Câu thơ hy vọng vượt đại lục xuyên thế kỷ

Trần Văn Thọ - Exryu Japan
 

 Năm nay mùa đông ở Nhật đặc biệt lạnh. Nghe nói ở Hà Nội cũng lạnh, nhiều nơi nhiệt độ cũng xuống gần dưới 5°C. Nhưng chỉ vài tháng nữa sẽ đón được mùa xuân ấm áp, hoa lá xanh tươi. Nh́n rộng ra, hơn một năm qua là cả một mùa đông do đại dịch Covid ngự trị. Hy vọng năm nay thế giới sẽ có mùa xuân yên b́nh.

Trong những ngày nầy, chợt nhớ đến hai câu thơ đă đọc đâu đó cách đây khá lâu, có lẽ khoảng 30 năm truớc:

     Ví không có cảnh đông tàn

    Th́ đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

    Không nhớ đọc ở đâu, trong báo nào, sách nào, chỉ nhớ được chú dẫn là thơ của Hồ Chí Minh (1890-1969). Sau đó ít lâu, nhân đọc cuốn Meigen no Uchigawa (Bên trong những danh ngôn) của các tác giả Kimura Shozaburo, Toyama Shigehiko và Murayama Yoshihiro (NXB Nihon Keizai Shinbun-sha, 1990), tôi ngạc nhiên bắt gặp câu thơ của thi sĩ Anh Percy Bysshe Shelley (1792-1822) có cùng nội dung với hai câu trên:

     If winter comes, can spring be behind?

    Câu này in trong tập Ode to the West Wind, được dịch sang tiếng Nhật là Bài phú Tây phong (không rơ dịch giả là ai nhưng dịch bằng lối văn rất cổ nên có thể đoán là bản dịch được thực hiện hồi cuối thể kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20). Đọc câu thơ dịch tiếng Nhật tôi thấy âm điệu của thơ hay hơn nguyên tác nhiều:

    Fuyu kitarinaba haru tookaraji

 (Nếu mùa đông không tới, mùa xuân sẽ c̣n xa vời vợi)

 Shelley được biết là một thi sĩ lăng mạn, phóng túng, có tư tưởng cấp tiến, chủ trương tự do yêu đương, tự do biểu hiện lập trường chính trị và luôn đ̣i công bằng xă hội. Tuy những chủ truơng này đương thời không được đón nhận, ông ta vẫn hy vọng vào một ngày mai sẽ được người đời có cái nh́n đồng cảm với ḿnh hơn. Có lẽ tâm t́nh này đă được gói ghém trong câu thơ trên (ông mất sớm, ở tuổi 29, v́ một tai nạn khi đi thuyền trên biển).

 Mặt khác, về hai câu thơ tiếng Việt nói trên, tôi có hỏi nhà phê b́nh văn học  Vương Trí Nhàn th́ anh Nhàn cho biết hai câu thơ đó trong bài Tự miễn (tự khuyên ḿnh) in trong tập Nhật kư trong tù (Ngục trung nhật kư) của Hồ Chí Minh. Nguyên văn chữ Hán là:

    Một hữu đông tàn tiều tụy cảnh

    Tương vô xuân noăn đích huy hoàng.

    Bài thơ viết trong bước gian truân ở xứ người chắc chắn đă gói ghém niềm hy vọng của tác giả về một ngày mai tươi sáng cho ḿnh và cho quê hương. Niềm hy vọng về một ngày mai thắng lợi h́nh như lại được khơi dậy vào cuối năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến chống Pháp bắt đầu và lúc đó nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ở trong một t́nh trạng vô cùng khó khăn. Theo cố giáo sư Bùi Trọng Liễu (Paris), trong một điện thư trao đổi khoảng 10 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lúc đi kháng chiến chống Pháp có mang theo ḿnh một cuốn vở học sinh trên đó có ghi câu: “Cố gắng sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, ta sẽ gặp mùa xuân”.

 Không rơ Shelley và Hồ Chí Minh ngẫu nhiên có cùng một cảm hứng, một ư tưởng (những tư tưởng lớn thường gặp nhau) hay là Hồ Chí Minh đă có đọc thơ Shelley (trực tiếp hoặc gián tiếp qua bản dịch tiếng Trung chẳng hạn) và lúc viết nhớ lại trong vô thức. Đây cũng là chuyện thường thấy trong sáng tác.

Chẳng hạn, đọc bài thơ nổi tiếng tiếng Tràng Giang của Huy Cận ta thấy hai câu cuối

Ḷng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

có lẽ đă chịu ảnh hưởng tứ thơ trong hai câu cuối bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

 mà Tản Đà dịch rất hay:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai?

Cũng có nhiều cách nói khác để diễn tả niềm hy vọng vào một ngày mai tươi đẹp (chẳng hạn, sau cơn mưa trời lại sáng, v.v...) nhưng có lẽ người Nhật thích câu thơ Fuyu kitarinaba haru tookaraji v́ âm điệu của câu thơ rất hay. Đối với người Việt Nam chúng ta, hai câu thơ tiếng Việt đọc lên cũng nghe hay hơn câu tiếng Anh.

 Câu thơ “hy vọng” từ bên trời Âu đầu thế kỷ 19 đă vượt đại lục đến Á châu trong thế kỷ 20, chắc chắn sẽ c̣n sống măi ở thế kỷ 21 và xa hơn./.

Tokyo, mùa đông 2021

 

(Viết thêm: Về tập thơ Ngục trung nhật kư, Lê Hữu Mục, giáo sư văn học ở Đại học Sư phạm Saigon trước năm 1975, có nêu nghi vấn cho rằng tác giả không phải là Hồ Chí Minh. Sau đó được biết Nguyễn Huệ Chi, Giáo sư Hán Nôm và văn học Trung Hoa, có viết bài phản luận lại ư kiến của Lê Hữu Mục. Tôi chưa có dịp trực tiếp đọc các tranh luận nầy. Qua trao đổi thư riêng với hai nhà nghiên cứu và phê b́nh văn học Vương Trí Nhàn và Huỳnh Như Phương, tôi được biết rằng hiện nay chưa có nghiên cứu mới có sức thuyết phục nên mọi người vẫn chấp nhận tác giả Ngục trung nhật kư là Hồ Chí Minh.)