|
Ḍng La San
Việt Nam và
Tu Huynh Trần
Văn Nghiêm [Frère Pierre] (1908-2001)
Giáo Sư Khoa Trưởng Trường Đại Học
Sư Phạm Đà Lạt (1958-1965)
Thành Viên Hội Đồng Giáo Dục Việt
Nam Cộng Ḥa
Chân dung
Tu huynh Trần Văn Nghiêm
Tôn Sư Trọng
Đạo

Sinh ngày 19/06/1908
Số hiệu trong ḍng tu:
J17145
Mặc áo ḍng
La San: 03/08/1921
Khấn trọn đời: 00/00/1933
Qua đời ngày: 05/04/2001
Chú thích.
Tu huynh La San Trần Trọng An Phong có viết bài « Vài Nhận Xét Về
Cuộc Đời Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm »
ngày 13/08/2008.
Tôi đă xử
dụng tài liệu ấy để ghi lại Tiểu Sử của tu huynh đáng kính ấy theo
nhận thức và cảm quan sử học của ḿnh.
Khi hoàn cảnh
đất nước đă thay đổi, người biên khảo chủ trương dùng danh từ Tu
Huynh thay cho thuật ngữ Sư Huynh vẫn được chính
Ḍng tu La San và cộng đồng dân Chúa thường dùng. Theo cảm nhận của
nhiều người, danh từ « Tu Huynh » phản ảnh trung thực hơn nghĩa chữ
Frère trong tiếng Pháp hay chữ Brother trong tiếng
Anh, Hơn nữa, danh từ ấy bộc lộ lư tưởng trước hết là giảng dậy cho
kẻ nghèo khó, tinh thần khiêm nhu và dân tộc, b́nh dân, nguyên thủy
hơn của một tu sĩ ḍng tu La San (tức là Frères des Écoles
Chrétiennes de Saint Jean Baptiste de la Salle – FSC)
Đỗ Hữu Nghiêm
I. Vài Hàng
Về Quá Tŕnh Phát Triển Ḍng Lasan Trên Thế Giới
Ḍng La San
hay Ḍng Lasan hay Ḍng Sư huynh La San (tên chính thức tiếng Pháp
là Frères des Écoles Chrétiennes, dịch sát nghĩa là Ḍng Tu huynh
các trường Công giáo nhưng danh hiệu thường gọi đă lâu trong giáo
hội Việt Nam là Ḍng Sư huynh trường Thiện giáo.
Institut des
Frères des Écoles chrétiennes (Institute of Brothers of Christian
Schools) là một ḍng tu được linh mục Jean Baptiste de la Salle
thành lập tại Reims, Pháp năm 1680. Vào lúc đó dưới triều vua Louis
XIV, cách biệt giữa người giàu và người nghèo rất lớn và h́nh ảnh
đối lập giữa cảnh nghèo cùng cực và giàu có kiêu sa gây nhiều chú ư.
Khủng hoàng kinh tế thường hay xảy ra và điều kiện trong các thành
phố th́ khủng khiếp. Chính v́ cuộc gặp gỡ bất ngờ với thầy giáo
Adrien Nyel mà Jean Baptiste de La Salle quyết định nâng đỡ những cố
gắng mở các trường miễn phí cho các nam thiếu niên. Ngay từ năm
1679, năm kế tiếp sau cuộc gặp gỡ này, linh mục đă góp phần mở các
trường nam sinh tại các giáo xứ Saint Maurice và Saint Jacques de
Reims. Từ rất sớm, linh mục phải đối phó với các vấn đề liên quan
đến giáo dục nhất là đào tạo các thấy giáo cho các trường học
Từ năm 1679
đến 1682, La Salle ngày càng phải gánh thêm trách nhiệm về các thầy
giáo mà Nyel tuyển mộ, bởi v́ ông này hay váng mặt nhiều hơn. Người
ta coi thời kỳ này như thời kỳ phát sinh Ḍng Tu Các Tu Huynh Trường
Công Giáo. Năm 1692 là một năm đói kém tại Pháp. Nhu cầu rất lớn mà
thầy giáo th́ thiếu thốn. Điều đó khiến La Salle ngày càng phải tài
trợ dự án giáo dục và phải khước từ trợ cấp phúc lợi của kinh sĩ
Reims từng giúp ngài sống từ năm 1667. Từ ngày đó, dường như cha đă
phân phối tất cả của cải ngài có cho người nghèo, và người ta thấy
ngài từ nay trở đi hoàn toàn dấn thân vào dự án của ḿnh. Thế là
Ḍng Tu Các Tu Huynh Các Trường Công Giáo ra đời.
Việc mở rộng
dự án giáo dục của ngài đă thành công phần nào tại Pháp. Tháng
2/1688, với hai tu huynh, La Salle mở « Trường Bác Ái » cho
các trẻ nam, tại Paris. Từ năm 1691 các thành viên muốn tham gia vào
Ḍng Tu chuyên việc giáo dục đang phát triển đầy đủ này, từ nay phải
có lời khấn tu tŕ. Điều ấy xác định tính chất tu tŕ của công tŕnh
này. Trái lại khi được chọn làm Bề Trên năm 1694, th́ Jean Baptiste
khẳng định tính cách đời của tu hội, đến nỗi đặc điểm này không bao
giờ được đặt lại thành vấn đề để tranh luận. Từ 1699 đến 1711, 18 cơ
sở ra đời. Vua Louis XV có những văn thư ám tàng cho phép cộng đoàn
này hoạt động năm 1724. Sau đó là sắc lệnh chính thức của Giáo Hoàng
Biền Đức XIII
Tiếp sau Cuộc
Cách Mạng Pháp năm 1789, Quốc Hội Lập Hiến sau đó băi bỏ Ḍng Tu Các
Tu Huynh Trường Công giáo. Một quyết định lănh sự đă tái lập ḍng
này năm 1802 và hội nhập vào Viện Đại Học hoàng gia năm 1808. Thế là
buổi đầu của một ḍng tu có kiểu phát triển chua hề có trước. Với
việc tham gia điều hành của Mathieu Bransiet (Tu Huynh Philippe) năm
1838, việc làm của Các Tu huynh Trường Công Giáo vượt ra ngài biên
giới nước Pháp. Từ ngày đó các tu huynh này đặt chân đến đất Mỹ châu,
nhất là tại Québec bên đất Canada và đến Á Châu, trong đó có Việt
Nam
II. Sơ Lược
T́nh H́nh Ḍng La San Tại Việt Nam (1866-1994)
A. Từ Ban Đầu
Đến Khi Việt Nam Cộng Ḥa Tan Ră (1865-1975)
Những Năm Tháng Ban Đầu
Khi Pháp nắm
quyền thống trị sáu t́nh Nam Kỳ, th́ cuối năm 1865, sáu tu huynh
Pháp bỏ cảng Toulon, Pháp. Họ đến Sàig̣n tháng 1/1866 và nhận
điều khiển Collège d’Adran Việt Nam do các thừa sai Hội Thừa Sai
Paris thành lập năm 1861
Các tu huynh
ban đầu ngụ trong một nhà tranh thấp bé, nóng nực và ẩm thấp gần
khu vườn Bách Thảo ngày nay. Năm 1869, Hội Thừa Sai cho họ
chuyển sang ở nhà gạch. Hai năm sau có thêm học tṛ nên phải xây
những pḥng lớp mới. Năm 1874, họ dành dụm tiền bạc xây một nhà
nguyện.
Tiếng lành
đồn xa, các tu huynh nhanh chóng mở thêm trường tại Mỹ Tho
(1867), Chợ Lớn (1868) Vĩnh Long (1869), Sóc Trang (1869).
Tự Lực Phát
Triển
Thực sự ngay
từ năm 1879, người Pháp không tài trợ cho các cơ sở ḍng Lasan.
Trường Adran phải đóng cửa, v́ thiếu tiền và thiếu thầy. Nhà Trường
vẫn tiếp tục.
Năm 1873,
linh mục Kerlan mở một trường bác ái cho các trẻ em bị bỏ rơi,
với một số trẻ lai Âu Á. Đó là trường Taberd (tên của
Giám Mục Nam Kỳ 1830-40). Khi đóng cửa trường Adran, nhiều học sinh
cũ đổ xô vào Taberd. Công việc quá tải, nên cần thêm các tu huynh.
Năm 1889,
chín tu huynh xuống tàu tại Marseille, trải qua chuyến đi 28 ngày,
họ đến Sàig̣n. Trường Taberd được giao cho họ năm 1890 với 160 học
tṛ, hầu hết là nội trú. Năm sau có thêm 5 tu huynh đến yểm trợ và
mở một khu riêng trong khuôn viên Taberd, và có trường nhánh tại Cap
Saint Jacques. Nhờ một hợp đồng kư với Hội Thừa Sai, các tu huynh
đảm lănh hết các trách nhiệm quản lư cơ sớ giáo dục đó.
Tháng
01/1896, các tu huynh tách biệt khỏi hạt Ấn Độ, thành lập Hạt Sàig̣n.
Các tu huynh có thêm khu địa sản Thủ Đức cách Sàig̣n 12 km để xây
một tập viện
Năm 1897, một
khu thứ hai miễn phí được mở tại Taberd. Năm 1898, một trường thực
tập cho các giáo viên tương lai mở tại Thủ Đức gần tập viện
Hệ Thống Nhà
Trường Công Giáo Mở Rộng
Một linh mục
thừa sai, cha Armar mở trường cho trẻ em câm điếc tại Lái thiêu.
Trường này sau đó được chuyển về Gia Định thành trường tiểu công
nghệ, dạy các em câm điếc về nghề mộc, điêu khắc và làm mũ nón.
Năm 1894,
theo yêu cầu của GM Gendreau, hai tu huynh được gửi đến Hà Nội.
Các tu huynh dùng một ngôi nhà tranh gần nhà thờ để mở trường học.
Có đông học tṛ nên giáo phận thuê cho họ một ngôi nhà rộng lớn ở
đường Ferry, rồi sau cùng mua một thửa đất rộng lớn, rồi cho xây một
trường sở bề thế có các lớp học, nhà nguyện, nơi cư ngụ cho các tu
huynh. Chỉ sau ba năm tức năm 1897, sau khi hai tu huynh đến Hà Nội,
nhà trường đă xây xong và khi đó đă có 400 học tṛ và tên Giám Mục
Puginier được chọn đặt cho ngôi trường mới này
Trưởng Thành
Cất Cánh
Hạt Việt nam
lúc đó có 6 nhà, 76 tu huynh, 17 kinh viện sinh và 5 tập sinh
Dù không được
chính quyền Pháp giúp đỡ, công tŕnh của các tu huynh đă phát triển
mau chóng: trường Pellerin (1904), trường St Joseph (1906), St
Joseph Mỹ Tho (1908) trường Battambang (1906), trường Miche Pnompenh
(1911), Trường St Thomas d ;Aquin Nam Định (1924), Cơ sở đào tạo Nha
Trang (1933), Trường Tập Bùi Chu (1941), Trường Adran Đàlạt (1981),
Trùng La San Kim Phú Kontum (1956, Trường La San B́nh Lợi Qui Nhon
(1957), Trường La San Ban Mê Thuột (1958), …
Trước ngay
biến cố 30/04/ 1975, hạt Việt Nam có 300 tu huynh, khoảng 15 tập
sinh. Các tu huynh điều khiển 23 cơ sở,
gồm các trường đệ nhất cấp, đệ nhị cấp và kỹ thuật, các lưu trú sinh
Việt Nam và các dân tộc thiểu số, một trung tâm cho người khiếm thị
và một học viện sư phạm. Các tu huynh tổ chức nhiều phong trào Công
giáo tiến hành, như Thanh Sinh Công, Hiệp Hội Thánh Mẩu, Hướng đạo,…
Nỗ Lực Trung
Thành Với Mục Tiêu Giáo Dục Ban Dầu
Lúc đầu các
trường đều miễn phí, nhưng dần dần, nhà cửa, lớp học, sân chơi, thư
viện và các tiện nghi học tập đều đ̣i chi phí mà không có nguồn tài
trợ nào khác, nên phải lấy tiền của các phụ huynh để cải tiến việc
giáo dục con em.
Dù vậy, mục
tiêu ban đầu không bị bỏ quên Trong các trường có lấy học phí, vẫn
có một tỷ lệ các cơ sở giáo dục miễn phí hay giảm phí như tại trường
La San ở Phú Vang Huế, Xóm Bóng Nha Trang, Tuk Lak Nam Vang, Chánh
Hưng Sàig̣n, …
Tiền bạc thu
được lại phục vụ nhà trường hay trong việc đào tạo các thầy dậy (tu
huynh và giáo dân thường) và hoạt động công giáo tiến hành
Trường các tu
huynh mở cho tất cả các con em không phân biệt giai cấp xă hội hay
tôn giáo. Nếu có kinh nguyện và giáo lư th́ đó là mục đích của
trường Công giáo, nhưng tín nhiệm của mỗi học sinh đều được tôn
trọng. Điều đó giải thích môi trường Công giáo tại các trường do các
tu huynh đảm nhiệm không đặt vấn đề cho các tu huynh.
Tu Huynh Hay
Sư Huynh ?
Chắc chắn các
trường Ḍng Lasan tạo nên một mạng lưới tương đối có tổ chức và
trang bị tốt, cung cấp một nền học vấn và giáo dục có giá trị.
Ngoài ra điều ấy c̣n thể hiện đặc tính của các trường ấy là mối quan
hệ thầy tṛ điển h́nh, hài ḥa với tinh thần gia đ́nh Việt Nam. Thực
sự trường của các Tu huynh Lasan là một gia đ́nh anh em, trong tiếng
Việt)
1. Trong
thuật ngữ Hán Việt « Sư Huynh », theo giải thích của các tu
huynh, th́ Sư là thầy giáo; Huynh là anh em) có nghĩa là thầy
giáo giống như thầy thuở xưa (người truyền thụ kiến thức và cũng
đồng thời hiện hữu), nhưng ông cũng là người anh cả hướng dẫn,
theo các em thứ với tất cả t́nh yêu và tận tụy của người muốn thoát
khỏi mọi âu lo khác. Chính v́ thế mà tu huynh được kính trọng và yêu
mến. Và phải nghe những người cao niên nói về các thấy giáo xưa của
ḿnh để hiểu họ yêu mến quí trọng thế nào.
Không phân
biệt giàu nghèo, người Kitô hay Phật tử ; tất cả đều làm học tṛ,
tất cả đều góp phần vào chăm sóc của các tu huynh. Nếu cần phải tỏ
ra ḿnh khoan dung, cảm thông hiểu biết, chính là đối với những
người có khó khăn về vật chất hay tâm linh. Chính như thế mà trường
các tu huynh đem đến những giá trị hoà b́nh và huynh đệ.
2. Người viết
lại có cảm quan và kinh nghiệm là nếu gọi các frères là Tu huynh,
th́ dù có dậy học, tiếng gọi đó mang một âm hưởng vừa thề hiện một
nhà tu hành sẵn sàng từ bỏ mọi địa vị xă hội để phụng sự Chúa và
phục vụ đồng loại một cách khiêm nhu, bé nhỏ hơn là tiếng Sư
Huynh. Tiếng này nhiều khi dễ khiến người tu sĩ trở nên dễ kênh
kiệu và tự hănh một cách lệch lạc làm cho người ấy có tác phong chưa
hẳn luôn thích đáng với ơn gọi tu tŕ.
Dĩ nhiên « l’habit
ne fait pas le moine », nhưng Á Đông vẫn có câu « Y phục xứng
kỳ đức ». Danh hiệu và cách phục sức bên ngoài cũng giúp nhắc
nhở con người luôn nhớ đến ơn gọi ḿnh đă lựa chọn trước mặt Chúa và
người khác.
B. Thời Kỳ
Sau 30/4/1975
Khủng Hoảng
Chao Đảo
Các biến cố
1975 giống như một cơn lốc đă quyét sạch tất cả. Các Trường học bị
quốc hữu hóa, các cộng đoàn rối loạn vô tổ chức, các nhà bị chiếm cứ,
nhiều tu huynh phải chạy ra nước ngoài. Tinh thần hoang mang, người
ta tự hỏi về tương lai mà ngay cả hiện tại cũng bất an. Cuối năm
1978, bằng một nghị định, nhà nước loại bỏ các linh mục, nam
nữ tu sĩ khỏi ngành giáo dục, coi như « không thích hợp dạy
trong các nhà trường xă hội chủ nghĩa » Tất cả các tu huynh chân
thành chấp nhận ở lại để phục vụ đă được cám ơn, trừ một số người
được giữ lại v́ các giám đốc nhà trường cần đến họ..
Phải tiếp xúc,
thư từ và thăm viếng, xoa dịu các tu huynh, giúp họ t́m việc làm,
khuyến khích họ lấy lại đời sống cộng đoàn, tiếp xúc với các tu
huynh đă lui về gia đ́nh.
Dần Dần Củng
Cố
Khủng hoảng
qua đi, người ta vào giai đoạn củng cố. Nhở các cuộc gặp gỡ, tham
viếng đến các cộng đoàn, do những cuộc hội ngộ nhân dịp tang chế và
lễ lạt, nhất là nhờ những cuộc tĩnh tâm năm, tháng, và những cuộc
họp đào tạo thường xuyên, người ta t́m cách củng cố các tu huynh và
các cộng đoàn từ bên trong.
Phục Hồi Và
Phát Triển
1. Năm 1987,
bắt đầu một thời kỳ mới: hoạt động truyền giáo. V́ chế độ bớt xiết
chặt, các tu huynh đá lơi dụng đế dần dần phục hồi hoạt động của họ:
dậy học, dậy giáo lư, hiện diện với giới trẻ.
Có tất cả
69 tu huynh mà một nửa th́ đă từ 60 tuổi trở lên. Điều đó không
có ư nói rằng đă có ba tu huynh về hưu. Chí có chừng một tá, c̣n
những người khác vẫn làm việc
Sáu tu huynh
dạy trong các trường nhà nước,
những người đă có thể thoát cuộc thanh trừng. Một tu huynh dậy toán
học ở phân khoa kiến trúc, ba tu huynh dậy trong những lớp
cuối cùng trường trung học, một tu huynh dậy trong trường kỹ
thuật và một tu huynh khác là giáo sư thể dục ở Viện Đại Học.
Các tu huynh
này không tự cho ḿnh là tu sĩ nhưng không dấu điều đó,mọi người
biết, quí trọng họ v́ lương tâm nghề nghiệp của họ. Tu huynh dậy ở
Kiến trúc đă nhiều lần được chọn đại diện phân khoa ḿnh dự những
hội thảo khoa học nhóm tại thủ đô Hà Nội
C̣n về các tu
huynh khác, sau đây là hoạt động của họ :
- Giáo
tŕnh ngôn ngữ, toán học, khoa học điện toán
- Lớp giáo
lư cho các nữ tu và chủng sinh miền Bắc VN
- Cộng tác
với Liên Hiệp nam nữ tu sĩ Sàig̣n cho những khóa bồi dưỡng các
nam nữ tu sĩ.
Giáo lư xứ
đạo,
12 tu huynh dậy giáo ư hay encadrent giáo lư viên trong 11 giáo xứ
- Hoạt náo
các nhóm thanh niên (suy nghĩ, hoạt động xă hội)
- Hai công
tŕnh đáng chú ư đặc biệt » lớp học nghề của các tu huynh La
San Đức Minh và những buổi sư phạm giáo lư của kinh viện.
Khóa dậy nghề
khánh thành vào tháng 9/1990 nhằm chuẩn bị cho các thanh niên có một
nghề, và đồng thời giúp đào tạo các em về lương tâm nghề nghiệp. Lúc
đầu khóa đó gồm ba phần: sửa chữa xe gắn máy, tiện điện nhà và
nghề ống nước. Từ tháng 8/ 1992, được phép chính thức, chỉ có
chương tŕnh phần sửa xe gắn máy với các kỳ học giới hạn vào ba
tháng.
102 học sinh
tốt nghiệp khóa học này. Họ có thể trở lại nhà họ hay t́m việc làm
thuê tại nhà người nào đó. Những người không t́m được chỗ nào gắn bó,
có thể đến làm việc tại một nhà xe dựng lên gấp cho họ, trong một
nơi của các tu huynh thuộc một cộng đoàn kế cận. Họ t́m thấy ở đó
phương tiện mài giũa nghề nghiệp trong khi kiếm sống, trong một bầu
khí gia đ́nh, huynh đệ giống như trước kia.
Giáo tŕnh
này chỉ có thể hoàn toàn miễn phí được nhờ các ân nhân nâng đỡ, nhất
là tổ chức « Espoir-Enfants du Vietnam ». Phó Chủ Tịch tổ
chức này là một cựu học sinh của các tu huynh Đức Minh và Taberd.
2. Từ khoảng
hai chục năm, các mục tử dành một tầm quan trong lớn cho việc huấn
luyện tôn giáo của các em. Trong các giáo xứ, các giáo tŕnh giáo lư
vẫn có và kêu gọi đến các nữ tu, các bà mẹ gia đ́nh và các thanh
niên giúp đỡ chúng. Nhiều người sẵn sàng hy sinh, nhưng họ thiếu
đào tạo về sư phạm giáo lư xứng hợp
Chính v́ muốn
đáp ứng nhu cầu này mà các tu huynh đă tổ chức các khóa ngắn ngày về
sư phạm giáo lư. Các khóa này kéo dài ba tháng v́ mỗi buổi
học được bố trí hai giờ mỗi tuần. Nhiều khóa đă diễn ra liên tục có
trung b́nh hai đến ba trăm người ghi danh. V́ giáo lư viên cần có
thể vẽ, trang hoàng…, nhiều xưởng máy được dựng lên cho những người
bắt đầu. Nhiều người ghi danh học đă chứng tỏ họ đáp ứng một nhu cấu
thực sự.
Các tu huynh
không quên những người nghèo khác :
- Các giáo
tŕnh dạy nghề được kể trên.
- Các giáo
tŕnh điện toán có thể đến với nhiều người nhờ giá biểu giảm
bớt.
- Các bài
học hát cho các trẻ em khiếm thị, giáo tŕnh karaté cho các trẻ
câm điếc
-Các ngày
trẻ em do các tập sinh và các ứng sinh kinh viện.
-Các cuộc
viếng thăm người già tại viện dưỡng lăo, trại cùi, cô nhi viện,
tố chức cho những người trẻ.
Các Ưu Tiên
Hiện Nay
Giai đoạn đầu
tiên, 1975-1980, tập trung ổn định các tu huynh và cộng đoàn. Giai
đoạn thứ hai 1980-1987 lo củng cố các đối tượng trên. Giai đoạn thứ
ba bắt đầu từ 1987 nhấn mạnh vào sứ mệnh truyền giáo khi các tu
huynh có thể lợi dụng các khoảng trống được mở ra do phong trào nới
lỏng giúp các tu huynh được tự do hơn. Các tu huynh được mời :
- làm việc
chung vơi nhau từng tổ hợp, như người được cộng đoàn phái đi.
- khẳng định
hiện diện của họ theo điều kiện có thể mà vẫn tránh đừng lộ
liễu quá trong nhiều môi trường khác nhau có các linh mục, tu sĩ nơi
các thanh niên
Chăm sóc
người nghèo
Tham gia việc
sư phạm giáo lư
Việc Mục Vụ
Ơn Gọi
Cho đến năm
1980, các tu huynh dứt khoát được để ngoài việc mục vụ các ơn gọi,
v́ căn tính thích hợp của họ đă bị thử thách một cách lỗ măng và các
cộng đoàn của họ bị chao đảo.
Chính từ sau
năm 1980, nghĩa là được ổn định, các tu huynh nghiêm chỉnh nghĩ đến
vấn đề. Ban đầu đó là các juvénistes trở lại với họ. Trong số đó một
số người đă trải qua nhiều năm trong trại tập trung cải tạo. Rồi
nhiều người khác tập hợp theo họ, được một tu huynh hay cộng đoàn
lôi kéo.
Thế là nhà
tập được mở lại: lúc đó có chừng sáu tập sinh năm thứ nhất, sáu
cho năm thứ hai, và khoảng mười người làm thỉnh sinh hay t́m hiểu ơn
gọi. Các tu huynh thâm tín rằng Chúa không bỏ công tŕnh của ngài,
và Chúa tiếp tục kêu gọi và luôn có người trẻ có thể nghe tiếng Chúa
gọi và đáp lại lời ngài. Nhưng cần có một vị, một cộng đoàn làm
trung gian chấp nhận người hiến ḿnh cho Chúa. Người đó chấp nhận là
một dấu hiệu, dấu hiệu đó phải hữu h́nh và khả tín, dấu hiệu của một
sự hiện diện gần gũi, niềm nở và thông chuyển ơn cứu độ
Chế độ xă hội
dần dần tự do hóa. Một ngày kia, việc tự do học vấn sẽ được nhà nước
nh́n nhận. Chắc chắn người ta sẽ trả lại các tu huynh một phần các
trường học trước kia. Nhu cầu khi đó thật khủng khiếp : 30 triệu
thanh thiếu niên !
Các trẻ em bỏ
nhà trường, các thanh niên trác táng hay chỉ là những thanh niên đi
t́m một ư nghĩa cho cuộc đời ḿnh, đi t́m các quan hệ nhân bản có ư
nghĩa hơn. Với số người c̣n ít ỏi, các tu huynh La San sẽ có thể làm
ǵ ? Chắc chắn cần phải đẩy mạnh vấn đề mục vụ ơn gọi, cải tiến việc
đào tạo và cổ vũ chia sẻ sứ mệnh. Các tu huynh sung sướng là người
ta vẫn c̣n dành cho các vị có thời giờ để chuẩn bị. (Tài liệu EDA,
Tháng 9/1994)
III. Tiểu sử
Tu huynh Pierre Trần văn Nghiêm:
1. Huấn Luyện
Thời Thơ ấu Và Niên Thiếu
Cậu Nghiêm chào đời ngày 19-6-1908 tại
Phú Mỹ
Thị Nghè Sài g̣n,
trong một gia đ́nh khá giả và đạo đức. Thuở c̣n nhỏ bé cậu theo học
trường học đạo với các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô. Cậu Trần Văn
Nghiêm được đặt tên thánh là Phêrô, tức Pierre. Tên đó cũng là tên
được gọi trong ḍng cho các Tu Huynh La San tức Ḍng Tu Huynh quen
gọi là sư huynh Các Trường Công Giáo do Thánh Jean Baptiste de la
Salle thiết lập.
Sau khi lănh nhận bí tích Thêm sức, cậu Nghiêm được cha mẹ gởi vào
học tại trường Taberd. Tuy chưa học tiếng Pháp, nhưng nhờ
thông minh và quyết tâm, chỉ trong một thời gian chưa đầy một tháng,
cậu đă theo kịp được lớp chót của Taberd : “la huitème” ! Rồi
từ đó, cậu Nghiêm cùng với bạn là Nguyễn Tân Ḥa thay phiên nhau
đứng nhất lớp.
Sau khi tan trường cậu thường ở lại Taberd làm bài, học bài, chơi
với học sinh nội trú cho đến 8 giờ tối mới theo dân buôn trở về Thị
Nghè. Chúa nhật cậu lại vào trường để sinh hoạt học vẽ cả buổi sáng…
Bên cạnh những giây phút tuổi thơ tuyệt vời đó, cậu Nghiêm c̣n học
với Tu Huynh Antonin, một người thầy khả ái, dịu dàng, tận
tâm giảng dạy. H́nh ảnh và tác phong Tu Huynh Antonin đă ám ảnh cậu
và v́ muốn trở nên giống người thầy mà ḿnh kính phục, cậu Nghiêm
xin vào ḍng La San.
Huế không c̣n xa lạ với cậu thiếu niên Sài g̣n tên Trần Văn Nghiêm.
Cậu đă đến đây ngày 3-8-1921 lúc cậu vừa mới 13 tuổi khi nhập đệ tử
viện ḍng La San.
Ở tuổi
13, cậu Nghiêm từ giă cha mẹ, họ hàng và miền Nam đầy ắp kỷ niệm thời thơ
ấu và niên thiếu để ra Huế theo học đệ tử viện La San. Cậu miệt mài
ấp ủ hoài vọng trở nên một ông Tu huynh như người thầy của cậu.
Năm lên 16, với trái tim giàu tính nghệ sĩ, cậu quyết bước tới trong
đời tu: gia nhập tập viện Huế. Tại đây chàng thanh niên xấp
xỉ tuổi đôi mươi nhận áo ḍng và nhận tên mới, một tên sẽ đi vào tâm
khảm của bao thế hệ học sinh, sinh viên Việt nam lẫn Tây con, Tây
lai trên ba miền đất nước thân yêu FRÈRE PIERRE, tức Sư Huynh
Pierre mà thời đó quen gọi như thế.
Thầy bắt đầu khấn ḍng lần đầu ngày 15.8.1925.
2. Những Chặng Dường Sư Nghiệp
Thời Gian Khấn Tạm
Sau 7 năm thụ huấn, năm 1928 Tu Huynh được bổ nhiệm đến phục vụ tại
Hải Pḥng. Tại đây, xúc động trước một chàng thành niên tài
ba, đầy nhiệt huyết vị tha, một đóa hồng Bắc kỳ sớm chinh phục trái
tim chàng trai Nam kỳ mới tṛn 20 tuổi.
Khi đó, một khi đă tận hiến cho Chúa để phục vụ đồng loại, Tu Huynh
chi biết phú thác nơi Chúa và t́m an ủi nơi t́nh thương của cộng
đoàn Tu Huynh La San.
Với khôn ngoan của Bề Trên ḍng tu, cuối năm ấy, tu huynh được
chuyển về phục vụ tại Nam Định phụ trách giúp mở chương tŕnh
“primaire supérieur” tại đó vào năm 1929. Nhận thấy chương tŕnh này
có kết quả tốt, bề trên lại đưa thầy lên Hà Nội mùa hè năm ấy
mở một chương tŕnh tương tự cho học sinh Việt Nam.
Đang phục vụ học sinh tại thủ phủ miền Bắc, Tu Huynh bất ngờ nhận
được bài sai trở về lại Nam Định. Ông biến buồn phiền thành
sức mạnh và hết sức phục vụ tuổi trẻ Nam Định. Ông phát huy tính
nghệ sĩ. Mùa Noel ông cho học sinh làm máng cỏ, thi đua trang trí,
đến Tết tổ chức văn nghệ. Ngày 15-5, lễ Thánh Gioan La San, Bổn mạng
các nhà giáo dục, ông tổ chức rước kiệu và các tṛ chơi dân gian.
Chỉ mấy tháng ai trong dân Nam Định cũng biết đến trường này và cha
mẹ thi nhau gởi con đến học tập. Học sinh trường Nam Định nổi danh
nhờ nhiều em đậu “diplôme” hay “brevet élémentaire”.
Vào năm 1931, sau 10 năm xa nhà, ông được phép về Nam thăm gia đ́nh
ở Sài g̣n, rồi trở lại Nam Định thêm một năm nữa. Năm này mới thật
là năm khó khăn cho “chàng thanh niên tu sĩ trẻ tài ba”, v́
khi trở về Sài g̣n thăm nhà một mũi tên t́nh cảm bất ngờ lại bắn
trúng trái tim chàng. Sau thời gian một năm trời chiến đấu, tôi
luyện chí quyết hiến thân. Cuối năm ấy, ông lại được chuyển đến đất
Thần Kinh, xứ Huế lăng mạn như thể để tiếp tục tôi luyện con tim.
Cuối cùng, Tu huynh đă dứt khoát chọn cuộc sống tu tŕ, chọn Chúa
làm Bạn trăn năm và khấn trọn đời vào năm 1933.
Những Năm Khấn Trọn Dời
Tu huynh
Nghiêm, quen gọi là Sư Huynh Pierre từng làm việc tại nhiều nơi, như
các trường La San Việt Nam từ Bắc chí Nam (Puginier Hà Nội, Pellerin
Huế, Adran Đà Lạt, Taberd Sài g̣n), phân khoa Sư phạm Viện Đại học
Đà Lạt, Đại học Thành Nhân Sài g̣n.
Tu huynh cũng đă góp phần
xây dựng kinh nghiệm và hiểu biết về lănh vực Sư phạm với các Đại
học Sài g̣n, Huế và Ḥa Hảo......
Biến cố Tại Trường
Puginier Hà Nội, 1937
Một chàng thanh niên Nam kỳ, rặt giọng Sài g̣n,
nhưng nói tiếng “Tây như Parisien”, chưa tṛn 30 tuổi, được ḍng La
San gửi đến phục vụ tại trường Puginier Hà Nội. Chỉ một thời
gian ngắn, với khối óc năng động sáng tạo, với quả tim nhạy cảm bùng
cháy, và ư chí sắt đá, ông đă có một lối dạy mới, rất hữu hiệu về
văn chương Pháp cho mấy chú nhóc Tây con.
Thấy con em về nhà học hành tấn tới rơ rệt, các
bậc phu huynh Pháp không khỏi ngạc nhiên và tỏ ḷng mộ mến “ông tu
huynh Annamite”. C̣n học tṛ của ông phục ông như như thần tượng.
Thế là Tết Nguyên Đán 1937, với tiền cha mẹ cho, mấy cậu học tṛ
“mũi lơ lông ḅ” rủ nhau khăn đóng áo dài giống như phong tục tập
quán Việt Nam các thầy mang, rồi đem hoa đến lớp Tết thầy và mừng
tuổi mới thầy. Đứng khoanh tay nghiêm trang lễ phép vây quanh thầy,
các cậu chúc Tết Tu Huynh với tất cả t́nh thương mến qua cành đào Hà
Nội, mà c̣n cả niềm tin rực lửa hồng ḥa với tiếng pháo nổ. Cả sân
trường Puginier và khu phố Rue Carreau lốp đốp tiếng pháo mừng
xuân, mừng thầy của lũ Tây con.
Chúng đâu ngờ rằng, việc làm ấy đă khiến cho ban
Giám đốc người Pháp bực ḿnh, và cho đó là một “ś-căn-đan” lớn
trong một trường Pháp. Thế là hai ngày sau Tu Huynh Nghiêm bị
chuyển về Nha Trang theo lệnh từ Sài g̣n điện vội ra. Và rồi chỉ
ít lâu sau, cử chỉ hội nhập văn hóa Việt Nam của ông tu huynh trẻ bị
Pháp coi xếp vào hạng “quậy”và lại có lệnh thuyên chuyển ra Huế.
Taberd: Từ Bắc Trung Vô Nam
Sau hơn 18 năm xa rời nơi chôn nhau cắt rốn, làm
việc Trung và Bắc, tư huynh được gởi về phục vụ ở Taberd năm 1939.
Dù được giáo dục theo kiểu Pháp, nói tiếng Pháp
như Pháp, sính văn chương Pháp và nhạy bén với những ǵ là
“Français” nhưng từ thâm tâm ông măi là người Việt Nam, yêu nước
Việt, thương dân Việt không kém bất kỳ ai.
3.
T́nh H́nh Mới: Trách Nhiệm Điều Khiển Ḍng Tu Chuyển Giao Sang Người
Việt
Nam
Khi cuộc chiến tranh Pháp Việt tạm lắng dịu,
Trung ương Ḍng đă chuyển giao trách nhiệm điều khiển Tỉnh Ḍng La
San Việt
Nam
cho các Tu Huynh người Việt
Nam.
Và năm 1951, Tu Huynh Cyprien Trần Văn Thiêng nắm giữ trách nhiệm
Giám Tỉnh. Tu Huynh Nghiêm lại được chuyển ra Bắc làm Hiệu trưởng
trường Puginier Hà Nội.
Với tư cách Hiệu trưởng, Tu Huynh đă hoàn tất
chương tŕnh đệ nhị cấp và đón nhận các trẻ mồ côi vào học Puginier.
Một trong những trẻ mồ côi năm ấy, sau nầy là Bác sĩ Trần Đức Tường
viết như sau :
“Bạn có biết Frère Pierre đón tiếp tôi như
thế nào lần đầu tiên ở Puginier không ?
Vào giờ ăn trưa, tôi không biết đi đâu, chỉ biết đứng nơi hành lang.
Frère đă đến bên tôi và hỏi tại sao. Sau khi nghe tôi giải thích,
Frère đă cầm lấy tay tôi, dắt tôi đi và cho một chỗ ngồi ở bàn ăn”.
Chuyện này tôi sẽ không bao giờ quên được.
Khả năng sư phạm của Tu Huynh đă khiến Bề trên Giám Tỉnh gọi Tu
Huynh về làm Giám đốc Học viện La San.
4. Giáo Sư Trường Sư Phạm Viện Đại Học Đà Lạt
Khi Viện Đại học Công giáo Đà Lạt được thành lập năm 1957, người ta
đă chú ư đến tu huynh và mời ông đến dạy, trong chính lúc ông vừa
đảm nhận trách nhiệm làm Hiệu trưởng trường Adran. Vào năm 1958,
nhận thấy các trẻ nhỏ cần vẻ dịu dàng của nữ giới, tu huynh là người
đầu tiên mời các nữ giáo viên vào dạy các lớp tiểu học La San.
Một thời gian sau, Frère được mời phụ trách bộ môn Tâm lư Sư phạm
tại Viện Đại học Đà Lạt.
Linh Mục Viện Trưởng ở thời gian ban đầu (1958-1965) trực tiếp điều
hành tổng quát Trường Sư Phạm với tư cách Khoa Trưởng. Người tham
gia công tác điều hành và giáng dậy ban đầu cùng với LM Viện trưởng
là Tu Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm, lúc đó mới tốt nghiệp B.A. về
Văn Chương (1965-1967).
Hoạt Động Đại Học Sư Phạm Chính Thức Giai đoạn 1958-65 Với Tu Huynh
Nghiêm
* Viện Đại
Học Đà Lạt cũng triển khai hoạt động hợp đồng với Bộ quốc gia giáo
dục để giảng dậy hai lớp sư phạm Triết học và Pháp Văn theo học
trong ba năm. Mỗi lớp trung b́nh có chừng ba mươi sinh viên đều do BGD tuyển dụng.
Các sinh viên được BGD cấp học bổng là 1.500 đồng/tháng. Trong suốt
5 khóa học th́ tổng cộng có 264 sinh viên tốt nghiệp trở thành Giáo
sư THĐ2C, giảng dậy tại các trường công lập trên toàn quốc.
Tu Huynh (Frère Pierre) Trần Văn Nghiêm người góp phần sáng lập
Phân Khoa Sư Phạm và cũng là Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên
ngay lúc ban đầu. Sư Huynh Trần Văn Nghiêm giảng dậy về Tâm Lư Sư
Phạm trong khi giữ nhiệm vụ khoa Trưởng có chú ư đến một tính cách
tân kỳ của Trường Sư Phạm Đà Lạt.
Sư Phạm được quan niệm là một thực năng riêng biệt với văn bằng, v́
văn bằng cử nhân sư phạm chỉ được cấp cho những sinh viên nào có
ít nhất ba trong bốn chứng chỉ đ̣i hỏi cho văn bằng Cử Nhân Văn Khoa
hay Khoa Học. Bốn năm học về tâm lư sư phạm chỉ cấp chứng chỉ sư
phạm, chứ không phải văn bằng Cử Nhân. Những sinh viên nào học trọn
khóa chuyên môn, th́ chỉ được cấp văn bằng Cử Nhân chuyên môn đó
(Văn Khoa hay Khoa Học). Nhưng trọn khóa chuyên môn với chứng chỉ sư
phạm th́ được cấp hai văn bằng cử nhân chuyên môn và cử nhân sư
phạm. Các Trường Cao Đẳng Quốc Gia ở Huế, Sàig̣n và Cần Thơ chỉ cấp
Văn Bằng Cử Nhân Chuyên môn và chứng chỉ Sư Phạm.
Chương tŕnh tâm lư sư
phạm được phân
bố trong bốn năm sư phạm là: Tâm lư học đại cương, Tâm lư ứng dụng;
Tâm lư thiếu nhi và thanh niên; Khoa sư phạm thực nghiệm; Phương
pháp trắc nghiệm, Phân tâm học, Nhi bệnh học; Phương pháp hoạt động;
Lịch sử giáo dục, Tính t́nh học, Xă hội học thiếu nhi.
** Theo Tu huynh P. Trần Văn Nghiêm, sau năm 1975, các sinh viên đến
Mỹ định cư, có Văn Bằng Cử Nhân Sư Phạm Đà Lạt được chấp nhận có
năng lực tương đương với BA hay BS trong hệ thống giáo dục Mỹ,
trong khi từ khước tính cách tương đương đó với chứng chỉ sư phạm
của nhà nước VNCH trước kia!
Tu Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế và Tu Huynh Mai Tâm là hai vị khác
trong số các giáo sư tiên khởi của Trường Sư Phạm. Tu Huynh
Théophane cộng tác với Trường Sư Phạm từ năm 1962, phụ trách giảng
dậy các bộ môn: Lịch sử Giáo Dục, Tâm Lư Xă Hội bên Trường Sư
Phạm, và sau này Nhiệm Vụ Học. Tu Huynh Théophane coi dậy học
là một sứ mệnh ông được mời gọi tham gia. Ông rất hăng say v́ sự
nghiệp giáo dục, như dọn bài giảng kỹ lưỡng, in giáo tŕnh thành
từng tập, mà sinh viên có thể mua dễ dàng ở cơ sở ấn loát của viện.
Các sinh viên theo học với Tu Huynh Théophane không thể không biết
đến giáo tŕnh kể trên, nhưng họ ưa chuộng tập “Giáo Dục T́nh Yêu”
hơn cả
*** Niên học 1960-61, lớp Pháp Văn năm thứ ba của Trường Đại Học
Sư Phạm có lẽ cả lớp gồm 18 sinh viên, trong đó có 8 nữ, c̣n để
lại tấm h́nh chụp chung với giáo sư hướng dẫn lớp là một người Pháp.
Lễ tốt nghiệp lớp này được tổ chức ngày
23/3/1961. Bảy sinh viên
xuất sắc nhận được phần thưởng đặc biệt của nhà trường. Văn bằng tốt
nghiệp được cấp phát ngày 29/3/1961 do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Trần
Hữu Thế kư ngày 29/3/1971, sau khi LM Trần Văn Thiện đă kư hôm
trước với tư cách kư thay Viện Trường. Năm thứ ba có 24 sinh viên
Sư Phạm Ban Triết niên khóa 1960-61 lưu lại một tấm h́nh, trong đó
chỉ có hai nữ sinh viên. Những h́nh ảnh này là chứng liệu cho thấy
lớp học này đă thực sự diễn ra từ năm 1958 đến 1961.
Các sinh viên sư phạm ở giai đoạn ban đầu này được nhà nước tuyển mộ
và khi tốt nghiệp sẽ được nhà nước bổ dụng.
**** Trong Giai đoạn 1965-1967,
Trường Sư Phạm đào tạo
Giáo Sư giảng dậy trong các trường tư thục. Chính thời gian này, Bộ
GD đă cho phép Trung Tâm Sư Phạm Đà Lạt chính thức trở thành một
Trường Đại Học Sư Phạm đúng nghĩa theo Giấy Phép số 7166/GD/PC1, kư
ngày 26/9/1967.
Về sau, ngoài ba vị điều hành Hội Đồng Khoa LM Vũ Minh Thái Khoa
Trưởng, GS Nguyễn Đ́nh Hoan và GS Trần Văn Màu, Ba Ủy viên khác là
Tu Huynh Nguyễn Văn Kế, Nguyễn Văn Trí và LM Nguyễn Hữu Trọng, cựu
tu huynh La San. Hầu hết những nhân viên giảng huấn này đều ít nhiều
có liên quan đến Ḍng La San, chuyên về giáo dục thanh thiếu niên
trong các trường học Công giáo.
Trong thời gian ban đầu, Trường Sư Phạm hướng dẫn tráng niên
chưa có cơ hội thi lấy văn bằng Tú Tài nhằm hướng dẫn họ theo một
giáo tŕnh kỹ thuật. Nhưng chỉ có 30 người ghi danh học, một sĩ
số khiêm tốn, và một phân nửa đă bỏ dở nữa chừng. Do đó từ niên khóa
1958-1959, Viện thu nhận các sinh viên đă tốt nghiệp trung học có
văn bằng Tú Tài Toàn Phần, nếu muốn theo học các ngành phân khoa đại
học.
Tu Huynh Théophane Nguyễn Văn Kế cũng có thời gian tham gia giảng
dậy lớp Sư Phạm Giáo Lư cho một số nữ tu và giáo dân làm giáo lư
viên. TH Gérard là người trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức GLSP
này. Đây không phải là một phân khoa của Viện Đại Học nhưng được
Viện bảo trợ. Trong số các vị phụ trách giảng dậy cho lớp sư phạm
giáo lư đó, có LM Nguyễn Thế Thuấn DCCT, Nguyễn Văn Ḥa, gốc địa
phận Hà Nội (sau làm GM Nha Trang). Trong lúc đó, ngoài việc tham
gia lớp SPGL đó, TH Théophane c̣n hướng dẫn về tu đức và cầu nguyện
cho các nữ tu tại Tu viện Mến Thánh Giá Hà Nội ở khu suối Cam Ly.
Bên cạnh nhiệm vụ khoa trưởng thực tế, tuy chưa
hề được bổ nhiệm vào chức vụ khoa trưởng chính thức, Tu Huynh
Nghiêm dường như c̣n được mời dạy ở Giáo hoàng Học viện Đà Lạt,
hướng dẫn các khóa tu nghiệp của các trường Cao đẳng Sư phạm của
chánh phủ ở Sài g̣n, Huế, Cần Thơ.
Ngay cả Đại học Ḥa Hảo ở Long Xuyên cũng mời Frère về dạy. Frère đă
đóng góp thật nhiều cho nền giáo dục tại Việt Nam, qua những giáo
sinh, giáo chức tu huynh đă huấn luyện theo tôn chỉ « Lương Sư Hưng
Quốc ».
Theo thành quả thống kê trong 15 niên khóa, từ năm 1958 đến 1973,
trường đại học sư phạm Đà Lạt có 2805 sinh viên ghi danh theo học,
nhưng chỉ có 386 sinh viên tốt nghiệp, không kể những sinh viên đồng
thời theo học và tốt nghiệp riêng bên Văn Khoa hay Khoa Học hoặc
Chính Trị Kinh Doanh mà không dự các kỳ thi tốt nghiệp bên trường Sư
Phạm, dù có ghi danh bên Sư Phạm
Nhờ khả năng và tính năng động, chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa đă mời
tu huynh vào trong Hội đồng Văn hóa Giáo dục với tư cách thành viên.
Tu huynh là
thành viên đắc lực và uy tín trong Hội đồng Văn hóa Giáo dục Quốc
gia Việt Nam Cộng Ḥa trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp cho đến 1975.
5.
Thời Gian ở Hải Ngoại (1977- 2001)
Vào năm 1977 nhờ can thiệp của Chủ tịch Quốc hội Pháp, tu huynh
Nghiêm bỏ quê hương để sống tại Pháp.
Qua Pháp, ông có góp phần sáng lập Hội Alder, phục vụ các
người tỵ nạn Việt Nam và Á Châu.
Vào tuổi đời 88, ai cũng nghĩ tu huynh sẽ về hưu, nhưng không. Tuy
sức đă yếu, nhưng với tinh thần c̣n minh mẫn, tu huynh nhiệt t́nh
nhận lời Hồng Y Nguyễn văn Thuận phiên dịch nhiều tài liệu sang
tiếng Pháp. Tu Huynh cùng cộng tác phiên dịch những tác phẩm của
Duyên Anh ; duyệt lại bản dịch giáo lư cho người trưởng thành
(Catéchisme des Adultes) của Hội đồng Giám mục Pháp, và Đức tin Công
giáo (La Foi Catholique), cũng như dịch bộ Lịch sử Giáo hội
(L’Histoire de l’Eglise)…
Và trong
những ngày cuối cùng, ông vẫn hăng say thực hiện mọi công tác với
Hội, nhất là góp ư trao đổi với các Phụ huynh, để phục vụ các em học
sinh hữu hiệu hơn trong chương tŕnh Giáo dục Sinh lư của chính
phủ Pháp ở học đường.
Ông cố gắng uốn nắn những
sai lệch nếu có để mang đến cho các em học sinh một nền giáo dục
lành mạnh và tốt đẹp.
Cuối cùng Tu Huynh c̣n dấn thân hoạt động phục vụ giới trẻ Việt
Nam, trẻ em Pháp
cũng như lai Pháp và người Việt tỵ nạn trong suốt hơn ¾ thế kỷ. Tu
Huynh phải tạm ngưng khi được 93 tuổi. Tu Huynh đă vâng lời các Bề
trên rời khỏi cộng đoàn Việt Nam ở Ivry-Sur-Seine để về nhà Hưu
dưỡng (Athis-Mons) tiếp tục sứ mạng giáo dục bằng cầu nguyện và
trong cảnh già yếu bệnh tật của tuổi cao niên. Chẳng bao lâu sau, Tu
Huynh đă an giấc nơi cơi vĩnh hằng ngh́n thu bên Chúa ngày
05-4-2001.
Để kết luận tu huynh Phong dùng lời tiên tri Daniel để tôn vinh sự
nghiệp của Tu Huynh Nghiêm
“Những ai giảng dạy đường ngay nẻo chính cho
nhiều người,
sẽ muôn đời sáng chói như những v́ sao.” (Danien 12, 3)
Cho đến hơi thở cuối cùng, Tu huynh Trần Văn Nghiêm vẫn thể hiện
ḿnh là một nhà Giáo dục nhiệt t́nh, xứng đáng là một tu sĩ của
Thánh Gioan La San, Quan Thầy các Nhà Giáo dục trên thế giới.
6. Vài Ḍng
Kỷ Niệm Bản Thân của Tu Huynh Phong
« Tôi vẫn c̣n
nhớ măi, một sáng mùa xuân, theo bước chân cha ḿnh lẹ bước trên vỉa
hè “kinh thành ánh sáng”. Một
cụ già đă ngoài 80, mà vẫn c̣n thoăn thoắt đi nhanh như thế
này, th́ phải có một động lực nào mạnh lắm, một mănh lực t́nh yêu
nào thật dào dạt thúc đẩy. Và tôi đă nhận ra ánh sáng khi nghe tiếng
Frère Pierre gọi cha tôi : “Sanh !”.
Một tiếng gọi gỏn gọn, nhưng chất ngất t́nh thầy tṛ, gói gọn hơn cả
ba phần tư thế kỷ yêu thương, dấn thân cho từng “đứa học tṛ” của
Frère Pierre. Và cha tôi đă thật lễ phép thưa lại :
“Bonjour cher Frère”, một tiếng chào gợi lên cả một khung trời kỷ
niệm những năm tháng cha tôi được vinh phúc học cùng Frère Pierre ở
trường Pellerin, Huế.
Bấy giờ ánh sáng Paris mới thật rực chiếu trong ḷng tôi. Th́ ra, cụ
già 85 tuổi ấy, vừa từ Mỹ sang Pháp, đă đ̣i cho được, và nôn nao đi
gặp lại thầy cũ của ḿnh – “Frère Pierre”. Bấy giờ tôi mới hiểu tại
sao mỗi lẫn hai tiếng “Frère Pierre” được nhắc đến là cả một
pho chuyện tuôn trào như gịng nước Hương Giang những ngày lụt lớn,
không những từ cha tôi, mà ngay cả từ những cụ già, những người lớn,
những thanh niên trẻ tuổi.
Tại Huế, sau khi nghe Frère Pierre giảng bài đầu tiên về Milly của
Lamartine, một học sinh đă buộc miệng khen “J’ai trouvé mon maitre”
(tôi đă t́m được sư phụ). Và vào năm 1996 cụ già học sinh thuở xa
xưa ấy, với nét bút lăo thành 82 tuổi, đă viết:
“J’ai toujours pensé à vous comme à l’un de mes plus grands
bienfaiteurs. Je ne cesse de raconter à mes enfants que j’étais tous
yeux et toutes oreilles à vos réflexions au commencement de la
classe du matin et ne manquais pas de les noter le soir sans manquer
un détail. Oui, cher Frère, Dieu s’est servi de vous pour me former
tel que je suis à cette heure.”
(Con vẫn hằng nhớ Frère măi như một ân nhân vĩ đại của đời con.
Con hằng kể cho con cái rơ là thuở c̣n học sinh con mê nghe lời
Frère dạy các bài suy tư của Frère vào đầu lớp buổi sáng và con
không bao giờ quên ghi chép lại không bỏ sót một chi tiết nào vào
ban tối. Frère à, thật Chúa đă dùng Frère để đào luyện con nên người
như ngày hôm nay).
Không những cựu học sinh Việt Nam ngưỡng mộ, kính phục Frère Pierre
như một nhà giáo dục tài ba, một chuyên gia sư phạm nổi danh, một
“ông Frère” tận t́nh với học sinh, mà ngay cả “Tây con” cũng thương
quư Frère Pierre, thương đến độ chính chúng làm mất “vị thầy đáng
yêu” của chúng ! »
(Trần Trọng An Phong, f.s.c.)
Một Số Tài Liệu Tham Khảo
http://eglasie.mepasie.org/les-freres-des-ecoles-chretiennes-au-vietnam-hier-et-aujourd-hui.fr-fr.91.9153.eda_article.htm
http://www.er.uqam.ca/nobel/m242270/fec.htm
http://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=201
http://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=185
http://www.erct.com/2-ThoVan/0-ThanHuu/HoaGiang/LSDHDaLat-V3-PhuLuc-2-TLTK.htm
http://www.lasanhoingo.com/ls/index.php?showtopic=378
http://vtnthntvienxu.com/content/browse.php?action=shownews&id=77&topicid=6324
http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=238&ict=1223
http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module3&v=chapter&ib=14&ict=155
VIỆN ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT GIỮA L̉NG DÂN TỘC VIỆT NAM 1957-1975
www.erct.com
www.dunglac.org
http://www.LASAN.org
http://xixonsanhse.com/diendan/vBTube.php?do=view&vidid=RmkrSWkCNLY
http://www.LasanHoiNgo.com
http://www.saigon.com/~vietedu/
http://www.lasan.org/index-98-07.htm
http://www.lasan.org/index-08.htm
http://www.lasan.org/lasan-vietnam/lasan-vietnam.htm
www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=137
www.lasanhoingo.com/
ttntt.free.fr/archive/DongLaSan.html
Oakland, CA 21/10/2008.3
- 23/10/2008.5 –
10/11/2008.3. ĐHN
|