|
Viện
Đại Học Đà Lạt
Giữa
Ḷng Dân Tộc Việt Nam
1957-1975
Hoà
Giang Đỗ Hữu Nghiêm
.............
PHẦN
I : KHUNG CẢNH TỔNG QUÁT
Chương
I : Từ Thiên
Nhiên Đến Con Người
1.
Môi Trường Thiên Nhiên Cao Nguyên Lâm Viên
Không
ai không thấy điều kiện tự nhiên
thuận lợi của Đà Lạt trong một
miền nhiệt đới gần xích đạo.
Đến nỗi người ta hiện nay hầu
như chỉ nói, chỉ nghĩ đến Đà
Lạt như một thành phố du lịch nghỉ
ngơi với khí hậu trong lành giữa trời
xanh tươi với bao thắng cảnh mê
hồn. Nhưng ít ai chú ư đến cải vẻ
thanh thoát ấy của Đà Lạt lại giúp cho
con người học hành rất thú vị, dễ
hiểu dễ nhớ, và làm việc quên mệt v́
nó giúp cho con người dễ đắm ḿnh
học hành, làm việc vào trong cảnh trí hữu
t́nh trong mát. Vùng trời tĩnh mịch, êm ả và
mát mẻ giúp cho con người có nhiều khả
năng tập trung. Đúng là thiên nhiên đă
ưu đăi con người nơi đấy,
bằng cách tạo cho con người một môi trường
quyến rũ lạ thường ở một
đất nước có lúc nóng bức như thiêu.
Người viết đă sang bên Baguio, một thành
phố của Phi Luật Tân nằm trên vùng núi phía
Bắc của đảo Luzon, hải đảo
lớn nhất của đất nước
quần đảo này. Baguio có cao độ tương
tự như Đà Lạt của Việt Nam nhưng
không hề duyên dáng, quảng đại xinh đẹp
và dịu hiền bằng Đà Lạt. Đà
lạt có một không gian đủ thoáng rộng
với địa h́nh nhấp nhô vừa phải,
chứ không quá dốc hẹp gắt mạnh như
tại Baguio mát mẻ nhưng gồ ghề, tuy
Baguio cũng có quân trường nổi tiếng.
Môi
trường tự nhiên đặc biệt đó
không chỉ ở cao độ trung b́nh 1.500 mét cao
hơn mặt biển mà c̣n có những rừng thông,
cỏ cây hoa lá cả ôn đới với đồi
núi và hồ suối tự nhiên rất nên thơ mà
ít nơi có. Chính v́ rừng thông Đà Lạt là
bộ máy khổng lồ lọc không khí trong lành
nhờ tính sát trùng của dầu thông. Tôi không
muốn nói đến thiên nhiên Đà Lạt
kiểu mổ tả địa lư, mà khơi lên
những đặc điểm rất thực
tế gần gũi mọi người đang cư
trú tại đó. Đà Lạt là một vườn
cảnh thu hẹp của thiên nhiên anh đào Tokyo
Nhật Bản những ngày cuối tháng hai đầu
tháng ba mỗi năm.
2.
Môi
Trường Văn Hóa Cao Nguyên Lâm Viên.
Nói
đến đặc điểm lịch sử văn
hóa vả nhân văn của Tây Nguyên, th́ không
thể không nói tới những người dân
tộc sống hồn nhiên trong các buôn plei xa tít măi
trong rừng. Họ bảo lưu một kho tàng quí
giá rất hiếm hoi mà các nhà dân tộc gọi là
văn minh truyền miệng, đặc biệt là
nhà dân tộc học Dambo Jacques Dournes (1922-1993).
Jacques Dournes vốn là một nhà truyền giáo
nhiệt thành thuộc Hội Thừa Sai Paris,
từng phục vụ cộng đồng dân
tộc người Srê ở Lâm Đồng (1947-54)
và cộng đồng dân tộc người Jơrai
ở giáo phận Kontum (1955-1970).
Tất
cả các dụng cụ may mặc, trồng
trọt, âm nhạc, điêu khắc, hội họa
và xây dựng nhà cửa, mộ táng đều là
sản phẩm từ thiên nhiên: cây tre, cây nứa,
ḥn đá, củi lửa, trường ca, tập
tục như lễ đâm trâu, …. Trong cả vùng
rừng thăm thẳm như thế, c̣n nằm yên
không biết bao nhiêu kho tàng chôn vùi ở dưới
đất, thậm chí người ta c̣n nói đến
chiều dài và bề dầy lịch sử các
đế quốc người Mạ cổ xưa,
và dân tộc Churu. Những người này có bà
con gần gũi với người Chàm cư trú
từ duyên hải Phan Rang, Phan Rí cho đến Phan
Thiết và đang cất giữ rất nhiều
cổ tích văn hóa Chàm ở vùng núi và cao nguyên
Phan Thiết giáp ranh với Lâm Đồng.
Kho
tàng quan trọng khác là các ngôn ngữ và tập
tục mà chúng ta cần nghiên cứu học
hỏi. Họ, các cộng đồng dân tộc ít
người hiện nay, chính là h́nh ảnh thơ
ấu của cộng đồng dân tộc người
Kinh ngày nay. Thường chỉ có những tâm
hồn đơn sơ yêu mến thiên nhiên mới
muốn t́m thấy đến họ và chia sẻ
với họ. Họ có một lịch sử
của chính họ, dù mong manh theo cách riêng của
họ. Họ dậy chúng ta hiểu thế nào là
lịch sử truyền miệng mà các nhà sử
học dân tộc học hiện nay rất coi
trọng. Đó là nghiên cứu lịch sử cách
sống của những cộng đồng người
làm sao tồn tại được khi họ
buộc phải sống len lỏi giữa chốn núi
rừng tự do nhưng thật khắc nghiệt.
Họ vẫn tồn tại giữa miền
nhiệt đới pha tạp với các thảm
thực động vật và khí hậu thuộc ôn
đới ở các cao độ khác nhau, xa các nơi
có nếp sống tiến tiến hơn ở vùng
đồng bằng
Tôi
chưa chú ư đến những địa thế
và nguồn nước khiến cho người ta có
thể khai thác được thủy điện,
hay nhiều khoáng loại đặc biệt như
quặng bauxít, thậm chí quặng uranium và
nhiều thứ thạch anh mà một thời
nhiều nhà địa chất người Pháp
đă từng miệt mài thám quật như Henri
Fontaine, Edmond Saurin làm việc với Trường
Khoa học ở Sàig̣n. Ít ai nghĩ đến
việc hợp tác với người Mỹ, như
Wilhelm Solheim II, giảng dậy tại Trường
Đại Học Hạ Uy Di, để khai thác
nhiều di chỉ của khảo cổ ở
miền Tây Nguyên, để học được
nơi các chuyên gia khảo cổ kinh nghiệm,
kỹ năng trổi vượt của họ và
những khoản tài trợ cần thiết hữu
ích của họ trong lúc đất nước chúng
ta c̣n thiếu thốn, vừa thoát cảnh đô
hộ. Người Mỹ cũng rất nhiều
chuyên gia ngữ học và dân tộc học chú
trọng tới các ngôn ngữ, tập tục độc
đáo của nhiều cộng đồng ngữ
tộc ở Tây Nguyên. Người ta không thế
không biết trân trọng nhiều công tŕnh ngữ
học công phu của nhiều học giả
Viện Chuyên Cứu Ngữ Học Mùa Hè (SIL- Summer
Institute of Linguistics, Inc.) thuộc Trường Đại
Học North Dakota. Tôi thầm ước ao có
rất nhiều sáng kiến từ tập thể
đại học Đà Lạt dấn thân năng
động vào các dự án t́m hiểu vùng đất
này về các mặt địa lư, địa
chất, nhân văn, kể cả chánh trị kinh
doanh, sư phạm và văn chương. Những
nghệ sĩ tuyệt vời như Siu Black đă
từng làm nổ tung Cao Nguyên với tiếng hát
đầy nhựa sống,..
Sau
cùng người ta không thể không biết đến
rất nhiều nỗ lực và hy sinh của các nhà
truyền giáo Công giáo và Tin Lành đang có mặt,
chen vai thích cánh ở địa bàn Cao Nguyên
miền Trung Việt Nam.
Dường
như họ cạnh tranh hay đối đầu
quyết liệt với nhiều hoạt động
của các nhà chánh trị thuộc nhiều xu hướng
và phe phái quyền lợi khác nhau như Cộng
Sản, không Cộng Sản trên đất nước
Việt Nam. Sâu xa hơn là tác động của
những thành phần chánh trị của người
Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Trung Hoa, kể cả
Kampuchia, Thái Lan, Mă Lai, Lào c̣n tham vọng đối
với các dân tộc và nguồn lợi ở Cao
Nguyên miền Trung sát vùng Tam Biên Việt-Miên-Lào
truyền kiếp này.
Nh́n
vào lịch sử Phi Luật Tân, Mă Lai, hay Nam Dương
nói riêng và Đông Nam Á nói chung, th́ nếu số
phận người dân tộc thiểu số,
vốn cùng chung gốc với nhiều dân tộc
trong vùng, được chính quyền liên hệ
ở Việt Nam quan tâm hơn, th́ họ sẽ phát
triển khởi sắc không thua kèm nhiều dân
tộc làm thành các quốc gia có phần tiến
bộ như ở các quốc gia vừa kể,…
3. Việt Nam Vào Thời Điểm 1954-1957
Thời
gian mấy năm sau cuộc đại di cư
tiếp theo sau Hiệp Định Genève 1954 cho
ta thấy một t́nh h́nh có nhiều sắc thái
đặc biệt thúc đẩy cho hoạt động
văn hóa giáo dục như dự án thành lập
Viện Đại Học Đà Lạt.
Việt
Nam vừa bị chia cắt thực tế làm hai
miền theo các điều khoản lịch sử
của Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954.
Miền Bắc theo chế độ Cộng sản
từ vĩ tuyến 17 trở ra lấy tên nước
là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hỏa. Con sông
Bến Hải là ranh giới tự nhiên tạm
thời giữa hai miền. Miền Nam theo chế
độ tự do lấy tên là Việt Nam Cộng
Ḥa, ở phía Nam vĩ tuyến 17.
Miền
Nam phải đối phó với một cuộc di cư
vĩ đại vượt quá tầm vóc của
chính ḿnh, nếu không có quốc tế, nhất là
Hoa Kỳ, giúp đỡ. Ngoài những khó khăn
của một nước nghèo nàn lạc hậu,
Miền Nam rất thiếu chuyên gia sau cuộc phân
chia đó về mọi mặt, đồng thời
phải xây dựng một chế độ
miền Nam vững mạnh. Sau cuộc di cư
miền Nam phải đối phó mời nhiều khó
khăn. Mấy vấn đề cơ bản sau khi
ổn định xong cuộc di cư mà miền Nam
phải đối phó là:
Thứ
nhất cần xúc tiến thống nhất quân
đội, các đảng phái, các tôn giáo và dành
lại chủ quyền độc lập dân
tộc từ tay người Pháp và từ tham
vọng bá chủ của người Mỹ.
Thứ
hai là xây dựng các cộng đồng di dân theo
một chiến lược định cư có
kế hoạch đa diện để vừa xây
dựng kinh tế, vừa bảo vệ an ninh lănh
thổ. Miền Nam phải canh chừng cuộc xâm
nhập t́nh báo CS đủ loại cố nằm sâu
trong các lực lượng quân dân cán chính toàn
quốc ở miền Nam, nhất là trong các
cộng đồng di dân, các dân tộc thiểu
số ở Cao Nguyên và các lực lượng
cựu kháng chiến Việt Minh c̣n lại tại
miền Nam.
Thứ
ba là củng cố một chính quyển dân chủ
vững mạnh, ngay trong t́nh h́nh phải đối
phó với chính sách hiếu chiến đầy tham
vọng vốn có của miền Bắc nhằm áp
đặt chế độ độc tài lên
cả nước. Miền Nam hy vọng có thể
đứng vững và bảo vệ lănh thổ và
xây dựng chế độ xă hội độc
lập dân tộc thực sự, và cùng thi đua
phát triển với miền Bắc trong quá tŕnh thương
thảo tiến tới thống nhất bằng con
đường ḥa b́nh.
Không
phải chỉ có GHCG mới đối phó với
CS hữu hiệu nhất, nhưng nhiều hành vi
của CS nhắm tập trung vào cộng đồng
Công giáo mănh liệt nhất ở bất cứ nơi
nào có sự xâm nhập của chủ nghĩa CS trên
thế giới. Chính ví thế người CG có
một vai tṛ tích cực, nếu không phải là tiên
phong trong mặt trận ứng phó với chủ trương
chuyên quyền xây dựng đất nước, và
tiêu diệt tôn giáo một cách có hệ thống.
Muốn
thế cần phải tạo ra tài nguyên và
huấn luyện nhân lực đủ tài đức.
Trong khuôn khổ chế độ giáo dục toàn dân
ở các cấp, nhất là cấp đại
học quốc gia. GHVN qua HDGMVN, cũng ư thức
được trách nhiệm đào tạo, góp
phần vào công tŕnh xây dựng tài nguyên nhân
lực chung của đất nước trong t́nh
huống đa đoan ấy.
Thực
tế lịch sử diễn ra chỉ trong năm
1955 đến gần hết năm 1956 bộc
lộ nhiều khó khăn. Đây là giai đoạn
có nhiều vấn đề phức tạp đặc
biệt: người Pháp t́m cách kéo dài quyển
lợi thực dân của họ ở Đông Dương,
bằng cách mua chuộc các chính đảng, các
lực lượng quân sự tôn giáo có nền
tảng từ nhiều giáo phái chống lại chính
quyền do TT Ngô Đ́nh Diệm cầm đầu,
ngơ hầu phân hóa lực lượng quân sự,
chính trị và tôn giáo trong nước.
Cuộc
đối phó với ba tổ chức chính trị
có nền tảng tôn giáo: B́nh Xuyên, Hỏa
Hảo, Cao Đài và lực lượng gắn bó
với Pháp, vào thời điểm 1957-58 tương
đối tạm lắng xuống, ít ra bề ngoài.
Chính trong bối cảnh xă hội ấy, th́ chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm tập trung sức
lực vào xây dựng cơ chế vững vàng hơn.
Hồng Y Spellman là một trong nhiều yếu
tố xúc tác khá quan trọng lôi kéo quốc tế
vào quá tŕnh định cư và xây dựng ở
miền Nam ở giai đoạn từ 1954 đến
1965. Cuộc xây dựng VDHDL chắc chắn đă
có bàn tay của ngài, thể hiện trong ṭa
giảng đường nguy nga mang tên Spellman theo
một tầm nh́n có tính chiến lược lâu dài
và cơ bản.
Chính
những tiền đề đó là bối cảnh
cho việc GHVN đi đến thành lập một
Hội Đại Học để xây dựng
một Viện Đại Học Đà Lạt trên
chốn cao nguyên này.
Chương
II : Lư Tưởng và Mục Tiêu
1/. Mục đích truyền giáo
Người
viết rất đồng ư với nhiều suy tư
của GS Nguyễn Khắc Dương về
mục tiêu của giáo dục đại học Công
giáo. Trong bài huấn dụ sinh viên nhân lễ
tốt nghiệp khóa I của Trường Đại
Học Sư Phạm, GM Chưởng Ấn Ngô
Đ́nh Thục tiên khởi đă phát biểu:
“Ở
bất cứ đâu, Giáo Hội Công Giáo đă
từng góp phần giáo dục thanh thiếu niên. Trên
khắp lănh thổ Việt Nam thân yêu của chúng
ta, từ Bắc chí Nam, từ làng quê đến thành
thị, các trường trung tiểu học
được Công giáo bảo trợ đang
hoạt động hăng hái. Rất nhiều
cựu học sinh của những trường này
đang phục vụ dân tộc chúng ta trong
nhiều lănh vực hoạt động khác nhau.
Nhưng
Đất Nước vào giai đoạn phát
triển mới cần có những nhân sự
được huấn luyện đầy đủ
đế có thể đáp ứng với những
đ̣i hỏi mới.
Nhằm
tiếp tục truyền thống giáo dục
của Giáo Hội Công giáo góp phần vào nhiệm
vụ quan trọng là đào tạo giới ưu tú
cho Đất Nước, toàn thể các Giám
Mục Việt Nam đă quyết định thành
lập Viện Đại Học Đà Lạt,
mặc dù có nhiều khó khăn về tài chánh và
nhân sự. Các Giám Mục tin tưởng rằng các
sinh viên của chúng ta - nhờ các giáo sư
giảng dậy tận tâm, có giáo thuyết trong sáng
bảo đảm, sẽ đạt tới
những kết quả thỏa đáng, trong toàn môi
trường cảnh quan và khí hậu cao nguyên trong
mát này”.
Tiếp
lời vị GM Chưởng Ấn, Bộ Trưởng
Quốc Gia Giáo Dục Trần Hữu Thế cũng
phát biểu:
“Xứ
sở chúng ta đă cố gắng phấn đấu
kiến thiết nền tảng tinh thần và
vật chất do yêu cầu tiến bộ của
toàn dân. Chúng phủ kêu gọi đến thiện
chí của các cá nhân và tổ chức. Viện
Đại Học là một gương sáng hợp
tác đó, và sự thành công của Viện Đại
Học Đà Lạt chứng tỏ cho tôi viện
có đủ tinh thần tham dự vào việc đào
tạo các kỹ thuật gia và các nhà trí thức
cho Việt Nam, cùng với các viện đại
học quốc gia.”
Trong
bản tường tŕnh cũng của GM Chưởng
Ấn Viện Đại Học Đà Lạt kính
gửi Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo
Dục, sau bốn năm xây dựng và hoạt
động, những mục tiêu của việc thành
lập một Viện Đại Học đă
được nhắc lại rơ rệt:
a.
Nhằm cung ứng cho sinh viên Việt Nam nói chung, và
cách riêng cho những người Công giáo. Chính
họ vẫn mong muốn học hỏi, nhưng
thiếu một trung tâm cho họ có thể tiếp
tục những công cuộc học hỏi ở
đó.
b.
Nhằm đảm lănh cuộc phục hưng đạo
lư của những trí tuệ đă đi lạc
đường trong nhiều năm rối loạn
chiến tranh đă qua.
c.
Nhằm mở rộng nền giáo dục Đại
Học nơi quần chúng, nhất là nơi
những người Công giáo, ngơ hầu bắt
kịp tiến bộ chung của nhân loại.
Thực
ra suy nghĩ sâu xa hơn, việc thành lập
Viện Đại Học Đà lạt, cũng như
bất cứ sinh hoạt nào của Giáo Hội
đều thực hiện sứ mạng
“truyền giáo”, tức là loan Tin Mừng cứu
độ cho mọi loài thụ tạo, cho đến
tận cùng trái đất, tận cùng thời gian.
Truyền giáo là một trong những bổn
phận căn bản của Kitô giáo, của
từng Kitô hữu.
Giáo
Hội muốn Kitô hóa mọi giá trị tốt
đẹp của trần thế; muốn cứu
độ mọi sinh hoạt văn hóa xă hội và
kể cả kinh tế chính trị, nên Đại
học Công giáo cũng nhằm nhập thể giá
trị cứu độ vào mọi sinh hoạt văn
hóa của mọi dân tộc, mọi thời đại,
mọi nền văn minh, chứ không nhằm
mục đích chính trị nào cả. Nền văn
hóa được giảng dạy trong Đại
Học Công giáo không theo (chứ không chống
lại) duy vật và vô thần về mặt tư
tưởng nhằm tạo điều kiện cho
con người tiếp nhận chân lư hữu
thần của Kitô giáo. Đạo Kitô muốn thâu
gồm và bổ khuyết mọi giá trị chân chính
của các triết lư khác.
Chẳng
hạn, theo cái nh́n của một giáo sư
triết học, th́ chủ thuyết vô thần Mác–xít
ít nhất cũng có ba yếu tố được
nh́n với thiện cảm:
“1.
Mọi tài sản ở trần gian đều có
mục đích phục vụ cộng đoàn nhân
loại, trái với chủ nghĩa duy lợi
nhuận cá nhân của chủ trương tự do
kinh doanh quá trớn.
2.
Giá trị kinh tế cũng như tinh thần và
đạo đức của người lao động,
và tôn trọng lao động chân tay; Thánh Phụ
Giuse, Chúa Giêsu, các Thánh tông đồ hầu
hết là thành phần lao động chân tay.
3.
Công bằng xă hội trong việc phân phối
sản phẩm của lao động…
Thậm chí cả yếu tố duy vật và vô
thần cũng được xem như có phần
tác dụng tích cực nào đó; giúp người
tín hữu lưu tâm hơn đến khía cạnh
mầu nhiệm “Thiên Chúa mang lấy xác phàm”
khỏi bị lạc vào cái sai lầm duy tâm (idéalisme);
tinh luyện quan niệm về Thiên Chúa, thoát
khỏi sa lầy vào một sự mê tín dị
đoan ngấm ngầm vô thức [trang 174] nào đó, có nguy cơ tha hóa con người,
vốn được Thiên Chúa ban cho có lư trí và
tự do làm chủ đời ḿnh, xă hội và thiên
nhiên.”
2/.
Truyền giáo và chính trị trần thế
Mục
đích là thế, c̣n việc có bị ai lợi
dụng không? Có thể thấy rằng
đương nhiên; chính quyền nào cũng
muốn lợi dụng tất cả để
phục vụ cho mục tiêu của ḿnh! Giáo
Hội và cá nhân thừa hành có chủ ư phục
vụ cho một mưu đồ chính trị đảng
phái không hay có vô t́nh để cho người ta
lợi dụng không, như thế không thể vơ
đũa cả nắm. Giáo Hội không chủ trương
dùng Đại Học Đà Lạt để
phục vụ chính trị cho chế độ nào
cả!
Theo
nhận định của GS Nguyễn Khắc Dương,
từng phục vụ tại Viện Đại
Học Đà Lạt chín năm (1966-1975):
“C̣n
phần cá nhân các linh mục, các thành viên trong giáo
ban th́ đó là chuyện riêng tư cá nhân họ,
tôi không biết thâm tâm họ ra sao, nhưng tôi không
thấy ai đă làm công việc cụ thể nào
phục vụ cho mục tiêu chính trị nào
cả! Mà tôi, riêng bản thân tôi, tôi xác định
rằng tôi không phục vụ cho mục tiêu chính
trị nào cả, mà tôi cũng đă cố
gắng hết sức nếu có thể, không để
cho ai lợi dụng ḿnh phục vụ cho một
mục tiêu chính trị nào cả, c̣n hỏi tôi
rằng có đủ khôn ngoan già dặn để
đối phó, thoát khỏi mưu mô của
những tay cáo già chính trị hay không? Th́ tôi xin
hỏi lại, có ai dám quả quyết ḿnh tài
giỏi như vậy, để tôi xin cắp sách
đến học.
Tôi
chỉ có thể nói rằng tôi không thấy có
việc cụ thể nào (nhằm mục đích
ấy) tôi làm để phục vụ cho một
mục tiêu chính trị. Có chăng là một vài
việc trong đó tôi bị phê b́nh là: “Có
lợi cho Cộng sản”, ví dụ quá tích
cực trong việc xin miễn dịch, hoăn dịch
cho sinh viên hoặc để cho các sinh viên tá túc
qua đêm trong pḥng tôi (dù họ đến gơ
cửa lúc đêm khuya) không cần biết họ có
phải là Việt Cộng nằm vùng hay không, mà
chỉ biết họ là người quen lỡ
đường, th́ theo lời Chúa dạy ḿnh
phải đón tiếp họ như chính Chúa
vậy, người sinh viên ấy có thể là
Đại Việt, Cần Lao, là Việt cộng, là
thành phần thứ 3 thứ 4 ǵ đó, tôi không
thể biết được và tôi cũng không
muốn biết, tôi chỉ biết họ là con người
gặp khó khăn chờ tôi giúp đỡ, thế
thôi!
Tôi
không kể công với ai, mà tôi nghĩ tôi cũng
chẳng có tội với ai về mặt chính
trị v́ tôi là một con người vốn phi chính
trị từ trong bản chất và dù chỉ là
một giáo dân thường, [trang
175] tôi phát nguyện trọn đời phục
vụ Thiên Chúa, và với cương vị giáo sư
một Trường Đại học Công giáo, tôi
là cán bộ văn hóa làm việc dưới
sự quản lư của Hội Thánh Công giáo
Việt Nam, để chống trả ba kẻ thù
của Chúa Giêsu - Đó là: dốt nát, đau
khổ và tội lỗi.
Trước
hết là nơi chính bản thân tôi, sau nữa là
nơi những anh chị em mà Chúa để cho tôi
gặp gỡ trên mỗi nẻo đường không
phân biệt ai, không hỏi căn cước lư
lịch ai, v́ ai cũng là thân phận làm người
trong một cơi thế gian mà sự dữ đă len
vào để quấy phá chương tŕnh của
Thiên Chúa dưới mọi h́nh thức, ở
khắp mọi nơi; ngay cả trong ḷng Hội Thánh
và trong ḷng tôi nữa. Và v́ thế tất cả
đều cần được ơn cứu độ
của Thiên Chúa. Do đó, khi ư Chúa nhiệm
mầu đưa Viện Đại Học đến
chỗ ngưng sinh hoạt, tôi vui vẻ nhẹ nhàng
theo ư Chúa đi đến những nơi khác, làm
những việc khác (ví dụ, gánh phân bón
ruộng) với tất cả ḷng tin cậy
mến b́nh an vui vẻ, cố gắng thương
yêu mọi người trong t́nh yêu Chúa. Cố nhiên
đó là cố gắng tối đa, c̣n đạt
được bao nhiêu là việc Chúa thẩm phán,
tôi không tự đánh giá ḿnh và cũng chẳng
quan tâm đến lời thiên hạ (dù là ai)
thị phi khen chê cả! Chỉ sợ ḿnh vô ư làm
buồn ḷng anh chị em mà thôi.”
“Phải
chăng, đáng lẽ tôi phải biết như
thế để bỏ cái ham mê ấy mà cố
gắng tạo một sự nghiệp văn hoá
thế tục trần gian. Tôi chỉ hỏi
thế thôi, chứ với sự giải thể
Viện Đại Học Công giáo Đà Lạt năm
75 th́ cũng chưa rơ ư Chúa mầu nhiệm
muốn ǵ, bởi v́ như tôi đă ghi ở trên,
kể từ năm 73, tôi đă t́m cách bắt tay
vào, tuy có hơi muộn nhưng cũng là chưa
muộn màng lắm! Dầu sao, đến năm 75,
th́ lịch sử đă sang trang! Viện Đại
Học Đà Lạt nay là một trường
đại học của một nền giáo dục
xây dựng trên nền tảng lư thuyết Mác-Lê,
Giáo Hoàng Học Viện nay là cư xá của công
nhân viên chức thuộc Viện Nghiên Cứu
Hạt Nhân!”
Tưởng
cần giải thích chiều hướng ư nghĩa
mà tập thể Viện Đại Học Đà
Lạt đă nhận thức và chọn lựa. Có
thể ư nghĩa trở nên rơ rệt hơn từ
thời LM Viện Trưởng Nguyễn Văn
Lập cùng với nhiều người đă ghi
khắc chữ Thụ Nhân cho huy hiệu Viện
Đại Học Đà Lạt, với cây thông
xanh cây đứng hiên ngang giữa vùng trời cao
nguyên. Lư tưởng Thụ Nhân này bắt
nguồn từ danh ngôn cổ truyền của văn
hóa Á Đông:
“Nhất
Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên
Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi
Kế Mạc Nhi Thụ Nhân”
(Kế Hoạch Một Năm, Không Ǵ Bằng
Trồng Lúa, Kế Hoạch Mười Năm, Không
Ǵ Bằng Trồng Cây, Kế Hoạch Trăm Năm,
Không Ǵ Bằng Trồng Người).
Từ
đó Thụ Nhân trở thành phương châm
biểu tượng và thực hành cho lư tưởng
giáo dục “trồng người” của
Viện Đại Học Đà Lạt cho đến
nay.
GM Ngô Đ́nh Thục, Chưởng Ấn
Viện Đại Học Đà Lạt: Huấn
dụ nhân lễ tốt nghiệp Khóa I Sinh Viên
Phân Khoa Sư Phạm ngày 29/3/1961. Dalat University.
Saigon, Printed by Dong Nam A, 1961, 44 pages in 27x32cm. p.2-3
Dalat University, đd., t. 3
Report, by the Chancellor of the Dalat University on the
activities of Dalat University, to the Department of National
Education (Thư trả lời của Bộ Trưởng
Giáo Dục số 2779-GD/CVP ngày 15/7/1961 xác
nhận đă nhận được bản tường
tŕnh từ GM Chưởng Ấn). Dalat
University, đd., 1961, tt.21-34
Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương: Quia
Dilexit Humilatem Meam. Hồi Kư. Đà Lạt,
Một Nhóm cựu sinh viên Đà Lạt ấn hành
(lưu hành nội bộ), 248t, 14x25cm, vi tinh font
12, tt. 173-174.
(Tác giả sinh 24/9/1925 tại Vinh, nguyên quán
Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tĩnh,
học Thiên Hựu, Khải Định Huế
(1938-1945). Đậu Tú Tài II năm 1946, dậy
học ở Trường Đậu Quang Lĩnh
(Nghĩa Yên), rồi Hương Sơn. Gia
nhập Công giáo, rửa tội ngày 8/9/1949,
tại Nghĩa Yên sau một tuần cấm pḥng
trong Tu Viện Phanxicô Vinh. Dự tu Ḍng Phanxicô
Vinh, dậy Việt Văn cho chủng sinh lớp
6,7,8 (1949-50). Khấn ḍng 1950. Học thần
học tại Viện Triết Thần Phanxicô
Nha Trang trăn trở về ơn gọi Cát
Minh, nhưng ờ Việt Nam chưa có Cát Minh Nam. Tháng
4/1954, bị động viên theo lệnh động
viên của Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm.
Sau 6 tháng huấn luyện ở quân trường
sĩ quan Thủ Đức, lên quân đoàn II
(1954-56).
Được tu viên Phanxicô cho tu học tại
Paris (1956-57). Ra khỏi Ḍng Phanxicô, học
tại Sorbonne 1957-1960. Tốt nghiệp Cử Nhân
Triết Học. Thử tu tại Ḍng Biển
Đức ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ
(1961-63). Dậy học ở nhiều trường
trung học Công giáo vùng Paris (1963-65). Về Sàig̣n,
VN (1965). Lên dậy triết học tại Trường
Văn Khoa Viện Đại Học Đà
Lạt (1966-1975). Nói về GS NKD, Sư Huynh Théophane
có nhận xét: “Thầy NKD cũng là người
tôi quen lâu năm trong Viện. Bây giờ tôi
vẫn c̣n nhớ con người của nhà giáo
Triết lư cùng ḿnh ấy. H́nh như luôn luôn
sống trên mây mù th́ phải. Ngày ngày ra đứng
trên hè chợ Hoà B́nh trông đợi ai
chẳng biết, xin nhớ là ông Dương
triết ấy chắng vợ cũng chẳng
con cái chi cả. Có cậu sinh viên hụt
tiền cơm ra gặp Bố Dương và cùng
nhau đi ăn phở cho ấm bụng.”
(Tạ Duy Phong phỏng vấn SH Th. Kế ngày
10-14/10/1994 tại St Mary’s College California, PO Box
5150, Moraga, CA 94575: Sự Việc Đă Qua,
Những ǵ đă qua. Đặc San Frère Kế,
California 12/2003, t.148-155)
Vào trại
cải tạo tại Phan Thiết (1975-76). Từ
năm l975-l986, ông đổi nơi cư trú trên
10 lần, mà đến nay cũng không nhà, không
cửa, không tài sản, không vị trí ǵ,
cả trong Giáo hội cũng như trong gia đ́nh
và ngoài xă hội (Thế Tâm, Quia… đă
dẫn, t.141). Cư trú tại Đà
lạt, về Hà Nội, tạm trú tại GX B́nh
Triệu Fatima Thủ Đức với LM
Nguyễn Văn Lập. Khi LM Nguyễn Văn
Lập qua đời, trờ về sống chung
với gia đ́nh Nguyễn Khắc Phê ở
Huế.)
Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương: Sđd,
tt.174-175.
Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương, Sđd.,
t.184.

Xem tiếp :
Phần
II. Lịch sử Thành Lập
Về
lại mục lục
|
|