉ định. Ông Bài, một nhân
viên xă hội làm việc tại Cơ Quan đó,
cho biết có nhiều bất động sản
khởi đầu được dự tính trao cho
Hội làm phương tiện kinh doanh.
Các
lợi tức có được, dùng để tài
trợ cho việc tạo măi tài sản, thiết
lập và duy tŕ liên tục công cuộc phát
triển Viện Đại Học Đà Lạt.
Khi đó, có cả những bất động
sản như: khu rừng Cao su ở Củ Chi,
Trảng Bàng, B́nh Long, và Thủ Đức, do người
Pháp trao trả hay bỏ lại. Hội Việt Nam
Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng dường
như có vai tṛ hoạt động kinh tài song hành
một thời gian nhất định yểm
trợ cho việc thành lập Hội Đại
Học Đà Lạt. Hội Đại Học này
trở thành chính thức vào tháng 8/1957.
Công
tŕnh xây dựng. Nhờ
tài trợ
của Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo
Dục Cao Đẳng, các bộ phận sau đây
đă lần lượt được xây
dựng trên khuôn viên VĐHĐL: các pḥng thí
nghiệm Lư Hóa, Thư Viện, văn pḥng,
giảng đường, xe hơi, sách vở, trang
thiết bị pḥng thí nghiệm, pḥng đọc sách,
nhà chơi, nhà y tế, sửa chữa, bài tŕ
giảng đường, nhà cơm, nhà vệ sinh,
nhà bếp, nhà bảo vệ, san bằng nền
đất, thiết trí điện thoại, xây
dựng nhà hội để cử hành lễ nghi tôn
giáo (1958-61)
Yểm
Trợ tài chánh ngắn hạn để sửa chữa bảo tŕ cơ sở
vật chất, để trả lương giáo sư
và nhân viên, để lập Quỹ Dự Trữ
từ đầu tài khóa 1958 đến hết tháng
6/1961.
Yểm
trợ tài chánh dài hạn
để tạo măi ba cơ sở:
- Bất
động sản hạng nhất
ngay trung tâm Sàig̣n, ở góc Lê Lợi-Nguyễn
Huệ (133 Nguyễn Huệ Sàig̣n).
- Bất
Động Sản ở Đa Kao, ở
góc Đinh Tiên Hoàng-Nguyễn Văn Giai
- Bất
Động sản ở Công Trường Lam Sơn.
Các
tài sản khác đă lần lượt được
tạo măi làm phương tiện phục vụ công
ích của Hội Đại Học Đà Lạt
Hội
Đại Học Đà Lạt.
Hội
Đại Học Đà Lạt được
tổ chức theo quy chế
đă được ấn định và có
thể h́nh dung theo biểu đồ sau đây:
Biểu
Đồ 1: Cơ Cấu Tổ Chức Hội
Đại Học Đà Lạt
|
|
Hội Đại Học Đà Lạt
|
|
|
|
Hội Đồng Quản Trị
|
|
|
|
Ủy Ban Thường Trực
|
|
|
|
Tổng Quản Lư
|
|
|
(Các
Cơ Sở Kinh Doanh)
|
|
Thương Xá TAX
|
Thư Quán Xuân Thu
|
Ngân Hàng Nông Thôn Đức Trọng
|
|
Thương Xá Đinh
Tiên Hoàng
|
Cao Ốc Lam Sơn
|
Đồn Điền
Đại Nga
|
|
Cơ sở Viện Đại Học
tại Đà Lạt
|
|
Đồn Điền Di Linh
|
|
Chú
thích: 1/Chức
vụ Tổng
Quản Lư
có nhiệm vụ Quản
Trị & Điều Hành các Cơ Sở Kinh
Doanh của Hội Đại Học Đà
Lại. Lợi Tức Thuần Tính (Net
Income) do những Cơ
Sở này mang lại, một phần lớn
đượcc đưa vào Ngân Sách Chi tiêu
của Viện Đại Học Đà Lạt.
Từ 6/70-4/75, Các Cơ Sở Kinh Doanh do G.S
Trần Long phụ trách)
2/ Cơ sở xây dựng Viện Đại
Học Đà Lạt gồm ba khu đồi A,
B, C. Diện tích
khuôn viên khu A xây dựng trường sở
gồm chừng 38-40 ha
|
Hội
Đồng Quản Trị
Hội Đại Học Đà Lạt hoạt
động khởi đầu theo Qui Chế ấy,
được đính kèm Nghị Định
số 67-BNV/NA/P5 ngày 8/8/1957. Hội Đồng
Quản Trị cho năm 1961 gồm có TGM Ngô Đ́nh
Thục, Chưởng Ấn quản trị viên, và
ba Giám Mục quản trị viên là Nguyễn Văn
B́nh, Nguyễn Văn Hiền và P. Piquet.
Vào thời gian đầu ấy, Ông Phạm Quang
Lộc, công chứng viên tại Sàig̣n được
chọn làm cố vấn pháp lư và tài chánh cho
Hội Đồng.
Hội
Đồng Quản Trị về sau được
thành lập gồm: Chủ Tịch (GM Nguyễn Văn
Hiền, GM Đà Lạt), Hội Viên 1 (GM Phạm
Ngọc Chi, GM Đà Nẵng), Hội viên 2, Chưởng
Ấn VĐHĐL (Giám Mục Nguyễn Ngọc
Quang, Gp Cần Thơ).
HĐQT cử nhiệm một Ủy Ban Thường
Trực để điều hành công việc.
Ủy
Ban Thường Trực
cuối cùng gồm Chủ tịch (linh mục
Viện Trưởng Lê Văn lư), một ủy viên
tổng quản lư (GS Trần Long) và một ủy
viên tổng kiểm soát (Ông Trần Văn
Bốt). Trong một thời gian lâu dài, chính LM
Nguyễn Văn Thạnh làm Quản lư của GP Sàig̣n
kiêm nhiệm quản lư Hội Đại Học
Đà lạt. LM Nguyễn Hữu Trọng
làm kiểm soát viên. Ông Đỗ Văn Thành coi nhà
sách Xuân Thu, kiêm thư kư phụ trách Chánh Văn
Pḥng Liên Lạc của Viện Đại Học
Đà Lạt tại Sàig̣n.
Khi
Linh Mục hồi hưu, th́ người được
cử nhiệm làm Tổng Quản Lư là GS Trần
Long.
Theo
Hồi Kư của GS Trần Long, th́ “tháng 7/1970, tôi
được bổ nhiệm làm Tổng Quản Lư
Hội Đại Học Đà Lạt (Dalat
University Foundation), và về Sàig̣n để cai
quản những cơ sở sinh lợi của
Hội. Đầu năm 1971, khi tôi dọn vào căn
pḥng mới lầu hai Catinat Building ở trung tâm Sàig̣n”,
có ông Vũ Anh Tuấn đặc trách hành chánh
địa ốc.
2.
Những Vấn Đề Của Hội Đại
Học Đà Lạt
Theo
LM Viện Trưởng tiết lộ cho người
viết,
trước khi cha đi Pháp năm 1980. Theo đó,
ít tháng trước biến cố 30/4/1975, GS
Trần Long làm Tổng Quản Lư có yêu cầu
với LM Viện Trưởng là được hoàn
toàn đứng tên một ḿnh, chứ không
phải hai người, trên các chứng từ hành
chánh và tài chánh. Đó là thông lệ vẫn áp
dụng cho những chữ kư quan trọng (chi tiêu,
thu nhập) trên các chứng từ hành chính và tài
chính của Hội Đại Học Đà
Lạt, theo luật pháp chung của quốc gia cũng
như quốc tế đối với người
đại diện một Hiệp Hội có pháp nhân.
Lư do GS Trần Long nêu ra là uy tín cụ thể
của GS ở cương vị một Tổng
Quản Lư của Hội Đại Học Đà
Lạt trong Giáo Hội Công Giáo. Nếu không, trong
bối cảnh đang diễn ra ở miền Nam
(VNCH), GS không thể làm việc được. LM
VT đứng trước nhiều áp lực do t́nh
h́nh, trong đó có việc Linh Mục Nguyễn
Hữu Trọng xin nghỉ hưu, đă nhượng
bộ.
Sau
30/4/1975, một hôm, LM Lê Văn Lư nói với người
viết là Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam có hỏi ngài về t́nh h́nh các bất động
sản và tài khoản của Hội Đại
Học Đà Lạt hiện ra sao, th́ ngài trả
lời là bất động sản và tài khoản
(tiền mặt, ngân chi phiếu, chứng thư,
chứng từ tài chánh…) đều do nhà nước
mới quản lư và phong tỏa các trương
mục có thể kiểm soát được.
Như
vậy số phận các tài sản - nhất là ngân
quỹ chung của Giáo Hội do Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam quản nhiệm cao nhất -
trong các trương mục ở trong nước
hay ở nước ngoài mang danh nghĩa Hội
Đại Học Đà Lạt như thế nào
khi Cộng Sản chiếm toàn miền Nam từ
ngay trước và sau 30/4/1975 đến nay?
3.
Các Tài Sản Của Hội.
Thực
sự về sau, v́ nhiều nguyên nhân phức
tạp khác nhau, Hội Đại Học Đà
Lạt chỉ c̣n sở hữu và quản lư các cơ
sở ở vùng Sàig̣n và Bảo Lộc, Đà
Lạt như:
Thương
Xá Tax (Ô. Thái Văn
Phải giám thị).
Thương
Xá Đinh Tiên Hoàng Đa
Kao (Ô. Âu Văn Kiệt khán thủ).
Cao
Ốc Lam Sơn (Ô.
Nguyễn Văn Thành làm giám thị).
Nhà
sách Xuân Thu (tiếp
quản từ nhà sách Portail do người Pháp trao
lại. Bà Ánh Nguyệt tức Bà Trần Long
làm giám đốc).
Các
cơ sở trực thuộc VĐHĐL tại Sàig̣n,
do LM Nguyễn Hữu Trọng, Đại Diện VT
điều hành với ông Đỗ Văn Thành làm
Tổng Thư Kư phụ trách gồm ba bộ
phận:
Pḥng
Liên Lạc (Ô. Nguyễn
Hữu Phước và Ô. Đoàn Văn Gấm),
Pḥng
đại diện sinh viên vụ
(Ô. Dương Hiệp Nghĩa, cô Lê Ḥa Ánh), và
Ban Cao Học Trường Chánh Trị Kinh
Doanh. Ngoài GS PBL làm Khoa Trưởng,
có các GS Nguyễn Lâu, Pt Khoa Trưởng, GS
Nguyễn Chánh Đoan, GS Nguyễn Đ́nh Quế làm
GS đặc vụ, Ông Đỗ Văn Thành làm
CVP, với một số nhân viên (Bà Công Tằng Tôn
Nữ Thị Cảnh, Cô Phạm Thị Chính, Ông
Nguyễn Tri Lương, Ông Vơ Lang, và ông Nguyễn
Văn Yến)
Đồn
Điền Đại Nga
(cơ sở ở Lâm Đồng, trồng trà và
nhiều loại cây ăn trái, do Tu Huynh Đinh Quang
Trí, CSC, trông coi).
Đồn
Điền Di Linh Djirato
(do Tu huynh Bùi Chu Tràng, CSC, trông coi)
Ngân
Hàng Tín Dụng Nông Thôn Đức Trọng
(Lm Nguyễn Hữu Trọng đặc trách, dường
như một thời gian có GS Lương Hữu
Định làm Giám Đốc)
Ba
Khu Đồi xây dựng
làm cơ sở Viện Đại Học tại
thị xă Đà Lạt.
4.
Các Nguồn Tài Trợ.
Trong
quá tŕnh xây dựng và phát triển Viện Đại
Học Đà Lạt, phục vụ ngày càng đông
sinh viên, các quản trị viên không chỉ trông
nhờ vào nguồn tài trợ giới hạn
từ các cơ sở của ḿnh mà cần có tài
trợ của các nguồn khác, như:
Các
mục thu:
a.
Nguồn thu học phí của sinh viên.
b.
Trợ cấp của chính phủ Việt Nam.
Bộ
Quốc Gia Giáo Dục (Bộ Trưởng Trần
Hữu Thế, Nguyễn Quang Tŕnh), nhất là
Viện Đại Học Sàig̣n và Trường Văn
Khoa, Trường Sư Phạm, Trường Khoa
Học
Bộ
Tài Chánh (thời Viện Trưởng Lê Văn Lư)
c.
Trợ cấp của chính phủ hay tổ chức
kinh doanh, thiện nguyện, tôn giáo, văn hóa giáo
dục. quốc tế, như
Hội
Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng
Cơ
Quan Catholic World Service, CWS
US
Catholic Relief Service, CRS
World
University Service, WUS.
Canada
và Pháp (giúp tài trợ và cử nhiệm giáo sư
sang giảng dậy tại VĐH Đà Lạt
Cơ
Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation).
Phái
Bộ Viện Trợ Hoa Kỳ (The USAID Mission)
Đức
Phao Lô VI
Hồng
Y Spellman
Khâm
Sứ Ṭa Thánh
Chính
GM Ngô Đ́nh Thục
Hội
Đồng GMCHLB Tây Đức, nhất là Ṭa Giám
Mục Koln giúp 10.000 Đức Mác mua sách)
Trường
Đại Học Công Giáo George Mason University (4400 University Drive, Fairfax, VA 22030) bảo
trợ.
d.
Trợ cấp nói chung của các tổ chức hay
cá nhân ân nhân khác, …
Tất
cả những nguồn tài trợ đó chi cho các
mục, như:
Lương,
vận phí các giáo sư và nhân viên công tác
Chi
Phí Xây Cất Mới, Trang Thiết Bị, Pḥng Thí
Nghiệm và Bảo Tŕ các Cơ Sở
Dự
Trữ Tiếp Tân và các hoạt động an toàn
xă hội tối thiểu
Học
Bổng, Hoạt Động Sinh Viên
Biểu
Đồ 2. Tổ Chức Tổng Quát Hội và
Viện Đại Học Đà Lạt
|
Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam
|
|
Viện
Đại Học Đà Lạt
|
|
Hội
Đại Học Đà Lạt
|
|
Chưởng
Ấn
|
Hội
Đồng Quản Trị
|
|
Hội
Đồng Viện –VT-UỳBPhTr&KếH -
UBHVụ
|
|
Uỷ
Ban Thường Trực
|
|
|
|
|
|
Tổng
Quản Lư
|
|
Văn
Pḥng Viện
|
Đại
Diện VT/Sàig̣n
|
Cơ
Sở Kinh Doanh
|
|
1.GĐ/ĐHX(TVKư,Kiêm Ái,Bminh)
|
1.Văn Pḥng Liên Lạc
|
1.Thương Xá Tax
|
|
2.GĐ/Sinh Viên Vụ
|
2.TrCTKD/Ban Cao Hoc
|
2.Cao Ốc Lam Sơn
|
|
3.TU/Tuyên Úy Vụ
|
3.VP Dại Diện Sinh Viên
|
3.Thương Xá ĐTHoàng
|
|
4.GĐ/Tu Thư & Báo Chí
|
|
5.Thư Quán Xuân Thu
|
|
5.GĐ/Thư Viện
|
6.Đồn Điền Đại
Nga
|
|
6.QL/Pḥng Quản Lư
|
7.Đồn Điền Di Linh
|
|
7.KT/TrCTKDoanh/Ban Cử Nhân
|
8.Ngân Hàng NT Đức
Trọng
|
|
8.KT/TrĐH Khoa Học
|
|
|
9.KT/TrĐH Sư Phạm
|
|
10.KT/TrĐH Văn Khoa
|
|
11.KT/TrĐH Thần Học
|
|
TC: (11) bộ phận
|
(3) bộ phận
|
(8) bộ phận
|
|
Chú thích:
Biểu đồ này cho thấy tương
quan giữa các bộ phận của Hội Và
Viện Đại Học Đà Lạt
|
| |
|
|
|
|
|
5. Cơ
Sở Viện Đại Học tại Đà
Lạt.
Cơ
sở bất động sản khu đồi chính
dùng để xây dựng, phát triển tiện nghi
sinh hoạt quản trị, giảng huấn, cư
trú của Viện Đại Học Đà Lạt
được tiếp quản từ cơ sở cũ
của Trường Thiếu Sinh Quân do người
Pháp để lại. Ngay thời điểm trước
30/4/1975, bất động sản này gồm có ba
Khu:
Khu
A: Khu đồi chính
ở đường Phù Đổng Thiên Vương
cuối Đồi Cù phía Tây thành phố Đà
Lạt; Diện tích chừng 40 ha, cách Trung Tâm Thành
phố Đà Lạt 1 km 5 Khuôn viên Đại
Học Đà Lạt Khu A khởi đầu chỉ
có chừng hơn mười ṭa nhà, với các
đường đi lối lại được
trải đá dăm.
Khu
B:
Khu đồi Minh Ḥa, nơi lúc đó có cư
xá sinh viên Rạng Đông và Chủng viện Minh Ḥa
thuộc GP Đà Lạt, ở đường Thông
Thiên Học.
Khu
C: Khu C ở đường
Vạn Kiếp và đường Trần Hưng
Đạo có chừng 38 biệt thự sẵn sàng
dùng làm Cư Xá Nhân Viên Giảng Huấn.
Cả
ba khu đang có kế hoạch mở mang theo đúng
chức năng được hoạch định.
Chính Linh Mục Viện Trưởng, ủy
nhiệm cho GS phụ tá hành chánh vai tṛ chuẩn
bị với sự trợ giúp của Ṭa Tỉnh
Trưởng Đà Lạt, thu xếp một
chuyến máy bay trực thăng từ Nha Trang lên, và
đă bay ở cao độ 300 m để chuyên viên
nhiếp ảnh (nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngà
của Photo Hồng Châu, Khu Chợ Ḥa B́nh Đà
Lạt) có thể chụp các không ảnh cả ba
khu ABC của Viện Đại Học Đà
Lạt. Chính nhờ những không ảnh này mà các
chuyên viên kỹ thuật tùng sự tại Trường
Chiến tranh chính trị Đà lạt có thể giúp
thiết lập một mô h́nh (sa bàn) thu nhỏ toàn
bộ Khu A của Viện Đại Học Đà
Lạt. Mô h́nh này cũng được dùng để
triển lăm tại Trung Tâm Công giáo ở số
72/12 Đường Nguyễn Đ́nh Chiểu Tân
Định Sàig̣n nhân kỷ niệm 350 năm
truyền giáo ở Việt Nam vào thời điểm
1972 trước khi được trưng bày ở
Trung Tâm Sinh Viên VĐH Đà Lạt.
Các
bất động sản thuộc cả ba khu A, B và
C nói trên, theo người viết được
biết, đă được Đại Diện
của HĐGMVN cho nhà nước mới mượn
theo một hợp đồng được kư
kết sau 30/4/1975, giữa đại diện hai phía
Giáo Hội và Nhà Nước Việt Nam.
6.
Cảnh Quan Khuôn Viên Viện Đại Học
Nói
đến Viện Đại Học Đà Lạt
mà không nói đến cảnh quan tuyệt diệu
yêu kiều, đầy mộng mơ, là một
thiếu xót khó chấp nhận, như chưa
biết ngỏ lời khen tặng một bông
hồng đẹp đẽ duyên dáng trong ḍng
đời thanh xuân. Thay cho một mô tả khô khan,
thiết tưởng nên dơi theo ḍng suối ấn
tượng của những đôi mắt nam
nữ sinh viên ghi lại những cảm nhận
rất chân thành hồn nhiên của ḿnh:
“
Sau buổi cơm chiều, tôi thường đi
dạo sân trường, thơ thẩn thưởng
thức Khung Trời Đại Học,
nhớ lời một vị Giáo Sư: “Viện
Đại Học Đà Lạt là một trường
đại học đẹp nhất Đông Nam Á,
dù quy mô không phải là lớn nhất.”… Nét
đẹp thơ mộng lăng mạng, và rất thiên
nhiên. Từng con đường ngọn cỏ in
dấu bước chân học tṛ, in dấu trong kư
ức tôi cho đến hôm nay và có lẽ măi măi…
Con
dốc Kiêm Ái đây, nhưng sao không đưa tôi
về những dăy pḥng trọ, nơi tôi có
nhiều niềm buồn vui với bạn bè,
với tiếng cười rộn ră vô tư,
với những đêm thức học bài, xúm nhau
nấu ḿ gói ăn khuya. Nhớ nhiều buổi
trốn học, tôi đi phố mua dâu tây, về
học xá lặt rửa sạch sẽ, trộn
đường cho lên men thành rượu, dành khi
về Sàig̣n tặng Má…”
Hay
“Viện
Đại Học Đà Lạt rộng, cổ kính
và quí phái, bốn mùa thắm sắc những loài
hoa, Mùa Đông hoa anh đà nhuộm hồng phố
xá, trên những lối nhỏ dẫn đến
giảng đường, dọc bờ Hồ Xuân Hương,
thắm thềm bướm trắng…”
Nhưng
có những bạn nam sinh viên biểu tả vẻ
đẹp của Viện Đại Học Đà
Lạt dưới ng̣i bút “hoa không thua thắm,
liễu hờn kém xanh!” thế này:
“Phong
trào sinh viên học sinh băi khóa biểu t́nh
chống chính quyền dữ quá, nên tôi quyết
định về quê và xin phép gia đ́nh đi
học trường Chánh Trị Kinh Doanh. Đây là
quyết định quan trọng đầu đời
của tôi, may sao lại là quyết định hoàn
toàn đúng. Trường Chánh Trị Kinh Doanh có
cuốn hút diệu ḱ bao hoài băo và ước mơ
bay bổng của tôi.
Hơn
nữa Đà Lạt là thành phố đẹp
nhất mà tôi từng được biết. V́
vậy bốn năm học ở Đà Lạt là
thời tuổi trẻ tươi đẹp mà tôi
chẳng thể nào quên. Buổi sáng tinh sương
đi học, ḥa vào ḍng người bước chân
đến trường mới tuyệt làm sao. Con
dốc dưới chân đồi leo lên cổng
viện, một bên có hàng mimosa nở hoa trắng xóa,
từ nhóm bạn bè đi bên nhau nói cười
vui vẻ, mưa bụi li ti bám trên tóc, trên vai, trên
mặt các bạn nữ má đỏ môi hồng, nên
thơ và đẹp đẽ làm sao… Ở trường
CTKD có những môn học hồi đó đối
với tôi hay đến lạ: “điển
cứu”, “tu từ văn thể”, “quảng cáo
tiếp thị”, “xác xuất thống kê”,
v.v…”
Chương Năm: Quá Tŕnh Thành Lập
Viện Đại Học
1. Các Cơ
Cấu Tổ Chức
Biểu
Đồ 3: Tổ Chức Thực Tế Viện
Đại Học
|
|
Viện
Đại Học Đà Lạt
|
|
|
|
Chưởng
Ấn
|
|
|
|
Viện
Trưởng
|
|
|
|
Hội
Đồng Viện
|
|
|
Uỷ
Ban Hành Chánh & Kế Toán
|
Uỷ
Ban Học Vụ & Hội Đồng Kỷ
Luật
|
|
|
|
Khối Hành Chánh
|
Khối Tâm Linh
|
Khối Học Vụ
|
Khối Phục
Vụ
|
|
Văn
Pḥng Viện
|
Nhà
Nguyện
|
Thư
Viện
|
Pḥng
Quản Lư
|
|
Tại
Đà Lạt
|
Pḥng
Liên Lạc tại Saigon
|
|
|
Tuyên
Úy Vụ
|
Tu
Thư & Báo Chí
|
Nhà
Khách
|
|
Sinh
Viên Công Giáo
|
Tri
Thức
|
Thụ
Nhân
|
SIVIDA
|
|
|
|
Sư
Phạm
|
Sinh
Viên vụ
|
|
Tại Đàlạt
|
Pḥng Đại Diện/Sàig̣n
|
|
|
|
Văn Khoa
|
Đại Học Xá
|
|
B́nh Minh
|
Kiêm Ái
|
Trương VĩnhKư
|
|
|
|
Khoa Học
|
Pḥng Y Tế
|
|
|
|
Chánh Trị Kinh Doanh
|
Nhà Bếp Viện Trưởng
|
|
Ban Cử Nhân (Đà Lạt)
|
Ban Cao Học (Sàig̣n)
|
|
|
|
Thần Học
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Biểu đồ trên đây phản ảnh
tổ chức và sinh hoạt thực tế của
Viện Đại học Đà Lạt và
được mô tả theo các khía cạnh
hoạt động chức năng của mỗi
đơn vị trong Viện.
2. Các Chưởng
Ấn.
HĐGMVN
khởi đầu xây dựng Viện Đại
Học Đà Lạt, với thúc đẩy tích
cực của GM Ngô Đ́nh Thục.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhất trí
cử một vị Chưởng Ấn.
Vị
Chưởng Ấn đó sẽ cử một người
quản trị. Vị Chưởng Ấn đại
học đầu tiên vận
động
cho sáng kiến thiết lập Hội Đại
Học Đà Lạt là chính GM Phêrô Martinô Ngô
Đ́nh Thục, khi đó c̣n làm Giám Mục
quản trị Địa Phận Vĩnh Long. Giám
Mục có một vị thế có nhiều ảnh hưởng
trong xă hội và giáo hội thời đó. Năm
1963, GM Ngô Đinh Thục đi dự Công Đồng
Vatican II rồi kẹt v́ chính biến ngày 2/11/1963
không về được,
nên HĐGMVN bầu ngay Vị Chưởng Ấn
kế tiếp là chính GM Trần Văn Thiện,
GM Mỹ Tho, và cũng là Viện Trưởng tiên
khởi
đảm nhiệm mọi trách vụ Chưởng
Ấn Viện Đại Học. GM Trần Văn
Thiện làm Chưởng Ấn đến năm
1970, th́ HĐGMVN bầu GM Giacôbê Nguyễn
Ngọc Quang,
GP Cần Thơ (1965-1990) làm Chưởng Ấn
cuối cùng cho đến 30/4/1975.
3.
Các Viện Trưởng
Viện
Trưởng đầu tiên là Linh Mục Trần Văn
Thiện (1957-1961). Khi LM Trần Văn Thiện
làm Giám Mục năm 1961, Lm Simon Nguyễn Văn
Lập, Cử Nhân Sử Địa (Sorbonne,
Paris), mới được bổ nhiệm làm
Viện Trưởng
(1961-1970).
Linh
Mục Viện Trưởng Trần Văn
Thiện.
Nhiệm
vụ Viện Trưởng đầu tiên chính là
xây dựng, tổ chức và quản trị giai
đoạn h́nh thành Viện Đại Học
Đà Lạt. Mấy lănh vực quan trọng
nhất là quản trị ban đầu, tổ
chức kỹ thuật, và xây dựng cơ sở
học thuật, tiếp nhận và sử dụng
viện trợ. Sau cùng là tính chất công ích
của Hội Đại Học Đà Lạt.
T́nh
H́nh Quản Trị Ban Đầu. Bộ Quốc Gia Giáo Dục đă biệt phái
một số nhân sự chuyên biệt có nhiệm
vụ điều hành những công việc về hành
chánh quản trị. Các chuyên gia này đều
nhận tiền lương từ Bộ Giáo
Dục và họ chỉ nhận thù lao chức
vụ của Viện. Như vậy làm nhẹ
bớt gánh năng chi phí ban đầu.
Kỹ
Thuật..Trường Văn
Khoa tiếp nhận một số linh mục giáo sư
đang giữ nhiều trọng trách tại Sàig̣n
lên giảng dậy tại Đà Lạt. Trường
Sư Phạm và Khoa Học cũng được
nhiều giáo sư từ các phân khoa Sàig̣n lên như
vậy
Học
Vấn. Việc học
vấn của sinh viên đă diễn ra chật
vật như những số liệu thống kê dưới
đây chứng minh. Việc tổ chức các môn
học của Trường Văn Khoa và Sư
Phạm theo chế độ học vấn không
giống nhau.
Trong
khi Sư Phạm có xu hướng áp dụng Niên
Chế th́, Văn Khoa có xu hướng theo Chứng
Chỉ. Riêng Khoa học th́ được
tổ chức theo Giáo tŕnh. Đặc
biệt là ở Khoa này, hai năm đầu tiên có
khóa đào tạo kỹ thuật. Các kỳ thi
cuối năm của mỗi Phân Khoa cũng
được chia nhỏ cho từng lớp
học, dù theo chế độ học vấn nào.
Sau ba năm học, khóa đầu tiên tốt
nghiệp. V́ thế Viện Đại Học đă
phải làm tờ phúc tŕnh tổng thế này lên
chính phủ (Bộ
Giáo Dục) để có thể đề xuất
hướng cải tiến các phương diện
cần bổ sung trong giai đoạn tiếp theo và
được trợ giúp của chính phủ.
Biểu
đồ 4. Tổ chức giảng dậy, sĩ
số và kết quả bốn năm đầu
(1957-1961)
|
Năm
Học 1957-58
|
|
Phân
Khoa
|
Môn
Học
|
Thí
Sinh
|
Tốt
nghiệp
|
Chú
thích
|
|
Sư Phạm
|
Khoa Học Kỹ thuật Năm
I
|
85
|
49
|
Khóa
năm 1 dự bị khoa học, đào
tạo kỹ thuật
|
|
Năm
Học 1958-59
|
|
|
Khoa Học Kỹ Thuật Năm
II
|
56
|
13
|
|
|
|
|
Sư Phạm
|
Triết Năm I
|
27
|
27
|
Có các lớp cho học viên
chưa tốt nghiệp trung học, trau
giồi thêm và lớp sư phạm giáo lư
|
|
|
Pháp Văn Năm I
|
22
|
22
|
|
|
|
49
|
49
|
|
Năm
Học 1959-60
|
|
Sư Phạm
|
Triết Năm I
|
30
|
29
|
Ngoài phần chuyên môn về
sư phạm, các sinh viên cũng ghi danh học
phần nội dung kiến thức của ngành
chuyên môn ở
các khoa khác
|
|
|
Triết Năm II
|
27
|
25
|
|
|
|
57
|
54
|
|
Văn Khoa
|
Dự Bị
|
28
|
11
|
|
|
C/c Văn Chương Pháp
|
03
|
00
|
|
|
C/c Đạo đức và Xă
Hội Học
|
10
|
02
|
|
|
|
41
|
67
|
|
Khoa Học
|
Toán Học Đại Cương
|
37
|
16
|
|
|
|
37
|
16
|
|
Năm
Học 1960-61
|
|
Sư Phạm
|
Triết Năm I
|
25
|
21
|
Tổng số sinh viên tốt
nghiệp sau ba năm học là 143 so với sĩ
số ghi danh là 160. Một tỷ lệ rất
cao
|
|
|
Triết Năm II
|
32
|
29
|
|
|
Triết Năm III
|
24
|
24
|
|
|
Pháp Năm I
|
34
|
30
|
|
|
Pháp Năm II
|
28
|
21
|
|
|
Pháp Năm III
|
20
|
18
|
|
|
|
160
|
143
|
|
Văn Khoa
|
Dự Bị
|
43
|
18
|
|
|
|
Văn Chương Pháp
|
04
|
01
|
|
|
|
Đạo Đức và Xă
Hội Học
|
14
|
03
|
|
|
|
Tâm Lư
|
13
|
03
|
|
|
|
|
74
|
25
|
|
|
Khoa Học
|
Toán Học Đại Cương
|
45
|
06
|
|
|
|
Toán Lư Hóa
|
34
|
06
|
|
|
|
|
79
|
12
|
|
LM
Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập.
Trong
suốt chín năm trời LM Nguyễn Văn
Lập thực tế là vị Viện Trưởng
xây dựng truyền thống của Viện Đại
Học.
Ngài đă tổ chức lễ kỷ niệm mười
năm thành lập Viện Đại Học Đà
Lạt vào năm 1969 (1959-1969). Như một công tŕnh
giáo dục có hiệu quả tác dụng truyền
giáo lớn lao, năm 1969, Đức Phaolô VI
gửi lời chúc mừng đến ngài và toàn
thể các thành viên của Viện Đại
Học Đà Lạt rất ưu ái của Toà Thánh.
Nguyên văn bằng tiếng Pháp, kèm theo bản
dịch tạm thời bằng tiếng Việt như
sau:
Cher
Fils, le Révérend Père Nguyên Van Lâp,
Recteur Magnifique de l’Université Catholique de Dalat
Au
moment où va être célébré le dixième anniversaire de
l’Université catholique de Dalat, Nous sommes heureux de Nous
associer aux Evêques protecteurs, aux autorités civiles et académiques
et à tous les membres de l’Université, pour féliciter tous ceux
qui ont courageusement contribué à son développement. De grand cœur,
Nous formons le voeu que cette jeune Université poursuive le service
culturel et moral si appréciable qu’elle rend aux familles
vietnamiennes et à tout le pays, en préparant notamment des maîtres
et des cadres compétents, en même temps qu’elle aide les jeunes
chrétiens à approfondir leur foi et à témoigner activement de leur
charité.
En
priant le Seigneur de favoriser cette œuvre éducative dans un avenir
paisible, Nous implorons sur tous les assistants, et spécialement sur
le Recteur, les professeurs et les élèves de l’Université de
Dalat, en témoignage de Notre affectueuse bienveillance,
l’abondance des bénédictions divines.
Du
Vatican, le 6 janvier 1969.
PAULUS
PP. VI
***********
Con thân yêu, Cha Nguyễn Văn
Lập trọng kính,
Viện Trưởng Huy Hoàng
của Viện Đại Học Công giáo Đà
Lạt
Vào
lúc Viện Đại Học Công Giáo Đà
Lạt sắp cử hành lễ kỷ niệm
thứ mười, Ta sung sướng cùng liên
kết với các Giám Mục bảo trợ, các nhà
chức trách dân sự và hàn lâm và tất cả các
thành viên của Viện Đại Học, ngơ
hầu khen ngợi tất cả những ai đă
can đảm đóng góp vào sự phát triển
Viện Đại Học. Từ thâm tâm, Ta
nguyện chúc Viện Đại Học trẻ trung
này theo đuổi công cuộc phục vụ văn
hóa và đạo đức rất đáng trân
trọng mà Viện Đại Học đă đem
lại cho các gia đ́nh Việt Nam và cho cả nước.
Nhất là bằng cách chuẩn bị các thầy
dậy và các cán bộ xứng đáng, Viện
đồng thời cũng giúp đỡ các thanh niên
Kitô hữu sống đức tin sâu xa hơn và
chứng tỏ ḷng bác ái tích cực hơn.
Xin
Chúa đoái thương công cuộc giáo dục này
trong một tương lai an b́nh. Với tấm ḷng
nhân hậu tŕu mến, Ta khẩn cầu Thiên Chúa
xuống dồi dào ơn lành cho tất cả
những người giúp tay vào, và nhất là cho
cha Viện Trưởng, các giáo sư, và các sinh viên
của Viện Đại Học Đà Lạt.
Từ Vatican, ngày 6 tháng 1 năm
1969
Phaolô
VI
Linh
Mục Nguyễn Văn Lập đă củng cố
nền móng vật chất và truyền thống tinh
thần “trồng người” cho Viện Đại
Học Đà Lạt. Trong suốt nhiệm kỳ
của cha, cách ứng xử nhân bản và tài năng
lănh đạo của cha đă gây ấn tượng
sâu xa đối với nhiều người
thuộc đủ mọi tầng lớp.
LM
Viện Trưởng F.X. Lê
Văn Lư.
Ngài
được HĐGMVN cử nhiệm làm Viện
Trưởng thứ ba và sau cùng (1970-1975).
Từ ngày thành lập cho đến trước 30
tháng 04 năm 1975, Viện Đại Học Đà
lạt lần lượt có năm phân khoa:
Viện khai giảng thực tế từ năm 1958
với các khoa Sư Phạm, Văn Khoa với ba môn
Văn Học, Triết lư và Địa Lư học,
và Khoa học, về sau đến khoa Chánh Trị
Kinh Doanh. Khoa Thần học th́ cũng đă có
ở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X từ 1958,
nhưng chưa hoàn toàn được công nhận
về giáo quyền cũng như thế quyền là
một phân khoa thuộc Viện Đại Học
Đà Lạt.
Linh
Mục Lê Văn Lư
được bổ
nhiệm làm Viện Trưởng. Ngài đậu
văn bằng Tiến Sĩ Văn Chương
Quốc Gia do Viện Đại Học Paris (Sorbonne,
Luận án chuyên khoa Ngữ Học), Pháp cấp. LM
Hoàng Quốc Trương, Ph.D. in Biology, làm Phó
Viện Trưởng, với GS Đỗ Hữu
Nghiêm, Cao Học Sử Học, làm phụ tá hành
chánh cho LM Viện Trưởng Lê Văn Lư thực
sự từ năm 1972. Thời kư ban đầu, LM
Nguyễn Ḥa Nhă từng giữ nhiệm
vụ Phó Viện Trưởng cho LM Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập.
Nhiệm
kỳ của LM Lê Văn Lư quá ngắn ngủi, nên
chưa thể phát huy các sáng kiến của ngài
một cách đầy đủ. Chắc chắn LM
Lê Văn Lư có học vấn uyên bác và hội
đủ văn bằng đại học cần
thiết, và có uy tín đối với giới
học giả, giáo sư và sinh viên. Nhưng ngài
chỉ thi hành trách nhiệm trong thời gian
ngắn ngủi, cải tiến một số lănh
vực nhất định.
Linh mục gặp nhiều khó khăn diễn ra
trong bối cảnh xáo trộn quân sự, chính
trị, xă hội ở trên toàn lănh thổ
quốc gia, nhất là ở phần đất phía
Nam vĩ tuyến 17, sau cuộc chiến Tết
Mậu Thân (1968) trở về sau.
4.
Tổ Chức Hội Đồng
Viện và Hội Đồng Khoa.
Có
thể chưa thể hiện hoàn chỉnh các văn
kiện qui định chính thức, như Quyết
Định thành lập, xác định Hiến
chế, Nội qui điều hành và hoạt động
cùng quyền hạn và trách nhiệm, giấy
tờ thành văn mô tả từng chức vụ
trong Viện, để kiện toàn sinh hoạt
của Viện Đại Học Đà Lạt.
Thực tế, có thể diễn tả mô h́nh
tổ chức như sau:
a.
Hội Đồng Viện.Tất cả các
Khoa Trưởng hợp thành Hội Đồng
Viện, do LM Viện Trưởng chủ tọa
với Phó Viện Trưởng và một số nhân
sự chủ chốt, như Tổng Thư Kư
Viện Đại Học (vẫn không liên
tục), các Phó Khoa Trưởng, Giám Đốc
hay/và Phó Giám Đốc Pḥng Sinh Viên Vụ, Giám
Đốc Thư Viện, Pḥng Quản Lư, Pḥng Tuyên
Úy, Pḥng Cư Xá Sinh Viên, các Phụ Tá, và một
số nhân sự được mời tham dự.
Nói chung Viện vẫn cần bổ sung đầy
đủ hơn nhiều văn kiện điều
hành, bổ dụng nhiều nhân sự chủ
chốt có khả năng đức độ và uy
tín quản lư các bộ phận sinh hoạt trong
Viện. Đó là công việc thường xuyên cho
bất cứ tổ chức nào trong quá tŕnh phát
triển.
Ủy
Ban Hành Chánh & Kế Toán
có vai tṛ Hành Ngân Kế, theo Qui chế chính
thức, nghiên cứu các dự án, chiết tính các
chi phí cần thiết đề giúp các cơ quan
quản trị trong Viện làm việc.
Ủy
ban Học Vụ và Hội Đồng Kỷ
Luật
là bộ phận hoạch định tiên liệu
trong tổ chức của Viện về học
vụ và kỷ luật. Nhưng trong thực tế
quá tŕnh hoạt động của Viện, tác
dụng của hai cơ cấu này hầu như chưa
được vận dụng đúng mức trong
thực tế…
b. Hội Đồng
Khoa, thường gồm Khoa Trưởng, Phó
Khoa Trưởng và một số nhân viên cốt cán
trong khoa như các Trưởng Ban phụ trách các
bộ môn, Chánh Văn Pḥng Khoa và các nhân viên
giảng huấn được mời tham gia.
Nhiệm
vụ của Hội Đồng Khoa thường
giải quyết các vấn đề liên quan đến
hành chính cơ bản, chương tŕnh giảng
dậy, thi cử, nguyên tắc đánh giá điểm
học và điểm thi, cùng các vấn đề
linh tinh thuộc quyền hạn của mỗi khoa.
Hội
đồng Khoa khi cần thiết cũng đóng
vai tṛ Hội Đồng Kỷ Luật như có
sinh viên vi phạm Kỷ Luật hay Học Vấn
trong Phân Khoa
Nhiệm
vụ của Viện thường bao quát hơn liên
quan đến các vấn đề về học
vụ, tài chánh chung, giao tế hợp tác đối
ngoại, quản trị tổng quát, phối
hợp hoạt động học vụ hay phục
vụ học vấn của các khoa và các bộ
phận khác trong Viện, và vấn đề quan
hệ với Hội Đại Học Đà
Lạt. Sau cùng là trách nhiệm với Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam về công việc điều
hành và những vấn đề nảy sinh cần
giải quyết liên quan đến Hội và
Viện Đại Học Đà Lạt.
5.
Qui chế nội bộ Viện Đại Học.
Để
kiện toàn tổ chức Viện Đại
Học Đà Lạt, một qui chế điều
hành tổng quát cho Viện Đại Học Đà
Lạt cũng được Giám Mục Chưởng
Ấn ban hành theo văn thư số 183/71/VC, kư ngày
23/8/1971 và chính thức áp dụng từ ngày
25/11/1971.
Triển
khai cụ thể hơn, GM Chưởng Ấn cũng
ban hành liên tiếp văn thư số 285/72/VC, kư
ngày 20/11/1972, xác định quy chế cho nhân viên
giảng huấn. Tất cả những qui chế này
chỉ được áp dụng một cách
giới hạn, linh động và uyển chuyển
theo t́nh h́nh chung như lịch sử và tài chánh cùng
sáng kiến cụ thể ở mỗi giai đoạn.
Đây chính là chiều hướng ổn định
trong việc quản trị Đại Học dưới
thời Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng
6.
Nhân Sự Giảng Huấn Và Hành Chánh.
Ban
Giảng huấn niên khóa 1960-61 có khoảng 29
nguời cả giáo sĩ và giáo dân thường.
Trong số các giáo sĩ, các các linh mục ḍng Tên,
Đa Minh 1 linh mục ḍng SAM và 1 sư huynh Lasan, 1
linh mục Xuân Bích. Các giáo sư thuộc nhiều
quốc tích: Việt Nam, Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha.
Đây
là một số vị giáo sư ban đầu mà
cựu sinh viên Triết Nguyễn Văn Lục
c̣n nhớ được:
Về
triết lư có: Ô. Lư Chánh Trung, Trần Văn Toàn,
Bửu Lịch, BS Đào Huy Hách, Bà Monavon; Giám
Mục Hoàng Văn Đoàn OP; Các Linh mục Bửu
Dưỡng OP, Lê Tôn Nghiêm; SH Pierre Trần Văn
Nghiêm Lasan; Các Linh mục Alexis Cras OP, Marie-Bernard
Pineau OP, Joseph Tchen SJ, Matthias Tchen SJ, C. Larre SJ, Palacios
SJ, Y. Raguin SJ, Gaultier SJ.
Về
Pháp Văn có: Bùi Xuân Bào, Vơ Văn Lúa, Trương
Bửu Lâm, Đoàn Mừng, Linh Mục Nguyễn Ḥa
Nhă; René Cabrière, Beucher, Lm Alexis Cras OP, Mlle Tiot, Père
Duluth, Donini
Ngoài
một số nhân viên giảng huấn cơ
hữu gia tăng của Viện, về sau gồm có
một số giáo sư và các phụ khảo, hai
nguồn cung ứng nhân sự chính yếu cho Đại
Học Đà Lạt được tận dụng
là:
Nguồn
nhân sự tại chỗ: nhiều sĩ quan, giáo sư
thỉnh giảng từ nhiều cơ sở giáo
dục và nghiên cứu, như Giáo Hoàng Học
Viện Thánh Piô X, Đại Chủng Viện Minh Ḥa,
Trung Tâm Nguyên Tử Lực, Trường Vơ Bị
Đà Lạt, Trường Chiến Tranh Chánh
Trị và Trường Bùi Thị Xuân cùng một
số ḍng tu tại Đà Lạt
Nguồn
từ các Trường đại học, Viện
nghiên cứu và các Giáo phận trong nước nhưng
ở ngoài Đà Lạt, như nhiều trường
thuộc các Viện Đại Học công và tư
tại Sàig̣n, và Huế, Hải Học Viện Nha
Trang, …
Biểu
đồ 5. Phân Bố Nhân Sự Hành Chánh Niên Khóa
1973-74
|
TT
|
Bộ
Phận
|
Hành
Chánh
|
Giảng
huấn
|
Chú
thích
|
|
1
|
Hội
Đại Học Đà Lạt
|
06
|
|
|
|
2
|
Hội
Đồng Viện ĐHĐL
|
11
|
|
|
|
Đà
Lạt
|
|
3
|
Văn
Pḥng VĐH/ĐL
|
07
|
|
|
|
4
|
Trường
Sư Phạm
|
04
|
28
|
Hầu
hết là thỉnh giảng, chung cha cả Đà
Lạt và Sàig̣n
|
|
5
|
Trường
Văn Khoa
|
05
|
70
|
|
6
|
Trường
Khoa Học
|
09
|
48
|
|
7
|
Trường
Chánh Trị KD
|
07
|
83
|
|
8
|
Thần
Học
|
|
|
Chưa
có
|
|
9
|
Thư
Viện
|
02
|
|
|
|
10
|
Tu
Thư & Báo Chí
|
02
|
|
|
|
11
|
Tuyên
Úy Vụ
|
01
|
|
|
|
12
|
Sinh
Viên Vụ
|
01
|
|
|
|
13
|
Pḥng
Quản Lư
|
21
|
|
|
|
14
|
Đại
Học Xá B́nh Minh
|
02
|
|
|
|
15
|
ĐHX
Kiêm Ái
|
05
|
|
|
|
16
|
ĐHX
Trương Vĩnh Kư
|
04
|
|
|
|
17
|
Pḥng
Y Tế
|
02
|
|
|
|
Sàig̣n
|
|
18
|
Hệ
Thống Tổng Quản Lư
|
09
|
|
8
cơ sơ kinh doanh
|
|
19
|
Cơ
Sở thuộc VĐHĐL
|
16
|
|
3
bộ phận: VPLL, SVV, Ban Cao học CTKD
|
|
|
|
116
|
229
|
|
|
Tổng
Kết:
Tổng cộng 19 bộ phận gồm 342 người
cả về hành chánh và giảng huấn.
Một số người kiêm nhiệm cả
hai lănh vực hành chánh và giảng huấn, hay
cùng một người giảng dậy ở
nhiều phân khoa khác nhau.
|
Nhân viên hành chánh nói
chung gồm một số người cố định
tham gia công việc hành chánh và quản trị, nhưng
tŕnh độ đào tạo chưa được
chuyên môn hóa cao và cần được chỉnh
đốn cho thích hợp với đà tiến
chung của xă hội. Các nhân viên hành chánh làm
việc tại các đơn vị khác nhau, như
ở Văn pḥng Hành Chánh Viện, Khoa, Thư
Viện, Trung Tâm Sinh Viên, Sinh Viên Vụ, Pḥng
Quản lư, Tu Thư & Báo Chí
7.
Sĩ Số Sinh Viên Ghi Danh.
Với
lư tưởng Thụ Nhân, Viện Đại
Học Đà Lạt lấy mục tiêu giáo dục
con người, “trồng người” là chính. V́
thế Viện không nhắm nhiều đến sĩ
số sinh viên ghi danh để tính lợi nhuận
kinh tế. Tuy nhiên sĩ số thay đổi theo
từng niên khóa trong giai đoạn đầu tiên
1958 đến 1975. Cho đến nay, với một
số chứng liệu cơ bản, có thể
lập được một bảng thống kê
đầy đủ về tiến tŕnh thay đổi
sinh viên trong tất cả các năm. Trong những năm
đầu chắc là con số rất khiêm tốn.
Nhưng từ năm 1970-1975, con số sinh viên ghi
danh thay đổi từ khoảng 3000-4000, chỉ
tại cơ sở Viện Đại Học ở
Đà Lạt.
Biểu
Đồ 6. Sĩ
Số Sinh Viên Theo Học Viện Đại Học
Đà Lạt (1958-1973)
|
PhânKhoa
|
Sư
Phạm
|
VănKhoa
|
Khoa Học
|
CTKD
|
Thần
Học
|
Tổngcộng
|
|
Niên Khóa
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
|
1958-59
|
019
|
|
|
|
|
0019
|
|
1959-60
|
109
|
0011
|
037
|
|
|
0187
|
|
1960-61
|
163
|
0071
|
079
|
|
|
0316
|
|
1961-62
|
177
|
0158
|
091
|
|
|
0456
|
|
1962-63
|
140
|
0247
|
072
|
|
|
0459
|
|
1963-64
|
112
|
0271
|
061
|
|
|
0444
|
|
1964-65
|
051
|
0295
|
094
|
1075
|
|
1515
|
|
1965-66
|
000
|
0405
|
112
|
0865
|
|
1382
|
|
1966-67
|
109
|
0633
|
149
|
0878
|
|
1769
|
|
1967-68
|
083
|
0952
|
253
|
1165
|
|
2153
|
|
1968-69
|
120
|
1071
|
400
|
1136
|
|
2750
|
|
1969-70
|
250
|
1277
|
434
|
1386
|
|
3347
|
|
1970-71
|
336
|
1091
|
685
|
1379
|
|
3191
|
|
1971-72
|
343
|
1003
|
751
|
1391
|
|
3891
|
|
1972-73
|
565
|
1379
|
767
|
1708
|
|
4319
|
|
1973-74
|
|
|
|
|
|
|
|
1974-75
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng cộng
|
2805
|
9870
|
3985
|
13206
|
[0352 (?)]
|
27866
|
|
Chú thích:
1/Tổng Kê này (Chỉ Nam SV 73-74, t. 9) chỉ có
tính tương đối, v́ đối
chiếu với các số liệu do chính phân
khoa [Chỉ Nam SV 73-74, t.31 (SP) ghi 2805; t. 49
(VK) ghi tổng số sinh viên của khoa là 8838;
t.74-75 (KH) ghi 3985; t. 103 (CTKD) ghi tổng
số sinh viên của Trường là 10.871,
th́ chỉ có trường SP và KH là
phù hợp, c̣n hai Trường VK và CTKD là không
phù hợp, trong cùng một tài liệu nói trên.
2/ Tổng kê này không phản
ảnh số liệu về sinh viên nam và
nữ.
3/ Nếu đối chiếu
với các số liệu về sinh viên ở
bảng thống kê toàn viện 1958-73 (CNSV
73-74), bản thống kê 1957-61 (Dalat University), và
các thống kê 1958-73 của từng Phân Khoa
trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, th́ rất khó phê
phán chính xác về nhiều phương
diện, v́ các số liệu không trùng
khớp nhau!
|
Như
thế vấn đề tổ chức giảng
dậy và sinh hoạt cho sinh viên Viện Đại
Học Đà Lạt cũng thật là phức
tạp, v́ hầu hết sinh viên từ nơi khác
đến và c̣n bị chi phối bởi vấn
đề thời cuộc, như quân dịch (quân
sự học đường). Số lượng
sinh viên ghi danh hằng năm làm tăng cường
nhịp sống kinh tế, th́ cũng làm cho các
vấn đề văn hóa xă hội ở thành
phố Đà Lạt trở nên nhiều khê hơn.
Nhịp độ các hoạt động liên hệ
như thăm viếng du lịch, chuyên chở các
thân hữu của giáo sư, nhân viên và sinh viên
đến và đi khỏi thành phố miền Cao
nguyên này, nhất là những tháng cuối cùng
của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa
tại Miền Nam cũng tăng tốc.
Khi
sĩ số sinh viên lên cao, th́ các nhu cầu chuyên
biệt cho tập thể sinh viên cũng lớn lên.
Có thể đó là một khía cạnh trong cách
giải thích sự xuất hiện cần thiết
của tổ chức Sinh Viên Vụ.
8. Chung quanh những ngày hấp hối
của Viện Đại Học Đà Lạt
Vài h́nh ảnh những ngày cuối cùng
của Viện.
Vào
những ngày cuối tháng 3/1975, Sư huynh Théophane
Nguyễn Văn Kế đang băn khoăn có nên
ở lại hay chạy đi khỏi Đà
Lạt. Các sư huynh trẻ đang vội vă
lấy Honda rủ nhau đi theo lối xuống Nha
Trang, v́ ngả đường đi theo dốc
đèo Prenn đă bị cắt đứt. Ông chưa
sẵn sàng đi, th́ cô Hoàng Yến, một
cựu sinh viên Viện Đại Học Đà
Lạt bay từ Kontum về Đà Lạt bằng
trực thăng quân sự. Cô t́m đến ngay
biệt thự số 6 Trần Hưng Đạo,
như một sứ thần báo tin. Gặp cô, ông
hỏi ngay:
“Phải làm ǵ trong giờ phút quyết
liệt này?”.
“Thưa
Frère, con vừa trên Dinh Tỉnh Trưởng
xuống đây. Ông Tỉnh Trưởng ra lệnh
đóng cửa tất cả các ngơ ra vào Đà
Lạt khởi sự từ chiều nay. Con đến
nói với Frère là nên rời Đà Lạt ngay cho
sớm. Từ biệt Frère.
Ấy
thế là ông quyết định rời bỏ
Đà Lạt và từ biệt VĐHĐL vào 1
giờ trưa một ngày vào hạ tuần Tháng Ba
năm 1975
Ngày
30/3/75, một ḿnh Giáo sư Nguyễn Khắc Dương
bám trụ tại khuôn viên Viện Đại
Học tại Đà Lạt. Trước đó người
viết, sau ngày 20/3/1975, nhận được
từ Đà Lạt gửi xuống Sàig̣n một
danh thiếp cá nhân GS Nguyễn Khắc Dương,
Q. Khoa Trưởng Trường Đại Học Văn
Khoa Đà Lạt. Mặt sau danh thiếp có ghi chú
mấy lời là ủy nhiệm người
viết làm Quyền Khoa Trưởng trông coi về
công việc liên quan đến Trường Văn
Khoa qua Văn Pḥng Liên Lạc của Viện
tại Sàig̣n.
Trong
những ngày cuối củng c̣n ở Đà
Lạt, GS Phó Bá Long đến Viện c̣n tận
mắt thấy GS Nguyễn Khắc Dương qú
lạy trước cha Viện Trưởng Lê Văn
Lư, tha thiết van xin ngài ra đi khỏi Viện
trong cảnh hỗn loạn, và hăy để
một ḿnh GS đứng mũi chịu sào đối
phó với những người chủ mới đến
Viện!
Trong
Hồi Kư Quia Dilexit Humilitatem Meam ghi lại
một số chi tiết ngay trước và ngay sau
những ngày Đà Lạt đổi chủ:
“ …nằm sau đường mương
đàng sau nhà Ḥa Lạc, tức là nhà của
Viện Trưởng Đại Học Đà
Lạt, nh́n trường Vơ Bị Quốc Gia, ḿn
đạn nổ như sáng rực cả một góc
trời, tôi như người sực tỉnh
khỏi một cơn mơ dài”.
“Ở
lại Đà lạt tôi có ư: một là sớm
được cùng gia đ́nh đoàn tụ, hai là
nếu Viện Đại Học Đà Lạt
vẫn được chế độ mới
chấp thuận để cho Giáo hội quản lư,
th́ tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại
Viện Đại Học; nếu như chế
độ mới không cho phép Viện Đại
Học Đà Lạt được tiếp tục
dưới sự quản lư của Giáo Hội, th́
có thể tôi vẫn được lưu dụng,
[trang
168] c̣n nếu không
được lưu dụng th́ tôi sẽ đề
nghị Toà Giám mục Đà Lạt sử dụng
tôi làm việc ǵ cũng được. V́
vậy, trong ban giáo sư thuộc Viện Đại
Học Đà Lạt cũ, tôi là giáo sư
duy
nhất (cùng với một phụ khảo duy
nhất có gia đ́nh tại Đà Lạt) ở
lại, không di tản về Sài G̣n. Sau khi toàn
bộ Ban Giám Hiệu rời Đà Lạt, tôi
được Đức Giám Mục chỉ định
ở lại Viện như thành phần của Ban
Giám Hiệu, bảo quản cơ sở vật
chất, cùng với toàn bộ anh em công nhân lao
động chân tay đều ở lại cả.
Từ
đêm 30/3/1975 chính quyền cũ rút khỏi Đà
Lạt, cho đến ngày tôi bị đưa vào
trung tâm thẩm vấn Đà Lạt (24/4/75),
mọi sinh hoạt đều b́nh thường, tôi
có tŕnh diện tại Ủy Ban Quân Quản,
vị đại diện cho biết rằng:
tại Đà lạt, thành phần giáo sư Đại
học chỉ có một ḿnh tôi, nên tôi hăy chờ
đợi có chính sách chung. Và sau khi một số
anh em giáo sư di tản xuống Phan Rang vài ngày, tôi
trở về Đà Lạt, tôi có cử người
tiếp xúc với bộ phận đặc trách văn
hóa giáo dục của Cách Mạng th́ cũng
được trả lời như vậy. Và
điều sau đây là cái sai lầm lớn (đúng
hơn là cái khờ dại của tôi) trong
những ngày ấy: đó là tham gia vào việc thành
lập Hội Liên Tôn ở Đà Lạt!!!”
[“Nay
tôi cũng không nhớ rơ, trước hoặc sau
khi Ủy Ban Quân Quản ra mắt đồng bào
một hôm, tức là ngày 2 hoặc 4 tháng 4 (h́nh như
trước một hôm, tức là ngày mùng 2 tháng 4
th́ có lẽ đúng hơn), trong lúc tôi đứng
trước Rạp Chiếu Bóng Ḥa B́nh (nay là
rạp 3/4) một nhà sư áo vàng thuộc hệ
khất sĩ, c̣n trẻ tuổi (khoảng trên dưới
30) đến chào tôi và tự xưng là “Đại
Diện” của Phật giáo nhờ tôi giới
thiệu với Ṭa Giám Mục Đà Lạt, bàn
về việc tổ chức thành lập một
tổ chức gồm đại diện các tôn giáo
để thực hiện hai mục đích:
1.
Là tạo sự đoàn kết, hài ḥa giữa các
thành phần nhân dân, tránh những xô xát tranh
chấp do sự chưa ổn định thời
cuộc (lúc ấy Sài G̣n chưa giải phóng).
2.
Là giải quyết vấn đề ổn định
những xáo trộn xă hội: cướp phá,
thiếu lương thực, thực phẩm, các
gia đ́nh ly tán neo đơn. Tôi thấy hai
mục đích ấy không có tính cách chính trị
mà chỉ là vấn đề nhân đạo [trang
169] xă hội phù hợp với tinh thần nhân ái của
các tôn giáo, nên tôi đă dẫn vị sư này
đến Ṭa Giám Mục.
Đức
Giám Mục vui vẻ nhận lời, và chỉ
định một Linh Mục Đại Diện, c̣n
tôi Đại Diện Giáo Dân đến dự
cuộc họp thành lập Hội Liên Tôn nói trên
lại Chùa Linh Sơn. Sở dĩ như vậy là
v́ từ năm 1963, hầu hết giới Công Giáo
đều nghĩ rằng: giữa Phật Giáo và Cách
Mạng có một sự thỏa thuận, cho nên
những ǵ do Phật Giáo đề xướng
hẳn là đều có sự chỉ đạo
hoặc đồng ư của Cách Mạng! Hội Liên
Tôn ấy hoạt động không đầy 10 ngày
th́ tan ră, sau khi nhiều lần xin Ủy Ban Quân
Quản cho yết kiến để lănh ư mà không
được!
Thế
nhưng có ai ngờ, h́nh như v́ việc thành
lập Hội Liên Tôn ấy mà phần nào tôi
trở nên đối tượng của sự
ngộ nhận khá nặng nề! Thậm chí có người
cho rằng: đó là lư do làm cho tôi bị
đưa đi học tập cải tạo. Riêng
tôi, tôi không nghĩ như vậy, v́ tôi nghĩ
rằng Cách mạng đủ sáng suốt để
thấy Hội Liên Tôn túc ấy thực chất
chẳng có ǵ là phản cách mạng cả. H́nh như
đương sự (tức là vị sư
khất sĩ áo vàng nói ở trên đây) chỉ có
ư đồ là nấp ḿnh ở dưới Hội
Liên Tôn, không phải để chống đối
Cách mạng mà chỉ là để né tránh sự
xử lư của Cách Mạng đối với
một số sai lầm của đương
sự trong chế độ cũ (mà có lẽ
đương sự là một Tuyên Úy Phật giáo
của quân đội chế độ cũ, nay
muốn nhờ Liên Tôn mà xóa nḥa cái vết tích
ấy, sự việc có lẽ chỉ có vậy).
C̣n
việc tôi bị đưa đi học tập
cải tạo xảy ra như sau: theo chính sách
của Cách mạng th́ những ai ra khỏi hàng ngũ
ngụy quân ngụy quyền trước hiệp
định Paris, th́ xem như không có vướng
mắc ǵ cả; mà tôi th́ giải ngũ năm
1956, từ đó tôi chỉ sống hoàn toàn trong
khuôn khổ Hội Thánh, không dính líu một
tổ chức hoạt động chính trị nào
cả! Hơn nữa, dưới cái nh́n của
một số anh em sinh viên và giáo chức tại
Đà Lạt có ít nhiều tương quan với
cá nhân tôi, tôi được xem như là thành
phần tốt (hay ít nhất là vô can, vô sự;
chỉ là một tu sĩ hụt, một trí
thức trùm chăn!)
Hơn
nữa, nếu v́ lư do chính trị mà tôi bị
đưa đi học tập tại các trung tâm dành
cho những thành phần ấy! Đàng này tôi
đi học tập với tư cách là sĩ quan
ngụy (mặc dù đă giải ngũ năm 1956)
và như vậy là không đúng
[trang 170] chính sách. Đến nay tôi cũng chưa
rơ tại sao lại xảy ra sự việc như
vậy! Lầm lẫn chăng? Nhưng thôi,
chuyện đă qua rồi, hậu quả chẳng có
ǵ trầm trọng lắm! Trái lại chỉ có
lợi cho tôi về nhiều mặt như tôi đă
tŕnh bày trên kia, và tôi cũng xác nhận rằng:
chế độ của trại học tập
của Tổng Trại 8 do Quân Khu 5 quản lư
tại Sông Mao là rất tốt, hầu hết anh
em học tập ở đó ra đều giữ
một kỷ niệm tốt về thời gian
học tập nhất là đối với số cán
bộ thuộc thành phần bộ đội:
cởi mở, chân thành đúng với truyền
thống chân chính của danh hiệu “Bộ
Đội Cụ Hồ”]
“Sau
ngày tôi trở về Viện Đại học
Đà Lạt, tôi tiếp tục cư trú tại
Trường Đại học (bấy giờ do
một ban quản lư gồm đại diện
của Nhà nước và đại diện của
Giáo hội quản lư, nghiên cứu thể thức
chuyển giao cho Nhà nước). Trong quy ước
giữa hai bên th́ tất cả mọi giáo viên, nhân
viên cũ của Đại học, nếu c̣n
ở lại th́ được Nhà Nước lưu
dụng, ngày 3/4/ 1975 tôi là giáo sư duy nhất
ở lại. Thế nhưng, trong danh sách những
người ở lại (lập trong thời gian tôi
đi học tập vắng mặt, tôi bị
lọt sổ hay bị gạch sổ) nên khi Đại
học Đà Lạt hoạt động lại dưới
sự quản lư của Nhà nước, tôi không
được lưu dụng. Tôi bắt đầu
tự mưu sinh bằng cách làm vườn
trồng rau, đây là một kinh nghiệm quư và là
một vinh dự lớn: tôi làm được ba
vụ rau bắp cải, bán cho hợp tác xă phường
4 Đà Lạt!
Nhân
dịp này tôi cũng xin ghi lên đây lời thành
tâm tri ân đối với một số anh chị
em đă có ḷng thương giúp đỡ tôi
về mọi mặt, trong thời gian tôi lưu trú
tại Đại học Đà Lạt; giúp đỡ
lao động sản xuất, chia sẻ lương
thực thực phẩm, áo quần và tiền nong -
quả là bát cơm phiếu mẫu đáng giá ngh́n
vàng! Điều quư hóa là phần đông các ân nhân
ấy là những người đôi khi không có liên
lạc ǵ với tôi trước, nay biết tôi
ở vào hoàn cảnh khó khăn th́ giúp đỡ
v́ ḷng từ thiện, ngoài ra tôi cũng [trang
171] như bất cứ người nào đi
học tập về đều gặp nhiều khó
khăn đôi khi khá căng thẳng về mọi
mặt”.
“Từ
cuối đêm 26 rạng ngày 27 tháng 8 năm 1976,
đêm đầu tiên tôi trở về lại
Đà Lạt sau 16 tháng cải tạo, tại nhà
Hoà Lạc của Đại Học Đà Lạt,
tôi quỳ gối phỏng ư bài thơ “Lên
Đỉnh Cát Minh”, ghi lại những
ḍng sau đây:
“Đêm
nay mới thật là đêm
Bao
năm lạc bước êm đềm về đây
Về
đây sau những tháng ngày
Đau
thương phúc lạc tràn đầy cả hai
Bắt
đầu tất cả đêm nay:
B́nh
an, phúc lạc, an b́nh, b́nh an”.
[trang 191]
Và
sau mấy câu thơ ấy, tự nhiên tôi thay đổi
chữ kư.
Trước
th́: [chỗ
này có chữ kư dài]
Nay
đổi sang như sau: [chữ
kư tắt]
Sự
thay đổi tự nhiên bột phát đêm hôm
ấy có phải chăng là dấu hiệu tôi bước
sang một giai đoạn mới hoàn toàn mới
của cuộc đời? Sự thay đổi mà
trước kia bao nhiêu người khuyên tôi, v́
họ cho chữ kư cũ là rất xấu và
rất nguy, nhưng tôi đă nhất định không
chịu nghe. Đêm ấy, gần như một cách
vô thức, vô ư
định, tôi đổi chữ kư, một
việc làm mà tôi không hiểu do đâu, mà chính tôi
cũng lấy làm ngạc nhiên! Và quả thực,
cuộc đời tôi đổi mới hoàn toàn”.
“Sau
ngày trở về lại Đà Lạt, anh Viện
là người đầu tiên đến thăm tôi
tại trường Đại học Đà
Lạt. Điều đáng nói nhất là trong
một buổi toạ đàm do trường tổ
chức tại pḥng khách nhà Viện trưởng cũ.
Tôi ngồi nghe anh Viện nói chuyện, mà cứ như
trong mộng. Thật khó ngờ được
rằng lại có cái ngày anh Viện tôi đến
thuyết tŕnh cho anh em cán bộ Trường Đại
Học Đà Lạt, ngồi tại chính cái pḥng
khách ấy! Và lẽ ra, ít nhất tôi cũng được đón anh tôi
với tư cách giáo sư duy nhất ở lại
Viện Đại Học, lúc toàn ban giáo sư di
tản, thế nhưng, lại ngồi nghe anh như
một anh ngụy quân đi học tập về chưa
có quyền công dân! Tôi thương ḿnh th́ ít mà
thương anh th́ nhiều! Chẳng biết thâm tâm
anh ra sao, nhưng tôi thấy anh có thương tôi
nhiều mới lên thăm tôi để hai anh em chúng
tôi phải sống những giây phút khá oái oăm
như vậy!”
Trong
lúc GS Nguyễn Khắc Dương phải rắc
rối với nhiều chuyện nan giải, th́
số phận Viện Đại Học Đà
Lạt vẫn được những người
làm chủ mới quyết định. Năm 1975,
Ban Quân Quản thị xă Đà Lạt và GS
Nguyễn Lam Kiều từ phía Bắc vào tiếp
quản Viện, phối hợp với nhân viên
của Viện “canh gác bảo vệ” cho Viện.
Chương
VI : Khối Hành Chánh
1.
Văn Pḥng Hành Chánh
Gồm
các thư kư phụ trách một số công việc
khác nhau, điện thoại viên, tùy phái trong Ṭa
Viện Trưởng, phụ tá các hoạt động
hành chánh cho Viện Trưởng. Viện Trưởng
có một Phó Viện Trưởng công tác. Một
Tổng Thư kư đôn đốc mọi việc
hành chánh và một sống công việc do Viện
Trưởng uỷ nhiệm trong văn pḥng
Viện. Lần lượt có các Phó Viện Trưởng
Nguyễn Ḥa Nhă làm việc dưới thời LM
Nguyễn Văn Lập, và ông Trần Quang Diệu
làm Tổng Thư Kư. Trước đó, anh Sử
nắm nhiệm vụ Chánh Văn Pḥng Hành Chánh
ở Toà Viện Trưởng. Đến thời
kỳ Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng
th́ có LM Hoàng Quốc Trương làm Phó Viện Trưởng
nhưng không có chức vụ Tổng Thư Kư. Năm
1972, Lm Viện Trưởng bố trí GS Đỗ
Hữu Nghiêm làm Phụ Tá Hành Chánh
cho Viện Trưởng trông coi việc hành chánh.
Ṭa nhà hành chánh (Ḥa
Lạc) Viện Đại Học Đà Lạt
gồm các ông Phan Phát Tường, Nguyễn
Viết Khai, Nguyễn Hữu T́nh, Nguyễn Đức
Hảo.
Hầu
hết các nhân viên kế thừa từ nhiệm
kỳ của LM Viện Trưởng tiền
nhiệm Nguyễn Văn Lập. Một vài vấn
đề khó khăn tự nhiên trong giai đoạn
chuyển tiếp nhiệm kỳ giữa Viện Trưởng
mới và cũ về tâm lư của những người
cùng cộng tác nhưng chưa hiểu nhau rơ và chưa
ḥa đồng được ngay. Có
những khó khăn do tŕnh độ đào
tạo, địa phương của một
số người. Nhưng cách xử dụng người
theo tinh thần bác ái nhân bản không thể
một sớm một chiều làm thay đổi
tất cả.
Nhưng rồi mọi
việc vẫn diễn tiến êm xuôi ít ra trước
mắt cho đến ngày 30/3/1975 ở vùng Đà
Lạt
2.
Pḥng Liên Lạc tại Sàig̣n: Viện có
một Văn Pḥng Liên Lạc tại Thương xá
Tax ở Sàig̣n, do Ông Đỗ Văn Thành phụ
trách chung vào giai đoạn năm 1971-1974.
Một
trong những hoạt động chính yếu
của Pḥng Liên Lạc là chuẩn bị việc
đưa rước các giáo sư đi Đà
Lạt để dậy học và đưa các
vị đó về lại Sài g̣n. Pḥng Liên Lạc
mua vé máy bay cho các giáo sư nào muốn đi
đường hàng không hay điều chuyển xe
chuyên chở các giáo sư nào muốn đi lại
bằng đường bộ.
Văn
pḥng này lúc đầu đầu được
đặt tại số 262 Trương Minh
Giảng Sàig̣n 3. Nhân sự gồm một Trưởng
Pḥng với một vài thư kư và tài xế. Khi
Ban Cao Học CTKD được thiết lập
tại Sàig̣n và khai giảng ngày 11/1/1969 tại
Lầu II, Ṭa Nhà
Thư Quán
Xuân Thu và Trường Taberd. Sau đó Cơ sở trường
chuyển sang Lầu II, Thương Xá Tax, đường
Nguyễn Huệ Sàig̣n 1 th́ Văn Pḥng này cũng
chuyển theo.
Chương
VII : Khối Tâm Linh
1.
Nguyện Đường:
Khu
nguyện đường đi liền với sinh
hoạt tâm linh này, năm 1970-1975, có một Lm tuyên
úy sinh viên là Lm Lă Thanh Lịch cũng từ
Gp Cần Thơ, gốc Gp Hà Nội lên phục
vụ.
Nguyện
đường Năng tĩnh là kiến trúc
biểu trưng cao đẹp nhất của lư tưởng
phục vụ của Viện Đại Học
Đà Lạt. Ngôi thánh đường được
xây dựng ở khu đất trang trọng, uy nghi,
trên đỉnh đồi cao nhất khu A được
san bằng. Thánh đường được
thiết kế theo đồ h́nh tổng quát là tam
giác, phù hợp với ngọn tháp tam giác cao vút lên
trời xanh, biểu tượng huyền nhiệm
Thiên Chúa Ba Ngôi, cao 38 mét.
Toàn
thể cấu trúc ấy hiển nhiên nói lên quan
hệ Trời Đất Người – Thiên Địa
Nhân, trong tâm thức giao lưu của văn hóa Á
Đông cổ truyền - triết lư Tam Tài. Trước
Ṭa Nhà Năng Tĩnh là một sân trải sỏi
đất đỏ được vẫn dùng làm
nơi tổ chức những buổi lễ
tiếp đón quan khách hay nghi lễ truyền
thống, kỷ niệm như lễ quan thầy
của Viện và lễ phát bằng tốt
nghiệp hằng năm. Nguyện Đường này
là nơi cử hành thành lễ hằng ngày của
Linh Mục Viện Trưởng và các Linh Mục
sinh hoạt trong Viện Đại Học phục
vụ tại chỗ hay từ nơi khác đến.
Thời LM VT NguyễnVăn Lập, thánh lễ
hằng ngày được cử hành ở ṭa nhà
có văn pḥng Viện
H́nh ảnh một nguyện đường
đại học
Kư
ức sau này của một nữ sinh viên cho
thấy cảnh đầy trang trọng tôn nghiêm
của khu Năng Tĩnh bây giờ tiêu điều
thế nào:
Đầu
năm 1976, có ba GS ở Hà Nội được
đưa vào tiếp nhận thay thế: GS Hiệu
Trưởng Trần Thanh Minh, GS Phó Hiệu Trưởng
Phạm Bá Phong và anh Nguyễn Hữu Mỹ. Ba người
t́m đến anh Hương B́nh, một sinh viên cũ
của Viện, giúp chấn chính lại máy móc
kỹ thuật trong Văn Pḥng Viện. Rồi theo
chỉ đạo của Ban Giám Hiệu mới, Hương
B́nh phải làm một ngôi sao năm cánh, lắp trên
tháp Năng Tĩnh, bao phủ mà không đập
bỏ cây Thánh Giá một cách phũ phàng, kịp
ngày khai giảng niên khóa 1976-77.
Ở
thời điểm ấy, đưa ngôi sao lên
đỉnh tháp cao 38 m không phải là chuyện
đơn giản, nên anh Hương B́nh yêu
cầu có chừng hai mươi người
phụ giúp. Trong số đó có ba người leo lên
tháp là GS Nguyễn Hồng Giáp, anh Trần Tưng và
Nguyễn Vinh Quang cùng với Hương B́nh
lấy bù long xiết chặt các cánh ngôi sao ôm
chặt cây Thánh Giá.
Cho
đến ngày hôm nay, cây Thánh Giá, biểu tượng
cho tinh thần Công giáo Thụ Nhân, vẫn sừng
sững vững vàng trong ḷng ngôi sao, như đang
giang đôi cánh tay đỡ ngôi sao đứng
ngạo nghễ giữa Khung Trời Đại
Học.
H́nh ảnh ấy phải chăng ám chỉ đă
đến thời người Cộng Sản
phải xây dựng chủ nghĩa trên nền
tảng Công Giáo lấy t́nh thương thay cho
hận thù giai cấp chồng cao ngất trời!?
Nhưng
dưới con mắt của nhiều cựu sinh viên
khác, những cảm nhận được
biểu lộ khác, có phần cay đắng,
buồn tủi, pha lẫn bàng hoàng, ngỡ ngàng như
t́nh cảm và niềm tin linh thiêng nhất của ḿnh
bị những con người có hành động
bạo tàn xúc phạm:
“Những
bước chân vô thức dẫn tôi dần
trở lên khu Năng Tĩnh tự lúc nào. Tôi ngước
nh́n ngọn tháp Năng Tĩnh, biểu tượng
tôn giáo đă được thay thế, một
nỗi buồn ùa đến trong tôi trước
cảnh vắng ngắt của sân Năng Tĩnh, nơi
cách đây không lâu chúng tôi đă nhộn nhịp
dự lễ phát bằng ra trường…
Tôi
bước lên cổng chính Năng Tĩnh và
thực sự cảm thấy kinh hoàng và bị xúc
phạm đến ḷng tin tôn giáo của ḿnh, khi
đập vào mắt tôi là h́nh ảnh những
chiếc nồi, xoong chảo quánh, đen thui, treo
lủng lẳng trên bức tường chính
của gian giữa, nơi có bàn thờ, mà tôi
đă từng dự thánh lễ. Bàn thờ xưa
giờ là chiếc bàn đá trơ trụi, đă
biến thành bếp tập thể, rất lộn
xộn dơ bẩn. Quanh Năng Tĩnh, các pḥng
nghỉ của Giáo sư từ các nơi lên Đà
Lạt lưu lại trong thời gian giảng
dậy tại đây ngày xưa, nay đă biến
thành nhà ở tập thể, các dẫy ghế
ngồi trong gian chính chỉ c̣n mấy chiếc, không
nguyên vẹn, chiếc th́ chỏng gọng,
chiếc th́ mất chân. Thật là một cảnh
tượng xé ḷng”.
Ôi!
một cuộc đổi đời “hạnh phúc
(!?)” mà biết bao người đă “đón
nhận” bằng cách chạy trốn, kể
cả hiểm nguy đến sinh mạnh của ḿnh!
2.
Tuyên Úy Vụ
a.
Linh Mục Tuyên Úy
được thành lập từ năm 1959 cho
một tập thể sinh viên nhỏ bé ban đầu.
Nhiệm vụ chính của Tuyên úy là “phát huy văn
hóa Việt Nam trong khía cạnh nhân bản, dân
tộc và khoa học, dung ḥa các giá trị cổ
truyền quốc gia với mọi tư tưởng
quốc tế, nhất là tinh thần Phúc Âm Công Giáo”.
Pḥng Tuyên úy c̣n giúp đỡ các sinh viên ngoài Công
giáo muốn t́m hiểu đức tin Kitô.
Khi sinh viên Công giáo đông hơn, th́ các sinh
viên được qui tụ và tổ chức thành
Đoàn Sinh Viên, rồi Liên Đoàn Sinh Viên Công giáo,
do các trường hay phân khoa hợp thành. LĐSVCG
được các vị LM tuyên úy sau đây
lần lượt hướng dẫn:
Palacios,
SJ
Phạm
Văn Nhượng, gốc
giáo phận Phát Diệm
Trịnh
Việt Yên, gốc giáo
phận Thanh Hóa
Từ
năm 1971, Lm Lă Thanh Lịch, gốc giáo
phận Hà Nội, sát nhập giáo phận Cần
Thơ, được cử nhiệm làm tuyên úy.
b.
Đoàn Sinh Viên Công Giáo Đà Lạt.
Tập thể sinh viên Công Giáo Đà Lạt có
tỷ lệ trung b́nh là khoảng 41% (sau Phật giáo
là khoảng 45%) theo thống kê tháng 4/1973 trong sĩ
số sinh viên ghi danh thụ huấn ở các khoa
trong Viện. Đó là một số liệu thanh niên
Công giáo tương đối cao trong một nước
mà đa số không phải là Công Giáo
LĐSVCGĐL
qui tụ các đoàn sinh viên thuộc các đại
học xá: B́nh Minh, Kiêm Ái, Trương Vĩnh Kư,
Trinh Vương và sinh viên ngoại trú. Ban Chấp
Hành LĐ gồm các chức vụ Chủ Tịch,
Tổng Thư Kư và hai Ủy Viên Nội và
Ngoại Vụ, làm việc chặt chẽ với
Ban Chấp Hành các đoàn hội viên.
Các
hoạt động SVCG được các Pḥng chuyên
biệt phụ trách. Pḥng Cố Vấn và Nội
Vụ lo Ca Đoàn Thụ Nhân, ca đoàn Phụng
vụ, Tĩnh Tâm, Giáo Lư và Truyền bá Phúc Âm.
Sau cùng, Pḥng Nội vụ cũng hợp tác
với Đoàn Thanh Niên Công Giáo Đại Học
(JUC) tổ chức thuyết tŕnh và ấn hành
nội san Năng Tĩnh để thông tin và
huấn luyện. Pḥng Ngoại vụ cùng Ban
Chấp Hành mỗi đoàn lo các hoạt động
đối ngoại và xă hội, quốc nội cũng
như quốc tế
LĐSVCG
Đà Lạt cũng giao lưu sinh hoạt với LĐSVCG
các nơi như Sàig̣n, Huế và sau này Cần Thơ
lập nên một Tổng Liên Đoàn SVCGTQ, từ
sau chính biến 1/11/1963.
Ba
phái đoàn sinh viên Công Giáo Sài g̣n, Đà Lạt
và Huế gặp nhau tại Trung Tâm Phục Sinh
ở Sàig̣n vào đúng ngày 1/11/1963. Ngày thảo
luận về qui chế tổ chức và hoạt
động của giới sinh viên Công giáo toàn
quốc lại là ngày đất nước
Việt Nam đi vào một chiều hướng chính
trị mới. Ngày 2/11/1963, các thành viên của ba
phái đoàn sinh viên vẫn lặng lẽ kiên tŕ làm
việc cẩn trọng.
Kể
từ khi thành lập TLĐ/SVCGVN th́ TLĐ trực
thuộc hệ thống Phong Trào SVCG Quốc Tế
Pax Romana (MIEC). TLĐ/SVCGVN được điều
hành bởi Văn Pḥng Tổng Thư Kư, TLĐ/SVCGVN,
gồm có Tổng Thư Kư, Phó TTK Nội Vụ, Phó
TTK Ngoại Vụ và Thủ Quĩ.
Hội
nghị bầu cử một Ban Chấp Hành Lâm
Thời, gồm các thành phần sau đây:
Chủ
Tịch: Đào Duy (Đại Học Sàig̣n)
Phó
Chủ Tịch: Lê Thị Thiện (Đại
Học Đà Lạt)
Tổng
Thư Kư kiêm Thủ Quỹ: Nguyễn Văn
Đương (Đại Học Huế)
Ban
Tuyên Úy của TLĐ gồm có các Lm Nguyễn Huy
Lịch (Sàig̣n), Nguyễn Ḥa Nhă (Đà Lạt) và
Nguyễn Văn Trinh (Huế).
Tổ
chức TLĐSVCGVN được tài trợ từ
TGM Nguyễn Văn B́nh (1000$ làm quỹ hoạt
động ban đầu), và Lm Nguyễn Văn
Lập, Viện Trưởng Viện Đại
Học Đà lạt.
Chính
vào khoảng năm 1966, LĐSVCGSG, Đoàn SVCG
Huế, Đoàn SVCG Đàlạt (năm sau mới có
Đoàn SVCG Cần Thơ) họp tại Sàig̣n,
đồng ư tiếp tục xúc tiến tổ
chức Tổng Liên Đoàn SVCGVN, đặt
trụ sở và BCH tại Sàig̣n.
Phái
đoàn Đà Lạt gồm có:
Nguyễn
Sĩ Bạch (VK), Chủ Tịch (nay là Thầy Sáu,
Houston, TX),
Huỳnh
Đắc Chương (CTKD), Phó Chủ Tịch (nay
Thầy Sáu, Houston, TX)
Đặng
Đ́nh Soạn (hiện ở Houston, TX).
Năm
1969, Tổng Liên Đoàn SVCG được tổ
chức ở Huế, đại diện cho Viện
Đại Học Đà Lạt là Nguyễn Sĩ
Bạch là Chủ Tịch Đoàn SVCG Đà
Lạt, dù có thể NSB đă ra trường.
Về
phương diện tôn giáo, ngày 16/4/1973, Viện cũng
thống kê t́nh h́nh tín ngưỡng tôn giáo cho
tập thể sinh viên là 3475 người, không
kể sinh viên Ban Cao Học CTKD ở Sàig̣n. Đây
là một bức tranh liên tôn đẹp đẽ
hiếm có trong tập thể sinh viên thuộc
nhiều xu hương tín niệm khác nhau cùng chung
vai sát cảnh thi nhau học tập để
trở nên người hữu ích cho xă hội.
Thụ nhân để thành nhân chắn hẳn là
một mẫu số chung hay một sợi chỉ
xuyên suốt những tấm ḷng các tầng
lớp thanh niên ưu tuyển trong xă hội
Việt Nam khi đó.
Dù
đất nước đang bị chiến tranh xâu
xé, họ vẫn tiến lên để giành một
vị trí xứng đáng trong công cuộc xây
dựng xứ sở thân yêu nhưng đau khổ
này. Điều có nhiều ư nghĩa là không
phải càng trở nên tri thức th́ người
ta càng xa tôn giáo và tín ngưỡng mà trái lại
những tín niệm ấy trở nên cần
thiết, trưởng thành và sâu sắc hơn. Con
người có niềm tin tôn giáo chân chính và
thuần thành càng sống nhân bản và vị tha hơn.
Điều này cũng chứng minh một chân lư khác
là con người càng nhân bản th́ càng gần gũi
với tôn giáo, chứ không phải ngược
lại như một số chủ trương nào
đó.
Biểu đồ 7. T́nh h́nh tôn giáo sinh viên
VĐHĐL tháng 4/1973
|
PhânKhoa
|
Ch.Trị
K. Doanh
|
Khoa Học
|
Sư Phạm
|
Văn Khoa
|
Tổng Số Liệu
|
|
Toàn Viện
|
Tỷ Lệ
%
|
|
Tín Niệm
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
|
Phật Giáo
|
597
|
229
|
151
|
331
|
1308
|
45,45%
|
|
Tin Lành
|
014
|
003
|
011
|
019
|
0047
|
01,63%
|
|
Cao Đài
|
019
|
000
|
002
|
003
|
0024
|
00.83%
|
|
Ḥa Hảo
|
000
|
000
|
000
|
001
|
0001
|
00.34%
|
|
Khổng giáo
|
069
|
021
|
025
|
038
|
0153
|
05,3%
|
|
Gia Tiên
|
008
|
007
|
002
|
023
|
0040
|
01,39%
|
|
Công Giáo
|
344
|
151
|
231
|
445
|
1181
|
41,11%
|
|
Không TG
|
311
|
045
|
035
|
059
|
0450
|
15,63%
|
|
Không rơ
|
000
|
88
|
111
|
072
|
0271
|
07,29%
|
|
Tổng Cộng
|
1362
|
544
|
568
|
991
|
3475
|
|
|
Chú thích:
Tỷ lệ đáng chú ư nhất là Phật
Giáo, rồi Công giáo, và không Tôn giáo trong
một Viện Đại Học Công giáo
ở Việt Nam. Nền tảng tin người
cổ truyền như Khổng giáo và Thờ Cúng
gia tiên không mấy quan trọng trong thực
trạng này. Thống kê này cũng toát lên tinh
thần liên tôn và dung hợp rất đậm
đà nhân bản, dù có hay không có tôn giáo.
|
Có
dự kiến hoạt động tâm linh này phát
triển thành một Pḥng Tuyên Úy qui mô hơn trong
tương lai, đáp ứng cho khát vọng và
niềm tin của thanh niên trí thức ưu tú
của quê hương và dân tộc Việt Nam.
Chương
VIII : Khối
Phục Vụ Chuyên Biệt
1.
Pḥng Quản Lư:
Khoảng
năm 1972-75, LM Phan Công Chuyển, từ Gp
Cần Thơ, gốc Gp Phát Diệm và Thầy
Đinh Quang Trí, Ḍng Đồng Công phụ trách,
quản lư bộ phận tạp vụ, trông coi và
bảo tŕ các cơ sở vật chất và phương
tiện vận chuyển và điện nước,
thực phẩm trong Viện.
Từ
trước, trong một thời gian sư huynh Théophane
đảm lănh trách nhiệm quản lư cho Viện
(1964-1968). SH Théophane được mọi người
coi là người nội trợ đảm đang
cho cha Viện Trưởng. Đi vào chi tiết th́
việc quản lư rất đa đoan khó khăn.
Chinh v́ thế công việc quản lư vật
chất được quan niệm là một
loại công việc chuyên biệt.
Khi
ông làm quản lư, th́ vào chính thời gian ấy, tài
chánh của Viện phong phú hơn hết. Tài năng
xoay sở của GS Trần Long đă giúp cải
thiện t́nh h́nh kinh tài cho Viện, đặc
biệt dưới thời LM Lê Văn Lư làm
viện trưởng. Ông thầm cảm tạ
những nỗ lực của GS Trần Long lo cho
việc chung.
Không
bao giờ thiếu tiền chợ, nên thịt cá, cơm
ngon, gạo thơm lúc nào cũng đầy đủ
no nê. Có tiền trả thù lao cho các Giáo Sư, nhân
viên của viện. Mọi người đều
thấy thoải mái kư sổ trước khi lănh lương
ra về. Đúng là “Có tiền mua tiên cũng
được”, và “Phú quư đa nhân hội”
VĐH
phải tự cung cấp nước dùng hằng ngày.
Có lúc t́nh h́nh cung cấp nước khó khăn. Nước
được bơm từ sườn đồi
lên bể lọc ở đỉnh đồi khu Năng
Tĩnh rồi phân phối lại cho các ṭa nhà
ở các cao độ thấp hơn. Hồ
cạn, thường Quản lư Viện phải
điều đ́nh với nhà máy nước Đà
Lạt, xin nước đổ vào giếng
của Viện, để bảo đảm cho
mọi sinh hoạt b́nh thường trong viện
Phải
luôn luôn dự trữ xăng đầy đủ
để bảo đảm xe chạy đều
đặn, đưa đoàn giáo sư lên
xuống sân bay Liên Khương, nhất là khi
vận chuyển khó khăn. Xăng cần thiết
cho mọi loại hoạt động bất thường
khác như đưa sinh viên ốm đi bệnh
viện, và vô vàn thứ việc không tên đột
xuất khác. Quản lư lo trữ xăng, c̣n
phải giữ xăng cẩn thận. Nếu không,
có thể gây cháy nổ nguy hiểm…
Qua
vai tṛ ấy, SH để lại một kho tàng kinh
nghiệm giao tế nhân sự trong môi trường
Đại Học Thụ Nhân. Để làm tṛn trách
nhiệm quản lư, SH thấy cần phải
sống chan ḥa b́nh dị. Ông thực sự đă
sống gần gũi đặc biệt với
mọi người mà Văn pḥng Quản Lư
chịu trách nhiệm trực tiếp. SH biết pha
tṛ cười trong lúc cần giảm bớt căng
thẳng. Là một nhà giáo dục, SH không bao
giờ bi kịch hóa chuyện làm việc chung
với nhau ở bất kỳ hoàn cảnh nào.
SH
Théophane coi việc đắc nhân tâm là
một bí quyết quản lư quan trọng trong giao
tế nhân sự và xă hội. Học hỏi tâm lư
học, tâm tính học, đạo đức
học trong sách vở, ông c̣n rút tỉa kinh
nghiệm sống lâu năm với nhiều người,
từng trải về tâm lư giáo sư và sinh viên,
tim hiểu tính tính mọi loại người Trung
Nam Bắc, Tây Tàu. Thời gian du học của ông
ở Rôma, sống chung với bốn mươi sư
huynh dị chủng là một trường học
kinh nghiệm quốc tế về giao tế
cộng đoàn. SH thấy phải sống đời
sống nội tâm sâu xa, để tự biết ḿnh
chính xác, th́ ḿnh sẽ hiểu người. Câu châm
ngôn ở cửa miệng người đời
“Suy bụng ta ra bụng người” là ch́a khóa
dẫn đến thành công mà SH cố áp dụng
trong những năm làm việc ở Viện Đại
Học Đà Lạt.
SH
Théophane chú ư t́m hiểu sở thích của từng
Viện Trưởng như một “nhà t́nh báo
thượng thặng”, nhưng chỉ để làm
vui ḷng nhau. Cha Lập th́ thích hút cigare, nên có ai
cho, th́ SH liền đem biếu cha Lập. Cha Lư th́
sống khổ hạnh, không hút thuốc mà cũng
không uống rượu, chỉ ghiền tennis mà thôi.
Cha Lư thường hay nhắc nhở mọi người
câu nói bất hủ gây ấn tượng thật
mạnh mẽ như một điệp khúc:
“Rồi cũng chết!”. Ngài cũng thích vui
đùa với SH Théophane như hồi hai người
c̣n là bạn học thời thơ ấu ở Hà
Nội. Sau này SH mới có cơ hội cộng tác
với những Linh Mục khác, như cha Vũ Minh
Thái tươi trẻ và dễ tính.
Ông
làm quen thân với từng nhân viên dưới
quyền, t́m hiểu các nhu cầu của
họ. Họ cần thứ ǵ, như thuốc men,
th́ ông giúp, có gạo, có quà th́ ông cũng nhớ
phân phối cho họ, chia sẻ với họ. Sư
huynh nhớ một điều họ thích nhất là
đề nghị cha Viện Trưởng chia đất
trồng trọt cho họ. Linh Mục Viện Trưởng
Lê Văn Lư đă đồng ư cho họ đất
đai làm của riêng với văn tự chính
thức kèm theo.
Nhiều
bài học sư huynh đúc kết được
trong cuộc sống: Phải rất tế
nhị với những người nghèo túng và ít
học làm việc chung với ḿnh, ứng
xử công b́nh với mọi người. Chớ
quở trách ai mà không có lư do rành mạch; hăy
rất b́nh tĩnh nhă nhặn khi bị chỉ trích.
Mấy
tháng trước biến cố 30/4/75, sư huynh
nhận được một lá thư như đùa
bỡn nhưng có tính tiên tri: “Chúc Frère ở
lại măi măi trong Viện để cho sinh viên và
nhân viên trong Viện được gặp Frère
cới cái áo ḍng thâm và cái cổ trắng mỗi
ngày. Nhưng có người lại nói: “Frère
ơi! rất tiếc là chúng ḿnh phải ly
biệt nhau. Frère ở lại đây không
được lâu đâu…”
2.
Nhà khách Năng Tĩnh
Thực
tế đây là nhà khách văng lai dành cho các giáo sư
thỉnh giảng cư ngụ tạm thời trong
thời gian lên giảng dậy hay công tác tại
Viện Đại Học Đà Lạt. Được
bố trí ở nơi gần thánh đường
nhất và ở nơi cao nhất, thể hiện
tinh thần “tôn sư trong đạo”, và
“muốn con hay chữ phải yêu lấy
thầy”, mỗi căn pḥng trên Ṭa nhà này
được trang bị đầy đủ
tiện nghi như một pḥng khách sạn. Ngay bên
ngoài khu pḥng cá nhân là một pḥng khách lớn liên
hợp với nhà cơm. Một phần ṭa nhà Năng
Tĩnh dùng làm pḥng riêng của Lm Tuyên Úy và các bàn
thờ phụ dùng để các Linh Mục giáo sư
cần dâng thánh lễ mỗi buổi sớm, khi công
tác trên Viện Đại Học.
Sư
huynh làm việc trên Năng Tỉnh, ân cần
tiếp đón các giáo sư, lo pḥng nghỉ
ngơi, chuẩn bị bữa ăn ngon miệng,
sắp đặt tiền lương giáo sư và
trao tận tay cho từng người trước
khi họ rời Đà Lạt trở về Sài g̣n.
Ông c̣n nuôi thỏ chuẩn bị những món ăn
đặc biệt tiếp đăi các GS.
Đó là món civet lapin. Nhà bếp học cách làm món
này thật thơm ngon hợp khẩu vị,
nấu với rượu trắng hoặc bia. Ông c̣n
pha chế thêm rượu anh đào và có cả Bénédictine,
Cointreau mà phụ huynh sinh viên khi lên Đà Lạt
thăm con, đem biếu tặng sư huynh.
3.
Sinh Viên Vụ.
Tổ
chức Sinh Viên Vụ được h́nh thành
từ niên học 1970-71, có mục đích tạo
điều kiện cho mọi sinh hoạt của
sinh viên, ngoài chương tŕnh giảng huấn
trực tiếp. Tất cả đều là môi trường
giáo dục để sinh viên tập luyện và phát
triển toàn diện nhân cách về các đức
tính và tác phong lănh đạo, giao tế xă
hội, nghệ thuật ăn nói trước công
chúng và thể dục thể thao. Những sinh
hoạt sinh viên cũng là nơi cho họ gặp
gỡ trao đổi, phát triển t́nh thân hữu.
Tổ
chức sinh viên. Một
Ban Đại Diện Sinh Viên Liên Khoa có nhiệm
kỳ một năm, do Ban Đại Diện các Phân
Khoa và các Đại Học Xá
(Trương Vĩnh Kư, Kiêm Ái, B́nh Minh)
bầu lên. BĐD có CT, PCT, TTK, TQ và nhiều Ủy
viên. Dưới có các Nhóm (theo Ban học), Lớp.
Sinh Viên Đà Lạt gồm nhiều đoàn
thể: nào Tôn giáo (SV Phật Tử, Công Giáo, Thanh
Sinh Công), nào Văn hóa (Thanh Niên Thiện Chí, Thanh
Niên Công Tác Xă Hội, Kappa Delta, Scipéco, Hoài Băo,
Sinh Viên Phụng Sự Khoa Học, kịch đoàn
Thụ Nhân), hay Địa phương (Sinh Viên
Đất Quảng, Huế, Cần Thơ, Biên Ḥa,
Nha Trang, Phú Yên, Cam Ranh, B́nh Định, Quảng Ngăi,
Phan Rang, Lâm Đồng)
Tổ
chức sinh viên ngoài chương tŕnh giảng
huấn trực tiếp này cũng đồng
thời được phát triển ở cơ
sở Trường CTKD tại Sàig̣n, đặt
trụ sở tại Lầu II, Thương Xá Tax,
135, Nguyễn Huệ Sàig̣n, do Ông Dương
Hiệp Nghĩa làm phụ tá.
Sinh
Hoạt Sinh Viên. Trung Tâm
Sinh Viên được xây dựng tại Đà
Lạt với tài trợ của tổ chức Asia
Foundation năm 1972. Vừa được thiết
lập, TT đă có nhiều loại sinh hoạt
đa dạng được tổ chức, như
bầu cử Ban đại diện Lớp, Tổng
Hội Sinh Viên Viện, Ngày Huynh Đệ (tựu
trường), Ngày Cựu Sinh Viên (do Hội Cựu
Sinh Viên Đà Lạt), Lễ Ra Trường (Đầu
năm dương lịch), Ngày Sinh Viên, Ngày Đại
Học (Giới thiệu Dại Học và Cao Đẳng
cho học sinh lớp 12 ở thị xă Đà
Lạt). Sinh viên c̣n tổ chức những cuộc
họp mặt lớn như Trại Sinh Hoạt Liên
Viện, Trại Nối Ṿng Tay Lớn, Công Tác
Thiện Nguyện. Sau cùng là các tập thể sinh
viên nhỏ hơn tổ chức Picnic Thân Hữu, Báo
Chí, Văn Nghệ, Bầu Cử, Học Tập, Du
Khảo, Diễn Thuyết, …
Năm
1970-1973, LM Vũ Minh Thái làm giám đốc có LM
Nguyễn Hữu Toản và GS Đỗ Hữu Nghiêm
làm phụ tá cùng với một số nhân sự
cộng tác như sinh viên Nguyễn Văn Năm
sinh viên SP/VK, huấn luyện viên thể thao
Nguyễn Văn Khiêu. Cơ quan sinh viên vụ
quản lư tất cả các hoạt động sinh
viên, như Trung Tâm Sinh Viên. Ớ đó, có quán cơm
sinh viên do tu sĩ Đồng Công hợp tác
với các nữ tu Tu Hội Tận Hiến,
với LM Giáo sư Nguyễn Việt Anh làm Trưởng
Tu Hội. Đoàn Sinh Viên Công giáo đă do LM
Nguyễn Ḥa Nhă, gốc Bắc Ninh, thuộc Gp Sài
g̣n, làm tuyên úy một thời gian. Ban thể thao
phụ trách các sinh hoạt và cơ sở thể
dục thể thao sinh viên, và hoạt động du
lịch của sinh viên nhưng c̣n thiếu huấn
luyện viên.
Trước
năm 1970, dưới thời Giáo Sư Trần
Long và năm 1971, khi Giáo Sư Phó Bá Long nhận
chức Khoa Trưởng Trường CTKD, Giáo Sư
Ngô Đ́nh Long đều được cả hai
vị cựu và tân Khoa Trưởng tín nhiệm và
đề cử giữ chức vụ Phó Khoa Trưởng
Trường này.
Giáo
Sư Ngô Đ́nh Long giữ chức vụ này đến
năm 1973 th́ được Linh Mục Viện Trưởng
Lê Văn Lư bổ nhiệm làm Giám Đốc Sinh
Viên Vụ do. Nhiệm vụ Phó Khoa Trưởng
được trao lại cho Giáo Sư Tạ
Tất Thắng. Ở chức vụ mới này, Giám
Đốc Sinh Viên Vụ đă có dịp cộng tác
mật thiết với các anh chị em sinh viên trong
Ban Kịch Thụ Nhân, các ban nhạc, cũng như
các hội đoàn sinh viên sắc tộc, thể
thao, v.v. Các vị
tiền nhiệm như LM Vũ Minh Thái, và lăo thành
như SH Théophane Nguyễn Văn Kế, tiếp
tục làm cố vấn cho hoạt động sinh
viên vụ.
Nội
Qui Sinh Viên. Đề
điều ḥa các loại hoạt động
của sinh viên, Viện ban hành một Nội Qui
Sinh Viên. Nội Qui này gồm 37 điều
được chia làm Năm Chương: Ch. I (mục
đich và tôn chỉ, 1-2), Ch. II (nhập
học, kỷ luật học vấn, tác phong sinh viên,
3-10), Ch. III (những quyền lợi sinh viên,
11-27), Ch. IV (biện pháp chế tài, 28-34), Ch. V
(viễn ảnh tương lai, 33-37)
Một
sinh hoạt khác do Sinh viên Công giáo phối hợp
với Lm Tuyên Úy là tổ chức một ca đoàn
và ban hợp xướng sinh viên thật điêu
luyện, nhưng việc này chưa được
kiên tŕ liên tục v́ thiếu các Linh mục và giáo
sư chuyên môn và say mê các bộ môn âm nhạc này,
tuy một thời gian LM Ngô Duy Linh, nhạc sư
Trần Hải Linh, nhạc sĩ Hùng Lân từng
tham gia hoạt động, giảng dậy trong
Viện này. Sau chuyến đi tu nghiệp tại Pháp,
LM Ngô Duy Linh không bao giờ trở lại Viện
Đại Học Đà Lạt nữa. Hơn
nữa sinh viên sau khi tốt nghiệp, th́ không c̣n
sinh hoạt trong ca đoàn dành riêng cho sinh viên, nên
có nhiều khó khăn
4.
Các Cư Xá Sinh Viên
Đại
Học Xá Nữ Sinh Viên. Cư
xá này được thành lập năm 1960 tại
đường Trương Vĩnh Kư dành cho
nữ sinh viên.
Đầu
năm 1971, các nữ sinh viên được
chuyển từ đại học xá Trương Vĩnh
Kư vào trong đại học xá B́nh Minh.
Với
nhu cầu phát triển, một học xá nữa
được thiết lập dành cho nữ sinh viên,
mang tên Kiêm Ái. Thực ra học xá này đă
xuất hiện từ năm 1962, dành riêng cho
nữ sinh nguyên là nữ tu, ở phía Tây Đồi
Năng Tĩnh. Khu này được tổ chức
gồm bốn “Lầu” với những tên
rất thánh thiện: Khiêm Ái, Từ Ái, Nhân Ái.
Sinh viên thường gọi chung là các lầu
“Từ Ái” đủ chỗ sinh hoạt cho
khoảng 80 sinh viên. Các nữ sinh viên được
săn sóc theo từng cụm 20 người và có
một Chị Cả trông nom săn sóc. Khoảng năm
1971-1975, các nữ tu ḍng MTG Thanh Hóa được
mời làm quản nhiệm coi sóc hai cư xá trong
khuôn viên của Viện.
Biểu
đồ 8. T́nh h́nh cư xá sinh viên VĐHĐL,
1957-1973
|
Niên khóa
|
T́nh
h́nh cư xá
|
|
Trương
Vĩnh Kư
|
Kiêm
Ái
|
B́nh
Minh
|
|
Lưu sinh
|
Giám đốc
|
Lưu sinh
|
Giám Đốc
|
Lưu sinh
|
Giám Đốc
|
|
1957-58
|
75
|
Tr.V.Thiện
|
|
|
|
|
|
1958-59
|
76
|
|
|
|
|
|
|
1959-60
|
76
|
|
|
|
|
|
|
1960-61
|
77
|
|
|
|
50
|
CôTrt Điều
|
|
1961-62
|
78
|
N.H. Nhă
|
|
|
50
|
|
|
1962-63
|
102
|
|
15
|
|
50
|
|
|
1963-64
|
140
|
NgD. Linh
|
15
|
|
50
|
|
|
1964-65
|
150
|
|
20
|
NDLinh
|
80
|
Nt NTLan
|
|
1965-66
|
182
|
|
20
|
|
80
|
|
|
1966-67
|
190
|
|
20
|
|
80
|
|
|
1967-68
|
198
|
TV Bích
|
20
|
|
90
|
Nt Tt Hường
|
|
1968-69
|
205
|
TrVNghiêm
|
48
|
B. T.Long
|
100
|
|
|
1969-70
|
185
|
|
48
|
|
120
|
Nt Tt Thương
|
|
1970-71
|
175
|
|
82
|
Nt Tt Yến
|
180
|
|
|
1971-72
|
080
|
ĐN Hưởng
|
82
|
|
180
|
|
|
1972-73
|
080
|
|
82
|
|
180
|
Nt Mt Thêm
|
|
Tổngcộng
|
2069
|
6 GĐ
|
452
|
3GĐ
|
1110
|
5 GĐ
|
|
Chú thích:
1/Từ 1958-1973, VĐHĐL quản
nhiệm ba cư xá sinh viên. Tổng cộng có
(2069+1110+452)= 3637 lượt nam nữ sinh viên lưu
trú, với 14 giám đốc khác nhau. Giám Đốc
đầu tiên là chính LM Viện Trưởng
Trần Văn Thiện, và ba giám đốc
cuối cùng là LM Đặng Ngọc Hưởng,
hai nữ tu MTG Thanh Hóa là Trần Thị
Yến và Mai Thị Thêm, chưa kể cư xá
sinh viên Rạng Đông do các tu sĩ ḍng Đồng
Công quản nhiệm.
2/Thời điểm nhiều
sinh viên lưu trú nhất có thể là niên khóa
1970-71: (175+82+180)= 437 sinh viên
3/ Đại học xá lâu
đời nhất là Trương Vĩnh Kư
(1958-59), rồi đến B́nh Minh (1960-61), Kiêm
Ái (1962-63)
|
Học
xá nam sinh viên ban đầu.
Đại Học Xá Nam Sinh Viên từ niên học
1957-1958, có ba khu ABC trong khuôn viên của Viện.
Thời LM Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng,
khi Trường CTKD bắt đầu hoạt động,
những dăy nhà B́nh Minh dùng làm đại học xá
cho nam sinh viên. Lúc đó có khoảng 100 nam sinh viên.
Vào mùa hè năm 1965, khi cha Ngô Duy Linh c̣n làm giám
đốc, một số sinh viên KD1 như Vũ Văn
Thượng, Dương Tấn Hải, Tôn
Thất Tạo, Hồ Quang Nhựt được
phân bổ cư trú ở trên dăy lầu II của
khu học xá này.
Đại
Học Xá B́nh Minh gồm ba dăy nhà trệt. Không
biết tên của mấy dăy nhà này bắt đầu
từ đâu và khi nào. Nếu chỉ nghe tên
gọi mà chưa đến hay sinh sống tại
đó, th́ rất khó hiểu. Nào là dăy lầu
một, dăy lầu ba, dăy lầu bốn
và dăy lầu năm mà thực sự chỉ có
ba dăy nhà trệt. Tiếng “lầu”
được thi vị hóa, phải chăng v́
mỗi dăy nhà ở trên cao độ khác nhau, cho
cả khu Đại Học xá B́nh Minh lẫn Kiêm
Ái?
Chính
mùa hè năm đó ở đây có câu truyện ma
kinh dị mà Dương Tấn Hải kể
lại. Cha Ngô Duy Linh tin rằng có quỷ đến
quấy phá, nên sau câu truyện đó đă đích
thân lấy nước thánh rẩy khắp các pḥng
của sinh viên để trừ quỷ. Thực ra
khung cảnh Viện Đại Học Đà
Lạt lúc đó c̣n thưa thớt sinh viên, và
đại học xá lại ở chỗ tương
đối xa vắng, nên những chuyện kinh
dị giàu tưởng tượng, như Dương
Tấn Hải KD1 ghi lại thường dễ
xảy ra. Khi Linh Mục Ngô Duy Linh đi du học tu
nghiệp âm nhạc tại Pháp, th́ Sư Huynh
Trần Văn Nghiêm làm Giám Đốc Đại
Học xá nam sinh viên.
Muốn
được nhận vào học xá.
Nhu cầu trọ học của sinh viên rất
lớn, v́ đây là trường đại
học ở cao nguyên có khí hậu khá lạnh. Thường
lưu trú sinh là những sinh viên năm thứ I có
giấy giới thiệu của các ḍng tu hay linh
mục ở những cơ sở, xứ đạo
tin cậy. Sinh viên phải chấp hành nội quy
tối thiểu là giữ trật tự, chăm
học, tôn trọng đời sống chung và
tạo môi trường thuận lợi cho việc
học vấn. Sinh viên học đến năm
thứ III thường phải nhường chỗ
cho nhưng người mới tới và không thuê
được nhà trọ ở bên ngoài Viện.
Cuộc
sống sinh viên học xá rất đơn giản: sinh viên muốn dùng nước
nóng để tắm hay nấu ḿ gói, thường
nhúng giây điện trở vào nước hay dùng
bếp dầu hôi. C̣n
việc nấu ăn chung đều do các nữ tu
Tu Hội Tận Hiến phụ trách ít nhất
từ niên khóa 1970-71 hay 1971-1972. Sinh viên thường
thấy khó ăn, theo thực đơn được
lặp lại nhiều lần gồm những món
giản dị, như canh khoai môn nấu với tôm
khô có rau th́ là!
Khi
số sinh viên ngày càng đông, th́ trong khuôn viên
của Viện, hai học xá dần dần dành
hết cho các nữ sinh viên từ xa đến lưu
trú. Đó là Cư xá Kiêm Ái song song với
đường Hùng Vương gần ngă tư Phù
Đổng Thiên Vương, và B́nh Minh ở
sâu trong sườn đồi phía Đông, gần
Trung Tâm Nguyên Tử Lực hơn.
C̣n
các nam sinh viên được chuyển đến Cư
Xá Trương vĩnh Kư ở khu chợ Đà
Lạt, trước kia dành cho các nữ sinh viên.
Nguyên do chính của việc hoán chuyển nữ
sinh viên Trương Vĩnh Kư với nam sinh viên B́nh
Minh lại từ câu chuyện “ma”.
Lại
chuyện ma tái diễn khá dai dẳng.
Hôm đó là một đêm học mùa thi năm
1970, một nhóm “ma” sinh viên hiện h́nh với
Trần Thế Hào KD6 làm “ma cà kheo” về hùa
với Đồng Lương Nhơn KD7 và một
số “ma chơi” khác. Từ cư xá nam sinh viên,
“mấy con ma” rủ nhau ẩn núp thấp thoáng
trong lùm cây trên lối dốc đồi khuất
hẳn giữa hai hàng cây ven đường.
Thế rồi, đợi mấy cô sinh viên lên
trễ hay đi học khuya từ trên thư
viện trở về Kiêm Ái đang măi nói
chuyện, “ma cà kheo” lênh khênh chợt hiện ra
… Mấy cô chạy ù té, thất kinh, hét lên “ma,
ma, ma…”. Đám sinh viên nữ đang cười
nói bị một phen … kinh hoàng… gặp
ma…Nữ tu giám đốc Trần Thị Yến
phải điên đầu đối phó với lũ
“ma cà kheo”.
Một
kư túc xá Nam sinh viên Rạng Đông được
xây dựng gần bên đường Thông Thiên
Học trên khu B của Viện Đại Học
Đà Lạt. Cư xá này do chính các tu sĩ Ḍng
Đồng Công trông coi xây dựng và quản lư
trực tiếp, có lẽ bắt đầu từ
thời LM Lê Văn Lư.
Một
số sinh viên cư ngụ tại một vài kư túc
xá bên ngoài Viện phần nhiều do các ḍng tu
thiết lập (Trường Nazarét, Trường
Adran, Trường Oiseaux, Ḍng Mến Thánh Giá Thanh Hóa,
Tu Hội Tận Hiến, Nhà thuê ở phố
gần Viện...)
Sinh
viên học xá: chuyện dài bất tận.
Sau 1968, SH Théophane vào Đại Học Xá Nam sinh viên
với tư cách Phu Tá Giám Đốc cho SH GĐ
Trần Văn Nghiêm.
*Công
việc của Học Xá thật bề bộn:
Thế
rồi nào là chăm lo cho sinh viên, giữ ǵn
trật tự, chăm sóc sức khỏe, trông nom
đôn đốc cho họ đi học đều
đặn liên tục, nào là thúc dục họ
đóng tiền đầy đủ và đúng
thời hạn theo qui định. SH từng nói làm
cảnh sát bọn học tṛ con trai không dễ dàng
chút nào. SH nói như một chân lư vững chắc
muôn đời: “Thằng con trai th́ luôn luôn
vẫn là thằng con trai”
Quả
nhiên SH phải điên đầu lo cho bọn
trẻ, mất ăn mất ngủ. Thường
đến 12 giờ đêm, các sinh viên học khuya
mới kéo từ Thư viện về pḥng ngủ,
đi ngủ và hay đi qua pḥng của ông. Đám
sinh viên nghịch ngợm đủ tṛ, muôn h́nh
vạn trạng. Có tối vừa đi vừa rao
to Phở! Phở!, có tối lại thay mó n “Gà!”,
hay có đêm vừa chạy vừa hát to: “Cái nhà
là nhà của ta, Frère Kế Frère Nghiêm làm ra…” Có
khi cả toán dậm bước theo nhịp quân hành,
dù sinh viên nào chả ngán đời lính! Dường
như sinh viên diễn đủ tṛ khuây khỏa trước
khi yên thân ném xác vào giường đi ngủ.
“Nhất quỉ nh́ ma thứ ba sinh viên đại
học”, nhất là sinh viên CTKD …
*
Hồi đó sinh viên bất b́nh chuyện bắt lính,
hay bắt đi tập trong những tháng hè.
Gần bữa trưa nọ, một đám sinh viên
kéo nhau đến trước ṭa nhà hành chánh
của Viện sát cổng vào. Cả đám hè nhau
phá cửa văn pḥng bắt lính, lấy hết
hồ sơ ra, chất đống trước sân
của biệt thự hành chánh. Bọn thanh niên phóng
hỏa tất cả những tên tuổi có trong các
giấy tờ bắt lính ấy. Tất cả
đều biến thành tro bụi trong chốc lát.
Mấy chú lính và sĩ quan phụ trách bắt lính
đứng đấy, thản nhiên án binh bất
động, trước cửa văn pḥng, chỉ
nh́n xem thanh niên tha hồ bạo động. Th́ ra
hồ sơ chính thức đă được
họ đem đi cất giữ nơi khác an toàn
trước rồi!
Cha
Viện Trưởng Lê Văn Lư lúc ấy đang
bách bộ thong thả ở pḥng riêng của Ngài
trên lầu. Ngài nh́n xuống thản nhiên và
lặng lẽ theo dơi toàn cảnh hành động
của sinh viên dưới sân. Cha Trương, Phó
Viện Trưởng th́ nổi cơn tam bành,
chạy ra can thiệp, và la rầy đám sinh viên
nổi loạn.
C̣n
SH Théophane thấy thế liền cưỡi Honda
chạy vội ra phố. Lướt nhanh qua chỗ
đám thanh niên lộn xộn, SH chỉ nh́n thoáng,
không tỏ thái độ, thầm tự nhủ:
“Chuyện của tụi nó để chúng lo, ḿnh
tội ǵ mà can thiệp, không may chúng đốt
cả ḿnh th́ bỏ bố!”.
Đến
chiều tối vào nhà cơm, cha Lư góp ư ra
chiều suy tư: “Để chúng nó yên, ông Trương
ra can thiệp mà làm chi! Dại dột!”. Cha Trương
nghe được câu nói đó mà ngán đời!”.
Biết đâu. Có thể có những thanh niên
bất măn từ phía đối phương
được mua chuộc cài lẫn vào đó
để gây hỗn loạn lớn trong hàng ngũ
sinh viên!?
*
Buổi tối về khuya một hôm dưới
thời cha Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng,
một đám sinh viên đi chơi ở phố
về cư xá trong Viện. Đi qua nhà cha Viện
Trưởng. Thấy trong nhà đèn tắt tối
thui, chúng bèn hè nhau vào thăm mấy con gà trong
chuồng của cha. Một chàng nhanh tay vào bóp
mỏ mấy con gà bắt về pḥng làm thịt
nấu cháo ăn đêm cho đỡ đói ḷng trước
khi đi ngủ.
Hôm
sau Cha Viện Trưởng Lập biết chuyện
đă nói tỉnh bơ: “Gà ḿnh mua về chưa
được ăn, chúng nó đói th́ cho chúng xơi,
chúng ăn sau này chúng sẽ nhớ trả.”
*
Sinh viên ăn cắp hoa hồng đem biếu người
yêu. Đây là chuyện xảy ra từ ban đầu
trước khi SH Théophane vào VDH, nhưng hầu như
đă đi vào kho tàng truyện cổ của
những ai từng sống trong Viện Đại
Học. Ăn cắp hoa rồi đem hiến cho người
t́nh. Theo cảm nghĩ của sư huynh Théophane,
anh chàng hay cô nàng sinh viên si t́nh nào đó chỉ có
tim mà không có óc. “Le coeur a des raisons que la raison
condamne”. Người t́nh mà nhận của gian th́
không phải là người tính đáng yêu. Con trai
nào mà nhận của gian là gă si tính hèn mạt
hạng bét, đó là hạng mơ trong xă hội! Văn
hóa cổ truyền VN vẫn thường coi xă
hội có bốn hạng người: thánh nhân,
hiền nhân, quân tử, mơ làng. Sinh viên phải
bắt đầu là hạng quân tử, biết suy
tư và phê phán sáng suốt trong mọi t́nh
huống, v́ đấy là điều tối quan
trọng trong giáo dục.
*
Làm sao mà SH xử sự ổn thỏa được
bao nhiêu việc đó? Ông cho biết “Tôi thường
lên Năng Tĩnh lần chuỗi và cầu
nguyện, để khôn ngoan b́nh tĩnh đối
phó với những trường hợp đó.
Đă
lo nhiều trách nhiệm cùng một lúc, ông c̣n
gặp đủ thứ chuyện với những
sinh viên đến tâm sự cùng ông, kể cả
t́nh yêu và tội lỗi… Ông t́m được
niềm an ủi khích lệ khi thấy sinh viên tin
cậy ông. Ông vững ḷng tự tin đế
sống ở giữa họ mà không ác cảm, không
khinh miệt họ, trái lại yêu thương quư
trọng họ như người thân yêu trong gia
đ́nh ḿnh vậy. Hai mươi bảy năm
dậy học nhiều nơi khác nhau đă giúp SH
vượt khó như thế. Làm sao mà biết tha
thứ và thông cảm, đó là nhiệm vụ giáo
dục, đó chính là sự nghiệp “trồng người”.
*Thời
cha Lê Văn Lư làm Viện Trưởng, có đám
nữ sinh viên khác ở trong đại học xá làm
loạn. Sau cuộc điều tra, Viện phát
hiện ra nữ sinh viên đứng đầu là cô
Tiên. Lập tức cô được mời lên
tham dự Hội Đồng Giáo Sư để
nghe những phân tích của mọi người tham
dự. Theo ư kiến của Hội Đồng, Cha
Viện Trưởng tuyên bố đuổi
học, cô Tiên không giải thích, nhưng chắc cô
cảm thấy tủi nhục bất măn. Cô
nốc luôn mấy viên thuốc tự tử, xùi
bọt mép . Có dấu hiệu trụy tim, khó
thở. T́nh trạng nguy ngập, v́ cách hành xử
nhân ái, Viện phải cấp bách chuyên chở cô
vào bênh viện cứu cấp. Hôm sau Cha Viện Trưởng
t́m đến sư huynh Théophane cho biết t́nh h́nh.
Sau
khi vấn kế kín đáo với cha Viện Trưởng
Lê Văn Lư ở Thư Viện, Sư Huynh đến
yên ủi cô ở bệnh viện, khuyên cô
uống thuốc giải độc và hứa
sẽ vẫn cho cô tham dự kỳ thi cuối năm
và cô sẽ thi đậu. Vâng lời Sư huynh, cô
sinh viên đáng thương đó liền uống
xong liều thuốc giải độc. SH tiếp
tục vào thăm và khuyên cô hăy yêu đời mà
sống, đồng thời trao cho cô một
tấm ảnh tượng Đức Mẹ, cùng
cầu nguyện cho cô. Một tuần sau, cô Tiên
trở lại lớp học, lạc quan yêu đời,
và phấn khởi đi vào sinh hoạt b́nh thường.
5.
Pḥng Y Tế
Được
thành lập có thể đồng thời ngay khi
Viện Đại Học ra đời. Khởi
đầu do BS Hoàng Khiêm thuộc Dân Y Viện
(Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Lạt) phụ trách,
nhưng hoạt động không liên tục và
đều đặn. Từ niên khóa 1972-73, LM Vũ
Minh Thái và người viết liên lạc với
BS Đinh Văn Chức và y tá Nguyễn Hữu
Quảng, phục hồi và tổ chức lại
hoạt động y tế trong Viện. Lúc đầu
hoạt động lại, Pḥng y tế chỉ
giới hạn phục vụ các giáo sư và nhân
viên trong viện.
Pḥng
y tế khi đó được đặt ở căn
đầu tiên dăy nhà Dĩ Lễ là cư xá dành
cho các giáo sư và một vài nhân viên, quay ra sân
thể thao dưới tầng nền được
san bằng vẫn dùng làm sân tennis, bên dưới
dốc đồi nh́n sang Nguyên Tử Lực
Cuộc ở phía Đông.
Chắc
chắn chưa thể tiến hành rộng khắp
việc lập phiếu sức khỏe cho sinh viên và
yểm trợ họ trong công tác y tế bên ngoài
viện, như tài liệu Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74
có nói đến. Dự kiến cho tương lai
gần là mở rộng cho các đối tượng
sinh viên c̣n hạn chế, v́ thiếu nhân sự và
phương tiện. Có dự kiến trước
mắt là mở rộng hoạt động y
tế phục vụ sinh viên trong các hoạt động
cấp cứu, sơ cứu
6.
Pḥng Ẩm Thực (Nhà
Bếp)
Việc
ăn uống tại nhà bếp riêng của Linh
Mục Viện trưởng vẫn do ông Trần Văn
Thơ trực tiếp trông nom, nấu nướng
từ lâu dưới thời LM Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập. Lúc trước, tất
cả các giáo sư thỉnh giảng trong việc
đều dùng cơm chung với Linh Mục
Viện Trưởng. Về sau v́ số giáo sư
lên đông hơn, nên các giáo sư dùng cơm trên
pḥng ăn của ṭa nhà Năng Tĩnh. Pḥng
Quản Lư của Viện lo chăm sóc trực
tiếp khu nhà ăn của các giáo sư. Như
vậy Nhà Bếp riêng ở Ṭa Nhà của LM
Viện Trướng thực tế phục vụ các
linh mục, tu sĩ và khách mời cùng một
số giáo sư có hoàn cảnh đặc biệt,
như GS Nguyễn Khắc Dương và một
thời gian GS Đỗ Hữu Nghiêm và GS Nguyễn
Hồng Giáp, thường trú trong khuôn viên đại
học.
Chương
IX : Khối Học Thuật
1. Giá
Trị Văn Bằng của Viện Đại
Học Đà Lạt.
Ngoài uy tín chất lượng
của các giáo sư và toàn bộ nhân viên của
một Viện Đại Học, giá trị văn
bằng của các trường trong Viện Đại
Học c̣n tùy thuộc tính cách pháp lư. Các văn
bằng ấy cần được các cơ quan
nhà nước và các trường đại
học quốc nội hay quốc tế khác công
nhận
Ngày 28/3/1961, Trường Sư Phạm Ban
Triết học tổ chức lớp tốt
nghiệp đầu tiên trong Viện. Theo luật pháp
quốc gia, nhiều cơ quan tuyển dụng đặt
vấn đề giá trị văn bằng do
Viện Đại Học Đà Lạt cấp phát.
V́ thế, theo yêu cầu của VĐHĐL,
Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh
Diệm đă cho VĐHĐL, do Hội Đại
Học Đà Lạt thành lập, được
cấp phát văn bằng đại học theo
sắc lệnh số 199/GD, kư ngày 28/8/1961.
Sắc
lệnh đó, tuy do Tổng Thống ban hành,
vẫn cần được hợp thức và chi
tiết hóa bằng Nghi Định của cơ quan
chức năng được phân nhiệm trong chính
phủ là Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Bộ này
đă chính thức xác định cho Viện Đại
Học được cấp văn bằng đại
học thực thụ theo nghị định
số 206/GD/PC/NĐ, được Bộ Trưởng
Trần Hữu Thế kư ngày 4/9/1961
Về phía quốc tế, một số cơ
sở đại học Mỹ và Pháp cũng có
tiếng nói đầu tiên đối với giá
trị văn bằng của Viện Đại
Học, chẳng hạn:
Trường
Đại Học Sorbonne, Paris ở địa
chỉ số 12 Place Panthéon, Paris 75005, France đă công
nhận các chứng chỉ từ Dự Bị
đến Văn Bằng Cử Nhân Văn Chương
Pháp.
Trường
Đại Học Công Giáo George Mason University (4400 University Drive, Fairfax, VA 22030) bảo
trợ không những về tài chánh mà c̣n về
học thuật.
Các
cơ quan tài trợ cho Viện Đại Học cũng
gián tiếp ủng hộ giá trị đào tạo
và văn bằng của cơ quan này. Về sau, tùy
từng thời điểm phát triển của các
trường trong Viện, văn bằng Cử Nhân
hay Cao Học đều có văn kiện chính
thức công nhận.
Sau
cùng lời chúc lành của Vatican cho tập thể
Viện Đại Học Đà Lạt nhân kỷ
niệm mười năm xây dựng (1959-1969) là
một cử chỉ làm tăng uy tín và khích
lệ sứ mệnh trồng người của
Viện này.
2.
Các Ṭa Nhà và Giảng Đường Đại
Học
Một
đặc điểm rất Á Đông là cách
đặt tên Hán Việt từ các cổ thư như
Tứ Thư Ngũ Kinh cho các kiến trúc và
giảng đường đại học theo
truyền thống văn hóa châu lục. Cách đặt
tên không khô khan giống như con số giảng
đường ở các đại học thường
thấy bên phương Tây. Các ṭa nhà hay giảng
đường cũng được xây dựng
xoáy trôn ốc theo dốc đồi lần lượt
từ trên các cao độ khác nhau và được
liên kết với nhau bằng những bậc đá
lên xuống hay cầu bằng gỗ xinh xinh,
những lối đi có trang điểm len lỏi
quanh co giữa những khóm hoa ôn đới duyên dáng
đủ loại màu sắc như mimosa, hồng,
anh đào, thược dược, tầm xuân,
huệ trắng, glaïeul… . Các tỏa nhà hay
giảng đường ấy lại được
đan xen thơ mộng, như ngẫu nhiên bên
cạnh, chen giữa hay khuất dưới, đàng
sau những lùm cây tươi mát thiên nhiên.
Những nam thanh nữ tú
đă Đôn Hóa, Minh Thành, Thụ Nhân
trong chốn giảng đường Spellman,
giải trí lành mạnh ở Trung Tâm Sinh Viên,
miệt mài ở đại học theo gương Trương
Vĩnh Kư, biết sống tiết trực Thượng
Hiền, Ḥa Lạc, Năng Tĩnh, Cư
Dị, Dị An,Tri Nhất, Kiêm Ái, th́ cuộc
đời sẽ trông thấy B́nh Minh và
Rạng Đông lâu dài như không bao giờ
kết thúc.
Trong thời đại ngày nay giáo hội Công
giáo muốn nhập thể vào cộng đồng
dân tộc Việt Nam trên nền tảng văn hóa
Á Đông. Từ ban đầu, như một
truyền thống qua cách đặt tên các tỏa
nhà và giảng đường, Viện Đại
Học Đà Lạt đă đề cao ư tưởng
Tin Mừng bàng bạc trong triết học phương
Đông. Nhiều tư tưởng Tin Mừng Công
Giáo được diễn dịch trong các sách Kinh
Thánh theo cảm quan phương Tây cũng
được chứa đựng Kho tàng Tứ Thư
Ngũ Kinh phương Đông. V́ thế Cổ Thư
phương Đông không thiếu những tư tưởng
thâm thúy, làm phương châm cho lư tưởng
Thụ Nhân, tuy kho tàng ấy không phải là
tất cả chân lư Tin Mừng
Nói cách khác, trong trào lưu hội nhập văn
hóa của Giáo Hội Công Giáo ngày nay, có thể nói
rằng Tứ Thư Ngũ Kinh cũng là một
thứ Kinh Thánh với ư nghĩa nào đó theo
khẩu vị truyền thống văn hóa phương
Đông. Theo nhăn quan đó, có thể giải thích
ư nghĩa của từng Ṭa Nhà hay giảng
đường Đại Học chốn Cao Nguyên
thơ mộng, khó quên này.
Từ
khi hoạt động trong Viện Đại
Học Đà Lạt, người viết không
mấy chú ư đọc hay nghe ai giải thích chính
thức về lư tưởng Thụ Nhân và các ư
nghĩa ẩn ngụ trong tên gọi các ṭa nhà và
giảng đường thuộc Viện. Nhưng
một số thành viên của Thụ Nhân, như
cựu sinh viên Tạ Duy Phong KD1, hay Phạm Văn Bân
KD7, đă nêu ra cách lư giải một số từ
ngữ của gia đ́nh Thụ Nhân. Người
viết cho đây là những nỗ lực giải
đáp khá lư thú về một số từ ngữ
phương châm ấy, mặc dù trong Chỉ Nam
Sinh Viên của VĐHĐL có dẫn giải
một phần những nét chính yếu.
Chính cộng đồng Thụ Nhân dần dần
chủ động góp phần làm cho truyền
thống trở nên phong phú và bền vững
vậy.
Nguồn
gốc các tên gọi kia đều hàm chứa ư
nghĩa giáo dục thâm thúy. Dưới đây là
một số ư nghĩa cơ bản mà người
viết t́m kiếm đúc kết được
một phần nhờ chính những truy tầm
của các “hậu sinh khả úy” trong Viện.
Thụ
Nhân (Giảng
Đường) được
coi là danh hiệu lư tưởng soi đường
cho tôn chỉ Đại Học Đà Lạt. Tư
tưởng Thụ Nhân, theo t́m kiếm nhận
thức chủ quan của người viết,
bắt nguồn từ các nỗ lực sự
nghiệp và kế hoạch trồng người
ở trong câu nói của cổ thư phương
Đông “Kế Hoạch
Một Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Lúa, Kế
Hoạch Mười Năm, Không Ǵ Bằng
Trồng Cây, Kế Hoạch Trăm Năm, Không Ǵ
Bằng Trồng Người” (Nhất
Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên
Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi
Kế Mạc Nhi Thụ Nhân.)
Nhưng
người viết đồng ư với tác
giả họ Phạm là nguồn gốc ư tưởng
Thụ Nhân có thể từ trong sách Quản
Tử, rồi v́ tam sao thất bản qua con
đường lưu truyền từ đời này
đến đời khác. Dù từ ngữ trong câu
nói có thể thay đổi, nhưng ư tưởng
cơ bản vẫn không thay đổi như câu này:
“Nhất niên chi kế, mạc như thụ
cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ
mộc; chung thân chi kế, mạc như thụ
nhân. Nhất thụ nhất hoạch giả,
cốc dă; nhất thụ thập hoạch giả,
mộc dă; nhất thụ bách hoạch giả, nhân
dă.” (Kế
một năm, không ǵ bằng trồng lúa; kế mười
năm, không ǵ bằng trồng cây; kế trọn
đời, không ǵ bằng trồng người.
Cái ǵ trồng một cho kết quả một,
tức là trồng lúa; cái ǵ trồng một cho
kết quả mười, tức là trồng cây; cái
ǵ trồng một cho kết quả một trăm,
tức là trồng người).
Năng
Tĩnh
(Nhà
nguyện) là con đường trọng đại,
để t́m thấy chính ḿnh trong cơi thiêng liêng
sau những giờ phút miệt mài học tập
mệt mỏi căng thẳng. Tu dưỡng
tâm tính bằng tĩnh lặng là cách thức ưa
thích của nhà Nho. Chính Thiên Chúa hay bày
tỏ ḿnh cho con người trong cơi ḷng tĩnh
lặng: "Đại học chi đạo,
tại minh minh đức, tại thân dân, tại
chỉ ư chí thiện. Trí chỉ, nhiên hậu
hữu định. Định, nhiên hậu năng
tĩnh. Tĩnh, nhiên hậu năng an. An, nhiên
hậu năng lự. Lự, nhiên hậu năng
đắc." (Con đường học
lớn của người làm sáng thêm cái đức
sáng suốt, ở gần dân, trụ hẳn vào nơi
chí thiện. Đạt được trí, sau đó
mới định được. Có định,
sau đó mới có thể tĩnh. Có tĩnh, sau
đó mới có thể an. Có an, sau đó mới có
thể lo nghĩ. Có lo nghĩ, sau đó mới có
thể thành tựu).
Cư
Dị
(Giảng đường) là tinh hoa trong tư tưởng
"Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu
nhân. Cố quân tử cư dị dĩ
sĩ mệnh. Tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hănh."
(Trên không trách trời, dưới không trách người.
Do vậy, người quân tử ăn ở dễ
dàng, qua đó mà chờ mệnh trời. Kẻ
tiểu nhân làm điều nguy hiểm, qua đó mà
cầu may).
Dĩ
lễ
(Cư xá giáo sư): Sống theo lễ giáo.
Luận ngữ có câu: “Đạo chi dĩ đức,
tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách”
(Lấy đức dẫn đạo, lấy lễ
mà làm cho tề theo, người ta sẽ biết
hổ thẹn mà trớ về đường ngay
nẻo chính vậy).
Dị
An
(Giảng đường): dễ ở. Đào
Tiềm (Đào Uyên Minh, 372-427) trong “Qui Khứ Lai
Từ” có nói về chốn ở ẩn của ḿnh
là: “Thảm dung bất nhi Dị an” (Chỗ
đó tuy nhỏ hep, nhưng dễ yên hàn hơn)
Dương
Thiện
(Đại học xá): Biểu lộ cái tốt ra.
Sách Trung Dung có ghi lại lời Khổng Tử tán
dương vua Thuấn. Ở đó Khổng Tử
ca tụng vua Thuấn là biết che dấu cái
xấu của người khác mà biểu dương
cái tốt đẹp của người khác như
sau: “Ẩn ác nhi dương thiện”
Đạt
Nhân
(Pḥng thí nghiệm): Tới đức Nhân, tức
là đi tới nhân cách viên măn.
Đôn Hóa (Văn pḥng).
Đôn đốc, phổ cập sinh hoá theo
chiếu hướng tốt đẹp. Đạo
Trởi Đất là con đường vạn
vạt sinh sống hài ḥa mà không hại lẫn
nhau. “Tiểu đức
xuyên lưu . Đại đức đôn hóa”
(Đức nhỏ như sông ng̣i chảy
khắp, đức lớn như phổ cập sinh
hóa).
Ḥa
Lạc
(Toà Viện trưởng) lấy ư từ câu: “Huynh
đệ kư hấp, Hoà Lạc Thả Thầm”
(Anh em xum họp, Ḥa Vui biết mấy)
Hội
Hữu
(Giảng đường)
gợi lên ư tưởng đi t́m một phương
cách học tập hữu hiệu nhất. Nếu
chọn bạn mà chơi, th́ cũng phải
biết chọn bạn mà học. Cách thế
học tập có kết quả nhất là hội
hữu, một bí quyết thành công của đại
học chi đạo: "Tăng Tử
viết: Quân tử dĩ văn hội hữu,
dĩ hữu phụ nhân." (Tăng
Tử nói: người quân tử lấy văn chương
mà họp bạn, lấy bạn mà giúp nhau giữ
ḷng nhân).
Kiêm
Ái
(Đại học xá sinh viên): Mặc Tử,
triết nhân đời Xuân Thu, chủ trương
kiêm ái, tức là yêu thương mọi người
như nhau, không phân biệt kẻ thân người
sơ, lâu mau.
Lạc
Thiện
(Đại học xá): Vui với điều
tốt lành.
Minh
Thành (Giảng
đường, Pḥng Thí Nghiệm) bộc
lộ một ư chí chân thành trong sáng. Đạt
được một nhân cách minh thành, đấy
là mục tiêu của giáo dục vậy: "Tự
thành minh, vị chi tính. Tự minh thành,
vị chi giáo. Thành tắc minh hĩ. Minh tắc thành
hĩ." (V́ có ḷng thành thật mà sáng
suốt, đó là do tính. V́ sáng suốt mà có ḷng
thành thật, đó là do giáo dục. Vậy nên ai
có ḷng thành thật th́ sáng suốt. Ai sáng suốt
th́ có ḷng thành thật).
Spellman (Đại giàng đường ):
Hồng
Y Francis Joseph Spellman,
(4/5/1889– 2/12/1967)
là vị giám mục thứ chín và Tổng GM
thứ sáu của Giáo Phận Công Giáo Nữu Ước.
Đối với Việt nam, ngài đến VN
lần đầu tiên năm 1955. Đang cử hành
Thánh lễ tại Nhà Thờ Đức Mẹ La
vang tại
Quảng trị, ngài vừa khóc vừa giảng:
“Tôi cầu nguyện, tôi tin chắc Đức
Mẹ La vang sẽ thắng, và sẽ sớm mang
lại Ḥa B́nh cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam”.
Hai lần kế tiếp năm 1964 và 1965, nhân
dịp Lễ Giáng Sinh hằng năm ngài sang
với tư cách Tổng Tuyên Úy đến thăm
viếng và úy lạo nhiều đơn vị Quân
Đội Hoa Kỳ đồn trú ở Việt
Nam. Ngài từ trần ngày 2/12/1967 tại New York
trong giáo phận của ngài.
Thượng
Chí
(Giảng đường): Nêu cao chí hướng
sống theo nhân nghĩa. Sách Mạnh Tử kể
lại rằng ông Điếm, con vua Tề hỏi:
“Kẻ sĩ làm ǵ? Mạnh Tử trả lời:
“Thương Chí!” (nâng cao chí hướng lên.
Ông đă giải thích “Thượng Chí” như
sau: “Chẳng qua là làm điều nhân nghĩa
đó thôi. Giết một người vô tội là
bất nhân. Chẳng phải của ḿnh mà dành
lấy là phi nghĩa. Kẻ sĩ là ở nơi nào?
Ở đức nhân. Kẻ sĩ đi đường
nào? Ở đức nhân. Noi theo đức nghĩa,
sự nghiệp của đại nhân như
vậy là đă đầy đủ rồi
vậy.
Thượng
Hiền
(Giảng đường): Quan niệm chính trị
của người xưa là biết quí trong người
hiền đức.
Tri
Nhất
biểu
lộ cảm nghĩ bể học của thánh
hiền th́ vô tận và con người phải toàn
tâm toàn ư mới tới gần vị tri thức
độc nhất vô cùng phong phú đó: "Hoặc
sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc
khốn nhi tri chi. Cập kỳ tri chi nhất
dă." (Có người hoặc sinh ra
đă biết; hoặc học mới biết;
hoặc khốn khó mới biết. Khi đạt th́
cái biết chỉ có một).
3.
Cơ Quan Nghiên Cứu Đại Học.
Cơ quan tu thư
được thành lập rất muộn màng sau này
vào ngày 2/6/1973. Ban Tu Thư chịu trách nhiệm cho
ra đời tập san Tri Thức và nội san
Thụ Nhân. Tập san Tri Thức vừa là tài
liệu nghiên cứu, dịch thuật, trao đổi
chuyên môn thuộc các lănh vực khoa học khác
nhau của các giáo sư, đồng thời là tài
liệu học tập cho sinh viên. LM Mai Văn Hùng
OP, Tiến Sĩ Triết học, điều hành báo
chí và Tập San Tri Thức từ năm học
1973-1974
Nội
san Thụ Nhân cũng được phát hành
định kỳ như một thông tin sinh hoạt
của Viện. Viện cũng phát hành những Chỉ
Nam Sinh Viên hằng năm để giới
thiệu cho các khách thăm, để hướng
dẫn sinh viên tiếp xúc làm quen với môi trường
Viện Đại Học Đà Lạt và chọn
lựa các ngành học tập. LM Trần Thiện
Cẩm OP, Tiến sĩ Triết học, giám đốc
và chủ nhiệm nội san Thụ Nhân (1973-75)
4.
Pḥng Ấn Loát (Ấn Quán
SIVIDA).
Dường
như từ khi thành lập trường CTKD,
hoạt động của Pḥng Ấn Loát mới
nhộn nhịp, và có Linh Mục Ngô Duy Linh, Phú Tá
Viện Trưởng kiêm Giám Đốc Đại
Học Xá Nam Sinh Viên, đă góp sức tích cực.
Ông Trần Văn Ngọ là một trong những người
phụ trách về kỹ thuật (tiếp nhận
các giáo tŕnh cần in, in, đóng sách, sửa
chữa trục trặc máy móc, giấy mục, …)
Về sau, sinh viên nắm giữ việc ấn loát,
chủ yếu là các giáo tŕnh của chính sinh viên
Về
sau dưới thời Linh Mục Viện Trưởng
Lê Văn Lư th́ ấn quán được trao cho Lm Trần
Thiện Cẩm, OP, phụ trách. LM Trần
Thiện Cẩm đảm nhiệm điều hành
toàn thể hoạt động ấn loát (1974-1975),
tổ chức lại bộ phận ấn loát
đặt một danh hiệu mới là Ấn Quán
Sinh Viên Đại Học Đà Lạt, viết
tắt thành SIVIDA.
Ấn quán này lo việc ấn hành tài
liệu học tập, nghiên cứu, giáo tŕnh
của các Giáo sư và các ấn chỉ giấy
tờ văn thư báo chí của các bộ
phận trong Viện, nhất là các giáo tŕnh
của Trường CTKD.
5.
Thư Viện Viện Đại Học Đà
Lạt
Sư
Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế
làm giám đốc từ khoảng cuối năm
1968, thay thế bà Trần Long xin về Sàig̣n.
Thư
viện mang tên Hồng Y Agagianian do chính ngài khánh
thành năm 1959, nhân cuộc thăm viếng
Việt Nam với tư cách Sứ Thần của
Đức Phaolô VI tham dự Đại Hội Thánh
Mẫu Toàn Quốc năm 1959. Vào tháng 6/1965, theo yêu
cầu của Bà Ánh Nguyệt (Bà Trần Long),
một số chuyên gia thư viện học là các
ông Pirrel, Zerrold Orne, Trần Ngọc Hải và cô Vơ
Thị Hồng đă góp phần tổ chức
lại các tài liệu sách báo thư viện theo
hệ thống phân loại Dewey.
Các
vị sau đây lần lượt nắm giữ
nhiệm vụ điều khiển thư viện
với tư cách giám đốc: LM De Roeck (1957-1965),
Bà Ánh Nguyệt (1965-1968) và Sư Huynh Théophane
Nguyễn Văn Kế, Licentia in Religiosis Scientiis,
từ 1970 đến 1975
Tính
đến năm 1975, nhờ nhiều cơ quan văn
hóa yểm trợ, như Trung Tâm Học Liệu
Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Trung Tâm Văn Hóa
Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Cơ Quan Văn Hóa
Á Châu,… Thư viện tích lũy được
khoảng gần 30.000 cuốn sách đủ
loại, với 348 thứ tạp chí Anh, Pháp,
Mỹ, Hàn, Đức, Nhật, Hoa... Trung b́nh lượng
sinh viên đến học tập và tham khảo tài
liệu tại thư viện là 326 lượt người/ngày.
Kể
từ khi thánh lập, quá tŕnh tích lũy sách
của thư viện đă gia tăng theo từng
thời điểm. Chắc chắn không thể không
xảy ra cảnh mượn sách, rồi sách
mất tích luôn. Điều quan trọng chắc
chắn là người Việt có yêu sách, nhưng
không phải ai ai cũng thích đọc sách,
một nếp văn hóa rất đẹp của
nhiều người phương Tây. GS Vương
Hồng Sển có nói đến thú chơi sách, nhưng
ngoài việc bỏ tiền mua, c̣n có màn “chôm” sách,
để kinh doanh. Hầu hết những người
mê sách lại là những người buôn bán sách
cũ, mua đi bán lại với giá cắt cổ,
mà không hẳn là những người say mê
kiến thức mà sách mang lại. Tri thức mà không
được chia sẻ là tri thức chết!
Đối
với độc giả sinh viên Đà Lạt,
nhiều người nhắm đến mục tiêu
thực tế là cần đến thư viện
để gạo bài trong mùa thi cử. Đó cũng
là một động lực thực tế, nhưng
chỉ v́ lư do đó th́ chưa thể nâng cao dân
trí một cách cơ bản. Rồi cũng từ
những cuộc lui tới thư viện có
những t́nh bạn và cả t́nh yêu được
nhen nhúm. Và đó cũng chính là một trong
những nguyên nhân khiến cho thư viện đông
đúc người thăm viếng hơn.
Biểu
Đồ 9. Số Lượng Sách ở Từng
Thời Điểm, 1958-1972
|
Thời
gian
|
I.
Số lượng sách
|
Chú
thích
|
|
1958-64
|
04000
|
Sách ban đầu với tài
trợ của Giáo Hội Đức
|
|
1964
|
09365
|
|
|
1965
|
10325
|
|
|
1966
|
10.925
|
|
|
1967
|
13.425
|
|
|
1971
|
16525
|
|
|
1972
|
22430
|
|
|
II.
Các loại sách trong thư viện
|
|
Tác phẩm tổng quát
|
0800
|
|
|
Vấn đề triết
học
|
2800
|
|
|
Tôn giáo
|
0740
|
|
|
Khoa Học Xă Hội
|
4000
|
|
|
Ngôn ngữ
|
0450
|
|
|
Khoa Học thuần túy
|
2100
|
Không rơ nghĩa
|
|
Khoa học thực nghiệm
|
1000
|
|
|
Kỹ thuật
|
0900
|
|
|
Văn học
|
6400
|
|
|
Sử Địa
|
3240
|
|
|
III.
Nhịp sinh hoạt tại Thư Viện,
1971-72
|
|
Độc giả vào nghiên
cứu
|
13181
|
|
|
Sách mượn về nhà
|
0382
|
|
|
Tham khảo tài liệu
|
1725
|
|
|
Lượt người vào thư
viện
|
326 lượt người /ngày
|
|
Thường
sinh viên nam nữ chen chúc rủ nhau đến
học đêm qui định từ 7-10 giờ
tối để bảo vệ sức khỏe
.Bối cảnh êm đềm cho sinh viên cũng như
mọi người tại Thư viện tao ra
một thứ chu kỳ hẹn ḥ, vừa học
vừa trao t́nh cảm cho nhau. Sư huynh nhân cơ
hội đó cho in nhiều bài viết đối
thoại và hướng dẫn sinh viên nam nữ
nhận thức được con đường tính
yêu họ đang đi.
Chắc
chắn dù sư huynh Giám Đốc Thư Viện
tận tụy hết sức, nhưng việc
tổ chức Thư Viện, quan hệ giữa các
Thư Viện trong nước và nước ngoài
để có trao đổi, cung cấp, và mua bàn các
tài liệu nghiên cứu học tập cho giáo sư
và sinh viên vẫn chưa được cải
tiến nhiều. Việc trang bị các tiện nghi
học tập nghiên cứu, như tủ kệ, bàn
ghế máy móc in ấn, chiếu phim, chụp
ảnh, slide projector, … Đây là một trong muôn vàn
thí dụ về sự thiếu thốn của thư
viện trong kế hoạch đ̣i hỏi phải
cập nhật hóa.
GS
Phó Bá Long yêu cầu từng nhóm lập một thư
mục tất cả các sách về quản trị
học trong Thư Viện của Viện Đại
Học Đà Lạt. Nhưng v́ phương
tiện giới hạn, danh sách các sách về
quản trị chỉ vỏn vẹn hai trang
giấy, mà so với thư viện một đại
học nước ngoài th́ không biết bao nhiêu là
sách vở về “management”!
Chương
X : Một Số Dự
Án của Viện Đại Học Đà Lạt
Vào
năm 1974, Hội Đồng Viện Đại
Học Đà Lạt đă có phiên họp đi
đến một số quyết định quan
trọng:
1.
Hợp Thức Xây Dựng Phân Khoa Thần
Học: Để phát huy tính năng cơ
bản là một Viện Đại Học Công giáo
toàn quốc, Viện chấp nhận toàn bộ Chương
tŕnh và Ban Giảng Huấn của Giáo Hoàng Học
Viện Thánh Piô X là hợp thức để có
thể đủ tư cách cấp phát văn
bằng Cử Nhân Thần Học, theo danh nghĩa
của Phân Khoa Thần Học của Viện Đại
Học Đà Lạt
Học
viện này có tên là Giáo Hoàng Học Viện Thánh
Piô X Đà Lạt (Dalat Pius X Pontificale Collegium. Cơ
sở này là một tài sản của Giáo Hội
Trung Ương tại Vatican, và thực tế
được giao cho Ḍng Tên quản trị.
2.
Huấn Luyện Nhân Viên Giảng Huấn:
Các
phân khoa của Viện xúc tiến dự án cho
nhiều nhân viên giảng huấn c̣n trẻ có
nhiều triển vọng đi du học đào
tạo tại các nước tiền tiến như
Pháp, Anh, Đức, Mỹ, … như các sinh viên Lê
Văn Khuê, Nguyễn Văn Ḥa (VK) đi Mỹ; Trần
Văn Cảnh (SP), Lê Ngọc Minh (KH) đi
Pháp, …Dưới thời Linh Mục Viện Trưởng
Lê Văn Lư, sinh viên đầu tiên được
cho đi du học tại Mỹ là Phạm Văn
Hải, chuyên về Ngữ Học. Sau này anh
được mời vào giảng dậy tại Trường
Đại Học Georgetown ở Thủ Đô
Washington, DC. Khi đó tất cả các sinh viên
được gửi đi du học ở nước
ngoài đều do học bổng của các cơ
quan bên ngoài. Thực tế Viện chưa đủ
điều kiện để tài trợ toàn bộ
học phí, và các phi tổn liên quan như cư trú
và sinh hoạt, bảo hiểm y tế, chuyên
chở, … cho nhiều sinh viên.
3.
Nâng Cao Kỹ Năng Quản Trị Đại
Học
Viện
Đại Học Đà Lạt cũng gửi đi
tu nghiệp một số nhân viên có triển
vọng tham gia guồng máy quản trị xây
dựng Viện Đại Học sau này. Cụ
thể là Viện cử đi hai người: GS
Phạm Thiên Hùng, GS Đỗ Hữu Nghiêm,
đi tham dự khóa tu nghiệp về Quản
Trị Đại Học trong sáu tháng tại Manila
(Asian Institute of Management, Học Viện Quản
Trị Á Châu), từ ngày 31/5/1974, do tài trợ
của cơ quan Asia Foundation.
Về
sau, có thêm Bà Ánh Nguyệt được
cử đi tham dự. Bà đă được
bổ nhiệm một thời gian ngắn làm Giám
Đốc Thư Viện trước khi Sư Huynh
Théophane Nguyễn Văn Kế thay thế.
Ngoài
ra một số chuẩn bị cho các dự án
đă được LM Viện Trưởng dự
kiến nhưng chưa đem ra bàn bạc rộng
răi và quyết định trong Hội Đồng
Viện.
4.
Hoàn Thiện Từng Bước Cơ Cấu
Tổ Chức Và Nhân Sự.
Một
số chức vụ cần thiết của Hội
cũng như Viện, đảm nhiệm việc
quản trị điều hành hành chánh xử lư
thường vụ tổng quát và công tác văn pḥng
của Viện, cải thiện một số
chức vụ nhân viên giảng huấn, tuyên úy, thư
viện, soạn thảo các văn kiện xác định
rơ trách nhiệm và quyền hạn các chức
vụ quản trị khác. Dưới thời LM
Simon Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng,
trên Thẻ Sinh Viên của sinh viên Nguyễn Thị
Phấn Hoa KD7, Năm Nhập Môn CTKD, c̣n chữ kư
của Tổng Thư Kư Trần Quang Diệu kư TL
Viện Trưởng ngày 30 tháng 12 năm 1969
tại Đà Lạt.
Phải chăng, chức vụ Tổng Thư Kư này
của Viện Đại Học Đà Lạt
gắn liền với sự chấm dứt
nhiệm kỳ của Linh Mục Viện Trưởng
Nguyễn Văn Lập? Khi người viết
được liên Bộ Giáo Dục và Quốc Pḥng
biệt phái đến làm việc tại Viện vào
cuối năm 1971, th́ không thấy c̣n chức
vụ này
5.
Kiến thiết Cư Xá Nhân Viên.
Song
song với kế hoạch đó, việc mở
rộng cơ sở của Viện Đại
Học Đà Lạt tại Khu C đă được
tiến hành, sơ khởi dành cho các nhân viên
giảng huấn. Đă có gia đ́nh GS Nguyễn
Hồng Giáp, và Phụ Khảo Nguyễn Thanh Châu t́nh
nguyện ra dọn về cư ngụ tại khu này
từ 1973. Hiện nay dưới chế độ
mới, GS Nguyễn Thanh Châu - Quảng Hoa vẫn
được tái tuyển dụng giảng dậy
trong Viện Đại Học và đang cư
ngụ tại cư xá nhân viên giảng huấn khu
C. Được biết GS Nguyễn Thanh Châu là con
trai của một liệt sĩ kháng chiến
chống Pháp.
6.
Dự Án Xây Dựng Phân Khoa Mới
Viện
Đại Học quyết định dự án
vận động nhân sự và tài chính để
thiết lập thêm trường Đại Học
Y Khoa. LM Viện Trưởng Lê Văn Lư với GS
phụ tá hành chánh tháp tùng, đă có dự tính vào
kỳ nghỉ hè năm 1975, sẽ du hành vận
động tài chính và nhân sự tại ít
nhất ba nơi là Pháp, Đức và Mỹ, cho
kế hoạch thiết lập Trường Đại
Học Y Khoa Đà Lạt cho vùng Cao Nguyên. Việc
chuẩn bị một khu đất nền rộng
lớn đă được san bằng sẵn
ở một sườn đồi Khu A quay về hướng
bắc, gần phía Trung Tâm Nguyên Tử Lực
Cuộc Đà Lạt. Yểm trợ cho hoạt
động xây dựng này, Viện Đại
Học không thể thiếu được sự
hợp tác tích cực quí báu của anh em Công Binh
Đà Lạt Tuyên Đức do Thiếu Tá
Nguyễn Văn Huấn (nay ở San Diego, Calif.) làm
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn công
binh đóng tại Tam Bố ở quận Đức
Trọng.
7.
Mở Rộng Hợp Tác Và Phát Huy Tính Năng
Viện Đại Học Cao Nguyên
VĐHĐL
cũng xúc tiến xây dựng quan hệ hợp tác
với nhiều cơ sở giáo dục nghiên
cứu trong cũng như ngoài nước dự án
phát huy thế mạnh của một Viện Đại
Học vùng Cao nguyên về nhiều phương
diện, như ngữ học, dân tộc học, và
khảo cổ học, lâm khoáng sản và thủy
điện nơi cộng đồng dân tộc ít
người ở Cao Nguyên Miền Trung Việt Nam:
-
Với Viện Đại Học Honolulu cụ
thể qua giáo sư Wilhem Solheim II (khảo cổ Cao
Nguyên)
-
Với Viện Chuyên Khảo Ngữ Học Mùa Hè
của Đại Học North Dakota qua Tiến Sĩ
David Thomas, mà LM Lê văn Lư đă có quan hệ
từ rất sớm (1957) khi ngài c̣n dậy ở
Tiểu chủng viện Piô XII, Ngă Sáu Chợ
Lớn. Dự án này thành h́nh, Viện Đại
Học Đà Lạt c̣n có thể trở nên
một Trung Tâm Nghiên Cứu Đa-Liên Ngành và
Học Tập Đặc Trưng về các vấn
đề nhân chủng, xă hội và thiên nhiên
của cộng đồng các dân tộc ít người
ở Cao Nguyên Miền Trung Việt Nam.
Được
biết từ cuối niên khóa 1960-61, Ban Điều
Hành đầu tiên của Viện Đại
Học Đà Lạt đă muốn thi hành dự án
lập các Phân Khoa Kỹ Thuật lúc đó chưa
có trong các Viện Đại Học Quốc Gia.
Viện đă dự tính thiết lập Trường
Nhân Viên Ngoại Giao (School for Diplomatic Agents)
tại Viện vào năm học 1962-63. Nhưng t́nh
h́nh sau đó đă không cho phép.
8.
Thành Lập Hội Thân Hữu Thụ Nhân, qui
tụ Giáo Sư và Cựu Sinh Viên Viện Đại
Học Đà Lạt. Một dự án bắt
đầu được xúc tiến thi hành
khẩn trương từ niên khóa 1975-76. Nhưng
thời cuộc đă xóa hết bàn cờ xă
hội của đất nước.
Niên Giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Hà
nội, NXB Tôn giáo, 2005, 965t., 15x21cm. đóng b́a
cứng. Theo
kư ức của Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn
Kế th́ VĐHĐL được thành
lập từ 1956.
Nhớ lại cảnh cũ người xưa:
Đại Học Đà Lạt. Đặc San Frère
Kế, California 12/2003, t. 156-158 trong Ban Điều
Hành Hội Ái Hữu Thụ Nhân Viện Đại
Học ĐàLạt Nam California: Đặc San
Sư Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế (ĐSSHKế).
“Frère Kế, Thụ Nhân và một đời
hiến dâng cho giáo dục.” Southern California,
USA (12/2003), 183 t., pdf., in font 12, t. 156
Theo
diễn văn của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm đọc ngày 7 tháng 10 năm 1957,
trước phiên họp Quốc Hội Việt
Nam Cộng Ḥa tháng 10 năm 1957, có câu: “Authorization
has been granted for the creation of a private University in
Dalat. Đă thuận cấp phép thành lập
một Viện Đại Học tư tại
Đà Lạt”.
Tài
liệu thứ hai là bài tóm tắt về
tiểu sử của GM Ngô Đ́nh Thục
của Jean Marie Roger Kozik, (được GM
Ngô Đ́nh Thục truyền chức GM sái phép năm
1978), sáng lập hội Fraternité Notre Dame ở
Chicago, Hoa Kỳ ghi rơ: “Mở và chuẩn
bị ban đầu cho Viện Đại
Học Đà Lạt do Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục thành lập, 1957; được thăng
Tổng Giám Mục đầu tiên của Gp
Huế, do Giám Mục Brini xướng lập và
được bổ nhiệm làm Khâm Sứ Ṭa
Thánh tại Đông Dương năm 1959”. Như
vậy năm thành lập VĐHĐL chắc
chắn là năm 1957.
Tài
liệu của Griff Ruby nói GM Ngô Đ́nh Thục
cũng lập VĐHĐL. “Viện này trên
thực tế đă được thành lập
từ chỗ đổ nát, nhưng khi một
trong những anh em của GM NĐT đă lên
nắm quyền, th́ ông cho GM Thục được
quyền khai thác một khu rừng để thu
lợi gây quỹ cần thiết.”
GS
Trần Long đă viết căn cứ theo tài
liệu của Viện, nhưng không kể rơ văn
kiện nào: "Tháng
8, 1957 Hội Đồng Giám Mục Công Giáo
Việt Nam thành lập VDHDL tọa lạc ngay
trung tâm văn hóa của thành phố du lịch
Đà Lạt. Cố Đức Ông Simon
Nguyễn Văn Lập, Viện Trưởng
VDHDL từ năm 1961 đến 1970, chọn
từ ngữ Thụ Nhân làm phương
châm cho Viện để thể hiện quan
điểm thăng hoa con người qua thành
quả giáo dục." [“Tổng quát về
Viện, Trường, Khóa 7 CTKD” trong Đặc
san Khóa 7/CTKD (12/2005), t.9]
Nhưng
ngày 16 tháng 01năm 1969, Đức Phaolô VI có
gửi một lá thư chúc mừng cho LM
Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập và
toàn thể Viện Đại Học nhân lễ
tổ chức kỷ niệm 10 năm thành
lập Viện Đại Học Đà Lạt
(1959-1969). Như vậy có thể giải thích là
năm 1956 đă có cuộc vận động thành
lập VĐHĐL, nhưng năm 1957 mới có
giấy phép mở VĐHĐL, thực sự
từ năm 1958 đă bắt đầu và năm
1959 hoạt động chính thức. V́
thế LM Viện Trưởng mới làm Kỷ
niệm 10 năm (1959-1969) vào năm 1969.
Cậu Ngô Đ́nh Thục sinh ngày 6/10/1897
tại Phủ Cam, Huế, du học tại Trường
Truyền giáo Rôma năm 1921
Ông Ngô Đ́nh Khả có 9 người
con: Con cả là Ngô Đ́nh Khôi (1885?-1945). Con
thứ hai là Ngô Đ́nh Thục(1897-1984),
du học Roma
(1919-1927): Tiến sĩ Triết học (1922),
thụ phong Linh mục ngày 20/12/1925, Tiến sĩ
Thần học (1926), Tiến sĩ Giáo luật
(1927). Qua Pháp học Đại Học Công Giáo
Paris: Cử nhân Triết học (1929).
Con
thứ ba là Ngô Đ́nh Diệm, (1901-1963), Tổng Thống VNCH
(1957-1963)
Con thứ tư là Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963). Con thứ năm là Ngô Đ́nh Cẩn (1912-
1964).
Con
út là Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990) . Ba con gái là Ngô Thị Giáo, chết 1944; Ngô
thị Hoàng, thường gọi là bà Cả
Lễ, v́ lập gia đ́nh với ông Nguyễn
Văn Lễ; Ngô Thị Hiệp, lập gia đ́nh
với ông Nguyễn Văn Ấm, thân sinh
của HY TGM FX Nguyễn Văn Thuận, làm
Bộ Trưởng Bộ Công Lư và Ḥa B́nh
tại TT Vatican trước khi tạ thế ngày
16/9/2002, tại Rôma.
Ngài
được chọn làm GM hiệu ṭa Sesina,
quản trị địa phận Vĩnh Long
với tư cách GM Đại diện Tông Ṭa
từ 1938 đến 1960, thụ phong ngày 4/5/1938
tại Nhà thờ chính ṭa Huế do Khâm Sứ Ṭa
Thánh ở Đông Dương là GM Antonio Drapier,
OP. Với tính cách thành viên HĐGMVN, rồi sau
đó với tính cách Chưởng Ấn, ngài tích
cực chuẩn bị xây dựng Viện Đại
Học từ 1956 đến 1959. Nhân dịp Hàng
Giáo Phẩm Việt Nam được thành
lập chính thức ngày 24/11/1960, ngài được
thăng TGM GP Huế được GM Mario Brini Khâm
sứ Ṭa Thánh lập. TGM Phêrô được
mời tham dự Công Đồng Vatican II năm
1963.
Khi
xảy ra chính biến ngày 1-2/11/1963, th́ ngài
ở lại ngoại quốc. Sau đó ngài
được chỉ định làm Bộ Trưởng
Thánh Bộ Giáo Hội Đông Phương,
rồi Tổng Giám Mục hiệu ṭa Bulla Regia
(1968), Phụ tá Ngai Giáo Hoàng.
Một
hành động đáng tiếc là ngài tự ư
phong chức sái phép Jean Marie Roger Kozik và Emmanuel
Marie Michel Fernandez năm 1978 làm GM, do một
Sắc lệnh mà sau này ngài nh́n nhận là
giả mạo mang tên một Motu Proprio “Giám
Mục Ngô Đ́nh Thục được Đức
Piô XI ban cho Quyền hành giáo hoàng như tấn
phong giám mục mà không cần thông báo và
được chấp thuận trước
của Giáo Hoàng đương nhiệm “.
Sau
khi thống hối v́ nhiều sai lầm cuối
đời như truyền chức giám mục không
được phép như thế, ngài về hưu
tại Ḍng Đồng Công ngày 28/4/1984. Ngài qua
đời trong niềm hiệp thông hoàn toàn
với giáo hội Công giáo, ở Nhà Hưu
Đồng Công, tại Carthage, MO, ngày 12/12/1984,
nhưng Niên Giám CGVN năm 2004 lại ghi ngày RIP
của ngài là 13/12/84 (NGCG 2004, t. 276, Thứ
tự 3 trong danh sách GM) (Tư liệu Kozik: Bishop
Pierre Martin Ngo Dinh Thuc, Website. Xem thêm: Griff Ruby: “Chapter
8: The Bishops of Pierre Martin Ngo Dinh Thuc” in Griff
Ruby: The Resurrection of The Roman Catholic Church. A guide to
the Traditional Roman Catholic Movement. All rights reserved
by the Author @ 1998, 1999, 2002, 2004. www.the-pope.com/church08.html).
Bảng thông báo c̣n ghi ở Nhà Hưu Ḍng Ḍng
Công ở Carthage, MO ghi ngày RIP là 12/12/84
Người
viết đặt vấn đề là khi TGM Ngô
Đ́nh Thục đi trước biến cố
ngày 1-2/11/1963, th́ phải chăng có thể có
một sự sắp đặt trước
của một người nào đó của nhóm
đảo chánh, gián tiếp hay trực tiếp?
Vấn đề đó thực ra không có
bằng chứng để trả lời.
Từ năm 1956, Các GMVN đề xướng
thiết lập một Đại Học trên
Đà Lạt từ cơ sở huấn
luyện các con Tây lai của quân đội Pháp.
Cũng từ 1956, Viện Trưởng đầu
tiên là LM Trần Văn Thiện. Tiếp theo
đ̣ là hai năm dự bị vào đại
học 1956-1957 (“Nhớ lại cảnh cũ người
xưa: Đại Học Đà Lạt”. Đặc
San Frère Kế, Southern California 12/2003, t. 156-158,
đoạn 3, 7.) Tiếp theo đ̣ là hai năm
dự bị vào đại học 1956-1957.
Cậu
Giuse Trần Văn Thiện, sinh ngày 13/3/1908, thụ phong Linh mục ngày
21/9/1935 (1957-1961) sau làm GM GP Mỹ Tho (1961-1973). GM
Trần Văn Thiện là giám mục tiên
khởi giáo phận Mỹ Tho vào dịp ngày
27/11/1960 Toà Thánh ban Sắc Chỉ Quod Venerabilis
Fratres thiết lập tân giáo phận này. Khi
đó giáo phận Mỹ Tho có 39 giáo xứ,
với 32 nhà thờ, 54 nhà nguyện, 50.249 giáo dân,
43 linh mục và 28 đại chủng sinh theo
học Học Viện Piô X và Đại
Chủng Viện Sàig̣n, cùng 77 tiểu chủng
sinh ở Cần Thơ và Sàig̣n. Ngoài ra giáo
phận c̣n có 153 tu sĩ thuộc các ḍng Sư
Huynh La San, MTG Cái Nhum, Saint Paul. GM Trần Văn
Thiện đặc biệt chú ư đến
việc đào tạo con người qua hoạt
động Công giáo Tiến Hành. Chuẩn bị
người kế nhiệm ngài truyền
chức linh mục Nguyễn Văn Nam làm Giám
Mục ngày 10/6/1975. Từ đó GM TVThiện
tập chú vào việc dậy giáo lư và giáo
dục cộng đoàn dân Chúa Mỹ Tho. Ngài qua
đời ngày 24/2/1989.
Chú
ư:
Có nhiều người lẫn với GM
Nguyễn Văn Thiện, sinh ngày 13/3/1906,
chịu chức Linh mục ngày 20/2/1922, thụ
phong Giám Mục ngày 22/1/1961, về nhiệm
chức giáo phận Vĩnh Long. Khi bị
bệnh ngài sang Pháp nghỉ hưu từ năm
1968 đến nay. Hiện ngài dang cư ngụ
tại Nice (Les Cèdres, 30 rue de Lilas, Nice, France 06100.
Tél.: 93.84.18.27. (Như SH Pierre Trần Văn Nghiêm:
Souvenirs. Không đề nơi, 1999, lưu hánh
nôi bộ, in vi tính, 117p., khổ 14x25cm, t. 54)
From:
"Van Luc Nguyen" To: nghiem. Sent: Wednesday, June 07,
2006 5:16 PM
Khoảng cuối năm 1975, nhờ một người
em họ bên vợ thuộc thành phần bộ
đội bị đưa vào chiến đấu
ở miền Nam (đi B), người viết
đi Đà Lạt và vào được trong căn
pḥng riêng ở dăy nhà Dĩ Lễ, bên trong phía
Đông khuôn viên Viện, nhận một số
đồ đạc và sách vở chuyển
về Sàig̣n. Hai nhân viên cũ của Viện là
Nguyễn Văn Ngật và Nguyễn Văn Khúc là
người được “Cách Mạng”
chỉ định trông coi Viện. Hai nhân viên cũ
ấy lại là người chủ “cách
mạng” mới giám sát và cho phép người
viết chở vội vàng như có vẻ lén lút
một số đồ đạc và sách vở
lên hai xe GMC mới tinh mà bộ đội
miền Bắc chiếm dụng làm chiến
lợi phẩm từ quân đội Sàig̣n trước
kia. Người viết nhớ đến
lời cha Lê Văn Lư nhắc với người
viết từ trước năm 1975. Ngài nghi
ngờ trong hàng ngũ nhân viên của Viện có
người ngấm ngầm hoạt động
cho CS. Ngài đặc biệt lưu ư đến
hai nhân viên nói trên, và sự kiện Nguyễn Văn
Khúc cầm đầu đám nhân viên yêu
cầu Viện phải chia đất đai
trồng trọt trong Viện khi trước,
với bằng khoán chủ quyền đất
sở hữu đầy đủ. Sư Huynh Théophane
có nhắc đến sự kiện chia đất
này.
Công việc mà Phụ Tá Hành Chánh đă làm
th́ không xác định rơ rệt.
Có khi đóng vai tṛ
một bí thư viết một diễn văn
với tư cách Viện Trưởng để
ngài đọc khi tham dự một hội
nghị giáo dục văn hóa, … ở Sàig̣n, như
lễ kỷ niệm Nguyễn Trường
Tộ năm 1973 ở Sàig̣n. Có khi là một
chuyến đi nhận cả mấy trăm
triệu ở Pḥng Chuẩn Chi dành cho Viện
Đại Học ở Bộ Tài Chánh (khi đó
là Bộ Trưởng Nguyễn Văn Điệp)
và mang tiền trở về bằng đường
bộ trong tinh h́nh có rất nhiều cuộc
phục kích bất ngờ vẫn hay diễn ra
trên quốc lộ 20, từ Sàig̣n đến
Đà Lạt.
Có khi thảo hoạch
một dự án theo yêu cầu của LM Viện
Trưởng, như đo đạc và thiết
kế công việc phát triển Viện Đại
Học trên cả ba khu ABC. Để phục
vụ cho công tác này người viết đă
phối hợp trợ giúp của Đại Tá
Tỉnh Trưởng Đà Lạt để xin
một chuyến bay trực thăng. Thế là
một phi vụ của quân đội Mỹ
từ Nha Trang bay lên chỉ để chụp
một số không ảnh trên vùng trời
Viện Đại Học Đà Lạt, như
đă nói. Đồng thời Tiểu Đoàn công
binh do Thiếu Tá Nguyễn Văn Huấn chỉ
huy ở Tam Bố, quận Đức Trọng,
đă sẵn sàng giúp đem xe ủi công binh
đến san bằng một số nền đất
nhằm chuẩn bị việc xây Trường
Đại Học Y Khoa và các kiến trúc khác, và
tạo điều kiện chuyên chở sinh viên
lấy đất cỏ từ Suối Vàng
về chỉnh trang Viện.
Có khi điều khiển
xây dựng và thi hành một chương tŕnh
triển lăm Viện Đại Học Đà
Lạt, như ở Trung Tâm Công Giáo tại Sàig̣n
nhân kỷ niệm 350 Công giáo truyền đến
Việt Nam. Có khi đại diện cho LM
Viện Trưởng dự một hội
nghị ở Bộ Giáo Dục về những
vấn đề liên quan đến Đại
Học, và biết bao việc không tên khác,
thầm lặng nhưng có hiệu quả
cải tiến môi trường Viện Đại
Học….
Đỗ
Hữu Nghiêm: “Tập Thể Sinh Viên Công Giáo
Việt Nam Cộng và các Linh Mục Ḍng Đa
Minh Chi tỉnh ḍng Lyon”. Dayton, OH, ngày 7/11/2005.2-
18/11/2005.6 Bổ sung ngày
27/12/2005 tại VN đến 10/3/2006.6 tại HK,
nhân chuyến đi Việt Nam Tết Bính
Tuất. Đỗ Hữu Nghiêm. t. 17-19) Website Dũng lac
Frère Kế: “Nhớ lại cảnh cũ người
xưa: Đại Học Đà Lạt”.
Đặc San Frère Kế, California 12/2003, t. 156-158
(Đoạn 11, t. 158).
“Ư Nghĩa Tên Gọi Các Ṭa Nhà Trong Viện”
trong Viện Đại Học Đà Lạt: Chỉ
Nam Sinh Viên Niên Khóa 1973-74. Đà Lạt, 1973,
174t., 14.5x25cm., tt. 12-14.
[Ghi
đến đây, người viết muốn
mở một dấu ngoặc, thầm cảm
phục tác giả cựu sinh viên, họ Tạ
KD1, họ Phạm KD7, nhớ đến câu nói
chí lư của Giáo Sư Phó Bá Long:
“Đệ
Tử Tầm Sư Dị,
Sư
Tầm Đệ Tử Nan!”.
Người
viết có trao đổi với Giáo sư
họ Phó là sinh viên nào đạt đến lư
tưởng Thụ Nhân, th́ dù có bước lên
đầu Thày mà nh́n cao xa hơn, bằng
cấp lớn hơn, th́ vẫn không bao giờ
mất ḷng tri ân và kính trọng đối
với bậc ân sư trong đời, dù
“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, phương
chi cả một hay hai niên khóa cuối cùng
của nhà trường. Giáo sư có nhắc
đến một câu giáo sư phát biểu trước
đám đông cựu sinh viên trong ngày hội
ở khuôn viên Viện Đại Học Đà
Lạt ở Việt Nam ngày 31/12/2005:
“Chắp
Tay Con Tạ Ơn Trời,
Cho
Con Sứ Mệnh Làm Thầy Nơi Đây”.
Trần Bá Hồng Minh: “Spellman, dấu
chân kỷ niệm”. ĐSKD7, tt. 88-92.
Trước
khi chia tay rời khỏi đất Cao Nguyên Lâm
Viên, người viết nhận được
một số h́nh ảnh, kỷ vật, trong
đó có chiếc office-case Echolac và vài trang
kỷ niệm cuộc đời của Sư
Huynh. Điều quan trọng nhất là những
tâm sự của Sư Huynh đối với người
viết về nhiều dư luận và tháí
độ của các linh mục giáo sư đồng
nghiêp và sinh viên đă có giao tiếp hay tham
dự những lớp mà người viết
phụ trách ở Trường Văn Khoa, CTKD và
hoạt động ở các đơn vị khác
trong Viện đối với người
viết Trong đó Sư Huynh có lưu ư
những khuyết nhược điểm và
những ưu điểm của người
viết trong môi trường đại học,
nhất là những điều cần thận
trọng để tránh hiểu lầm và suy b́
ở nơi từng hạng người!
Những điều ấy không có liên quan ǵ
đến Thư Viện, nhưng về giao
tế nhân bản vả tương quan xă
hội trong đại gia đ́nh Thụ Nhân th́
có giá trị giáo dục tế nhị và chân thành
vô cùng. Người viết chưa kịp nói
lời chia ly với Sư Huynh, th́ sư huynh
vội về với Chúa đúng một tháng trước
khi người viết bước chân lên đất
Mỹ (11/2003)! Xin ghi lại chứng từ này như
một tri ân sâu thẳm nhất, chân thực
nhất, như một chứng liệu lịch
sử, để chia sẻ với mọi thành
viên Thụ Nhân.
|
|