Chương I 

BA NGUYÊN DO LỚN  

 

2. ĐỊA-LƯ GIÚP NGƯỜI

Ngoài ra, quan niệm cao xa của người Nhựt kỉnh thần, tin thần, như đoạn trên đă nói, tới địa-lư cũng là một sức mạnh tự nhiên, nó giúp công góp lợi vào cuộc phát-triển tấn-hóa của họ một cách lạ lùng, ta không nên không xét.

                                                                       * 

ĐỊA LỢI VÀ THIÊN THỜI. - Mạnh-tử cho thiên-thời, địa-lợi, nhơn-ḥa là ba việc cần dùng lợi-ích cho một dân-tộc có thể hưng-vượng, th́ ra Nhựt-bổn có đủ cả ba.

Nhựt-bổn hiệp liền nhiều cù-lao lớn nhỏ liền khít nhau mà thành ra một nước ở riêng hẳn ngoài biển, cách biệt đại-lục (大陸, continent) vừa chừng, không xa quá mà cũng không gần quá. Nước Nhựt chiếm được địa-lợi đó rất hay.

Nhứt là cù-lao chánh, chỗ đóng quốc-đô, khí hậu b́nh thường mà ở cách đại-lục khá xa ; c̣n nơi ở gần đại lục hơn hết, chỉ là mấy cù-lao bé nhỏ Nhứt-kỳ (壹期 - ??)  và Đối-mă (對馬 - Tsushima) ngó ngay qua đồi đất Cao-ly. Tuy gọi là gần, nhưng cũng không đến đỗi quá gần, như là Hồng-mao đảo-quốc gần với đại-lục Âu-châu : Hai bên phân cách nhau do một khu biển nhỏ hẹp, thành ra hôm nào trời quang mây tạnh, bờ bên này có thể ngó thấy rơ bờ bên kia.

Bởi địa-thế Hồng-mao ở gần khít đại-lục, cho nên thuở xưa thường bị các dân-tộc  ở đại-lục tràn qua chinh phục. C̣n Nhựt-bổn th́ ở xa cách đại-lục, không ngó thấy nhau được, mà chính khoảng phân cách lại là biển rộng sóng to, không phải hẹp ḥi êm lặng như biển Manche kia, cho nên thuở xưa người Nhựt mới đầu lập-quốc, dân ở đại-lục kéo qua thực-dân, rồi đồng-hóa với Nhựt th́ có, chớ đem binh qua chinh phục th́ không.

Xưa kia Nhựt-bổn có thể khóa “cửa” đất nước họ lại mà tự trị tự tồn, cũng có chỗ quan hệ bởi gió thổi mà ra. Ven biển xứ họ, hằng năm tới kỳ xuân hạ có gió mùa thổi mạnh, làm cho biển dậy sóng lớn, ghe thuyền không lui tới đặng. Qua mùa đông mới êm ; lúc ấy mới có ghe thuyền của người Âu-châu và người Tàu ra vào buôn bán. Đời nay, nghề hàng hải có tàu bè máy móc vừa mạnh vừa mau, chẳng kể ǵ sóng gió, chứ đời xưa, sóng gió đối với cuộc sanh-tồn của Nhựt-bổn có quan hệ lớn lắm. Bởi nhờ có sóng gió ngoài biển mà làm bức thành ngăn cản ngoại-địch, nên chi mỗi năm họ chỉ phải lo giữ ǵn đất nước trong 6 tháng mà thôi. C̣n sáu tháng kia đă có sóng gió giữ dùm, họ được yên tâm lo việc sanh-tồn giáo-hóa trong nước vậy.

                                                                       * 

NHIỀU THỨ MÁU TRỘN CHUNG MÀ THÀNH GIỐNG NGƯỜI NHỰT, - Thế giới có hai đảo quốc đều hùng cường là Hồng-mao và Nhựt-bổn ; cả hai có gốc phát tích về chủng tộc thật là giống nhau : Hai đàng cũng do những dân-tộc ở đại-lục tràn qua cù lao mà sanh nhai đồng hóa rồi sanh ra một giống người riêng.

Chỉ có chỗ khác nhau là một đàng trộn ít máu, c̣n một đàng trộn rất nhiều máu. Hồng-mao chỉ có mấy giống dân Normands, Saxons và Celtes ở đại-lục qua xâm-lược, lâu ngày mấy giống đó dung hiệp rồi đồng hóa với nhau thành ra dân tộc Hồng-mao gọi là “Ăng-lô Sắc-xông” (Anglo-Saxons) hùng cường ở thế giới ngày nay ; c̣n dân tộc Nhựt-bổn th́ phát-nguyên bởi cả chục giống người kết hiệp lại mà hóa ra.

Đời Thượng-cổ, chính giống người Ái-nô (アイヌ), Ainos) là thổ-dân ở rải rác khắp các cù-lao Nhựt-bổn. Sau có các dân-tộc ở ngoài tới xâm chiếm đất đai, đánh giết người Ái-nô bị tiêu diệt lần ṃn, c̣n sót lại bao nhiêu th́ phải thụt lùi măi về mấy cù lao ở phía Bắc Bắc-hải-đảo (北海道 - Hokkaido). Bây giờ ở đó c̣n sót lại chừng vài muôn người giống Ái-nô mà thôi.

Thuở xưa có nhiều giống dân từ đại-lục và đất xa tới sanh tụ khai thác đất Nhựt-bổn, nhưng kể mấy giống trọng yếu th́ là người Hàn, người Mă-lai, người Ấn-độ, người Măn-châu, người Mông-cổ. Xưa kia việc giao-thông hàng-hải, biết bao nguy-hiểm, gian-nan, thế mà mấy giống người đó dám vượt biển, qua thực-dân ở cù-lao Nhựt-bổn, ấy đều là hạng người giàu ḷng mạo hiểm, có tài kinh-doanh, chớ không phải là bọn tầm thường xiêu dạt đâu. Chắc họ đă biết quần-đảo Nhựt-bổn có địa-lợi thiên-thời rất thuận tiện, rừng biển đất đai có vật sản rất phong phú, nên chi họ mới kéo nhau qua khai-khẩn sanh-nhai. Ban đầu mỗi giống dân c̣n chia ra từng bộ-lạc riêng, rồi lần hồi về sau họ hỗn hiệp lại, họ đồng hóa với nhau. Giống người gọi là Nhựt-bổn dân tộc chính do cuộc hỗn hợp đồng hóa lâu đời của các giống kia mà đẻ ra. Nói rằng nhiều thứ máu trộn chung lại mà đúc ra giống dân Nhựt là vậy đó.

Người Nhựt vẫn cho sự hỗn hiệp mà thành ra dân-tộc họ, có cái cớ quan hệ bởi địa-lư là nhiều hơn hết. Chính địa-lư đă lựa lọc lấy những tánh chất và tinh thần tốt của các giống người kia mà rèn đúc ra tánh chất và tinh thần tốt của dân-tộc Nhựt-bổn trải 26 thế kỷ nay.

Họ Đại-ôi nói cái dơng khí của người Nhựt là tự giống Mông-cổ di truyền. Người Nhựt có máu dơng cảm của Thành-cát Tư-hăn (成吉思汗, Gensis Khau), nhưng lại khéo hóa mất thói tàn nhẫn, nham hiểm của Mông-cổ đi, chỉ có tinh thần thượng vơ và mạnh bạo hăng hái với giống ṇi quốc-gia th́ vẫn giữ y. Như hồi đánh nhau với Nga là một nước cường đại gấp mấy Nhựt, thế mà người Nhựt có tinh thần dơng cảm để thắng trận được, ấy là tánh khí can cường thượng-vơ của giống Mông-cổ đời xưa truyền cho vậy. Người Nhựt lại có tánh khí mạo hiểm của giống Mă-lai, nhưng biến hóa được cái gốc dữ dằn độc ác. Xem lúc sửa soạn duy-tân, không biết bao nhiêu là chí-sĩ thanh niên Nhựt nô-nức mạo hiểm đi qua các nước Thái-tây để học lấy những cái hay của người ta rồi về đóng góp vào công cuộc duy-tân cho được mau thành ; nếu không phải là giống người vốn sẵn có tánh mạo hiểm th́ đâu có thành công rực rỡ tự cường hăng hái được như thế !

TINH THẦN DUNG HÓA. - Người Nhựt thấy kẻ khác có tài ǵ hay, làm sự ǵ phải, họ liền học theo bắt chước cũng làm được như vậy ấy là nhờ nơi giống họ có tinh-thần dung-hóa mau lắm.

Tinh-thần ấy, vốn họ có sẵn từ xưa.

Thuở họ lập quốc được ít lâu rồi, phải giao-thông với Chi-na đại-lục, tự nhiên cũng chịu ảnh hưởng của văn-hóa Trung-quốc như nước Nam ḿnh. Nho-giáo, Đạo-giáo, Phật-giáo cho đến các lễ-nghĩa pháp luật của Trung-quốc, món nào Nhựt-bổn cũng đón rước tiếp thâu về xứ họ. Song họ khéo dung hóa lựa lọc chỗ hay của người cho thành ra chỗ hay riêng của họ, thích hiệp với sự cần dùng của họ, chớ họ không nhắm mắt theo càn, hể văn-hóa người ta thế nào th́ cứ rước y về mà thờ, mà dùng thế ấy, không dám thay đổi chút nào ! Bởi vậy cùng là đám học tṛ văn-hóa Trung-quốc như nhau, mà cậu học tṛ Nhựt-bổn khéo dung hóa, về sau thành đạt vẻ vang ; c̣n mấy cậu khác là Việt-nam và Cao-ly th́ lại cùng ông thầy học Trung-quốc tới nay đang c̣n yếu hèn xui xẻo một lũ !

Trên đường lịch-sử mấy ngàn năm xưa, Nhựt-bổn trước đă dung hóa được các dân-tộc đến ở xứ họ, sau lại dung hóa cả học-vấn nghệ-thuật từ đại-lục đem qua nữa.

Coi nội một chỗ họ dùng Hán-tự mà thay đổi và bổ thêm ra thế nào, th́ đủ thấy họ có tinh-thần dung hóa ra thế nào ?

Ai cũng đă biết dân-tộc Nhựt-bổn là do mấy giống người Mă-lai, Mông-cổ, Măn-châu v.v… hỗn hiệp lại mà đẻ ra nhưng thử hỏi tiếng nói của Nhựt có phải là tiếng nói của một giống người nào trong đó chăng ? Không ! Các giống dân ngu cư đă bị dung hóa mà sanh ra dân-tộc Nhựt-bổn rồi đến tiếng nói của họ cũng bị dung hóa mà lập riêng ra thứ tiếng nói Nhựt-bổn nữa. C̣n sót lại chăng là ít nhiều tiếng Cao-ly, tiếng Ái-nô, tiếng Thát-đàn (1), có trộn lẫn vào trong tiếng Nhựt, giúp cho văn-học Nhựt được phát-đạt.

Tiếng Nhựt và tiếng Tàu điệu nói khác hẳn nhau. Từ hồi có Hán-tự truyền sang, th́ văn-chương bằng chữ Hán liền dùng theo, nhưng rồi sau có chữ âm (音字- onji) phát minh ra, gọi là “giả tự” 假字 - ? (**), chính là chữ riêng của Nhựt bày ra, dùng xen lộn với chữ Tàu chớ họ không dùng đặc Hán-tự mà chỉ đọc khác âm như nước Nam ta xưa nay. Đă vậy mà phép làm văn đặt câu, họ cũng sửa theo cách thức riêng của họ nữa. Ta cầm cuốn sách hay tờ báo Nhựt bây giờ, thấy chữ Tàu có xen lộn lối chữ viết những nét cong co nhấp nháy, ấy là chữ riêng của Nhựt đó.

Chữ riêng đó khắp nước đều hiểu đều dùng, thành ra cuộc thống-nhứt và việc giáo-hóa ở nước Nhựt được dễ dàng lợi tiện quá.

Ta xem họ học chữ của người mà khéo biến cải thành ra một lối chữ riêng của họ  như thế, có phải họ có tinh-thần dung-hóa hay lắm giỏi lắm không ?

Bất cứ học-vấn nghệ-thuật ǵ của các nước ngoài mà họ bắt chước và thâu thập, họ cũng dung-hóa hết thảy. Cuối thế-kỷ 16, có giáo-sĩ Tây-phương qua truyền đạo Cơ-đốc, tướng-quân cầm quyền nước Nhựt bấy giờ là Chức-điền Tín-trường (織田信長 – Oda Nobunaga) cho phép truyền đạo tự do. Không bao lâu mà số người Nhựt chịu phép rửa tội có đến mấy trăm muôn. Hồi ấy những môn học của Tây-phương như vơ-khí, dùng binh, làm thuốc, thiên-văn, công nghệ, người Nhựt đă từng học tập ít nhiều. Ví dụ nhiều nơi trong xứ có thành quách giống kiểu Tây, chính là người Nhựt học kiểu xây thành đắp lũy của người Y-pha-nho và người Bồ-đào-nha truyền cho mà xây đắp lên vậy. Coi vậy đủ thấy giống dân Nhựt biết học theo chỗ hay của người ngoài một cách mau chóng chớ không e ngại cố chấp ǵ cả.

Về sau, người Ư, người Bồ, chung cả người Tây-dương bị Nhựt-bổn “khóa nước” cấm vào, cũng là có một duyên-cớ.

V́ các cố-đạo Thiên-chúa thừa lúc người Nhựt theo đạo hăm hở nô nức quá rồi các ông ỷ sức làm càn, đốt phá hết nhiều miểu thần chùa Phật, để cho những người không phải giáo-đồ sanh ḷng tức giận. Phần th́ bởi người Tây-phương thấy dân Nhựt theo đạo mau lẹ dễ dàng, bèn có âm mưu muốn chiếm trị Nhựt-bổn. Thấy người ngoài có ư chẳng tốt như thế, cho nên Mạc-phủ nước Nhựt liền ra lệnh khóa nước cấm đạo và sanh ḷng ngờ vực ngoại-nhơn. Họ nói bởi ngoại-nhơn háo tàng, họa tâm, tự nhiên buộc họ phải làm cái chánh-sách “đóng cửa” để giữ ḿnh vậy.

Chớ chi ngoại-nhơn có ḷng ngay tốt bụng th́ Nhựt-bổn đă chẳng khóa nước cấm đạo, mà có lẽ Nhựt-bổn đă sớm duy-tân từ hồi thế-kỷ 17 hay 18 rồi không chừng. Đến giữa thế kỷ 19, phong trào “tỏa quốc, bài dương” (2) đang sôi nổi trong nước, nhưng khi có ông đề-đốc Perry nước Mỹ đem một đoàn tàu binh tới nơi tử-tế, xin Nhựt-bổn mở cửa thông thương, người Nhựt xét ra thật có hảo ư, tức khắc tấm ḷng phẩn-khích của dân tiêu tan đi lần lần, và hiểu ngay sự duy-tân tự cường là sự cần dùng cấp bách. Rồi tới vua Minh-trị lên ngôi, hạ lịnh cải cách, kỷ-nguyên mới mẻ của Nhựt-bổn từ đó mở ra. Nếu người Nhựt không có tinh thần dung-hóa sâu xa lâu đời, th́ họ không biết người biết ḿnh một cách mạnh bạo như thế.


(1) Thát-đàn 韃靼 (**) một giống người Măn-châu và Mông-cổ hồi xưa. Con cháu Thành-cát Tư-hăn chiếm cứ nước Tàu làm vua, dựng lên nhà Nguyên (), chính là ḍng dơi Thát-đàn. Bởi vậy khi binh Nguyên qua xâm lấn nước ta, hồi vua nhà Trần, ông Trần-quốc-Tuấn (Hưng-đạo-Vương) ra tay quyết đánh, và muốn làm mạnh ḷng quân, thề trừ giặc nước, nên chi ông bắt mỗi tên quân, đều thích vào tay hai chữ “sát thát” (殺韃), nghĩa là giết giặc Thát.

(2) 鎖国俳洋, Tỏa quốc bài dương : Khóa cửa biến lại không cho người Tây-phương ra vào lui tới.

[ Trở về ]          -         [ Xem tiếp ]

Gởi cảm tưởng :