|
|
Chương I BA NGUYÊN DO LỚN
1. - NỐI DƠI THẦN QUỐC
伊藤 博文 Sự
tin tưởng của người ta, tuy cùng
một tên, nhưng mà khác thể : có sự tin tưởng
chỉ là mê hoặc, sanh ra có hại ; có sự
tin tưởng chính là dấu hiệu của lư-tánh,
của tinh thần, của cái gốc sanh-tồn
hoạt-động ở đời ; sự tin tưởng
ấy thành ra cần dùng và có lợi. Phàm
người có ôm giữ trong óc một điều
tin tưởng ǵ đúng đắn vững vàng,
ta thường thấy họ đi trên đường
đời ít khi vương nhằm những
nỗi trắc trở sai lầm, mà công việc
họ làm cũng dễ thành công kết quả.
Một dân-tộc cũng thế. Ta xem dân-tộc
Nhựt-bổn tin tưởng họ là
Thần-quốc mà có những ảnh hưởng
lợi-ích cho quốc gia dân-tộc họ ra sao th́
biết. GỐC-TÍCH
THẦN-QUỐC. -
Thiệt vậy, người Nhựt tin
rằng nước họ là Thần-quốc
神 国 , nghĩa là một nước do
thần dựng lên. Tuy
là một chuyện viễn vông mù mịt, nào có
ǵ làm bằng, nhưng vậy mà trong tâm năo người
Nhựt xưa nay lớn bé trẻ già, ai cũng
đều tin tưởng như thế ; tin tưởng
một cách chắc chắn, vững vàng, lại c̣n
có vẻ tự-cao nữa là khác. Theo
quốc sử Nhựt-bổn, nguyên là 3000 năm
về trước, trên trời có ba vị
thần hiển-linh : 1. - Thiên ngự trung chủ tôn 天 御 中 主 尊 - Ama nomi naka Nushi nomikoto 2.
-
Cao hoàng sản linh tôn 高 皇 産
霊 尊 3.
-
Thần hoàng sản linh tôn 神 皇
産 霊 尊 Ba vị thần xuống phàm kinh doanh
thống trị ở trên 8 cù lao Nhựt-bổn.
Thần “Thiên ngự trung chủ” làm chúa
tể, ở ngôi chánh thống, là đức nguyên
tổ của các Thiên-hoàng (Mikado 天 皇), nước
Nhựt về sau. C̣n hai vị thần “Cao hoàng
sản linh” và Thần hoàng sản linh” th́ là
ngoại tổ của Thiên-hoàng. Thuở đó ba
vị thần kết hôn với nhau, sanh nở ra
thần con thần cháu, ḍng dơi phồn thạnh.
Duy có ḍng dơi thần “Thiên ngự trung chủ”
là ḍng dơi chánh-thống chơn truyền đời
đời nắm quyền thống trị nước
Nhựt ; c̣n ḍng dơi hai thần kia th́ làm các
chức lớn, pḥ trợ nhà vua, như là
tể-tướng, chư-hầu, tướng quân
v.v… Thành ra vua Nhựt là con cháu chánh-tông của
thần đă đành, mà đến các quư
tộc danh-gia trong nước cũng là con cháu
của thần nữa. Cách sau mười mấy đời
truyền nối ḍng dơi của ba vị thần nói
trên đây, tới “Thiên chiếu đại
thần 天 照 大 神 - Amaterasu Ookami, Déesse Amaterasu
Omikami, tục gọi là Nữ-thần Mặt-
trời, hay là thần Quốc-tổ 神 組, v́ chính thần tạo lập ra ngôi vua nước
Nhựt xưa nay. “Thiên chiếu đại thần” sai
vị thần cháu ngài hóa sanh h́nh người, lên
ngôi vua thống trị nước Nhựt ; khi
đó ngài ban cho hoàng-tôn 3 món thần-khí, là
một cái gương, một thanh kiếm,
một ḥn ngọc, và có lời dạy rằng :
“Ngôi báu nầy, con cháu của thần chánh-tông
đời đời truyền nối nhau, cùng
trời đất trường sanh vô tận”.
Từ đó Nhựt-bổn dựng thành
quốc-gia và có vua cầm quyền trị dân
một cách chánh thức. Ba món thần khí là cái
dấu tỏ thiêng liêng quư báu của nhà vua,
từ xưa đến nay, mỗi đời Thiên-hoàng
lên nối ngôi trị v́, trước hết có
cuộc tế lễ rất tôn nghiêm, để bái
lĩnh ba món thần khí nầy, tức là vật
truyền quốc chí bửu vậy. Mỗi món
thần khí chỉ tỏ ra một đức tánh
:
Ngọc Bát
bản quỳnh-khúc 八 阪
?
曲
玉 tỏ ra đức nhơn ái từ bi ; Gương Bát chỉ 八 咫 鏡 -
Yatanokagami tỏ
ra đức trong sạch sáng suốt ;
Kiếm cỏ
trĩ 薙草剣 tỏ
ra sức mạnh bạo cả quyết. Vị hoàng tôn vâng mạng “Thiên chiếu
đại thần” lên ngôi trị v́, khai sáng
nền quân chủ Nhựt-bổn là Thần-vơ
Thiên-hoàng (神武天皇 - Jimmu Tennou).
So sánh với Tây lịch, th́ ngài tức vị vào
khoảng trước Thiên-chúa giáng sanh 660 năm
; so sánh với Hoa-lịch, th́ ngang vào năm
thứ 17 của Châu-Huệ-vương ; c̣n so sánh
với nước Nam ta, th́ phỏng chừng vào
lúc cuối đời Hùng-vương 16 hay là Hùng-vương
17, lối đó. Vậy là Thần vơ thiên-hoàng chính là
thủy tổ của Chiêu-Ḥa thiên hoàng, đức
vua đang tại vị của Nhựt-bổn ngày
nay. Tính cộng trào vua từ Thần Vơ tới
Chiêu Ḥa, 124 đời, tính năm th́ tới nay
(1936) được 2.596 năm. Thế là từ
khi Nhựt-bổn dựng nước có vua đến
giờ, chỉ có một ḍng họ truyền
nối làm vua, chớ không có sự thay trào đổi
họ như các nước khác. Trên kia đă nói Nhựt là nước
của Thần tạo lập ra, và vua Nhựt là
ḍng dơi chánh-truyền của Thần, cho nên phàm
là người Nhựt, ai cũng tin tưởng,
kính thờ, tôn trọng, không được xâm
phạm hay là nghi hoặc bao giờ. Sự tin
đó chôn chặc vào trong tim óc người
Nhựt cứng như đinh đóng vậy. Ai có ư bất kính hay là hoài nghi, kẻ
ấy phạm tội rất lớn. C̣n nhớ cách
nay 30 năm, một nhà bác học đại-danh là
ông Koumé, giáo-sư ở trường Đế-quốc
đại-học tại Đông-kinh ngỏ ư nghi
hoặc về gốc tích Thần-vơ khi xưa không
phải là Thần, tức thời ông bị cách
chức. Lại năm 1926 (?),
cũng v́ câu chuyện đó, mà ông bác-sĩ Tetsu
onjiro (?) bị cất
chức nghị-viên trong viện Quư-tộc.
Một vài chứng cớ như thế đủ
chỉ tỏ cho ta thấy người Nhựt tin
tưởng về cội rễ quốc gia quân
chủ của họ một cách thành kính vững
vàng ra sao vậy. Giờ ta thử xét sơ coi
sự tin tưởng đó có những ảnh hưởng
hay cho lịch-sử quốc-gia Nhựt thế nào
? KHÔNG CÓ CÁCH MẠNG. -
Thuở xưa, kẻ làm quân-chủ hay lấy
thần-quyền làm khí-cụ, nghĩa là bày
đặt nương dựa vào sức quyền
thiêng liêng của thần thánh để cho
dễ cai trị sai khiến muôn dân. Ta coi không
mấy nước ban đầu mới có
quốc-gia lịch-sử mà không ỷ thị
thần quyền làm gốc. Song về sau ngôi vua nước
nào cũng có những sự tranh dành mà thay trào
đổi họ luôn luôn, chớ không hề
thấy nước nào có một ḍng họ
giữ lấy ngôi vua măi được. Chỉ duy có
Nhựt-bổn, từ khi lập quốc đến
nay, gần hai ngàn sáu trăm năm, và trải 124 trào vua, đều là con cháu
của Thần-Vơ Thiên-Hoàng một ḍng truyền
nối mà thôi. V́ ḷng dân xưa nay tin chắc
rằng nước họ là Thần-quốc, vua
họ là Thần-tôn (con cháu của thần),
vậy cái ngôi chí-tôn chỉ có ḍng dơi của
thần mới là xứng đáng và muôn đời
không thể đổi thay, cũng không ai
được xâm phạm tới ; trái lại, ai
cũng phải kính thờ ủng hộ. Bởi vậy, thuở
nay Nhựt-bổn không có cách-mạng bao giờ ;
thiệt là một sự lạ lùng đặc
biệt của họ. Cách-mạng nói đây,
nghĩa là một cuộc mưu toan đánh cướp
hay đổi thay ngôi quyền thống-trị.
Ấy là việc thay trào đổi họ làm vua
; nước nào trong thiên hạ cũng có
trải qua cảnh đó năm lượt
bảy phen ; chỉ có nước Nhựt là không.
Tuy là xưa kia
Nhựt-bổn cũng có một vài kẻ gian
thần giết vua, và chính trong hoàng-tộc cũng
từng xảy ra cái nạn tranh ngôi hại
lẫn nhau chớ chẳng phải không, nhưng
vậy mà trong nước không hề v́ đó mà
đến đỗi có những cuộc rối
loạn nổi lên. Có lúc ḍng vua hầu tuyệt
rồi cũng trở lại phồn vinh như cũ.
Có lúc họ Đằng-nguyên - cũng là một
ḍng dơi của thần - lập ấu chúa,
cầm đại quyền, nếu như ở nước
khác th́ dễ sinh ra việc đoạt quyền
xoán vị như chơi, song họ Đằng-nguyên
th́ vẫn thờ vua một cách cung kính. Cho
tới về sau, luôn mấy trăm năm, Thiên-hoàng
ở ngôi chỉ như phỗng đá, làm vua hư
danh vậy thôi, bao nhiêu đại quyền trong nước
đều về tay tướng-quân nọ tướng-quân
kia kế tiếp nhau nắm giữ, gọi là
Mạc-phủ tướng-quân (幕府将軍
- Bakufu Shogun) giống như
kiểu “vua Lê chúa Trịnh” ở
lịch-sử nước Nam ta. Song đời
họ nào làm tướng-quân cũng vẫn
dốc ḷng tôn kính hộ vệ thiên-hoàng,
chớ không một ông nào dám có ư ḍm ngó ngôi báu.
Những lúc như thế, ở nước khác có
thể đổ bể ra bao phen cách mạng
rồi, nhưng ở nước Nhựt th́ yên
ổn như thường. Đến lúc ban đầu
Minh-Trị duy tân, nhà nước sửa sang thay
đổi mọi việc, tuy có một vài hào-kiệt
chí-sĩ nóng nảy dấy binh làm dữ, có người
cho đó là việc cách mạng, nhưng kỳ
thiệt chỉ là việc hối thúc nhà nước
cải cách cho mau, và đối phó với
ngoại bang cho cứng cát mà thôi, chớ kẻ
dấy binh đó bổn tâm không có chỗ nào
phản nghịch Thiên hoàng hay làm hại quốc
gia. Bởi vậy đời Minh-trị sửa
mới luật pháp, không cần để
khoản trị tội phản nghịch vô, mà
những tội trái lịnh vua hay quốc-sự
phạm cũng coi như tội cách mạng ở
các nước khác. KHÔNG BỊ NGOẠI XÂM. - Dân
Nhựt do nơi sự tin tưởng ḿnh là
Thần-quốc mà sanh ra ḷng tự tôn ; do nơi
ḷng tự tôn mà sinh ra sức tự vệ
rất mạnh, không chịu để cho ai xâm
phạm tới Thiên-hoàng và không chịu ai ở
ngoài tới lấn hiếp đất nước
non sông của họ được. Lịch sử quốc
gia của họ trải hai ngàn mấy trăm năm,
bị giặc ngoài tới đánh trước sau
4 lần : 1.
-
Đời vua Khoan-nhơn (Tây lịch năm 1019)
bị giặc Khiết đơn. 2.
-
Đời Văn-vĩnh (1274) bị giặc Nguyên. 3.
-
Đời Hoằng-an (1284) cũng bị giặc
Nguyên nữa. 4.
-
Đời Ứng-vĩnh (1418) th́ bị Mông-cổ
kéo binh qua đánh. Thế mà lần nào họ cũng
đánh giặc phải lui. Thuở đó có dân nào hùng
cường cho bằng Mông-cổ, ḍng dơi của
Thành-cát Tư-hăn 成 吉 思 汗 là người
anh hùng oanh-liệt, đă quét sạch Á-châu,
lại đem binh qua đánh tới Âu-châu,
khiến cho Âu-châu bây giờ nhắc tới
vẫn đang lo sợ cái vạ “da vàng”. Ḍng
đó đă chinh phục Trung-quốc, làm vua
Trung-quốc rồi (tức là nhà Nguyên 元), bèn thừa thế đem
chiến thuyền qua đánh Nhựt-bổn, nhưng
bị thủy-quân Nhựt nhơn được
sức gió mà đánh lại binh Nguyên thua chạy
không kịp. (2) Thế là xưa nay không có
người khác nước nào tới xâm lăng
đất nước Nhựt-bổn đặng,
v́ họ cho đất nước họ là
Thần-quốc, ḍng giống họ là Thần-tôn,
nên họ ra sức tự vệ, không chịu ai
ăn hiếp được họ. Nói ǵ 70 năm
nay, duy tân hùng cường rồi, họ chỉ
đánh người ăn người th́ có,
chớ không biết chữ “thua” là nghĩa
thế nào ?! ẢNH HƯỞNG VỀ TÂM
TÁNH. - Dân Nhựt là một giống dân chuộng
sự sạch sẽ nhứt trong thiên hạ, không
ai không biết. Sở-dĩ họ có cái
đặc tánh đó, hoặc do địa-lư phú
tánh tự nhiên cho họ, song xét đến
cội rễ cũng bởi nơi dân tâm rất
mực tin thần kỉnh thần mà ra. Họ nói
thần rất ghét sự dơ dáy, tránh sự
ồn ào, bởi vậy ḿnh kính thần tất
phải giữ sao cho tấm thân ḿnh tinh khiết
thanh tịnh luôn luôn mới được. Đó
là một cái gốc giáo hóa của Ta nên biết thần ở
trong tâm năo người Nhựt tin tưởng, khác
hẳn ư nghĩa với thần của nhà tôn giáo
; mà cách họ kỉnh thần cũng không
giống cách dân Tàu hay dân Nam ḿnh kính thờ
vậy đâu. Người Nhựt đối
với Thần, thờ kỉnh thần, nhưng không
hề có ư khấn vái lạy lục để
thần làm cho ḿnh thoả sự dục-vọng ǵ,
hay là cầu lấy sự phước lợi riêng
cho ḿnh ; nghĩa là họ không thờ thần
hầu trông có những sự lợi thân ích
kỷ ; trái lại họ chỉ sợ ḿnh không
được thanh khiết, đến đỗi
bị thần ghét bỏ mà thôi. Tóm lại cái thâm
ư của họ kỉnh thần là lo tu thân,
chớ không phải cầu lợi. Đạo kỉnh thần
của họ cần nhứt là mỗi người
lo giữ 6 căn cho được trong sạch
六 根 清 浄. Sáu căn là : tai,
mắt, mũi, miệng, thân và tâm. Họ nói
rằng nếu như giữ được sáu căn
trong sạch, không có một điểm nhơ
bợn nào dính vào, và 6 căn bao giờ cũng sáng
suốt như thủy tinh, vậy th́ ḿnh có
thể ở yên giữa trời đất thanh
tịnh, rồi tự nhiên được
thần ban phước cho, chớ tự ḿnh không
phải khấn vái cầu cạnh chi hết. Coi một chút vậy đủ
biết Nhựt-bổn từ xưa đă có
một nền văn-minh tinh thần khá lắm
rồi. Vả lại họ sẵn có tục
kỉnh thần, cho nên trải mấy ngàn năm
trong lịch sử, dễ hấp thọ lấy
những văn-hóa ngoại bang đưa tới.
Đạo-giáo, Nho-giáo và Phật-giáo của
Trung-quốc và Ấn-độ truyền sang, người
Nhựt đều đón rước dung ḥa,
lựa chọn lấy những cái sở trường
của người ta để làm ra cái đặc
sắc của họ. Cho tới lúc họ gặp
văn minh Thái-tây truyền qua cũng thế. Ông Đại-ôi
Trọng-tín
(大隈
重信 - Okuma Shigenobu) phán đoán cuộc duy-tân
tấn-hóa của đồng bào ổng bằng câu
sau nầy, tôi tưởng đúng lắm : “Phàm vật ǵ trắng tinh
sạch sẽ th́ chất của nó dễ cảm
hóa chịu đựng. Người “Nhựt
nhờ có tinh thần thanh tịnh sẵn sàng, cho
nên đến lúc tiếp rước đặng
văn-minh “ngoại bang đem lại, là có
thể xem thấy chỗ tốt đẹp mà
lựa chọn bắt chước liền,
chớ “không nghi nan dụ dự chút nào. Tâm năo
người Nhựt không chứa cái tánh cố
chấp của “nhà tôn giáo, thành ra như nước
trong suốt, đựng trong cái b́nh bằng pha lê
cũng trong “suốt, nay lấy màu sắc mà rót
vào, tự nhiên thấy vẻ hồng hào tốt
đẹp lộ ra được ngay. “Sở dĩ
người Nhựt dễ tấn tới về
vật chất và tinh thần là tại vậy
đó.” (2)
Quân Nguyên thời ấy hùng cường vậy
đó mà xâm Nhựt bị Nhựt đánh thua, kéo
qua đánh nước Nam ta cũng bị ta đuổi
chạy. Hai phen vị anh hùng Trần-Hưng-Đạo
ta đại thắng binh Nguyên, ấy là một
việc vơ-công vẽ vang nhứt cho lịch
sử và ṇi giống ta, chắc đồng bào
đều ghi nhớ, mà cũng nên có chỗ
cảm-thán vô cùng. |