|
|
Hàng ngày trong cơ thể ta
có đến hàng tỷ tế bào bị mất đi, nên cần được tái tạo bằng sự bổ
sung bởi những chất dinh dưỡng có trong thức ăn từ bên ngoài và từ
bên trong do sự tổng hợp của cơ thể.
Trong thức ăn có
chứa những chất cần thiết cho sự sống và qua những quá tŕnh phức
tạp, cơ thể có thể sản xuất những chất hormones, những chất đề kháng
có nhiệm vụ cấu tạo, bảo vệ, duy tŕ, điều tiết cho toàn thể tế bào.
Thực phẩm được
chia ra làm ba phần chủ yếu: mỗi phần có vai tṛ rơ ràng, chính xác
và cần thiết cho sự sống.
1)
Yếu tố tổng hợp:
phần chính là chất đạm và vài chất khoáng như calcium,
magnésium, phosphore; potassium và sodium, những chất này giúp cho
sự tăng trưởng, tái tạo tế bào cũng như có vai tṛ bảo dưỡng cho cơ
thể.
2)
Yếu tố năng lượng:
gồm bột đường (glucide), chất béo (lipide), những chất này có
nhiệm vụ giúp cho việc cấu tạo các tế bào, cho sự tiêu hóa và giữ
ǵn cho cơ thể lúc nào cũng ở nhiệt độ cố định.
3)
Yếu tố điều chỉnh:
nước và vitamine, những chất này có tác dụng một cách hiệu
quả cho các yếu tố tổng hợp và năng lượng.
Chất đạm (protide)
Chất đạm (
protide) là phần quan trọng nhất trong dinh dưỡng, có trong các thức
ăn hàng ngày như thịt, cá, sữa và các loại thức ăn chế biến từ sữa,
trứng và các loại thức ăn thực vật như ngũ cốc.
Chất đạm sau quá
tŕnh thủy hóa (hydrolyse) trong hệ tiêu hóa, chất đạm bị tách ra từ
đơn vị, mỗi đơn vị là một amino acide, thấm thấu vào màng
ruột và được đưa vào bộ tuần hoàn máu, tùy theo nhu cầu của mỗi cơ
quan trong cơ thể, các amino acide này có thể được phối hợp với các
amino acide khác để đáp ứng nhu cầu cho cơ thể.
Chất đạm là biểu
tượng cho sự sống, nhiệm vụ của chất đạm là cấu tạo, bảo tŕ, phục
hồi những tế bào trong cơ thể, chất đạm tham gia trong nhiều quá
tŕnh khác nhau, vận chuyển oxy cho sự hô hấp, tham gia trong hệ
miễn dịch, cấu thành những chất kháng sinh, thiết lập
nucléoprotéines (hóa hợp giữa phân tử chất đạm và acide nucléique :
acide nucléique là một macromolécule cần thiết cho sự h́nh thành
chất đạm), liên quan đến gien ADN (acide desoxyribonucléique)
và ARN (acide ribonucléique).
Chất đạm là một
phân tử macro sinh học gồm có một hoặc nhiều dây chuyền amino acides
dính liền với nhau bằng những kết nối (liaison) peptidiques, amino
acide là đơn vị cấu trúc cơ bản của chất đạm. Thông thường chất đạm
chứa hơn 100 chất amino acides.
Nếu một chất chứa
2 chất amino acides được gọi là dipeptides, nếu chứa 3 amino acides
được gọi là tripeptides vân vân, oligopeptide là chất chứa từ 2-20
amino acides nếu chứa hơn 50 amino acides th́ được gọi là
polypeptides.
Có hai nhóm chất
đạm: chất đạm thiết yếu và chất đạm không thiết yếu, hai loại chất
đạm này gồm có vào khoảng 20 chất amino acides, có 8 chất thiết yếu
và 12 chất không thiết yếu, trong 12 chất này có hai chất được gọi
là bán thiết yếu. Danh từ thiết yếu có nghĩa là cơ thể chúng ta
không thể tự tạo được mà phải được hấp thụ từ thức ăn bên ngoài,
ngược lại không thiết yếu có nghĩa là cơ thể chúng ta có thể tự tạo
được, v́ vậy những người ăn chay trường cần phải hấp thụ một lượng
lớn các loại rau cải, ngũ cốc để có được sự cân bằng về chất đạm.
|
Amino acides
Thiết yếu |
Amino acides
Không thiết yếu |
Amino acides
bán thiết yếu |
|
Isoleucine |
Alanine |
Arginine |
|
leucine |
Aspartique |
Histidine |
|
Lysine |
Cystéine |
|
|
Méthionine |
Glutamine |
|
|
Phénylalanine |
Glutamique |
|
|
Thréonine |
Glycine |
|
|
Tryptophane |
Ornithine |
|
|
Valine |
Proline |
|
|
|
Sérine |
|
|
|
Tyrosine |
|
Thiết yếu, không
thiết yếu hoặc bán thiết yếu, tất cả các amino acides đều quan trọng
cho sự tồn tại của hầu hết tất cả các cơ quan trong cơ thể. Dưới đây
là những tính chất đặc thù của 20 amino acides.
ASPARTIQUE
Acide aspartique là một amino
acide không thiết yếu có hai nhóm acide COOH là một acide mạnh nên
có thể được tổng hợp dễ dàng với một chất amino acide khác hoặc với
một chất hóa học hữu cơ nào đó để trở thành một chất muối và có thể
dùng như một phụ chất (supplément) để bổ sung cho sự thiếu hụt, pHi=2,77
(pH: potentiel hydrogene: nếu pH nhỏ hơn 7 là acide, lớn hơn 7 là
basique và bằng 7 là trung tính).
Thí dụ như chất aspartique có thể phản
ứng với một amino acide khác như phénylalanine (pHi= 5,84) để cho
một chất được gọi là aspartame, một chất đường tổng hợp với
độ ngọt lớn hơn 200 lần độ ngọt của đường đơn có nguồn gốc từ
mía, củ cải ngọt vân vân mà chúng ta dùng hàng ngày, nên trong công
nghệ thực phẩm chế biến người ta hay dùng chất này để thay thế đường
đơn, chất aspartame này không cho một chút
năng lượng nào cho cơ thể.
Chất aspartame
được cho phép xử dụng từ năm 1974, nhưng lúc đó nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng có hại cho sức khoẻ, sau đó phải đợi đến năm 1983 Mỹ mới
cho phép dùng trong cả thức ăn và uống. C̣n Pháp phải đợi đến năm
1988 mới được công nhận xử dụng với số code là E951 và đến năm 2002
toàn thể thị trường Âu-Châu mới xác nhận là chất aspartame không có
hại cho sức khoẻ.
Khi mua các thức
ăn chế biến nên cẩn thận đọc kỹ thành phần của mỗi món đồ ăn, không
nên dùng quá độ v́ aspartame là một chất hóa học, lượng aspartame
dùng hàng ngày và có thể chấp nhận được, gọi là DJA (dose
journalière acceptable) do FAO (tổ chức thực phẩm và nông sản) và do
OMS (tổ chức thế giới về sức khoẻ) được đề xuất là 40 mg/kg (trọng
lượng của mỗi người)/ngày. Ở Âu-Châu sự tiêu thụ thực tế của
hầu hết của người dân là vào khoảng 2,8-7,5 mg/kg/ngày c̣n
những người bị tiểu đường th́ số lượng cao hơn vào khoảng 7,8-10,1
mg/kg/ngày và theo báo cáo của hội đồng Âu-Châu th́ số lượng
aspartame được tiêu thụ cao nhất cho những người trưởng thành
là 21,3 mg/kg/ngày. Chính phủ Canada cho rằng chất này
không nguy hại cho những người bị tiểu đường.
Thí dụ thứ hai là
chất aspartique có thể phản ứng với chất amino acide khác là
arginine một chất base amino acide mạnh nhất để cho một chất muối
được gọi là aspartate-arginine, chất này thường được dùng cho
những người vừa khỏi bệnh, giúp người bệnh được phục hồi nhanh chóng,
giúp cho tinh thần được sáng suốt, kích thích cho sự ăn uống.
Ngoài ra chất
Aspartique c̣n có nhiệm vụ:
- Làm giảm mệt
nhất là cho sự mệt măn (fatigue chronique).
- Làm tăng sức
mạnh về lực.
- Tẩy độc các cơ
quan.
- Làm giảm đau co
thắt cơ bắp.
- Là tiền chất (précurseur)
của chất asparagine cũng là một amino acide không thiết yếu
có độ pHi=5,41, chất aspartique khi được tổng hợp từ asparagine phát
sinh năng lượng và được dùng trong quá tŕnh chuyển hóa của hệ thần
kinh trung ương. Asparagine cần thiết cho hệ thần kinh, xúc tiến cho
sự thư giăn, giảm tâm trạng u buồn, làm cho hứng khởi, giảm sự lo âu.
Chất azote, chất
dẫn xuất từ aspartique có vai tṛ trong sự cấu tạo của
ribonucléotides, một tiền chất của ADN.
GLUTAMIQUE
Acide
glutamique là một amino acide không thiết yếu cũng có hai nhóm COOH
là một acide mạnh có thể phối hợp với một chất base nào đó để trở
thành một chất muối để có thể hấp thụ dễ dàng, pHi=3,22.
Vai
tṛ của acide glutamique gồm có hai phần chính:
1) Cho sự ăn uống
Thí dụ như nếu
acide glutamique phối hợp với một chất base mạnh như soude (NaOH) sẽ
cho ra chất mono-glutamate de sodium (chỉ có một nhóm COOH
của acide glutamique phản ứng với Na của soude nên được gọi la mono)
chất dinh dưỡng này được các nước Á Châu tiêu dùng rất nhiều trong
sự nấu nướng, chất dinh dưỡng này do một xí nghiệp Nhật Bản
Ajinomoto (tên của chất muối này cũng được gọi là Ajinomoto), tiếng
Việt gọi là bột ngọt. Chất này giúp cho gia vị của thức ăn được ngon
và đậm đà hơn.
Ghi chú: xí
nghiệp Ajinomoto này lớn nhất thế giới về sản xuất các loại dinh
dưỡng cho người và thú vật trong đó có hầu hết tất cả chất amino
acides.
Bột ngọt thêm vào
những thức ăn được phép tiêu thụ ở thị trường Âu-Châu có số code là
E620, bột ngọt được mệnh danh là « triệu chứng của nhà hàng Tàu »
phần đông các nhà hàng Á-Châu thường hay dùng bột ngọt thêm vào các
thức ăn, v́ sau khi ăn những món ăn có nhiều bột ngọt ta có cảm giác
bị nhứt mỏi ở hai bên vai đó là do ảnh hưởng của acide glutamique
vào hệ thần kinh.
2) Ảnh hưởng đến hệ
thần kinh
GABA (acide gamma
amino butyrique) là một chất được tổng hợp từ acide glutamique, là
một neurotransmetteur có rất nhiều trong năo, liên quan đến trí nhớ,
GABA tạo ra môi trường thuận lợi cho sự b́nh tỉnh, thoải mái, an
thần ngược lại nếu thiếu sẽ sinh ra khó ngủ, bồn chồn, lo âu.
Ảnh hưởng của
amino acides vào hệ thần kinh rất phức tạp, v́ trong năo có hàng
trăm tỷ tế bào (neuron) và mỗi tế bào năo có thể đóng vai tṛ «đưa
tin» (neuro transmetteur) và «nhận tin» (neuro récepteur)
sự truyền tin từ tế bào nầy sang một tế bào khác xuyên qua một vùng
tiếp xúc rất nhỏ (vài nano m được gọi là synapse) bởi một quá
tŕnh sinh học trong đó các amino acide như glutamique đóng vai tṛ
quan trọng với sự hỗ trợ của calcium, những tín hiệu này có thể được
biểu hiện bằng những cảm giác như sự nóng giận, buồn nản, bồi hồi,
rung động vân vân, v́ vậy nếu quá tŕnh này không được vận hành hoàn
hảo th́ hệ thần kinh của ta sẽ bị rối loạn và làm cho ta mất tự chủ,
không kiềm chế được những động tác, như sự co rút cơ bắp.
Acide glutamique
giúp cho sự cân bằng tâm thần, cho sự tăng trưởng cơ thể, chống
nghiện ruợu, giúp cho trí óc được minh mẩn, kư ức tốt, chống lại sự
mệt mỏi trí tuệ, giúp cho sự đốt cháy chất béo dễ dàng hơn, giúp cho
sự cân bằng acid-base trong bao tử.
CYSTÉINE
Cystéine là một
chất amino acide không thiết yếu có độ pHi=5,07, cystéine rất quan
trọng cho việc sản xuất hormones, là một tiền chất của cystine và
taurine (acide 2-aminoéthanesulfonique là một dẫn xuất của amino
acide soufré), cystéine tham gia vào sự tổng hợp những acide béo bởi
sự thiêu đốt chất mỡ
Cystéine có những đặc
tính chống oxy hóa và tẩy độc, nó kích thích hệ miễn dịch và phục
hồi AND, nó rất cần thiết cho sự h́nh thành của da và móng tay chân,
nó giúp cho mau b́nh phục những vết thương và da bị bỏng, cystéine
c̣n đề pḥng được sự rụng tóc
Cystéine là một chất
tẩy độc rất hiệu quả (hầu hết tất cả các loại kim loại độc),
cystéine phản ứng trên những chất chống oxy hóa và hệ miễn dịch, nó
giúp đỡ đề pḥng cho sự mất đàn hồi của động mạch (athérosclérose)
và chứng viêm khớp (arthrite) nhờ sự cung cấp chất lưu huỳnh
(soufre), cystéine cũng làm nâng cao sự đồng hóa (assimilation) chất
kẽm
Nếu thiếu cystéine sẽ
gây ra những hậu quả như:
- Chậm trễ tăng
trưởng, tánh t́nh lănh đạm, hững hờ
- Ảnh hưởng xấu đến màu tóc, da bị mụn nhọt
- Làm hư hại gan
- Cơ bắp trở nên mềm
THRÉONINE
Là một amino acide
thiết yếu, v́ cơ thể của chúng ta không thể tự tạo được, có độ pHi=5,6,
thréonine tập trung nhiều trong tim, cơ bắp và hệ thần kinh trung
ương, giúp cho cơ thể được thư giăn và giúp cho sự điều ḥa và làm
giảm hiệu ứng của caféine, cải tiến sức khoẻ cho bệnh lảng trí (alzheimer),
cao huyết áp, cải tiến sự vận hành tim, hệ thần kinh trung ương, cơ
bắp, bộ tiêu hóa, hệ miễn dịch, làm giảm mỡ trong gan, cải tiến sự
hấp thụ thức ăn, bảo đảm sự tăng trưởng của xương, men răng.
SÉRINE
Là một amino acide
không thiết yếu, có độ pHi=5,68.
Cơ thể có thể dùng
sérine cho sự cấu tạo màng tế bào, tổng hợp các tế bào cơ bắp, thần
kinh, créatine, cho sự h́nh thành ARN, ADN, giúp cho sự sản xuất
chất đề kháng, cho hệ miễn dịch trong máu và trong chất lỏng của
toàn cơ thể (immunoglobulines), Sérine cũng quan trọng cho sự sản
xuất năng lượng của tế bào để giúp cho trí nhớ và cho sự vận hành
thần kinh, giúp cho sự đào thải chất béo, tăng trưởng cơ bắp, thêm
lực cho cơ thể.
GLUTAMINE
Là
một amino acide không thiết yếu, h́nh thành bởi sự thay thế nhóm
hydroxyle của acide glutamique bằng nhóm amine, pHi=5,65. Nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng glutamine đóng vai tṛ quan trọng trong việc tu
bổ, duy tŕ màng ruột, giúp làm tăng chất flore trong ruột (khi
bị tiêu chảy cơ thể bị mất rất nhiều chất flore và cần phải
được bù đắp), giúp cho người bệnh mau chóng hồi phục sau khi
mổ, glutamine giúp cho cơ bắp không bị co rút, giúp cho việc đào tạo
tế bào cơ bắp bị hư hại, glutamine c̣n là một yếu tố quan trọng cho
sự chuyển hóa azote.
TYROSINE
Tyrosine
là một amino acide aromatique không thiết yếu co do pHi=5,7,
tyrosine tham gia vào sự tổng hợp catécholamines là những hợp chất
hữu cơ, đóng vai tṛ như những hormones và những neurotransmetteurs
trong hệ năo
Tyrosine là một
tiền chất của dopa (có tên là 3,4-dihydroxyphénylalanine, một
chất trung gian trong sự tổng hợp của catécholamine) và dopamine
yếu tố của sự ghi nhớ (mémorisation), là tiền chất của
catécholamines như adréaline và noradrénaline, là những hormones của
sự thức tĩnh (éveil) và không ham muốn ăn uống (effet coupe faim),
tyrosine cũng là tiền chất của những hormones thyroidiennes như
thyroxine và thyronine có nghĩa là tyrosine được dùng bởi tuyến giáp
(glande thyroide) để cơ thể sản xuất một hormone quan trọng là
thyroxine chất này quản lư rất nhiều chức năng trong sự chuyển hóa
và tăng trưởng
Tyrosine cũng có hiệu
quả cho sự kích thích trên hệ năo trung ương
Stress và sự
làm việc quá độ về tinh thần có thể kéo theo sự giảm số lượng
tyrosine trong năo và hậu quả là làm giảm khả năng chú ư và tập
trung
N-acétyl-L-tyrosine
một chất ổn định của tyrosine cũng có hiệu quả đặc biệt cho sự trầm
uất
Sau đây là những tính
chất đặc biệt của tyrosine
-
Giúp cho cơ thể có được cảm
giác thoải mái
-
Làm tăng cao sự nhanh nhẹn và
linh hoạt của trí tuệ
-
Đề pḥng sự trầm uất
-
Kích thích tuyến tiền tụy
-
Giúp cho sắc tố của tóc và da
-
Làm dễ dàng cho sự tăng trưởng
của những mô và sự chuyển hóa của mỡ
-
Giúp sự tẩy trùng cho miệng và
học lợi (gencive)
-
Kích thích tuyến giáp (glande
thyroide) để có thể làm giảm cân cho những người béo ph́, nâng cao
khả năng chịu đựng (résistance) cho những người bi stress
Ngoài
ra tyrosine cũng làm giảm những triệu chứng mệt măn, làm cho gầy hơn
bằng cách tăng cao sự chuyển hóa cơ sở (métabolisme basal) và có thể
tham gia vào sự cai sửa (sevrage) của những người bị nghiện thuốc
phiện
ALANINE
Alanine là một
amino acide không thiết yếu cơ thể có thể tổng hợp được từ gan,
pHi= 6,11.
Alanine cần cho sự chuyển hóa của
glucose, tryptophane và béta-alanine (một thành phần cấu tạo của
vitamine B5 (acide pantothénique).
Theo nghiên cứu của Imperial college London alanine
có thể làm giảm lượng cholestérol trong máu.
Alanine làm giảm
độ acide hữu cơ trong cơ thể, tăng cường sức mạnh cho hệ miễn dịch,
làm cho cơ bắp được cứng chắc, làm tăng lực cho hệ thần kinh trung
tâm, cung cấp năng lượng cho hầu hết các cơ quan.
VALINE-ISOLEUCINE-LEUCINE
Ba amino acides này có
những tính chất tương đối giống nhau và thường được dùng chung cho
những người cần bổ sung chất đạm để mau chóng hồi phục sức khoẻ. Là
3 amino acides thiết yếu chia nhánh (ramifié) tiếng Anh là branched
chain amino acides nên được gọi tắt là BCAA, có độ pHi rất
gần nhau (pHi val=5,96, pHi leu=5,98, pHi ileu=6,02. Hàng ngày cơ
thể của chúng ta cần được hấp thụ 3 chất nầy để tránh sự rối loạn về
tinh thần cũng như về thể xác, nó kích thích việc tổng hợp các chất
đạm, giúp cho sự duy tŕ và phục hồi những cơ bắp bị tổn hại v́ làm
thể dục quá độ (cơ bắp được cấu thành khoảng 30-35% chất đạm nếu
thiếu cơ thể bị giảm sự tăng trưởng cho cơ bắp).
Giúp cho tinh thần được
sáng sủa, tránh cảm xúc quá khích, b́nh thường hóa lượng nitơ trong
cơ bắp, giảm độ đường trong máu, tăng cường sự bền bỉ sức lực, hồi
phục nhanh cho xương, gan, làm tăng sự chuyển hóa cơ bắp.
PROLINE
Là một amino acide
thiết yếu có độ pHi= 6,3, proline dùng trong sự tổng hợp chất đạm
như acide glutamique, hydroxyproline (cấu trúc cơ bản của collagène),
cũng là một précurseur của collagène với sự hiện diện của vitamine
C, collagène có nhiều trong các mạch máu, gan, sụn, đặc biệt là
trong cơ tim, collagène c̣n giúp cho sự đàn hồi giữa các đốt xương
sống, proline quan trọng cho sự hồi phục của da (da nhăn hoặc bị ảnh
hưởng lâu dài dưới ánh sáng mặt trời), làm chậm lại qui tŕnh lăo
hóa.
HYDROXYPROLINE
Là một amino acide
không thiết yếu cơ thể có thể tổng hợp được, có nhiều trong
collagène, pHi=5,82 và cũng có thể h́nh thành bởi oxy hóa của acide
proline, collagène là một chất đạm có nhiều trong thức ăn động vật
đặc biệt trong xương, da và trong cá da trơn. OHproline là một amino
acide quan trọng cho sự cấu tạo, bảo tŕ và bảo vệ da và
tế bào xương, thông thường chất hydroxyproline trong cơ thể của
người trưởng thành bị đào thải qua đường tiểu vào khoảng 10-40
mg/ngày, nếu số lượng nầy tăng cao th́ hoạt tính của tế bào
phá hủy xương bắt đầu (ostéolyse) chúng ta nên đề pḥng
đến chế độ ăn uống để có được sự cân bằng về sự hấp thụ chất đạm này.
Trong
công nghệ mỹ phẩm chất OHproline thường được thêm vào v́ có tác dụng
chống lại các vết nhăn, làm cho da mặt được
tốt đẹp hơn.
TRYPTOPHANE
Tryptophane
là một amino acide thiết yếu, có độ pHi=5,88, là một tiền chất của
sérotonine, tryptophane có hiệu quả chống lại sự trầm uất
(dépressif) và mất ngủ, giúp cho tinh thần được thư giăn, có thể
dùng như một loại thuốc an thần, giúp lấy lại sự vui tươi, tham gia
vào sự điều chỉnh cho chức năng về ăn uống.
Sérotonine c̣n
được gọi là 5-hydroxy-tryptophane (5-HT) là một neurotransmetteur
được tổng hợp bởi tế bào năo từ tryptophane, chất này đóng vai tṛ
neurotransmetteur trong hệ năo và cho hệ tiêu hóa, trong sự điều
chỉnh thân nhiệt, cho chế độ ăn uống, cho hoạt động t́nh dục, cho sự
đau đớn, buồn phiền. Là một chất truyền luồng thần kinh giữa những
tế bào năo và giữa một tế bào năo với một tế bào cơ.
Lượng tryptophane trong màu tùy theo
lượng tryptophane trong thức ăn của mỗi cá nhân, nếu thiếu lượng
tryptophane trong thức ăn có nghĩa là có sự giảm lượng sérotonine
trong năo, nếu thiếu sérotonine sẽ gây ra những biến chứng như biểu
hiện bằng những thái độ xung động, hung hăng, khiêu khích.
PHÉNYLALANINE
Là
một amino acide thiết yếu có độ pHi=5,84 quan trọng cho sự cấu tạo
các tế bào, hormones và xương, trong cơ thể phénylalanine có thể
được tổng hợp và biến thành tyrosine, cũng như tyrosine,
phénylalanine được dùng bởi tế bào năo để sản xuất những truyền tin
hóa học của năo mà người ta gọi là neurotransmetteurs có ba
tin hóa học là dopamine, noradrénaline và adrénaline, ba chất
này liên quan đến sự cảnh giác, thức tỉnh, hăng hái, và giúp giảm
cân cho những người béo ph́, phénylalanine cũng liên quan đến sự
tiết chất cholécystokinine, một chất đem đến cho năo những
tín hiệu của sự chán ngấy.
Một nhóm nghiên cứu của trường đại học Cornell (New-york)
cho rằng phénylalanine làm giảm sự thèm ăn có thể hơn 20%. Ngoài ra
phénylalanine c̣n giúp cho trí nhớ được sáng suốt, chống lại sự ưu
tư, trầm uất và suy sụt tinh thần, làm giảm và có thể triệt tiêu
bệnh Parkingson, viêm
khớp, nhức mỏi, tâm thần phân tập (schizophrénie) làm giảm
triệu chứng bần thần về thể xác và tinh thần cho phái nử 6-7 ngày
trước khi có kinh.
Phénylalanine có
thể dùng trực tiếp trong thức ăn dưới dạng aspartame (xem phần acide
aspartique có độ ngọt gấp 200 lần đường saccharose), là chất thêm
gia vô hại và cần thiết cho cơ thể, nhưng chất này cũng là một chất
hóa học nếu dùng quá độ sẽ không tốt và có thể nguy hiểm, v́
sau khi chất aspartame được hấp thụ chất này bị phân hóa trong ruột
và biến thành phénylalanine và méthanol, sau đó thành
formaldehyde và cuối cùng trở thành acide formique
một hợp chất có hại cho tế bào năo (neurotoxique).
GLYCINE
Glycine là một
amino acide không cần thiết pHi=5,97 và là chất đơn giản nhất trong
tất cả các amino acides, c̣n được gọi là glycocolle, là tiền chất (précurseur)
của chất porphirine, créatine và glutathion, glutathion là
một tripeptide h́nh thành bởi 3 amino acides khác là glutamique,
cystéine và glycine) một trong những chất được nghiên cứu nhiều nhất
cho sự chống lăo hóa và làm giảm lượng gốc tự do (radicaux libres),
một chất giải độc hiệu nghiệm cho các tế bào trong cơ thể,
glutathion c̣n bảo vệ, che chở chống lại những chất độc như rượu,
chất độc xâm nhập bởi môi trường bị ô nhiễm, cũng có thể tái tạo
vitamine C, glycine làm tăng độ hormone tăng trưởng trong huyết
thanh, ảnh hưởng tốt cho cơ bắp bằng cách giúp đỡ làm giảm mô mỡ của
cơ bắp.
Các nhà nghiên cứu
Nhật Bản cho rằng nếu cho 30gr glycine vào bao tử của người vừa mới
bị mổ th́ lượng hormone tăng trưởng của bệnh nhân sẽ tăng lên gấp 10
lần.
HISTIDINE
Histidine là một amino
acide thiết yếu cho người ít tuổi v́ lúc c̣n bé cơ thể không tổng
hợp được nhưng lúc lớn lên vào khoảng 6-7 tuổi th́ cơ thể có thể
tổng hợp được nên trở thành amino acide không thiết yếu, có độ pHi=7,59,
nên histidine c̣n được gọi là một amino acide bán thiết yếu,
Histidine là một tiền chất (précurseur) của histamine một
amino acide dùng để triệt tiêu những bệnh
dị ứng.
Tạo điều kiện dễ
dàng cho sự vận hành các cơ quan dính liếu tới sự liên hệ t́nh dục,
làm tăng dung lượng hồng huyết cầu và bạch huyết cầu trong máu, giúp
cho sự tiêu hóa chất đạm, làm giảm đau cho những người bị nhiều acid
trong bao tử, giúp cho mau hồi phục những người bị loét bao tử.
LYSINE
Lysine
là một amino acide thiết yếu, có độ pHi= 9,74 là một chất base mạnh
nhờ hai nhóm NH2, lysine cũng như arginine, glutamine và ornithine
có nhiệm vụ kích thích sự tiết hormone tăng trưởng quan trọng cho sự
cấu tạo tế bào cơ bắp và giúp đào thải mỡ dự trữ, làm giảm khối
lượng mỡ và tăng khối lượng gầy, nhưng nếu kết hợp hai chất lysine
với arginine th́ kết quả sẽ tốt hơn,.trong trường hợp bị stress nặng
th́ lượng lysine sẽ bị thiêu hủy và có thể gây ra sự yếu kém cho hệ
miễn dịch, t́nh trạng thiếu máu và chậm tăng trưởng ngoài ra lysine
c̣n có thể giúp làm giảm cholestérol, đào tạo collagène, kháng sinh
và tăng sự hấp thụ calcium. Lysine có nhiều trong sữa nhưng nếu đun
sôi th́ lysine sẽ bị tiêu hủy.
ORNITHINE-ARGININE
Arginine
cũng như histidine là một amino acide bán thiết yếu, có độ pHi=10,76
cần thiết cho sự sống, cho sự tồn tại của cơ thể, chất đạm phải giữ
được cân bằng sau những quá tŕnh: tiêu hóa,
hấp thụ và sau cùng chất đạm được phân hủy và được đào thải dưới
dạng urée. (urée la một hợp chất hữu cơ CO(NH2)2, thành h́nh bởi ion
NH4+, rất độc cho cơ thể và cần được đào thải, chất này được biến
đổi thành urée bởi gan có nguồn gốc từ những chất đạm của những thức
ăn) nếu urée không được đào thải điều độ, sự vận hành của thận sẽ bị
thay đổi và nồng độ urée sẽ tăng trong máu và hậu quả sẽ nghiêm
trọng cho những hoạt động của thận, arginine
đóng vai tṛ quan trọng cho sự đào thải urée này.
Cũng như histidine,
arginine là một amino acide bán thiết yếu, v́ cơ thể có thể tổng hợp
b́nh thường theo nhu cầu, ngoài ra cơ thể cần sự bổ sung từ bên
ngoài nếu bị nhiễm trùng nặng, sau khi mổ hoặc bị chấn thương tâm
thần.
Phần đông các sinh
vật có thể tạo arginine (bằng phản ứng sinh tổng hợp hoặc phản ứng
đồng hóa) và hủy hoại arginine ( bằng phản ứng dị hóa: oxy hóa và
cho ra năng lượng).
Arginine có thể
được thủy phân (hydrolyse) và cho chất citruline và NH3 và
sau đó citruline cũng bị phân hóa thành ornithine và CO2 và
NH3.
Arginine có thể
giúp cho cơ thể sản xuất chất oxyde nitrique, là chất đưa tin
hóa học (messager chimique) chất này có thể làm giăn nở
mạch máu, nếu độ oxyde nitrique yếu sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự
tuần hoàn máu, arginine cần thiết cho sự cường dương. giúp cho cơ
bắp điều khiển sư chảy dồn máu trong dương vật và cải tiến sự liên
hệ t́nh dục, arginine có thể làm tăng số lượng tinh trùng.
Người ta quan sát và nhận
thấy rằng nếu dùng arginine 5gr/ngày có thể làm tăng cao sự vận hành
t́nh dục cho những người có số lượng ít oxyde nitrique.
Trong một nghiên
cứu trên 24 người đàn bà măn kinh, và so sánh hiệu quả của nhóm
người được bổ sung bằng 6 g arginine và 6 g yohimbine (một loại vỏ
cây ở Phi-Châu có chứa những chất alcaloides, một phân tử hữu cơ
hétérocyclique azotées, một chất kích thích đường t́nh dục) với nhóm
người chỉ dùng yohimbine. Kết quả cho thấy rằng biên độ của xung
năng thần kinh rất lớn nơi âm hộ của nhóm người dùng arginine và
yohimbine.
Arginine tác động
cho sự sản xuất créatine (créatine là một chất dẫn xuất của amino
acide tự nhiên có hầu hết trong học sợi cơ (fibre musculaire) và năo,
nó giữ vai tṛ cung cấp năng lượng cho tế bào cơ, cho sự co giăn cơ
bắp), phát triển cơ bắp, bù đắp sự tổn hại những tế bào của những
người làm thể dục quá độ, arginine làm tăng sự tiết insuline,
hormone tăng trưởng, cấu tạo collagène và kích thích hệ miễn dịch,
là tiền chất của acide gamma amino butyrique (GABA) một
neurotransmetteur cho năo.
Cũng như arginine,
ornithine kích hoạt sự tiết hormone tăng trưởng, một đưa tin hóa học
có nhiệm vụ làm dễ dàng cho sự tăng trưởng cơ bắp.
Aspartate arginine
(tổng hợp giữa arginine và acide aspartique) giúp cho người bệnh mau
chóng b́nh phục, sau khi xuất viện hoặc giúp cho người bệnh có được
sự ham muốn về việc ăn uống.
Nhiều nghiên cứu
cho rằng người luyện tập thể dục, nếu dùng ornithine th́ số lượng
hormone tăng trưởng lên đến 4 lần.
Triệu chứng thiếu
arginine: vết thương lâu lành, rụng tóc, mụn nhọt trên da.
Arginine
có trong nhiều thức ăn: vài loại ngũ cốc như: gạo lức, yến mạch (avoine),
mạch ba góc (sarrasin), cũng có trong thịt đỏ, cá, thức ăn từ sữa,
quả hồ đào (noix).
Chất bột
đường (glucide)
Bột
đường (glucide) và chất béo (lipide) là hai nguồn năng lượng có
nhiệm vụ đào tạo những tế bào, cho sự tiêu hóa và giữ ǵn cơ thể lúc
nào cũng ở một nhiệt độ nhất định.
Bột
đường là một phân tử hóa học hữu cơ hydrate de carbone,
glucide cung cấp năng lượng cho các cơ quan và cơ bắp, glucide cũng
như chất đạm và chất béo là một trong những thành phần thiết yếu,
chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể, là một phân tử trung gian
sinh học chính của sự tồn trữ và tiêu thụ năng lượng, có 3
nhóm glucide: glucide đơn, glucide
phức tạp và chất xơ.
1) Glucide đơn:
chứa một hoặc 2 phân tử đường như glucose, fructose, saccharose và
lactose, chất glucide này được hấp thụ trực tiếp vào cơ thể mà không
qua quá tŕnh tiêu hóa, những glucide này có thể t́m thấy trong mía,
mật, củ cải ngọt, trái cây, rau cải vân vân.
2) Glucide phức tạp:
chứa 3 hoặc nhiều hơn phân tử đường như amidon, glycogène và
cellulose, chất glucide này được phân hóa qua đường tiêu hóa và trở
thành đường đơn và sau đó được hấp thụ vào cơ thể những glucide này
có thể t́m thấy trong ngũ cốc, khoai lang tây, khoai lang ngọt, bắp
và những loại hạt.
3) Chất xơ: là một
hỗn hợp phức tạp của nhiều glucide, là những thành phần cấu
tạo của các loại thực phẩm thực vật khó tiêu, cản trở sự tiêu hóa,
những chất xơ cho rất ít năng lượng nhưng rất tốt cho sự vận hành
của ruột. Chất xơ được t́m thấy ít nhiều tùy theo loại thức ăn
trong ngũ cốc (gạo lức chứa chất xơ gấp 3,5 lần nếu so sánh với gạo
chà trắng), các loại đậu, hạt, rau cải, trái cây và quả hồ đào.
Những chất glucide
phức tạp và chất xơ rất tốt cho sức khoẻ v́ có thể đề pḥng và tránh
các bệnh như ung thư tủy xương sống và bệnh tăng cholestérol, ngược
lại nên dùng ít đường đơn (c̣n được gọi là năng lượng rỗng) v́ không
chứa hoặc chứa rất ít thành phần dinh dưỡng.
Đường đơn cũng
được gọi là « đường nhanh », và đường phức tạp hoặc chất xơ c̣n được
gọi là « đường chậm » đường chậm hoặc đường nhanh là đường có trong
thức ăn, sau khoảng 2 giờ, đường nầy được hấp thụ vào máu tùy theo
sự tiêu hóa và hấp thụ đường vào máu, đường đơn th́ đươc hấp thụ
nhanh trái lại đường phức tạp và chất xơ th́ đươc hấp thụ chậm hơn.
Năm 1988 tổ chức thế giới về sức khỏe OMS (organisation
mondial de la santé) đề xuất một hệ số để so sánh các thức ăn
chứa chất đường và sau hai giờ tiêu hóa, đường được hấp thụ vào máu,
hệ số nầy được gọi là « index glycémique » Hệ số nầy
đặc biệt giúp cho những người bị bệnh tiểu đường v́ tùy theo sự hấp
thụ đường nhanh hay chậm, người bệnh có thể biết được số lượng đường
trong máu một cách chính xác hơn, sau đây một vài kết quả về thức ăn
và index glycémique tương ứng, để có thể so sánh các loại thức ăn
chứa đường, index glycémique của đường thuần túy được định là
100, hệ số càng nhỏ sự hấp thụ càng chậm ngược lại hệ số càng
cao sự hấp thụ càng nhanh.
|
Đường nhanh
lớn hơn 70 |
Đường trung b́nh
55-69 |
Đường chậm
nhỏ hơn 55 |
|
Thức ăn |
Index glycémique |
Thức ăn |
Index
glycémique |
Thức ăn |
Index glycémique |
|
Bánh ḿ |
95 |
Thơm |
66 |
Ḿ sợi |
40-50 |
|
Carotte |
90 |
Ḿ hột (semoule) |
65 |
sữa |
30 |
|
Gạo trắng |
87 |
Khoai lang tây sống |
66 |
Bưởi |
25 |
|
Khoai lang tây chín |
87 |
Củ cải đường (betterave) |
65 |
Trái anh đào |
23 |
|
Bánh ḿ với bột chưa xay (complet) |
77 |
Khoai lang tây chiên (chip) |
55 |
Đậu lăng |
22 |
Cơ thể của chúng
ta cần chất đường khoảng 5gr/kg/ngày, trung b́nh 1/3 dưới dạng đường
đơn và 2/3 dưới dạng đường phức tạp, số lượng đường trong máu không
quá 1,1 gr/litre.
Sự điều tiết đường
trong máu rất quan trong, nếu thiếu đường trong máu có thể
gây trở ngại cho sự vận hành b́nh thường của năo và có thể gây ra sự
hủy hoại của tế bào năo (neurones). Ngoài ra glucide c̣n có nhiệm vụ
trong việc tổng hợp acide nucléique (yếu tố căn bản của chất đạm),
glucide tham gia vào sự cấu tạo màng ngoài tế bào, được biến đổi
thành chất béo bởi những tế bào trong mô mỡ (adipocyte), đường có
thể được tồn trữ trong gan.
Nếu có quá
nhiều chất glucide và lipide trong mau có thể gây ra sự lên cân,
béo ph́ và có thể phát động đến bệnh tiểu đường, bệnh tiểu
đường xảy ra khi cơ thể không thể dùng insuline để điều tiết lượng
đường trong máu (glycémie), chất glucide đươc hấp thụ khó khăn bởi
những tế bào và làm cho lượng glucide trong máu ở trên mức b́nh
thường, bệnh tiểu đường này thường thấy ở những người trên 40 tuổi
nên cũng c̣n được gọi là « tiểu đường người trưởng thành ».
Chất béo (lipide)
Trong
hóa học chất béo (lipide) có từ tiếng Hy-Lạp là lipos có nghĩa là mỡ,
acide béo tự nhiên cấu tạo bởi một số lớn nguyên tử carbon từ 4-28 (thường
th́ số chẵn) acide béo bảo ḥa (saturé) là acide có những
nguyên tử carbon hoàn toàn bảo ḥa với nguyên tử hydrogène, vậy tùy
theo số lượng hydrogène trong mỗi phân tử để có thể quyết định đó là
chất béo bảo ḥa hay bất bảo ḥa, nếu thiếu một vài nguyên tử
hydrogène th́ được gọi là đơn bất bảo ḥa (monoinsaturé)
giữa hai nguyên tử carbon chỉ có một gạch nối kép (double liaison)
như:
H3C-(CH2)n-HC=CH-(CH2)p-COOH
và nếu thiếu từ 4 trở lên th́
được gọi là đa bất bảo ḥa (polyinsaturé) giữa hai nguyên tử
carbon có từ 2 hoặc nhiều gạch nối kép (double liaison). Ba
acides béo kết hợp với glycérol để tạo thành chất hóa học là
triglycéride, trong cơ thể chúng ta phần đông acide béo được t́m
thấy dưới dạng triglycéride trong các mô mỡ. Trong nhóm chất béo bất
bảo ḥa được chia ra thành nhiều nhóm tùy theo vị trí và số gạch nối
kép (double liaison) như nhóm oméga 9 chỉ có một double
liaison, acide đại diện cho nhóm này là acide oléique có rất
nhiều trong dầu olive, kế đến là nhóm oméga 6, đại diện nhóm
này là acide linoléique có hai double liaison, sau cùng là
nhóm oméga 3, đại diện nhóm này là acide alpha linolénique
có ba double liaison. Ngoài ra chúng ta thường thấy một acide béo
khác có tên là acide béo hydrogénée cũng c̣n được gọi là
acide béo trans, acide béo trans có thể là bảo ḥa hoặc bất bảo
ḥa, trong quá tŕnh hydro hóa, nguyên tử hydro được thêm vào
các loại dầu đa bất bảo ḥa, nguyên tử hydro từ vị trí cis (hai
nguyên tử hydrogène ở cùng một bên) trở thành vị trí trans (hai
nguyên tử hydrogène ở vị trí đối diện), với sự thay đổi vị trí nầy
dầu đa bất bảo ḥa từ thể lỏng trở thành thể mềm hoặc
cứng, tùy theo thành phần bất bảo ḥa trong dầu bị đổi thành
bảo ḥa ít hay nhiều.
Phần đông chúng ta cho rằng acide béo không tốt cho sức khoẻ
nhất là những bệnh về tim và mạch máu năo nhưng acide béo cũng rất
cần thiết cho sự duy tŕ cơ thể được mạnh khoẻ, nó góp phần cho sự
cấu tạo màng tế bào, tổng hợp hormones, làm tăng vị đậm đà cho các
món ăn, ngoài ra acide béo có nhiệm vụ cung cấp năng lượng cho cơ
thể (9 kilocalories/gr lipide) cao gấp 2 lần nếu so sánh với chất
bột đường và chất đạm, chất béo là nguồn năng lượng quan trọng cho
các chức năng của cơ thể, ngoại trừ tế bào thần kinh năo mà đường
glucose là nguồn năng lượng chính.
Acide béo được tồn
trữ trong các mô mỡ dưới dạng triglycéride, khi chúng ta làm thể dục
dài hạn th́ cơ thể làm phân hủy chất béo nầy để cho năng lượng,
acide béo cũng có thể dùng để tổng hợp các chất béo khác như
phospholipide có nhiệm vụ làm cho các màng tế bào được trơn và
có tính đàn hồi.
Ngoài ra c̣n có
vai tṛ khác như acide béo dưới dạng triglycéride được tồn
trữ trong lưng gù của con lạc đà, acide béo nầy được tiêu hủy
và cho ra nước nên lạc đà chịu đựng tốt ở sa mạc.
Chất béo dùng như
một phương tiện trung gian chuyên chở các vitamine ḥa tan trong
chất béo (liposolubles) như vitamine A,D,E va K và
giúp ruột hấp thụ các chất béo này. Chất béo đa bất bảo ḥa đóng vai
tṛ quan trọng cho sự cấu tạo những màng tế bào nhất là chất acide
linoléique một loại acide đa bất bảo ḥa (polysaturé) có 18
nguyên tử carbon và thuộc nhóm oméga 6 chất béo tham gia vào nhiều
phản ứng sinh học trong cơ thể, cần thiết cho trẻ em, cho sự tăng
trưởng nhờ vào sự nhân giống tế bào (multiplication cellulaire), bảo
đảm những hoạt động thiết yếu cho sự cấu tạo tế bào năo.
Về phương diện cung
cấp năng lượng cho cơ thể để duy tŕ sự sống, số lượng tốt nhất theo
tỉ lệ sau:
Bột
đường (glucide): 50-55%, chất đạm (protide): 11-15% và chất béo (lipide):
30-35%
Nhiều nhà nghiên
cứu cho rằng acide béo bảo ḥa và acide béo trans có
ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ nhất là những bệnh liên quan
đến tim mạch, sau đây là tỉ lệ được các nhà nghiên cứu khuyên nên
dùng hàng ngày để có được sự cân bằng về acide béo:
50% acide
béo đơn bất bảo ḥa dưới dạng omega 9
25% acide
béo đa bất bảo ḥa dưới dạng oméga 3 và 6
25% acide
béo bảo ḥa
Thông thường người
ta cho rằng những thức ăn động vật có nhiều acide béo bảo ḥa hơn là
thức ăn thực vật, sau đây là kết quả cung cấp bởi AHA (Américan
Heart Association):
|
|
Bảo ḥa
g/100gr |
Đơn bất bảo ḥa
g/100gr |
Đa bất bảo ḥa
g/100gr |
Oméga3
g/100gr |
Oméga 6
g/100gr |
|
Mỡ động vật |
|
|
|
|
|
|
Mỡ heo |
40,8 |
43,6 |
9,6 |
|
|
|
Bơ (beurre) |
54 |
19,8 |
2,6 |
|
|
|
Dầu thực vật |
|
|
|
|
|
|
Dầu dừa |
85,2 |
6,6 |
1,7 |
|
|
|
Dầu cọ (palme) |
45,3 |
41,6 |
8,3 |
|
|
|
Dầu mầm lúa ḿ (germe de blé) |
18,8 |
15,9 |
60,7 |
8 |
53 |
|
Dầu đậu nành |
14,5 |
23,2 |
56,5 |
5 |
50 |
|
Dầu olive |
14 |
69,7 |
11,2 |
0 |
7,5 |
|
Dầu bắp |
12,7 |
24,7 |
57,8 |
0 |
0 |
|
Dầu hướng dương |
11,9 |
20,2 |
63 |
0 |
62 |
|
Dầu carthame |
10,2 |
12,6 |
72,1 |
0,1-6 |
63-72 |
|
Dầu cây cải
(colza, canola) |
5,3 |
64,3 |
21-28 |
6--10 |
21-23 |
|
Dầu mè |
16 |
42 |
46 |
|
|
|
Dầu hạt nho
(pépin de raisin) |
9,6 |
16,1 |
69 |
|
|
Ghi chú:
dầu dừa và dầu cọ có nguồn gốc từ thực vật nhưng chứa rất
nhiều chất béo bảo ḥa.

Dầu
dừa rất thông dụng ở Việt Nam, với số lượng chất béo bảo ḥa rất
cao nên có ảnh hưởng xấu đến tim mạch và cholestérol. Mỹ và Canada
khuyên không nên dùng nhiều dầu dừa, nhưng nước dừa, sữa dừa và dầu
dừa có nhiều chất khoáng, chất đạm và vitamines cũng rất hữu ích cho
cơ thể.
Nước dừa có thể
dùng như một chất lỏng dinh dưỡng đầy đủ, nước dừa chứa nhiều chất
khoáng điện phân giống như huyết tương (électrolytes sanguins), chất
đạm và vitamine B3,B5,B6 và B9. Trong thế chiến thứ hai ở Phi luật
Tân người ta dùng nước dừa thay thế huyết tương. Trong dầu dừa 50%
chất béo bảo ḥa là acide laurique, 20% là acide mytique và
10% là acide palmytique.
Ghi chú:
sữa mẹ phần lớn chứa acide laurique
- Acide béo bảo ḥa:
có trong thịt mỡ động vật, tṛng đỏ trứng, fromage, sữa, cá, các
thức ăn chế biến từ sữa, dầu dừa, dầu cọ.
Theo lời khuyên của
các nhà dinh dưỡng, không nên hấp thụ nhiều chất béo bảo ḥa v́ có
thể làm tăng lượng cholestèrol trong máu và theo lời khuyên về số
lượng và tỉ lệ dùng chất béo, tốt nhất là chúng ta nên thay thế 25%
chất béo bảo ḥa (xem bảng phân chia lượng chất béo bảo ḥa và đa
bảo ḥa ở trên) bằng chất béo đơn bất bảo ḥa.
Theo các nhà khoa
học của đại học Southampton nước Anh cho rằng nếu người đàn bà mang
thai hấp thụ nhiều chất béo bảo ḥa có thể ảnh hưởng đến đứa trẻ,
gan của đứa trẻ sẽ bị nhiễm mỡ khi trưởng thành do mỡ tích tụ ở gan
gây ra. Một chế độ ăn uống nhiều chất béo bảo ḥa lúc c̣n nhỏ và ở
giai đoạn phát triển càng khiến vấn đề trên thêm nghiêm trọng
- Acide béo đơn bất
bảo ḥa : có trong dầu olive, dầu mè, dầu cây cải (colza), trái
bơ và các loại hạt.
- Acide béo đa bất bảo
ḥa: có trong hầu hết các dầu ăn, nhiều trong cá, phần đông đều
cho rằng mỡ động vật có ảnh hưởng xấu đến các bệnh tim và mạch máu
năo, ngược lại trong các thức ăn chứa nhiều chất béo đa bất bảo ḥa
và đơn bất bảo ḥa có thể làm giảm một cách đáng kể lượng
cholestérol trong máu và bảo đảm sự cân bằng giữa cholestérol xấu và
tốt.
- Acide béo trans:
là một loại dầu nhân tạo có rất ít trong trạng thái thiên nhiên và
được dùng rất nhiều trong hầu hết các thức ăn chế biến, v́
dầu này ở trạng thái mềm hoặc cứng nên tiện lợi trong sự chuyên chở,
xử dụng và có thể tồn trữ được lâu nên được dùng nhiều bởi các nhà
kinh doanh chế biến thực phẩm. Nhưng v́ tính chất ban đầu của dầu
được thay đổi từ đa bất bảo ḥa thành bảo ḥa (ít hay nhiều tùy
theo số lượng hydrogène được thêm vào dầu đa bất bảo ḥa) nên có ảnh
hưởng không tốt cho cơ thể:
- Làm giảm cholestérol
tốt và tăng cholestèrol xấu.
- Tăng số bệnh tim.
- Làm giảm khả năng hoạt
động của gan.
- Tăng số bệnh ung thư.
- Làm giảm số lượng sữa ở
đàn bà.
- Tăng viêm và phát động
các chứng bệnh như dị ứng và suyễn (asthme).
Nhiều
nước như Mỹ, Canada, Đan Mạch rất khắc khe trong việc cho phép xử
dụng acide béo trans, năm 2007 xứ Canada cấm không cho phép xử
dụng số lượng acide béo trans hơn 2%, một nhóm nghiên cứu Pháp
kết luận rằng bệnh ung thư vú ở người đàn bà tăng gấp đôi v́ trong
máu có chứa một lượng lớn về acide béo trans, và nếu đứa bé bú sữa
mẹ có thể hấp thụ chất béo nầy vào cơ thể và sức khoẻ của đứa bé sẽ
bị ảnh hưởng, có một nghiên cứu khác của Pháp (INSEM) cho rằng acide
béo trans có thể làm tăng chất cholestérol xấu và có thể gây ra bệnh
tim mạch.
V́ vậy khi dùng
những thức ăn chế biến như: bơ thực vật (margarine cứng hay mềm là
tùy theo độ acide béo trans nhiều hay ít), pizza, chip (khoai tây
chiên), các loại biscuits, bánh mặn ngọt, các loại ăn từ chocolat,
những món ăn chế biến vân vân, hăy đọc kỹ thành phần chứa trong
những thức ăn này, nếu thành phần chất béo của thức ăn chế biến được
kê biên rơ ràng: một phần được hydrogénée hoặc dầu ăn thực
vật hydrogénée có nghĩa là món ăn có chứa chất béo trans,
nên cẩn thận trước khi dùng.
Ở Mỹ và Canada trong công
nghệ thực phẩm chế biến, người ta thay thế chất béo dùng trong công
nghệ cà rem bằng một chất béo khác làm từ trứng và sữa, chất
béo này cho ít năng lượng chỉ có 2 calories/gr thay v́ 9
calories/gr. Chất này được tiêu hóa như các chất đạm b́nh thường
nhưng không chịu được ở nhiệt độ cao nên không thể dùng để chiên,
ngoài ra Mỹ c̣n chế thêm một chất béo khác từ 8 chất béo và một phân
tử đường có thể chịu được ở nhiệt độ cao mà không cho năng lượng
nhưng làm giảm sự hấp thụ vitamine E.
Cholestérol
Cholestérol
là một chất béo trong máu có trong hầu hết các mô của cơ thể con
người, nhiều người cho rằng cholestérol có ảnh hưởng xấu cho sức
khoẻ nhất là về bệnh mạch máu năo, nhưng thật ra nó cũng cần thiết
cho sự sống, cholestérol không phải là bệnh, nhưng nếu số lượng vượt
trên một giới hạn nào đó sẽ nguy hiểm cho sức khoẻ, cholestérol
là một stéroide được vận chuyển trong huyết tương.
Không có sự thiếu
thốn cholestérol v́ phần lớn nó được tổng hợp trong cơ thể hầu hết
cholestérol được tổng hợp từ gan (70-80%) c̣n lại nếu
cần cơ thể có thể hấp thụ từ những thức ăn bên ngoài.
Cholestérol là
thành phần cơ bản của các mô tế bào, là tiền chất của những hormones
stéroides, tham gia vào việc tổng hợp mật, giúp cho sự tiêu hóa, là
một tiền chất của vitamine D, là yếu tố quan trọng của myéline,
chất này bao bọc và che chở cho những dây thần kinh trong năo.
Cholestérol hiện
diện với nồng độ cao ở các mô như gan, tủy cột sống, năo và màng sơ
vữa động mạch, cholestérol cần thiết cho sự cấu tạo những hormones
t́nh dục, (corticostéroides), nó tham gia vào nhiều quá tŕnh sinh
học, là một thành phần chất béo trong máu.
Cholestérol là
chất béo không ḥa tan trong máu nên nó được kết hợp với một chất
khác được gọi là lipoprotéine (kết hợp giữa chất đạm và chất
béo) chất này có nhiệm vụ vận chuyển cholestérol vào máu. Có 3 loại
cholestérol tùy theo mật độ cao hay thấp: HDL (high density
lipoprotein), LDL (low density lipoprotéin) va VLDL
(very low density lipoprotein):
- HDL được cho là
cholestérol tốt v́ nó có nhiệm vụ thu thập những cholestérol dư
thừa trong máu và mang về gan từ đó cholestérol sẽ bị phân hóa và
được tiêu hủy, có
mục đích làm giảm lượng LDL và tránh bị bệnh
athérosclérose (mất sự đàn hồi của các động mạch).
- LDL được cho là
cholestérol xấu: cholestérol này được vận chuyển từ gan đến các
tế bào, nhưng nếu lượng cholestérol này quá nhiều và những tế bào
này không thể để thấm thấu được hết th́ lượng cholestérol dư thừa sẽ
đóng vào các vạch thành của những mạch máu và lâu ngày sẽ làm cho
các mạch máu nhỏ lại nên phát sinh nhiều chứng bệnh cho năo và tim.
- VLDL có nhiệm vụ và
chức năng giống như LDL, tương ứng với triglycéride, lượng này
tăng khi chúng ta hấp thụ nhiều rượu, chất béo và đường.
B́nh thường th́
lượng HDL và LDL ở trạng thái quân b́nh nhưng nếu lượng LDL không
được đào thải hết th́ lượng cholestérol total sẽ bắt đầu vượt giới
hạn và sanh ra những chứng bệnh như sơ vữa mạch máu ở tim và năo, để
giảm lượng cholestérol cần phải nâng cao chất béo HDL và giảm lượng
LDL, để có được sự cân bằng giữa hai chất béo này th́ chúng ta phải
thay đổi cơ chế ăn uống bằng cách giảm tiêu thụ chất béo như bơ,
crème, sữa ḅ, fromage, thịt mỡ, dầu chiên và tiêu thụ nhiều chất
béo thực vật như các loại dầu ăn: olive, dầu hướng dương, dầu bắp,
dầu đậu nành, dầu cải (colza), dầu cá v́ những thức ăn này chứa
nhiều acide béo đơn và đa bất bảo ḥa. Nên dùng nhiều rau cải có
nhiều chất xơ, nên dùng đường gián tiếp có trong các loại ngũ cốc
như bánh ḿ, gạo, bột thực phẩm, khoai lang tây, đậu lăng và nên
tránh các loại đường đơn như bánh, kẹo, mứt, sodas.
Người Esquimaux
ít bị bệnh về cholestérol v́ thức ăn chính của họ là cá.
Trong
ruợu vang có chất tanin, có thể làm giảm mỡ tồn động
trong mạch máu, mỗi ngày một li ruợu vang cũng có thể giúp
cho cơ thể bài trừ một số lượng cholestérol xấu.
Trong đậu nành
có chất lécithine có đặc tính giúp cho cholestérol
ḥa hợp trong HDL để chống lại lượng cholestérol dư thừa và hơn nữa
có thể chống lại chất béo tồn đọng trên vách thành các mạch máu.
Khi khám nghiệm
lượng cholestérol, thông thường chúng ta có những kết quả
cholestérol total, lượng HDL và lượng LDL để biết t́nh trạng
cholestérol trong máu:
Cholestérol total phải
thấp hơn 2,5 g/l (1,5-2,5).
Cholestérol HDL phải
lớn hơn 0,4 g/l (0,4-0,8).
Cholestérol LDL phải
nhỏ hơn 1,5 g/l.
Cholestérol VLDL
triglycéride: phải nhỏ hơn 1,6 g/l (0,4-1,6).
Sau đây là kết quả
cho chúng ta biết về vài thức ăn tiêu biểu hàng ngày và số lượng
chất béo tương ứng:
|
Thức ăn |
Lượng cholestérol
mg/100gr thức ăn |
|
Trứng |
250-300mg/1 trứng |
|
Năo ,đồ ḷng |
2000mg |
|
Lưởi |
140mg |
|
Gan |
300-400mg |
|
Thịt giâm bông ít mỡ |
30mg |
|
Thịt giâm bông |
60mg-100mg |
|
Xúc xích |
100mg |
|
Pa-tê gan |
200-300mg |
|
Gan ngỗng (foie gras) |
400mg |
|
Thịt gia cầm |
100mg |
|
Cá |
60-100mg |
|
Tôm cua |
150mg |
Kết quả cho
bởi: les hypercholestérolémie của E.Bruckert và D.Thomas
DẦU ĂN
Dầu ăn chứa nhiều acide béo tùy theo mỗi
loại dầu, acide béo này có thể là bảo ḥa, đơn bất bảo ḥa hoặc đa
bất bảo ḥa. Dầu dừa và dầu cọ đặc biệt có rất nhiều acide béo bảo
ḥa và có thể chịu được ở nhiệt độ cao cũng như mỡ động vật. Gần
đây có những nghiên cứu cho rằng dầu chứa nhiều acide béo
đơn bất bảo ḥa tốt hơn acide béo đa bất bảo ḥa nên dầu
olive được cho rằng rất tốt cho sức khoẻ.
Dầu ăn là một chất
béo nhờn không ḥa tan trong nước, dầu ăn thường là dầu thực vật:
dầu đậu nành, dầu phọng, dầu hướng dương, dầu cải (colza), dầu bắp,
dầu olive, dầu cọ (palme), dầu quả hồ đào (noix), dầu quả phi
(noisette), dầu hạt nho (pépin de raisin), dầu quả hạnh (amande).
Mỹ, Canada phần
đông sản xuất và dùng nhiều dầu cải (colza), dầu bắp và dầu đậu nành,
c̣n Âu-Châu sản xuất nhiều dầu cải, dầu hướng dương, dầu bắp ngoài
ra dầu olive có nguồn gốc từ nam Âu-Châu và bắc Phi-Châu và Á-Châu
sản xuất nhiều dầu dừa, dầu phọng, dầu mè.
Phương pháp tinh
chiết dầu từ các loại thực vật thông thường là: rửa, bóc vỏ, xay ra
thành bột sau đó qua quá tŕnh ép cơ khí, có hai phương pháp ép ở
nhiệt độ lạnh và nóng:
a) Phương pháp ép lạnh
Phương
pháp nầy được hoạt động ở nhiệt độ cao nhất là 60°C, sau đó dầu được
để đóng lặng và lọc, kế tiếp cho vô chai màu xậm để tránh dầu bị oxy
hóa do ảnh hưởng của mặt trời, nếu dầu được chiết lần đầu tiên được
gọi là dầu « extra vierge » chứa ít hơn 1% độ acide, dầu
chiết ở nhiệt độ thấp có năng xuất ít hơn là dầu chiết ở nhiệt độ
cao, v́ ở nhiệt độ thấp 1/3 dầu c̣n lại trong chất bă, ngược lại
năng xuất ở nhiệt độ cao chỉ mất 1-5% dầu c̣n lại trong chất bă.
b) Phương pháp ép
nóng
Phương pháp nầy
được hoạt động với nhiệt độ vào khoảng 80-120°C, dầu ép ra được gọi
là dầu thô không tinh lọc và cũng được gọi là dầu tự nhiên, sau đó
bă dầu được thêm các loại dung môi để tiếp tục chiết xuất ra. Dầu
được ép ra không thể dùng trực tiếp mà phải qua nhiều giai đoạn như:
tẩy, tinh chế hoặc trung ḥa, tẩy màu, phân đoạn, tẩy mùi và chống
oxy hóa:
- Tẩy:
là giai đoạn lấy ra những acide béo tự do, lượng nhỏ chất đạm,
phospholipides và các chất khác có ảnh hưởng đến sự ổn định, cho ra
khói khi dùng để chiên.
- Trung ḥa:
là giai đoạn được trung
ḥa bằng một chất base, thường là soude được thêm vào dầu đă được
tẩy, để biến chất béo tự do thành xà pḥng và được phân tách bằng
phương pháp ly tâm.
- Tẩy màu :
Giai đoạn nầy có mục đích lấy
ra những sắc tố trong dầu thô.
- Hydrogénération:
xem phần chất béo trans.
- Phân đoạn
(fractionnement): thông thường dầu
được dùng ở nhiệt độ b́nh thường nhưng nếu muốn giữ ǵn được lâu th́
dầu phải để trong tủ lạnh và ở nhiệt độ này một phần dầu sẽ kết tinh
và giai đoạn này có mục đích lấy ra phần kết tinh.
- Tẩy mùi:
có mục đích tiêu hủy những chất hôi và biến dầu có mùi vị trung tính,
hơn nữa qua giai đoạn nầy dầu sẽ được bảo tồn lâu hơn.
- Xử lư chống oxy hóa :
Khi dầu được tiếp
xúc với không khí th́ dầu bị oxy hóa nhiều hay ít tùy theo thời gian
tiếp xúc lâu hay ngắn ở nhiệt độ cao hay thấp, oxy trong không khí
phản ứng với chất béo ở vị trí kết nối kép (doubles liaisons)
của chất béo.
Với phương pháp ép
dầu ở nhiệt độ cao và sau giai đoạn tinh lọc một phần vitamine E sẽ
bị mất v́ vậy sau khi được tinh lọc, người ta cho thêm vitamine E
vào dầu để bảo tồn được lâu hơn, vitamine E là chất chống oxy hóa
(antioxydant) rất hiệu nghiệm.
Dầu có thể bị phân
hóa nhanh khi để ngoài ánh sáng mặt trời và ở nhiệt độ cao, nếu muốn
bảo tồn dầu được dùng lâu th́ nên để dầu ở nhiệt độ thấp (trong tủ
lạnh dầu có thể bị kết tinh nhưng dầu sẽ không bị ảnh hưởng) Trong
thị trường có hai loại dầu chính: dầu ép lạnh và dầu tinh lọc.
Dầu tinh lọc chứa
ít vitamine E hơn nên sau giai đoạn này, dầu thường hay được thêm
chất chống oxy hóa như vitamine E hoặc các chất hóa học khác mục
đích để bảo tồn được lâu, lúc mua nên cẩn thận đọc kỹ các thành phần
của dầu: bảo ḥa, đơn bất bảo ḥa, đa bất bảo ḥa, oméga 3, 6, 9 và
xem ngày đóng chay v́ thời gian lưu trữ có ảnh hưởng đến thành phần
tốt của dầu, trung binh dầu giữ được 1 tháng sau ngày mở nút chai. (thời
gian 1 tháng có nghĩa tương đối v́ sau 1 tháng chất antioxydant
trong dầu là vitamine E và các chất phụ gia khác có thể bị mất (nhiều
hay ít) và không c̣n đủ để trung ḥa những gốc tự do (radicaux
libres) phát sinh do bị oxy hóa, th́ dầu sẽ bắt đầu bị phân hủy và
không c̣n dùng được). Dầu ép lạnh chứa nhiều vitamine E hơn là dầu
ép nóng nhưng dầu ép lạnh lại chứa những chất như acide béo tự do,
sắc tố (pigment) có thể bị oxy hóa dễ dàng hơn.
Dầu ăn không chứa
chất đạm, đường, thành phần lớn của dầu là chất béo, vitamine A, D,
E và dầu cho năng lượng nhiều hơn là chất đạm và đường.
Dầu bồ đào, dầu
carthame, dầu bắp, dầu đậu nành bằng phương pháp ép lạnh không chịu
được ở nhiệt độ cao nhưng chứa nhiều chất béo đa bất bảo ḥa, chỉ
nên dùng những dầu ăn nầy với salade, rau cải. Nếu dầu này dùng để
chiên th́ phần lớn những kết nối kép (double liaison) của dầu đơn và
đa bất bảo ḥa sẽ bị hủy và dầu bất bảo ḥa thành dầu bảo ḥa v́ vậy
những người bị cholestérol cao nên dùng đồ ăn hấp hơn
là chiên.
Nếu dầu được nung
lên ở nhiệt độ quá cao, khi bốc khói th́ lúc này dầu sẽ bi phân hóa
và cho ra những chất độc cho đường hô hấp và đường tiêu hóa.
- Nhiệt độ chiên không
quá 195°C.
- Sau mỗi lần chiên nên
lọc dầu.
- Giữ dầu trong tối và
mát.
- Không nên dùng dầu quá
5-7 lần.
- Không nên dùng nồi chảo
bằng đồng, đồng thanh, đồng thau v́ có thể làm phân hóa dầu bởi oxy
hóa nên dùng nồi chảo bằng thép hoặc inox.
- Khi dầu lên khói th́
không nên dùng lại.
- Không nên thêm dầu mới
vào dầu đă dùng.
Chất sinh tố (vitamine)
Vitamine: vita
(tiếng latin): sự sống, amine (tiếng Anh): chất đạm,
là một chất hóa học hữu cơ vai tṛ chánh của vitamine được xem như
một chất dung môi cho những phản ứng trong cơ thể, nhờ chất dung môi
này mà phản ứng được vận hành trong điều kiện b́nh thường và được
nhanh hơn mà không cần nhiều năng lượng, thiếu dung môi cũng như
thiếu vitamine sẽ làm cho cơ thể bị hại và khiến ta dễ bi nhiễm bệnh,
vitamine cần thiết cho sự chuyển hóa của các cơ quan trong cơ thể,
lượng vitamine cần thiết mỗi ngày cho cơ thể từ microgramme đến vài
miligramme, vitamine không cung cấp năng lượng nhưng rất cần thiết
cho cơ thể v́ cơ thể không thể tự tổng hợp được, vitamine tác
động nhiều vào các phản ứng hóa học, tham gia vào việc cấu tạo vài
loại màng tế bào, giúp đỡ cho sự sản xuất năng lượng, chống lại sự
nhiễm trùng, tác động vào việc cấu tạo những neuromédiateurs, giúp
cho sư phục hồi những mô tế bào bị hư hại.
Vitamine là một
phân tử hữu cơ, một coenzyme chứa một hoặc nhiều gốc tự do
cần thiết cho sự tổng hợp enzymes và hormones.
Gốc tự do
(radicaux libres) có hai nhiệm vụ tương phản:
a) Với một lượng giới
hạn, giúp cho cơ thể chúng ta có hoạt động tốt cho hệ miễn dịch, làm
lành vết thương và sản xuất một số hormones.
b) Nếu số lượng quá
nhiều th́ gây ra nhiều sự nguy hiểm cho cơ thể, nó làm hủy hoại màng
tế bào, làm tăng sự lăo hóa, làm tăng chất béo trên vành của những
mạch máu gây nguy cơ cho bệnh tim và năo.
Enzymes
là những chất đạm được thấy hầu hết trong tất cả các tế bào của cơ
thể, có nhiệm vụ giúp đỡ các phản ứng hóa học được nhanh hơn mà
không cần nhiều năng lượng. Vài thí dụ:
- Trong trường hợp tiêu
hóa thức ăn, enzyme giúp cho sự hoạt động phân hủy thức ăn và biến
thành chất dinh dưỡng cho cơ thể sau nhiều giai đoạn tiêu hóa trong
ruột.
- Amylase là một enzyme
có trong nước miếng có nhiệm vụ phân hóa đường phức tạp như amidon
có trong các ngũ cốc và biến thành đường đơn như glucose để cung cấp
năng lượng cho cơ thể. Không có enzyme đồng nghĩa với không có sự
sống, mỗi enzyme có môt nhiệm vụ duy nhất và tác động vào một phản
ứng duy nhất.
Hormone là
một phân tử tạo ra bởi tuyến hoặc mô và được vận chuyển bởi máu,
hormone tác động trên một cơ quan hoặc trên một mô khác, thí dụ như
tuyến tụy sản xuất insuline có nhiệm vụ điều chỉnh lượng đường trong
tất cả các cơ quan trong cơ thể. Hormone là một chất đưa tin hóa học,
thường được kết hợp với hệ năo có nhiệm vụ làm hoạt động cho hàng
tỷ tế bào của cơ thể.
Gốc tự do có liên
hệ đến phản ứng oxy hóa, hiện tượng oxy hóa là một phản ứng hóa học
khi một chất tiếp xúc với oxy, làm cho một số électrons bị di
chuyển qua một chất khác và phát sinh ra những phân tử không bền,
phân tử này được gọi là gốc tự do và một khi được h́nh
thành gốc tự do này lại có phản ứng tương tự đến những phân tử
khác và gây ra phản ứng dây chuyền bất ổn, nếu chất này
không được trung ḥa bởi những chất chống oxy hóa (antioxydant)
th́ gốc tự do sẽ tấn công và phá hủy những vật chất sinh lư của cơ
thể ta như vitamines, enzymes, chất khoáng, màng tế
bào. Ba trường hợp có thể xảy ra khi trong cơ thể ta không có đủ
cân bằng giữa gốc tự do và những chất chống oxy hóa:
- Trong thức ăn không có
đủ chất chống oxy hóa.
- Hệ thống bảo vệ
enzymes không hiệu quả.
- Sự sản xuất gốc tự do
trong cơ thể quá nhiều.
Hậu quả của sự mất
cân bằng này rất nguy hiểm và phát sinh ra nhiều chứng bệnh như ung
thư, hiện tượng lăo hóa sẽ gia tăng, những màng tế bào bị phá hủy và
làm cho động mạch bị cứng, dày thêm có thể nguy hại cho tim, làm hư
hại collagène và làm mất tính đàn hồi của động mạch. Chúng ta có thể
so sánh với chất sắt thô để ngoài trời bị oxy hóa và được bao phủ
bởi một lớp rỉ sét, với thời gian sắt sẽ bị tiêu hủy hoàn toàn v́
không được bảo vệ.
Nguồn gốc của sự phát
sinh gốc tự do: môi trường ô nhiễm, tia cực tím , rượu, hút thuốc lá,
stress, thuốc trừ sâu, rầy, thịt của động vật có nguồn thức ăn bằng
hormones, nhiễm trùng, thuốc tây, phụ gia thức ăn, chất bảo tồn thức
ăn vân vân.
Chất chống oxy hóa
là biểu tượng cho sự tồn tại lâu dài, chống lại sự lăo hóa, trước
đây người ta chỉ biết rằng vitamine C và vitamine E là hai chất
chống oxy hóa nhưng gần đây theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho
rằng ngoài vitamine E và C c̣n có rất nhiều chất chống lại oxy hóa
khác có rất nhiều trong thức ăn:
- Vitamine C có trong cam quít
và những loại trái cây. Có rất nhiều trong trái ổi
- Caroténoides
có trong các loại trái cây màu vàng, đỏ, đặc biệt béta-carotène
có trong cà rốt, quả mơ và xoài.
- Lycopène là
một phần của nhóm caroténoides, là một chất màu đỏ ḥa tan trong
chất béo, chúng ta t́m thấy chất này trong những trái cây như cà
chua màu đỏ (nếu cà chua màu vàng hoặc màu cam th́ không có hoặc rất
ít lycopène), dưa hấu và trong các trái cây có màu đỏ khác như bưởi
(pamplemousse), ổi (goyave), đu đủ, màng hạt trái gấc. Lycopène là
một trong những chất carotéonides chống oxy hóa mạnh nhất (gấp đôi
béta carotène) làm triệt tiêu nội tế bào của nguyên tử oxy (nguồn
gốc của gốc tự do), gốc tự do phần lớn được h́nh thành trong phần mỡ
của tế bào
Tổ chức nghiên
cứu thế giới về ung thư khuyên chúng ta nên hấp thụ thường xuyên
lycopène có chứa trong nhiều loại trái cây và rau cải v́ chất này có
hiệu quả chống lại ung thư tuyến tiền liệt (prostate), làm giảm bệnh
về tim mạch của những người bị tiểu đường, bệnh loăng xương
(ostéoporose), ung thư thực quản (œsophage), ung thư ruột kết
(colon) và ung thư miệng, ngoài ra lycopène c̣n có hiệu quả ngăn cản
sự tăng trưởng của những tế bào ung thư có nguồn gốc từ những màng
nhầy ( muqueuse) của tử cung và vú, lycopène che chở chống lại ung
thư rất tốt cho toàn thể hệ thống hô hấp, lycopène là một thành phần
chánh của huyết tương
Ngược lại với
những thành phần khác trong trái cây và rau cải, th́ dụ như vitamine
C lúc đun nóng lượng vitamine C sẽ bị giảm ít hay nhu tùy theo thời
gian đun nóng, nhưng nếu đun nóng lượng lycopène biodisponible (hiệu
quả sinh học của một chất) sẽ tăng lên gấp 4 lần, chẳng hạn như cà
chua: jus, soupe, sốt cà, ketchup có nhiếu lycopène hơn là cà chua
tươi
Dưới đây là kết quả của công tŕnh
nghiên cứu về trái gấc của GS Nguyễn Văn Chuyển và các đồng
nghiệp : Hiromitsu Aoki và Noriko Kuze của pḥng thí nghiệm về màu
thực phẩm ở Osaka Nhật Bản và hai nhà nghiên cứu khác là Nguyễn Thị
Minh Kiều và Kazue Tomisaka cùng bộ về thực phẩm và dinh dưỡng của
đại học Joshi dai Tokyo Nhật Bản
|
Trái cây |
Lượng lycopène µg/g |
|
Ót đỏ |
171 |
|
Cà chua |
31 |
|
Dưa hấu |
41 |
|
Ổi |
54 |
|
Bưởi hồng |
33,6 |
|
Các loại trái cây và rau cải khác |
15 |
|
Màng hạt trái gấc |
380 |
Ghi chú : lượng
lycopène trong màng hạt trái gấc được đo bằng phương pháp HPLC
(high performance liquid chromatographie)

Trái gấc cũng
như các loại trái cây màu đỏ khác có chứa nhiều lycopène, thịt của
trái gấc chứa ít lượng lycopène, ngược lại màng của hạt trái gấc
chứa rất nhiều lycopène, người Việt-Nam thường dùng màng hạt trái
gấc để nấu « xôi gấc » có màu đỏ tươi
Trái đu đủ :
có màu vàng hoặc đỏ, chứa 18 chất caroténoides, chất
chống
oxy hóa rất
mạnh, có tác dụng ngăn ngừa viêm phổi, ngoài ra đu đủ c̣n chứa
vitamine C, vitamine E giúp tăng cường hệ miễn dịch, kháng viêm,
chống thoái hóa khớp, giúp giải phóng paraoxonase, ức chế quá tŕnh
oxy hóa tạo ra cholestérol xấu LDL, acide folique trong đu đủ làm
chuyển hóa homocystéine (phá hủy thành mạch) thành cystéine hoặc
méthionine là những chất amino acides có ích cho cơ thể, trong đu đủ
c̣n có hai chất quan trọng là papain và chytopapain giúp tiêu hóa
chất đạm động vật rất tốt, đu đủ c̣n có chất lycopène có nhiều tác
dụng như những trái cây màu đỏ khác.

Phụ nữ có thai không
nên ăn đu đủ c̣n xanh v́ có thể sẩy thai, sinh non, người bệnh tim
cũng vậy không nên ăn đu đủ xanh v́ có chứa chất cacpain làm giảm
nhịp đập của tim
- Vitamine E
có trong hầu hết các loại dầu ăn.
- Sélénium và kẽm
có trong cá thịt và các
loại ngũ cốc.
- Polyphénols
(flavonoides, tanins, anthocyanes và acide phénolique) có trong
café, trà xanh, rượu vang và tất cả các loại rau cải, trái cây.
Trái măng cụt
được mệnh danh là hoàng hậu và thánh của các loại trái cây v́ màu
sắc, h́nh dáng và mùi vị thanh tao của trái măng cụt, ngoài ra vỏ
măng cụt có chứa 40 chất xanthones khác nhau, một chất
chống oxy hóa rất mạnh cũng như lycopène. Ngoài ra c̣n chứa chất
polysaccharides, những chất hóa học và những chất khoáng khác, măng
cụt có những đặc tính sau :
- Chống viêm
(inflammatoire).
- Chống oxy hóa (mạnh gấp
200 lần trà xanh).
- Giảm cholestérol.
- Giúp hệ miễn dịch.
- Chống lại khối u
(tumeurs).

Xanthone c̣n có nhiệm
vụ ngăn cản sự tăng trưởng của những tế bào ung thư gan và tuyến tụy
(pancréas).
Những rau cải như cà chua, màng hạt trái
gấc, cải xoong (cresson), cải bắp, rau pi na (épinard), chồi cải bắp
(brocoli), củ cải ngọt đỏ (betterave rouge), hành tây đỏ, vàng có
rất nhiều chất chống oxy hóa.
Trái sầu riêng
được cho là vua của các loại trái cây v́ có thể trái sầu riêng có
đầy đủ các loại vitamine, chất khoáng, chất béo và nhiều chất đạm,
sau đây là số lượng tượng trưng của trái sầu riêng
|
Thành phần |
Trái sầu riêng/100g |
|
Chất bột đường |
27,09 g |
|
Chất béo |
5,33 g |
|
Chất đạm |
1,47 g |
|
Nước |
65 g |
|
Vitamine C |
19,7 mg |
|
Potassium |
436 mg |
Vitamine : Ngoài
vitamine C c̣n có vitamine B1, B2, B3, B5, B6, B9, vitamine A
Chất khoáng :
Calcium, sắt, kẽm, đồng, phosphore, potassium, sodium, và manganèse
Chất bột đường:
hệ số « index glycémique » là 24, có nghĩa là sự tiêu hóa và hấp thụ
rất chậm (xem phần bột đường trang 12)
Ngoài ra mùi đặc
biệt của sầu riêng có thể là do có chứa chất hydrogène sulfide
(H2S)

Chất đạm: sầu
riêng chứa nhiều chất đạm nhất trong các loại trái cây, đặc biệt là
có chứa chất đạm tryptophane, một chất có tiếng như một loại
thuốc an thần, một loại thuốc ngủ v́ cơ thể có thể chuyển hóa
tryptophane thành chất sérotonine và méladonine (chất này có thể xem
như một chất chống oxy hóa tham gia vào sự tẩy độc cho các cơ quan).
Chất tryptophane được biết nhiều v́ có thể chống lại sự lo âu, buồn
phiền, trầm uất và mất ngủ, làm nâng cao chất sérotonine trong năo,
cho cơ bắp được tráng kiện
Trái sầu riêng
có nhiều chất béo nhưng không có chứa cholestérol
Có một nhóm
người sống trong ṿng 2 tháng chỉ với trái sầu riêng v́ có thể cung
cấp đầy đủ năng lượng, vitamine và chất khoáng
Ngoài ra trái sầu
riêng có chứa một chất rất dễ bị lên men, nên tránh
dùng trái này trước hoặc sau khi uống rượu trong lúc ăn v́ rượu sẽ
hóa hợp với chất này, phản ứng rất nhanh và làm cho sự tiêu hóa bị
rối loạn. Theo truyền thuyết Á-Châu trái sầu riêng có đặc tính nâng
cao sự liên hệ t́nh dục, và cũng theo truyền thuyết th́ sau khi ăn
trái sầu riêng nên ăn trái măng cụt v́ sầu riêng th́ “nóng” và măng
cụt th́ “mát” (vua đi trước hoàng hậu theo sau !!).
Tóm
lại chất chống oxy hóa có rất nhiều trong thức ăn, nếu chúng ta biết
cách cân bằng các loại thức ăn th́ không ngại bị thiếu chất chống
oxy hóa.
Có 13 loại vitamine cần thiết và được
cung cấp từ thức ăn, vitamine không cho năng lượng như chất đạm,
chất béo và đường; vitamine chia làm 2 nhóm: một nhóm ḥa tan trong
nước và nhóm khác ḥa tan trong chất béo.
Nhóm ḥa tan
trong chất béo cùng với chất béo có thể được tồn trữ trong cơ thể và
được dùng khi cần, trái lại nhóm ḥa tan trong nước nếu hấp thụ dư
th́ sẽ không tồn trữ được mà được bài tiết ra ngoài bằng đường tiểu
và mồ hôi.
Trong nhóm
vitamine ḥa tan trong nước ta t́m thấy:
- Vitamine C
(acide ascorbique).
- Vitamine B:
vitamine B1 (thiamine), B2 (riboflavine), B3 (niacine), B5
(pantothénique hoặc panthenol), B6 (pyridoxine), B8 (Biotine), B9
(acide folique), B12 (cobalamine).
Những vitamine này v́ không tồn trữ được
trong cơ thể nên phải được hấp thụ hàng ngày, những vitamine này
liên hệ đến nhiều phản ứng sinh học trong quá tŕnh tái tạo các tế
bào da, máu và hệ thần kinh.
Vitamine C tham gia vào sự h́nh thành collagène góp
phần cho khả năng chịu đựng, dẻo dai cho da, sụn, xương, răng và
mạch máu. Vitamine C c̣n có nhiệm vụ làm tăng sự hấp thụ của sắt,
c̣n vitamine B có vai tṛ quan trong trong sự chuyển hóa chất béo,
chất đạm và đường, làm dễ dàng cho sự điều hợp chất đạm vào các mô
tế bào tủy xương sống , hệ thần kinh, cho sự cấu tạo hồng huyết cầu,
bảo đảm cho sự tiêu hóa.
Những vitamine nầy
ḥa tan trong nước v́ vậy nếu dư thừa sẽ được đào thải qua đường
tiểu.
Trong nhóm
vitamine ḥa tan trong chất béo ta t́m thấy: A,D,E, và K,
những vitamine này có thể tồn trữ trong mỡ và gan và tự đào thải rất
chậm qua thận, v́ vậy những vitamines này sẽ trở nên độc có hại cho
cơ thể nếu hấp thụ quá nhiều nhất là vitamine A và D.
VITAMINE
B
Hầu
hết nhóm vitamine B (B1, B2, B3, B5, B6, B8,B9, B12) đều hữu ích cho
sức khoẻ:
- Làm tăng sự chuyển hóa.
- Giúp cho da, cơ bắp
được tốt.
- Cải tiến chức năng của
hệ miễn dịch và năo.
- Tăng trưởng tế bào
chống lại sự thiếu máu.
- Giảm sự lo âu, buồn
phiền.
- Pḥng ngừa những bệnh
về tim mạch.
- Vitamine B1:
Vitamine B1 giúp cho sự biến đổi chất bột đường thành năng lượng cần
thiết cho những hoạt động tốt của hệ năo và cơ bắp và làm tiêu
hủy dễ dàng acide pyruvique một chất độc cho hệ năo, bảo đảm
năng động của trí tuệ.
Thiếu vitamine B1
sẽ gây ra chứng bệnh tê phù (béribéri), mệt, mất ngủ, gây ra
sự yếu ớt cho cơ bắp và nâng cao nhịp đập của tim, vitamine B1 có
trong các loại thịt nhất là thịt heo, men bia, gan, trứng, sữa, các
loại ngũ cốc, khoai lang tây và rau cải xanh. Nếu mỗi ngày chúng ta
ăn bánh ḿ, rau cải xanh và uống sữa th́ không ngại thiếu vitamine
B1.
-Vitamine B2:
Vitamine B2 (riboflavine) là một vitamine ḥa tan trong nước nên
không thể tồn trữ được trong cơ thể nên cần phải được cung cấp hàng
ngày, vitamine được hấp thụ qua đường ruột non (intestin grêle) và
được vận chuyển trong máu đến các mô trong cơ thể, tuy nhiên
vitamine B2 được t́m thấy một lượng ít ở gan, tim và thận, vitamine
này được đào thải qua đường tiểu, mồ hôi, phẩn.
Vitamine B2 tham
gia vào sự cấu tạo hồng huyết cầu và duy tŕ các mô đặc biệt là các
mô của da và mắt, rất cần thiết cho sự vận hành tốt cho các vitamine
B (như B6, B9 và acide nicotinique) và sự hấp thụ chất sắt, đóng vai
tṛ quan trọng trong việc biến đổi chất béo, bột đường và chất đạm
thành năng lượng, có tác động vào chuyển hóa của sự phục hồi cơ bắp,
nếu thiếu vitamine B2 sẽ gây ra mệt mỏi và cơ bắp bị chứng chuột rút,
ngoài ra riboflavine là một chất chống oxy hóa và khi phối hợp với
glutathion réductase, hợp chất này sẽ bảo vệ tất cả tế bào chống lại
sự tàn phá của những gốc tự do.
Vitamine B2 có
trong sữa, fromage, cá, gan, thịt, trái cây, rau cải xanh.
- Vitamine B3:
vitamine B3 c̣n được gọi là vitamine PP ( pellagra
préventive) v́ nếu thiếu vitamine B3 sẽ gây ra chứng bệnh
pellagre bệnh này có thể xảy ra cho những người nghèo thiếu chất
đạm động vật, có thể biểu hiện bằng danh hiệu 4D: viêm da (dermite),
tiêu chảy (diarrhée), sa sút trí tuệ (démence) va chết
(décès), vitamine B3 giúp cho sự vận hành của hệ năo và hệ
tiêu hóa, cho sự cấu tạo tế bào máu và da, nếu thiếu sẽ phát sinh ra
những triệu chứng như mệt, nhứt đầu, da bị khô, ăn không ngon, lỡ
loét, rối loạn t́nh cảm. Vitamine B3 có trong thịt, cá, men, bánh ḿ,
quả hồ đào, những hạt, đậu, khoai lang tây, trái cây khô, cà chua.
Ngoài ra sữa, rau cải xanh, trà, café cũng cho vitamine B3.
- Vitamine B5
có từ tiếng Hy-Lạp. pantothen có nghĩa là « khắp nơi » có hầu
hết trong các thức ăn, đặc biệt trong mầm ngũ cốc nguyên vẹn (germe
céréale complet), có nhiều nhất trong sữa chúa (gelée royal).
Vitamine B5 giúp cho sự tăng trưởng và cho sự bền bỉ của da, tóc và
chất nhầy, có tác động hiệu lực trên hệ năo và tuyến phần trên của
thận, được xem là vitamine anti stress, nó cần thiết cho sự
chuyển hóa chất đạm , chất béo, và bột đường, giúp cho sự tổng hợp
của một số hormones. V́ vitamine B5 có rất nhiều trong thức ăn nên
sự thiếu thốn vitamine nầy rất hiếm, cũng như vitamine B3 nếu thiếu
có thể gây ra chứng bệnh pellagre, gây ra sự tiêu chảy. Vitamine B5
có nhiều trong thịt, gan, trứng, men, đậu, ngũ cốc chưa xay.
- Vitamine B6:
vitamine B6 rất hữu ích trong sự chuyển hóa bột đường, chất béo,
trong sự bảo vệ những tế bào năo, nếu thiếu vitamine B6 sẽ có những
triệu chứng như thương tổn trên bề mặt của da, gây ra sự mệt
mỏi và sự suy sụp tinh thần, sự trầm uất, vitamine B6 có trong ngũ
cốc, gan, thịt, tṛng đỏ trứng gà, sữa và một vài loại rau cải.
Trong ngũ cốc,
gạo lức
rất tốt cho cơ thể v́ có chứa nhiều loại vitamine B như
B1, B2, B3, B5, B6 và vitamine E (chống oxy hóa) ngoài ra có chứa
nhiều chất xơ, chất khoáng như calcium, magnésium, kẽm, sodium và
chất đạm.

Theo giáo sư
Hiroshi Kayahara đại học Shinshu Nagano Nhật Bản, khi ngâm gạo lức
trong nước sạch 22 giờ th́ các chất bổ dưỡng tăng lên rất nhiều, lúc
nầy gạo lức ở trạng thái mầm và mầm gạo lức chứa nhiều chất xơ, chất
khoáng hơn gạo lức chưa ngâm. Gạo lức nẩy mầm có chứa lượng lysine
chất giúp cho tăng trưởng chiều cao gấp 3 lần và có chứa chất gamma
aminobutyrique chất chống độc cho thận gấp 10 lần.Từ năm 2000 khoa y
cổ truyền của Nhật Bản và khoa y học phương đông của Mỹ khuyến khích
dùng gạo lức nẩy mầm.
Ngoài ra các nhà
khoa học Nhật Bản c̣n khuyên nên uống trà gạo lức. Gạo lức sạch mua
về không vo mà bỏ vào chảo rang để nhỏ lửa đến khi vàng sậm. Lấy một
muỗng canh nấu với 1 lít nước đun sôi để lửa nhỏ khoảng 5 phút là có
được món trà thơm, tốt cho những phụ nữ măn kinh, bị lạnh chân, khó
ngủ hoặc bị tiêu chảy. Tuy nhiên không tốt cho những người bị sốt,
nổi mụn.
- Vitamine B8
Biotine cũng được gọi là vitamine H hoặc B8, ḥa tan trong
nước. Tham gia vào những hoạt động thiết yếu cho sự chuyển hóa các
chất đạm, chất béo và chất đường, tái tạo móng tay chân, da và tóc,
tham gia vào sự tổng hợp vitamine B9 và B12. Biotine cũng có vai tṛ
quan trọng trong việc duy tŕ lượng đường trong máu, được dùng nhiều
trong công nghệ mỹ phẩm cho sức khoẻ của da và tóc, lượng biotine
cần thiết cho cơ thể là khoảng
20-30 µgr/ngày. Vitamine B8 có
thể dùng để chống lại bệnh khó ngủ. Rượu có thể làm giảm nồng độ
biotine trong máu. Một trong những triệu chứng thiếu B8 là lượng
cholestérol trong máu rất cao.
Thông thường trong
thức ăn có đủ biotine, hơn nữa vi khuẩn ruột có thể sản xuất số
lượng lớn có thể cung cấp đầy đủ cho cơ thể.
Những triệu chứng
thiếu biotine: rụng tóc, phọt ra máu, mụn nhọt ở da, buồn phiền,
trầm uất, suy sụp tâm thần, ảo tưởng. Vitamine B8 có trong trái cây,
ngũ cốc, thịt, trứng, sữa.
- Vitamine B9:
vai tṛ quan trong chính là cho sự cấu tạo chất đạm, giúp cho việc
tổng hợp ADN, cần thiết cho người đàn bà mang thai, cho sự tăng
trưởng và phát triển của bào thai, tham gia vào việc chuyển hóa một
vài chất đạm, giúp cho sự tái tạo tế bào, sự cấu tạo hồng huyết cầu,
cho sự vận hành của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, làm lành nhanh
chóng vết thương, đặc biệt cho sự tăng trưởng nhanh của đứa trẻ.
Cùng với vitamine B6, B12 vitamine B9 tham gia vào sự pḥng ngừa sự
h́nh thành của chất homocystéine trong máu, nếu chất này cao
sẽ có nguy hiểm cho tim mạch. Ngoài ra vitamine B9 c̣n giúp cho sự
tăng trưởng và tái tạo tế bào và được dùng để tránh bệnh thiếu máu.
Nếu thiếu vitamine
B9 sẽ gây ra nhiều chứng bệnh: làm rối loạn tâm thần (lo âu, trầm
uất, nóng nải, mất tự chủ), làm rối loạn hệ tiêu hóa sinh ra sự tiêu
chảy, nôn mửa, làm giảm sư ham muốn ăn uống và hậu quả là sự giảm
cân
Vitamine B9 được
t́m thấy trong gan, thịt, trứng, các loại ngũ cốc và rau cải xanh,
đậu nành, trái bơ, chuối, cây th́a là bẹ (fenouil), mầm lúa
ḿ (germe de blé), quả hồ đào (noix), men bia, cam, bắp cải.
- Vitamine B12
: là một vitamine ḥa tan trong nước bảo đảm cho sự sản xuất những
neuromédiateurs, vitamine B12 là cofacteur của enzymes tham gia vào
sự chuyển hóa của những acide nucléique và cho sự tổng hợp của chất
méthionine, vitamine B12 rất cần thiết cho sự duy tŕ cho toàn thể
hệ năo, cần thiết cho sự cấu tạo của tất cả tế bào của cơ thể, nếu
thiếu sẽ có hại cho tế bào đặc biệt cho những tế bào được tái tạo
nhanh như hồng huyết cầu và gây ra bệnh thiếu máu, số hồng huyết cầu
bị giảm và kích thước tăng, sự thiếu vitamine B12 phần lớn là do sự
hấp thụ không được tốt, thường th́ vitamine B12 được hấp thụ trong
ruột non nhưng trước đó vitamine này phải được phối hợp với một chất
được gọi là « facteur intrinsèque » sự phối hợp xảy ra trong
bao tử, phân tử này được tiết ra bởi cùng tế bào tiết acide
chlorhydrique, sự hoạt động của tế bào bao tử giảm theo tuổi, sự
thiếu vitamine thường xảy ra cho người lớn tuổi, v́ tiết ra ít acide
chlorhydrique và ít facteur intrinsèque, một trường hợp khác có thể
cản trở sự hấp thụ vitamine B12 là ở những người bị bệnh trầm trọng
về đường ruột.
Những triệu chứng
cho ta biết thiếu vitamine B12: mệt, da xanh xao vàng vọt, tim đập
nhanh, chảy máu răng, ăn không ngon, nôn mửa, rối loạn đường tiêu
hóa, mất trí nhớ, sa sút trí tuệ.
Chúng ta không
ngại thiếu vitamine B12 v́ có nhiều trong thức ăn: thịt, cá, trứng,
thức ăn biển (hào, tôm, cua..) các thức ăn từ sữa, fromage.
Vài thức ăn và
số lượng vitamine B12:
|
Thức ăn |
Vitamine B12/100 gr thức ăn |
|
Ṣ đỡm (palourde) |
99 µgr |
|
Gan ḅ (nấu chin) |
71-83 µgr |
|
Hào (huitre) |
16-28 µgr |
|
Cua |
7-12 µgr |
|
Tôm |
2 µgr |
|
Trứng |
3 µgr |
|
Thịt ḅ con (veau) |
2 µgr |
VITAMINE C
Vitamine C c̣n
được gọi là acide ascorbique và ascorbate (dạng muối của acide
ascorbique) như ascorbate de sodium hoặc ascorbate de calcium, rất
quan trọng cho sự tổng hợp collagène và hồng huyết cầu, ngoài ra
vitamine C c̣n tham gia trong hệ miễn dịch, và giúp cho sự bảo vệ
những vitamine ḥa tan trong chất béo như vitamine A và vitamine E,
vitamine C c̣n giúp cho acide béo khỏi bị oxy hóa, giúp cho việc
điều trị bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt, vitamine C bảo vệ tế bào
chống lại gốc tự do (radicaux libres) nguyên nhân của sự oxy hóa các
tế bào, giúp cho sự hấp thụ chất sắt vào cơ thể được dễ dàng hơn.
Vitamine C có thể
chống lại sự mệt mỏi, chống lại những bệnh cảm cúm và những bệnh
truyền nhiễm, là một yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp cytokine
(cytokine là một chất glycoprotéine: đường và chất đạm được tổng hợp
bởi những tế bào của hệ miễn dịch), giúp cho người bị nghiện thuốc
phiện nhờ tính chất chống độc của vitamine này, vitamine C cũng có
thể làm giảm stress, sự lo âu, buồn phiền, giúp cho vết thương được
mau b́nh phục.
Vitamine C có
nhiều trong các loại:
- Rau cải: chồi cải
bắp (brocoli), ớt tây đỏ, xanh, vàng, củ cải đường đỏ (betterave)
- Trái cây: cam,
chanh, quít, bưởi, kiwi, thơm, đu đủ, ổi, xoài, dâu tây
Sau đây là vài
thức ăn và số lượng vitamine:
|
Thức ăn |
Vitamine C (mg/100 gr thức ăn) |
|
Ổi (goyave) |
250-300 |
|
Quả lư đen (cassis) |
200 |
|
Củ cải |
139 |
|
Ớt tây (poivron) |
126 |
|
Kiwi |
94 |
|
Chanh |
80 |
|
Dâu tây |
64 |
|
Bông cải |
60 |
|
Epinard |
50 |
|
Cam |
50 |
|
Dưa tây (melon) |
25 |
Nhiều nhà nghiên
cứu cho rằng vitamine C nếu dùng quá nhiều sẽ không bị ảnh hưởng
đến sức khoẻ v́ nó được đào thải qua đường tiểu, nhưng gần đây nhiều
nghiên cứu của AHA (Américain Heart Association ở San Diego) chứng
tỏ rằng nếu dùng quá liều sẽ gây cho vành mạch máu từ tim đến mắt và
năo dày thêm ra và có nguy cơ đến tim mạch, nếu trên 2000mg/ngày th́
sẽ gây ra rối loạn đường ruột v́ vậy nên Académie des sciennes
Américain quyết định lượng Vitamine C không được quá 2000mg/ngày.
VITAMINE A
Vitamine A cũng được gọi là rétinol
v́ nó có trong vơng mạc (rétine). Vitamine A chỉ được thấy
trong các thức ăn động vật nhứt là trong gan, vitamine A được hấp
thụ vào cơ thể cùng một lúc với chất béo có trong thức ăn qua ruột
non, vitamine A được dự trữ phần lớn trong gan kế tiếp là trong vơng
mạc và da.
Vitamine
A c̣n có trong một vài loại thức ăn thức vật có chứa carotène
(provitamine A) và cơ thể có thể biến đổi thành vitamine A, nó cần
thiết cho thị lực và sự tăng trưởng của phế quản, ruột và
da.Vitamine A tham gia cho sự tăng trưởng của xương, trong sự tổng
hợp của vài chất hormones và trong cơ chế miễn dịch.
Nếu thiếu vitamine A có thể nguy
hiểm đến thị lực, nếu nặng có thể đến mù mắt, hiện tượng nầy thường
xảy ra ở trẻ em của nhiều nước đang phát triển. Vitamine A là một
chất chống lại sự khô mắt rất hiệu quả.
Vitamine A là một
chất kích thích cho sự miễn dịch, thiếu vitamine A sẽ làm giảm hệ
miễn dịch đối với một số vi trùng và vi khuẩn, không có vitamine A
tế bào không thể tăng trưởng nên làm giảm sự hiệu quả của hệ miễn
dịch, vitamine A cần thiết cho sự tổng hợp một vài glycoprotéines
chất này giúp sự tiết chất nhầy được dễ dàng.
Vitamine A,
béta-carotène và caroténoide có tác dụng chống bệnh ung thư.
Nói tóm lại là
vitamine A là một vitamine chống mệt, chống sự nhiễm trùng, giúp đỡ
cho thị lực, làm tăng trưởng biểu mô (épithélium) và chống
ung thư.
Vitamine A có
trong gan, dầu cá, bơ, sữa, trứng và trong thực vật như rau lá xanh,
trái cây, đậu.
Dưới đây
một vài thức ăn với số lượng viatamine A
|
Thức ăn |
Vitamine A
µgr/100 gr thức ăn |
|
Dầu gan cá tuyết (morue) |
30000 |
|
Gan trừu con (nấu chín) |
23500 |
|
Bơ (beurre) |
708 |
|
Gan ngỗng (foie gras) |
950 |
|
Paté gan heo |
370 |
|
Tṛng đỏ trứng gà |
570 |
|
Cá thu |
370 |
|
Trứng cá caviar |
570 |
|
Fromage |
298 |
VITAMINE D
Vitamine D c̣n
được gọi là vitamine mặt trời v́ da có chứa một tiền chất,
dưới ảnh hưởng của tia cực tím (ultraviolet) của mặt trời tiền chất
này biến thành vitamine D, vitamine D giúp cho sự hấp thụ calcium và
phosphore được nhiều hơn, Vitamine D có trong sữa, trứng, gan và mỡ
cá, vitamine D cung cấp bởi thức ăn và ḥa tan được trong mỡ sau khi
được hấp thụ một phần ở ruột non nó được đưa vào bộ phận tuần hoàn
của một vài cơ quan và được tồn trữ trong gan, máu, cơ bắp, mô mỡ,
thận. Sau khi được chuyển hóa vitamine D lại được đưa vào bộ tuần
hoàn: ruột, xương, thận, cơ bắp. Mùa hè có nhiều mặt trời vitamine D
được tồn trữ nhiều và được đem ra dùng cho mùa đông ít ánh sáng mặt
trời hơn. Vitamine D cần thiết cho sức khoẻ, làm cho toàn thể xương
được tráng kiện ở người lớn tuổi vitamine D giúp tránh bị gảy xương
nhất là ở háng và xương sống.
Có hai loại
vitamine D:
- D2
(ergocalciférol) có nguồn gốc từ thực vật có hầu hết trong tất
cả thức ăn.
- D3
(cholécalciférol) được tổng hợp ở da do ảnh hưởng của mặt trời,
vitamine D cũng có trong thức ăn động vật như dầu cá, bơ, ngũ cốc,
trứng, có ít trong sữa.
Vitamine D đóng
vai tṛ quan trọng cho sự chuyển hóa phosphocalcique: giúp cho sự
hấp thụ calcium và phosphore ở ruột, giúp cho calcium dính vào xương
có nghĩa là giúp cho sự tăng trưởng và tái tạo của xương.
V́ vitamine D ḥa
tan trong mỡ và được tồn trữ trong cơ thể, nhưng nếu lượng vitamine
D nhiều sẽ gây ra sự vôi hóa (calcification) ở các mô mềm (thận,
vành mạch máu), bệnh tăng calci trong máu (hypercalcémie) mỗi ngày
không nên dùng quá 25 µgr vitamine D. Mỗi ngày tiếp xúc với mặt trời
khoảng 15 phút là có thể đủ số lượng vitamine D.
VITAMINE E
Vitamine E
cũng được gọi là tocophénol, trong nhóm ḥa tan trong chất
béo, vitamine E được biết đến nhiều v́ là chất chống oxy hóa rất
hiệu nghiệm, làm giảm sự lăo hóa của da và bảo đảm sự ổn định cấu
trúc của tế bào. Vitamine E có khả năng thu lấy électron đơn của gốc
tự do (radicaux libre) và làm cho nó được ổn định bằng cách trung
ḥa những gốc tự do này.
Mỗi ngày cơ thể
chúng ta sản xuất liên tục nhiều gốc tự do, những chất này có thể
gây tổn thương cho những thành phần tế bào của chất đạm, chất béo và
ADN.
Vitamine E giúp
cho sự giảm đau cho những người bị bệnh viêm khớp
(arithrite rhumatoide),
pḥng bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh Alzheimer, Parkinson, bệnh
đục thể kính (cataracte).
Vitamine E có tác
dụng cho sự bảo vệ những tế bào trong cơ thể, quan trọng cho sự sinh
đẻ và tham gia vào sự tổng hợp hồng huyết cầu.
Vitamine E có
trong hầu hết các dầu ăn: có nhiều trong dầu hướng dương (tournesol)
mầm lúa ḿ, có trong dầu olive, dầu phọng, dầu mè, dầu đậu nành
ngoài ra vitamine E cũng có trong thức ăn thực vật: trong rau cải
xanh, nhiều trong xoài, khoai lang ngọt.
VITAMINE K
Vitamine
K là vitamine ḥa tan trong chất béo, c̣n được gọi là vitamine
đông máu, Vitamine K có tác động quan trọng trên sự đông máu và
khoáng hóa của xương, vitamine K rất dễ bị hủy bởi oxy hóa và nhứt
là dưới ảnh hưởng của mặt trời, vitamine K pḥng ngừa chứng bệnh
loăng xương và tim mạch, có hai loại vitamine K:
- K1
(Phytoménadione) có nhiều trong
rau cải xanh (brocoli, cải bắp đỏ và xanh, épinard) và trong đậu
nành.
- K2 (Ménaquinone)
được sản xuất trong ruột kết (colon) hoặc có trong các thức ăn lên
men như fromage, miso, natto vân vân (miso và natto là thức ăn của
Nhật Bản có nguồn gốc từ đậu nành lên men), ngoài ra cũng c̣n có
trong gan, trứng, sữa, và dầu cá.
Vitamine K1 tác
động trực tiếp vào quá tŕnh đông máu, c̣n vitamine K2 có hiệu lực
đến sự hóa vôi của những mô mềm (dính liếu đến bệnh tim mạch và
loăng xương).
Nếu thiếu vitamine
K có thể gây ra bệnh xuất huyết, chảy máu, thường ít xảy ra cho
người trưởng thành, nếu có th́ ở những ngươi bị bệnh nặng về gan.
Rất hữu ích cho trẻ con, v́ cơ thể trẻ con chưa sản xuất được
vitamine K.
CHẤT KHOÁNG
(minéraux)
Chất
khoáng là một chất vô cơ cần thiết cho cơ thể, trong thức ăn ngoài
nước và chất hữu cơ c̣n có chất khoáng, chất khoáng được chia làm 2
nhóm: macrominéraux và microminéraux (c̣n được gọi là
oligo élément), chất khoáng cũng như vitamine không cho năng
lượng.
Chất khoáng
macrominéraux: cần thiết với một lượng lớn như calcium, phosphore,
magnésium, sodium, và potasium, có nhiệm vụ trong việc
cấu tạo tế bào mới, cải tạo mô, trong sự chế biến những enzymes cần
thiết cho sự tiêu hóa, chế biến hormones, về phương diện chức năng,
chất khoáng giúp cho sự tiêu dùng tốt về thức ăn và năng lượng, có
nhiệm vụ bảo vệ và điều tiết những vận hành tốt cho cơ thể.
Chất khoáng
oligominéraux cần thiết với một lượng rất nhỏ như: sắt (fer), kẻm
(zinc), iode và sélénium, có nhiệm vụ như chất xúc tác trong
nhiều phản ứng sinh học.
Những chất khoáng
nầy có nhiều trong thức ăn có thể cung cấp đầy đủ (ngoại trừ chất
sắt và calcium) cho nhu cầu của cơ thể
Số lượng tiêu thụ
hàng ngày của chất muối khoáng tùy theo tuổi, phái nam hay nữ, và
cũng tùy theo trạng thái sinh lư của mỗi người: đang thời kỳ tăng
trưởng, mang thai hoặc măn kinh (ménopause), t́nh trạng sức khoẻ,
thói quen về rượu, thuốc lá, café, ngoài ra có những yếu tố khác như
sự di truyền, môi trường ô nhiễm và nhất là trong t́nh trạng
stress.
CALCIUM
Calcium
là một trong 22 chất khoáng cần thiết cho sự phát triển đốt sống (vertèbres)
cũng như răng và xương calcium đóng vai tṛ quan trọng cho sự
truyền luồng thần kinh (transmission l'influx nerveux) và sự
đông máu. Calcium chiếm 1,6% sức nặng của cơ thể, calcium là thành
phần cấu tạo chánh của xương của những người từ trẻ đến tuổi trưởng
thành, vậy trong thời kỳ này calcium phải được hấp thụ đầy đủ, người
trẻ cần 1,3-1,8 lần so với người trưởng thành, ngoài ra từ tuổi
trưởng thành chúng ta cũng phải bổ sung với những thức ăn chứa nhiều
calcium để giữ cân bằng và duy tŕ giá trị toàn bộ xương trong cơ
thể. Ở một điều kiện hoặc ở một số tuổi nào đó chúng ta cần chú ư
thận trọng trong việc bổ sung calcium nhất là cho sự tăng trưởng,
cho những người đàn bà mang thai, cho những người ăn chay trường,
cho những người có sự rối loạn đường tiêu hóa, cho sự tu dưỡng xương.
Phần lớn khoảng
99% calcium tập trung vào xương và răng, c̣n lại 1% cho cơ bắp, năo,
máu. Tuy nhỏ nhưng calcium nầy đóng vai tṛ vô cùng quan trọng cho
sụ vận hành của tất cả tế bào trong cơ thể như tế bào cơ (tim và
những cơ khác) và tế bào năo, cho sự hoạt động của thận, cho cơ chế
đông máu, cũng như rất nhiều quá tŕnh enzymatique (dùng
enzyme như một chất xúc tác trong nhiều phản ứng sinh học).
Nhiệm vụ chính của
calcium
- Cấu tạo, tăng trưởng,
duy tŕ và bảo dưỡng cho xương và răng
- Truyền luồng thần kinh
(transmission l'influx nerveux)
- Đàn hồi cơ bắp, giúp
cho cơ bắp được thư giăn, kiểm soát nhịp đập của tim
- Tiết hormones
- Làm đông máu
- Điều chỉnh huyết áp
- Làm giảm triệu chứng
trước khi có kinh của đàn bà
- Làm giảm nguy cơ cho
bệnh ung thư ruột tả (duodenum)
- Đề pḥng sự gảy xương
- Trung ḥa pH trong cơ
thể gây ra bởi stress và những thức ăn như chất đạm, thịt, sữa
- Đóng vai tṛ như dung
môi trong nhiều phản ứng enzymatiques
Nguồn gốc của calcium
Có hai nguồn gốc:
calcium có trong thức ăn và chất khoáng phụ gia (supplément)
1) Calcium trong thức ăn
- sữa chua 100 mg/125cl,
yaout 200mg/100g
- Fromage được ép và chín
chứa rất nhiều calcium 1000-1300mg/100g
- Rau cải tươi 40mg/100g
- Trái cây tươi
20-30mg/100g
- Trứng và một vài loại
cá, tôm, cua, ốc trung b́nh chứa 55mg/100g
- Rong biển chứa nhiều
nhất calcium 400-3000mg/100g
Ngoài ra c̣n có
trong sữa đậu nành, cá đóng hộp (c̣n xương), ngũ cốc, đậu
2) Calcium trong
thuốc phụ gia
Calcium có nguồn
gốc từ carbonate de calcium (CaCO3), chất này có rất nhiều
trong thiên nhiên (đá vôi, đá hoa cương, vỏ ṣ), muốn được hấp thụ
calcium phải được ḥa tan và phải được ion hóa. Nếu ta đốt nóng
carbonate de calcium lên vào khoảng 900-1000°C th́ carbonate de
calcium biến thành oxyde de calcium CaO và nếu CaO tiếp xúc với nước
oxyde de calcium trở thành dung dịch hydroxyde de calcium (OH)2Ca (có
pH rất cao nên có thể phản ứng dễ dàng với các loại acide hữu cơ).
Trong các loại thuốc phụ gia (supplément) các nhà bào chế thường hay
dùng acide citrique, acide malique để phối hợp với hydroxyde de
calcium để cho hai chất muối malate de calcium va citrate
de calcium ngoài ra các nhà bào chế c̣n dùng acide ascorbique (vitamine
C) với hydroxyde de calcium để cho một chất muối ascorbate de
calcium và nếu phối hợp với acide glucoheptonique th́ cho
glucoheptonate de calcium, sự hấp thụ calcium của những
hợp chất trên nhiều hơn (35%) nếu so sánh với calcium có nguồn gốc
dùng trực tiếp từ carbonate de calcium (25%).
Sự hấp thụ calcium tùy
thuộc vào nhiều yếu tố khác như phosphore, magnésium, silicium,
vitamine A, C, D, chất đạm, acide hữu cơ. Nhưng tỉ lệ calcium/phosphore=1,2-1,6
và tỉ lệ calcium/magnésium=2 th́ mới tốt cho sự hấp thụ calcium (sữa
có nhiều calcium nhưng lượng phosphore cũng rất nhiều nên sự hấp thụ
không được tốt, nếu muốn lượng calcium trong sữa được hấp thụ nhiều
th́ phải dùng cùng lúc những thức ăn khác chứa nhiều calcium và ít
phosphore để có được tỉ lệ trên).
Sự hấp thụ calcium
rất phức tạp, tùy theo thức ăn hàng ngày, trung b́nh từ 200mg đến
2500mg/ngày số lượng cần thiết calcium cho cơ thể vào khoảng từ
500-1200 mg, trung b́nh cần khoảng 600mg cho những người trưởng
thành, c̣n người trẻ đang thời kỳ phát triển cần 1200 mg, người lớn
tuổi cần khoảng 900 mg, người đàn bà mang thai hoặc có con nhỏ cần
1000-1200mg nhưng thực tế sự hấp thụ không đủ.
Theo kết quả
nghiên cứu của đại học Hiroshima do ông Arai Yoshi và ông Sakai
Kentaro th́ sự hấp thụ calcium chỉ vào khoảng 71% cho những người có
tuổi từ 15-19, và theo ông Kojima Itaru của đại học Gumma th́ sự hấp
thụ calcium ở ruột tá chỉ có khoảng 15-20% v́ vậy để có được số
lượng calcium cần thiết 600mg/ngày th́ phải ư thức được cơ chế ăn
uống.
Theo kết quả của 2 thí
nghiệm:
Thí nghiệm thứ
nhất thực hiện trên 4 người bằng cách đo số lượng calcium và so sánh
với cơ chế ăn uống khác nhau của mỗi người, và ông Kojima Itaru kết
luận rằng 2 người có số lượng calcium lớn vào khoảng 96-98% là họ
thường hay ăn cá hơn là thịt v́ cá có chứa vitamine D (vitamine
D giúp cho calcium được hấp thụ nhiều hơn) ngoài ra họ con hay ăn
quả mơ khô Nhật, quả mơ khô có chứa chất acide citrique
một loại acide hữu cơ cũng giúp cho sự hấp thụ calcium nhiều hơn, và
c̣n 2 người khác th́ thích ăn thịt và không ăn cùng lúc những thức
ăn có chứa chất acide hữu cơ nên số lượng calcium ít hơn 77-79%
Thí nghiệm thứ hai
được thực hiện trên 8 người chia ra làm 2 nhóm, nhóm thứ nhất dùng
những thức ăn chứa calcium và magnésium c̣n nhóm thứ hai dùng những
thức ăn ngoài calcium, magnésium c̣n thêm những thức ăn có chứa
vitamine D và acide hữu cơ, theo kết quả th́ họ nhận thấy rằng
số lượng calcium và magnésium được hấp thụ của nhóm thứ hai nhiều
hơn trung b́nh từ 4-6% nếu so sánh với nhóm thứ nhất.
Dưới đây là những
thức ăn chứa nhiều calcium , vitamine D, acide hữu cơ (acide
citrique, acide malique, acide acétique) và lactose:
- Thức ăn giàu
calcium: sữa, fromage, cá con phơi khô, tôm con phơi khô, yaourt.
- Thức ăn giàu
vitamine D: nấm đông cô, cá hồi, lương, nấm mèo.
- Thức ăn giàu
acide hữu cơ (acide citrique, acide malique) : chanh, bưởi, trái mơ
Nhật
- Thức ăn giàu
acide hữu cơ (acide acétique): giấm.
- Thức ăn giàu
acide hữu cơ (lactique): sữa, yaourt, fromage.
Những yếu tố có thể
ngăn trở sự hấp thụ calcium:
- Bổ sung quá
nhiều chất đạm động vật, sữa có thể làm hao tổn calcium.
- Dùng những thức
ăn chứa nhiều phosphore có thể làm mất cân bằng tỉ lệ calcium/phosphore.
- Stress.
- Nhiều caféine.
- Nhiều sodium.
- Cho những người
bị bệnh bao tử, ruột.
- Nếu không hoạt
động thể dục hàng ngày hay bất động có thể sinh ra sự ṛ rỉ calcium
từ xương qua máu, ngược lại nếu cử động thường xuyên (đi bộ nhanh,
bơi lội vân vân) có thể giúp đỡ sự hấp thụ calcium nhiều hơn. Đối
với những người trưởng thành nếu ăn uống b́nh thường th́ lượng
calcium được hấp thụ và lượng calcium bị mất có thể được cân bằng,
nhưng lúc lớn tuổi calcium mất đi nhiều hơn nên cần được sự chú ư
đặc biệt về chế độ ăn uống hoặc bổ xung thêm calcium dưới dạng thuốc
bổ.
Trong thời gian
người đàn bà mang thai và sau khi sinh con, số lượng calcium cần hấp
thụ phải được nhiều hơn nếu muốn cho sự tăng trưởng của đứa trẻ được
tốt, hơn nữa nằm trên giường một thời gian lâu sẽ làm giảm mất một
số lượng đáng kể calcium và phosphore trong đường tiểu. Nên biết
rằng số lượng calcium trong sữa mẹ ít hơn sữa ḅ nhưng sự hấp thụ
calcium của sữa mẹ rất cao so với sữa ḅ (hấp thụ calcium sữa mẹ
khoảng 50% c̣n sữa ḅ chỉ vào khoảng 15%).
Hai acides hữu cơ
có thể ngăn cản sự đồng hóa (assimilation) của calcium :
- Acide oxalique
có trong rau chút chít (oseille) và rau bi na (épinard), cây đại
bàng (rhubarbe), quả hồ đào (noix), quả phi (noisette), đậu đỏ,
cacao, chocolats
- Acide phytique
có trong bánh ḿ làm từ bột lúa ḿ chưa xay (pain complet).
Nhiều
giả thuyết cho rằng người Nhật Bản ở đảo Okinawa sống lâu, có được
tuổi thọ trung b́nh rất cao v́ những thức ăn ở đảo này rất tốt: ít
chất béo như cá, những thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành, ngũ cốc,
trái cây, rau cải, rong biển (người Nhật tiêu thụ rất nhiều
rong biển), hơn nữa người dân của đảo nầy thích ăn
trái khổ qua c̣n được gọi là mướp đắng (tiếng Pháp gọi là
concombre amer), trong trái khổ qua có chứa rất nhiều chất vitamine
và chất đạm nhất là arginine và lysine vân vân, nước uống dùng hàng
ngày của dân Okinawa cũng chứa nhiều calcium từ ṣ (calcium de
corail) rất tốt cho sức khoẻ.
Ngoài ra calcium
có nhiều trong sữa và các thức ăn khác như: quả hạnh (amande), cây
mùi tây (persil), figues (sung), cải xoong (cresson), cacao, tṛng
đỏ trứng gà, hạt mè và một vài loại cá.
Hậu quả của sự
thiếu calcium
1) Ảnh hưởng đến tế bào trong cơ
thể:
Sau đây là ư kiến
của giáo sư bác sỉ Karaki Hireaki đại học Tokyo bộ nông
nghiệp:
Calcium sau khi qua miệng,
rồi xuống đến ruột tá nơi này calcium được hấp thụ vào máu một phần
lớn calcium được tồn trữ trong xương, xương chứa khoảng 25% calcium,
khi cần thiết calcium trở về máu và vào các tế bào, hoạt động của
calcium có thể tóm tắc lại như sau: khi calcium vào trong tế bào, nó
sẽ kết hợp với oxy, lúc đó tế bào ở vị trí mở « on » và sau khi
calcium đi ra th́ tế bào ở vị trí đóng «off» đó là một đơn vị
calcium đi vào và một đơn vị calcium đi ra, thời gian cho sự hoạt
động là vào khoảng 1 giây. Nhờ có calcium mà tế bào lúc nào cũng ở
vị trí mở (bởi ảnh hưởng của sự « đóng mở » liên tục)
Calcium có nhiệm
vụ làm hoạt động hơn 60 tỷ tế bào năo trong cơ thể chúng ta. Tất cả
các hoạt động, như ăn uống, đi bộ cũng nhờ calcium,
Ảnh hưởng của calcium đến
tế bào cơ bắp: lúc calcium đi vào bên trong tế bào calcium phối hợp
với oxy, tế bào ở vị trí mở «on» cơ bắp co lại, và lúc calcium phân
cách với oxy, lúc đó tế bào ở vị trí đóng «off» th́ cơ bắp tự động
giăn ra. Nhờ những tháo tác được lập lại liên tục nầy của calcium
nên tim, mạch máu và những cơ quan khác có được trạng thái b́nh
thường, ngoài ra calcium c̣n đi vào các tế bào của hệ miễn dịch và
có nhiệm vụ giúp chúng ta bảo vệ, chống lại sự tấn công của những vi
trùng, vi khuẩn từ bên ngoài.
Nếu thiếu calcium
trong máu hoặc ngoài tế bào, tế bào này sẽ bị nguy hiểm v́ bởi sự
thiếu thốn nầy, v́ lối vào của tế bào lúc nào cũng được mở rộng
trong khi đó lối ra của tế bào không thay đổi nên cửa ra có thể bị
nghẽn và gây ra nhiều hậu quả xấu:
- Làm cản trở sự vận
hành của tế bào: co rút, phập pḥng.
- Ảnh hưởng rất xấu
cho hệ cơ bắp, mạch máu và tim.
- Làm rối loạn và
mất cân bằng của sự tiết hormone.
- Có thể dẫn đến sự
mất trí nhớ, làm giảm lực đề kháng.
Để giải quyết sự ứ
động của calcium bên trong tế bào nầy th́ hạt thể (mitochondries)
được kích hoạt, nó tổng hợp adénosine dưới dạng ATP (Adénosine
TriphosPhate) và dùng như một nguồn năng lực để hấp thụ
calcium nầy, nếu trường hợp nầy kéo dài th́ những thể hạt
(mitochondries) bị yếu dần, hoạt động của tế bào bắt đầu chậm lại và
sự lăo hóa sẽ nhanh lên và nếu thời gian nầy kéo dài 5-10 năm
vấn đề quan trọng về huyết áp, tim mạch sẽ bắt đầu.
Một thí nghiệm về
sự lăo hóa do thiếu calcium cũng do bác sĩ giáo sư Karaki Hireaki
thực hiện:
Thí nghiệm nầy thực
hiện trên 5 người đàn bà trên truyền h́nh quốc gia được 100 khán già
tham giả trực tiếp, 5 người đàn bà này có tên tượng trưng là A,B,C,D
và E, kết quả của khán giả phần đông cho rằng: B: 40 tuổi, D và E:
34 tuổi, A và C: 29 tuổi
Nhưng thực tế tất
cả 5 người đều đồng tuổi là 31 tuổi, sau khi đo kết quả calcium
trong xương của mỗi người: B:76%, D,E: 88% và A,C: 97%. do đó giáo
sư Hireaki kết luận rằng sự lăo hóa rất nghiêm trọng của cơ thể do
sự thiếu hụt calcium
2) Ảnh hưởng đến hoạt
động của năo
Calcium rất quan
trọng cho sự hoạt động của năo, tốc độ đi vào và đi ra khỏi tế bào
năo của calcium là rất nhanh ( 0,001 giây) nhanh gấp 1000 lần nếu ta
so sánh với các tế bào khác trong cơ thể
Thí nghiệm do giáo
sư bác sỉ Fujita Takuo đại học Kobe bộ y học, thí nghiệm nầy
được thực hiện trên 30 người, lượng calcium của những người này được
biết qua bởi kết quả của mật độ xương của mỗi người. Hơn 60%
không có đủ calcium, trong số những người này được chia ra làm 2
nhóm mỗi nhóm 10 người, nhóm 1 với lượng calcium đầy đủ c̣n nhóm 2
không đủ calcium, v́ calcium là một yếu tố cần thiết cho sự truyền
tin năo, người ta đo tầng sóng cực tím th́ nhận thấy sự khác biệt là
nhóm 1 có tầng sóng cực tím không bị phân tán, và những người này
rất vô tư, b́nh thản trái lại nhóm 2 tầng sóng cực tím bị phân tán
và những người này thiếu tập trung, rất nhạy cảm, nóng nảy.
Nguồn gốc của sự
bồn chồn nóng nảy
Khi
thiếu calcium trong máu, vị trí « tất mở » của tế bào lúc nào cũng ở
vị trí mở «on » thần kinh rất nhạy cảm, sự truyền tin bị rối loạn,
bên nhận tin cũng bị ở trong trạng thái lẩn lộn (confusion)
và sự nóng nảy, mất tự chủ bắt đầu.
Khả năng trí
nhớ bị yếu kém
Trí nhớ được thực
hiện trong một phần của năo có tên là «hippocampe» (xem sự truyền
tin này ở phần chất đạm của acide glutamique), cũng như sự lăo hóa
khi calcium đi vào và bị tồn động bên trong tế bào, nếu thời gian
kéo dài hoạt động của thể hạt (mitochondrie) giảm dần và có thể
ngưng hoàn toàn, lúc đó những tế bào năo sẽ bị chết. Mỗi ngày có
hàng trăm ngàn tế bào năo bị chết nếu không được thay thế, năo sẽ bị
hư hại. Bệnh Alzheimer là một chứng bệnh do thiếu hụt calcium lâu
dài gây tổn hại cho tế bào năo.
3) Sỏi thận
Thí
nghiệm do giáo sư bác sỉ Karaki Hireaki đại học Tokyo thực hiện:
Sỏi thận (chất
không ḥa tan trong nước) phần lớn do sự phối hợp giữa acide
oxalique và calcium cho ra một chất muối là oxalate de calcium (khoảng
80%) c̣n lại là phosphate và carbonate de calcium. Nhiều người cho
rằng sỏi thận gây ra bởi sự hấp thụ quá nhiều calcium nhưng thực tế
lại trái ngược, sau nhiều nghiên cứu ông Karaki Hireki cho rằng
nguyên nhân gây ra sỏi thận là do thiếu calcium, thực ra nếu số
lượng calcium dư thừa ở ruột tá (duodenum) calcium sẽ hóa hợp với
acide oxalique và sẽ được đào thải, ngược lại nếu thiếu calcium
acide oxalique sẽ xuống đến thận và phối hợp với calcium để cấu
thành oxalate de calcium, v́ không ḥa tan được trong nước nên lâu
ngày oxalate de calcium lớn dần và thành sỏi thận.
Để xác định kết
quả trên có một thí nghiệm khác được thực hiện trên những người đàn
bà từ 27-44 tuổi, theo kết quả này th́ những người hấp thụ calcium
đầy đủ, bệnh sỏi thận giảm hơn 27%
4) Loăng xương
(ostéoporose)
Xương có thể xem
như kho tồn trữ calcium cung ứng cho những sự tiêu dùng ưu tiên của
những tế bào.
Xương được hấp thụ
ở ruột tá, nó tham gia vào việc đông máu và cho hệ năo, sự cân bằng
của calcium tùy thuộc vào vài chất hormones, sự đồng hóa calcium sẽ
bị cản trở nếu thức ăn giàu acide nhưng muốn sự hấp thụ tốt th́ thức
ăn phải có được độ acide-base cân bằng, nếu không có sự cân bằng th́
sẽ gây đến sự nguy cơ bị mất calcium nhiều hơn là hấp thụ.
Số lượng xương đạt
đến mức cao nhất là vào khoảng tuổi 30, sau đó số lượng dự trữ
calcium sẽ bị thất thoát từ từ nhất là đối với những người đàn bà
sau măn kinh (ménopause), nếu không được bổ sung xương sẽ bị
lún (tassement) và có thể trở nên gịn, mất tính chất đàn hồi.
Trên lư thuyết số
lượng calcium được cung cấp có thể duy tŕ cho sự chuyển hóa của
xương, nhưng những lời khuyên về việc bổ sung calcium chỉ nói về vấn
đề hấp thụ bằng những thức ăn giàu calcium mà không nói đến sự thất
thoát calcium qua đường tiểu do cơ chế ăn uống tùy sở thích. Nhiều
người sống ở những nước phát triển thường được bổ sung quá nhiều
chất đạm và muối (chlorure de sodium) mà không ư thức được cơ
chế bổ sung này sẽ làm mất calcium rất nhiều, hậu quả là calcium tự
động được lấy từ xương để thỏa măn nhu cầu của tất cả tế bào nếu
trường hợp nầy được kéo dài xương sẽ bị thoái hóa.
Ghi chú: ta có
thể so sánh sự tồn trữ calcium như một thùng chứa nước mà thùng bị
thủng đáy, dầu cung cấp rất nhiều nhưng thùng nước vẩn không bao giờ
đầy.
Phương pháp tốt
nhất là nâng cao sự ăn uống với những thức ăn giàu calcium và đề
pḥng sự đào thải calcium qua đường tiểu.
5) Vai tṛ của những
thức ăn giàu chất kiềm (alcanalisant)
Cơ chế ăn uống
acide hay basique ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc của xương, mỗi
lần có sự quá độ về acide th́ cơ thể sẽ tiết calcium ra để trung ḥa
số lượng acide dư thừa. Nếu lúc nào cũng được cung cấp đầy đủ những
thức ăn có chất kiềm nhất là những thức ăn chứa nhiều potassium th́
cơ thế của chúng ta có thể đề pḥng được sự thất thoát calcium của
xương.
Một thí dụ về cơ
chế ăn uống: không nên ăn trứng, cá, thịt cùng với bánh ḿ trắng, ḿ
Ư (pates), gạo trắng v́ những chất nầy không chứa chất kiềm mà nên
ăn cùng với rau cải và trái cây có nhiệm vụ trung ḥa acide dư thừa
của những thức ăn giàu acide như thịt cá.
Chúng ta có thể
kết luận rằng cơ chế ăn uống phải được cân bằng về độ acide-base để
có thể làm chậm lại sự loăng xương. Thể thao cũng là một phần quan
trọng cho việc bảo vệ xương, phải tiêu hủy những ǵ dư thừa và bảo
vệ những ǵ cần thiết cho cơ thể.
MAGNÉSIUM
Magnésium
là một yếu tố hóa học, vai tṛ quan trọng của magnésium là giữ ǵn
sự cân bằng cho cơ bắp và năo, làm thư giăn cơ thể, thường
magnésium được phối hợp với calcium và phosphore nhất là trong xương
(xem tỉ lệ calcium và magnésium trên trang 27) nó tham gia
vào sự điều tiết nhịp đập của tim, trong sự vận hành
cơ bắp và trong sự truyền luồng thần kinh, phần lớn magnésium
được t́m thấy trong xương, răng và gan, có trong mỗi tế bào của cơ
thể, tham gia vào nhiều phản ứng chuyển hóa của cơ thể.
Cơ thể chúng ta có
vào khoảng 25g magnésium, 60% được chứa trong xương có nhiệm vụ duy
tŕ cấu trúc của xương, 25% dùng cho cơ bắp, làm cho cơ bắp được thư
giăn, phần magnésium c̣n lại cho năo, và những cơ quan như: tim, gan
và thận.
Nhiệm vụ quan
trọng của magnésium là chống lại sự mệt mỏi, lo lắng, stress, làm
giảm lượng cholestérol. Đối với đàn bà có mang, magnésium có nhiệm
vụ làm giảm những sự cố như sẩy thai hoặc sinh con sớm, giúp đỡ
chống lại sự hao tổn magnésium cho những người uống rượu, bệnh tiểu
đường, bị tiêu chảy hoặc những người đàn bà uống thuốc ngừa thai.
Người ta cho rằng
magnésium là chất đốt (carburant) cho năo, v́ magnésium tham
gia tích cực cho sự truyền tin giữa những tế bào năo, mỗi
ngày chúng ta hoạt động, suy nghĩ nên sinh ra mệt, yếu về tinh thần
lẩn thề xác những sự kiện nầy khiến cho sự tiêu thụ magnésium tăng
cao nên có thể bị thiếu magnésium, thiếu magnésium sẽ làm cho ta bị
bồn chồn, lo lắng, trầm uất, cơ bắp bị co rút, rối loạn tim mạch,
huyết áp cao và bị loăng xương, phải được bù đấp bằng cơ chế cân
bằng về ăn uống.
Lượng magnésium
cần thiết cho cơ thể vào khoảng 350-420 mg/ngày, cũng như calcium
lượng magnésium cần cho sự bù đắp sẽ cao hơn cho người đàn bà có
thai hoặc cho những người làm thể dục quá độ.
Magnésium có trong
quả phi (noisette), quả hạnh (amande), cacao, trái cây khô, trong
nước uống, đồ ăn biển, cá, muối ngoài ra rau pi na (épinard) và ngũ
cốc có nhiều magnésium nhưng v́ épinard có chứa acide oxaliques
và trong ngũ cốc chưa xay (complet) có chứa polysaccharides và
acide phytiques nên những chất nầy có thể cản trở sự hấp thụ của
magnésium. Nước khoáng Hépar và Contrex chứa nhiều magnésium.
PHOSPHORE
Phosphore
là một yếu tố hóa học, là một chất khoáng thường được hóa hợp với
calcium và magnésium cần thiết cho cấu trúc của xương, có nhiệm vụ
làm cho răng, xương trong cơ thể được tốt, tham gia vào sự vận hành
tốt của năo, của cơ bắp cũng như cho sự cấu tạo của tế bào, tham gia
vào hầu hết tất cả những phản ứng hóa học, vào sự hấp thụ, biến đổi
của một vài chất dinh dưỡng, vai tṛ chính của phosphore là sự
chuyển hóa của calcium
Phosphore là một
thành phần của những hợp chất sinh học (acide nucléiques của ADN và
phospholipides của những màng tế bào) tham gia vào sự cung cấp năng
lượng cho cơ thể.
Thiếu phosphore sẽ
gây ra sự thiếu nhạy cảm, làm yếu cơ bắp và làm cho hơi thở không
được điều ḥa
Phosphore có đầy đủ trong
hầu hết tất cả thức ăn trừ đường và dầu ăn, lượng phosphore cần
thiết cho cơ thể là khoảng 750 mg/ngày số lượng nầy có thể nhiều hơn
cho những người đang trong thời kỳ phát triển hoặc cho đàn bà mang
thai. Nhưng nếu hấp thụ quá nhiều lượng phosphore và tỉ lệ
calcium/phosphore bị giảm sẽ gây ra ảnh hưởng không tốt trên sự
khoáng hóa xương, tỉ lệ nầy phải từ 1,2-1,6 v́ vậy nên cẩn
thận không nên dùng trên 2500mg phosphore/ngày.
Phosphore có nhiều
trong thức ăn như: sủa bột, fromage, hạt điều (noix d'acajou), quả
hồ đào (noix), quả phi (noisette), thịt, cá, mầm đậu nành, chocolat,
trài cây khô, yaourt.
SODIUM
Sodium
(Na) là một chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, một chất khoáng
có nhiều trong cơ thể, nhứt là trong huyết tương 3,2 gr/litre, xương
chứa 40% sodium khoảng 40g, ngoài ra c̣n có trong bạch huyết cầu và
trong chất lỏng trong các cơ quan, gần bằng số lượng trong huyết
tương, tham gia vào sự vận hành tốt cho cơ bắp, cần thiết cho sự
truyền luồng thần kinh, đóng vai tṛ cho sự truyền tin tế bào
(communication cellulaire), giúp vào sự điều tiết huyết áp động mạch,
nó điều chỉnh sự khát nước có nghĩa là sodium có khả năng điều chỉnh
sự tồn trữ chất nước trong các cơ quan, sodium được kiểm soát bởi
nhiều hormones và được đào thải bởi đường tiểu hoặc phẩn.
Thông thường cơ
thề chúng ta cần ít nhất 2 gr/ngày, chính phủ Canada khuyên nên dùng
khoảng 1,5 g/ngày và nhiều nhất là 2,3 g/ngày, nhưng thực tế số
lượng sodium có thể lên đến 9-10 gr/ngày, nhiều nghiên cứu cho rằng
không nên dùng quá 2,5 gr/ngày v́ sẽ nguy hiểm cho tim, mạch máu năo
và thận. Khi làm thể dục quá độ, hoặc khi khí hậu quá nóng sẽ
có ảnh hưởng đến sự hao tổn và dẫn đến sự thiếu hụt sodium, hiện
tượng nầy sẽ gây ra sự bất tỉnh, co rút cơ bắp, mất ngủ và bị mất
nước.
Sodium có nhiều
trong muối ăn dưới dạng clhorure de sodium, ngoài ra c̣n có trong
thức ăn như đồ ăn biển, trong các thức ăn công nghiệp như xúc xích,
đồ ăn hộp, fromage, các món ăn khai vị (khoai lang tây chiên,...)
ngoài ra có nhiều trong nước uống hàng ngày.
Phần lớn sodium
được đào thải qua đường tiểu, rất ít qua mồ hôi và nước mắt.
POTASSIUM
Potassium là một
chất khoáng thiết yếu bảo đảm nhiều chức năng quan trọng cho cơ thể,
giúp cho sự đề pḥng và giảm bệnh cao huyết áp, đề pḥng bệnh sỏi
thận, và những tai nạn mạch máu năo, tác động trong sự vận hành năo,
cơ bắp (co rút cơ bắp). Potassium phối hợp và tác động chặc chẻ với
sodium để duy tŕ cân bằng độ acide cho cơ thể, thiết yếu cho
sự co giăn cơ bắp, cơ tim, tham gia vào sự vận hành tốt cho thận,
góp phần vào những phản ứng enzymatique, cho sự tổng hợp nhiều chất
đạm, cho sự chuyển hóa nhiều chất đường.
Thông thường người
ta có khuynh hướng dùng quá nhiều sodium và tỉ lệ
potassium/sodium bị mất cân
bằng, sự mất cân bằng nầy phát sinh những bệnh cao huyết áp động
mạch, làm mất calcium sinh ra sự rối loạn tim và năo, bệnh loăng
xương và sỏi thận . Để tránh sự mất cân bằng potassium/sodium, không
dùng quá 2,5 gr sodium/ngày, nên dùng những thức ăn có chứa nhiều
potassium và lượng hấp thụ potassium phải cao hơn gấp 4 lần sodium,
nhưng nếu số lượng potassium quá cao có thể dẫn đến nguy hiểm cho
tim
Potassium có nhiều
trong các thức ăn: đậu trắng (haricot blanche), đậu lăng (lentille),
trái cây khô: sung (figue), quả chà là (datte), hạt đào lạc (pistache),
quả hồ đào (noix), quả hạnh (amande), khoai lang tây, rau cải xanh (nếu
nấu chín sẽ mất khoảng 50-70%), trái cây tươi: chuối, cam quít (agrume),
quả lư đen (cassis) ngoài ra có trong chocolat, thịt, cá.
SẮT
( fer)
Chất sắt là một
trong những chất muối khoáng cần thiết cho những vận hành tốt của cơ
thể, là một thành phần chính trong hàng tỷ tế bào hồng huyết cầu,
chất sắt hóa hợp với chất đạm huyết cầu tố (hémoglobine) bảo đảm cho
sự vận chuyển oxy đến tất cả những tế bào trong cơ thể. Chất sắt c̣n
giữ vai tṛ thiết yếu trong nhiều hoạt động sinh học, tốt cho sự vận
hành của hệ miễn dịch.
Sắt có dưới hai
dạng:
- Sắt héménique
là loại sắt có trong máu của thịt, nhất là trong hồng huyết cầu, sắt
héménique được hấp thụ nhiều hơn chất sắt non héménique khoảng 25%.
- Sắt non héménique
là loại sắt có trong thực vật (trà, café, tṛng đỏ trứng gà, nhưng
thức ăn chế biến từ sữa nhưng lượng hấp thụ rất ít khoảng 5%.
Số lượng cần thiết
cho người trưởng thành là khoảng 14mg/ngày nếu ăn uống cân bằng th́
số lượng này đủ để cung cấp cho cơ thể, nhưng đối với người đàn bà
có kinh (chất sắt có thế bị mất 15-25 mg/ngày hoặc đối với người
mang thai số lượng cần thiết có thể lên đến
30-50 mg/ngày.
Vitamine C có vai
tṛ kích thích sự hấp thụ của chất sắt.
Có trong những thức ăn:
dồi lợn đen (boudin noir) 22 mg/100gr, thịt bồ câu: 20mg/100gr, gan:
15 mg/100gr, cacao: 12,5 mg/100gr, cật: 9 mg/100gr, mầm lúa ḿ: 4,8
mg/100gr, thịt trừu, thịt ḅ: 2-3,5 mg/100gr, rau pina (épinard)
có tiếng là chứa nhiều chất sắt nhưng thực tế chỉ có 2,5 mg/100gr.
Thiếu
chất sắt sẽ dẫn đến t́nh trạng thiếu máu kéo theo sự giảm khả năng
hoạt động về thể xác và trí tuệ, giảm sức đề kháng, thiếu chất sắt ở
người đàn bà mang thai, hài nhi có thể bị nguy hiểm.
KẼM
(zinc)
Kẽm là một
oligoélément tham gia vào rất nhiều phản ứng enzymatique (hơn 200
enzymes) và đóng vai tṛ quan trọng sự chuyển hóa chất đạm, chất béo
và chất đường, là một chất chống oxy hóa có nhiệm vụ đề pḥng những
hậu quả gây ra bởi những gốc tự do (radicaux libres), chất kẽm có
chức năng như chất kháng sinh tétracycline cho sự chửa trị
bệnh mụn trứng cá, chất kẽm c̣n có vai tṛ quan trọng trong hầu hết
tất cả giai đoạn sản xuất chất đạm và tái tạo tế bào, làm lành vết
thương, cho sự tăng trưởng (trẻ em thiếu chất kẽm sẽ bị chậm trễ sự
tăng trưởng), bảo vệ sự miễn dịch, tốt cho thị lực.
Gan có vai tṛ
quan trọng trong sự chuyển hóa kẽm trong cơ thể, 30% kẽm được t́m
thấy trong xương và 60% kẽm được t́m thấy trong cơ bắp.
Chất kẽm có trong
động vật sẽ được hấp thụ tốt hơn, mỗi ngày trung b́nh chúng ta cần
khoảng 15 mg chất kẽm có trong những thức ăn như: hào (huitre): 16
mg/100gr, gan ḅ, gan heo: 9 mg/100gr, mầm lúa ḿ: 7mg/100gr, bánh
ḿ có nguồn gốc lúa ḿ chưa xay: 5 mg/100gr, thịt ḅ: 4 mg/100gr,
tṛng đỏ trứng gà: 4 mg/100gr, cá da trơn: 2,5 mg/100gr.
IODE
Iode
là một thành phần cần thiết của thực phẩm, là một oligoélément cần
thiết cho sự cấu tạo những hormones thyroide và cho sự vận hành tốt
của tuyến này, những hormones này rất quan trọng từ giai đoạn hài
nhi đến tuổi dậy th́ và suốt quá tŕnh của đời sống. Khi cơ thể hấp
thụ ít chất iode nếu kéo dài sự thiếu thốn này, tuyến giáp sẽ lớn
dần và bướu sẽ h́nh thành. Iode được hấp thụ trong bao tử và ở phần
ruột tá (duodénum) iode được tồn trữ trong tuyến giáp (thyroide) và
được bài tiết qua đường tiểu. Số lượng iode cần thiết cho người
trưởng thành là khoảng 150 µg, tuy nhỏ nhưng rất quan trọng v́ cơ
thể chúng ta không thể tồn trữ iode được lâu.
Nếu thiếu iode sẽ gây
ra sự cương máu ở những tuyến (biểu
hiện bởi bướu), kéo theo sự chậm trễ cho tăng trưởng và gây ra sự
biến loạn trí tuệ, sinh ra mệt mỏi, quên, tâm trạng u buồn. Những
người sống trên núi thường hay bị thiếu iode v́ không có phương tiện
để hấp thụ iode từ muối biển sự kiện nầy ảnh hưởng đến h́nh thể con
người hoặc dị h́nh hay lùn và có thể ảnh hưởng đến hài nhi.
Những ngươi thiếu
iode là những người bị nghiện thuốc lá, người ăn chay trường, người
tập thể dục quá độ và nhất là đàn bà có thai.
Nếu dùng quá độ
lượng iode sẽ gây ra tính nóng nảy, dễ cáu, mất ngủ
Có trong những thức ăn:
nhiều nhất là muối biển, rong biển, đồ ăn biển, cũng có trong bánh
ḿ, sữa, đậu nành.
SÉLÉNIUM
Sélénium là một
yếu tố hóa học, là một oligo élément và là một tiền chất của
glutathion chất chống oxy hóa rất hữu nghiệm.
- Ảnh hưởng đến tim mạch:
bên Tàu có chứng bệnh gọi là « bệnh Keshan » là những bệnh
nhân ở vùng có tên Keshan, đất ở vùng nầy chứa rất ít sélénium nên
gây ra những bệnh về cơ tim có thể dẫn đến tử vong.
- Điều chỉnh cao máu:
thiếu sélénium có thể dẩn đến bệnh cao máu, số bệnh nhân ở những
vùng ít sélénium có thể cao hơn 3-4 lần.
- Sélénium giúp cơ thể
sản xuất chất glutathion péroxydase, enzyme này phối hợp với
vitamine E bảo vệ chống lại oxy hóa gây ra bởi những gốc tự do,
chống lại sự lăo hóa của những tế bào, ảnh hưởng tốt cho hệ miễn
dịch.
- Đề pḥng ung thư: ở Mỹ
kết quả của nghiên cứu dịch tể học phát hiện rằng những bệnh ung thư
vú, ung thư ruột già, ung thư phổi, thường xảy ra ở những vùng thiếu
sélénium.
- Thiếu sélénium sẽ làm
giảm một lượng quan trọng glutathion péroxydase và làm tăng lượng
péroxyde trong tất cả tế bào (độc hại cho tế bào) ảnh hưởng đến thể
thủy tinh (cristallin) của mắt và có thể gây ra bệnh đục
thể kính (cataracte), sélénium tham gia vào quá tŕnh của thị
giác bằng cách nâng cao tính nhạy của ánh sáng.
- Tê liệt cơ bắp: năm
1965 giáo sư Lamand chứng tỏ rằng nếu thiếu sélénium trong thức ăn
của ḅ con, lâu ngày ḅ mất ăn, cơ bắp không được phát triển tốt,
sinh ra cử động khó khăn, ảnh hưởng đến cơ hô hấp và ḅ có thể tử
vong. Ở người nếu thiếu sélénium sẽ gây ra những bệnh như rụng tóc,
móng tay chân, viêm da và cơ bắp bị tê liệt.
Người trưởng thành
cần khoảng 55 µg/ngày, đàn bà mang thai: 60 µg/ngày, sélénium có
trong thức ăn thực vật và động vật, toàn cơ thể chứa khoảng từ 12-15
mg, phải được hấp thụ từ thức ăn v́ cơ thể không tổng hợp được
Tôm hùm: 100
µg/100gr, hào (huitre): 77-154 µg/100gr, cá thu, cật, gan ḅ con:
60-80 µg/100gr, ṣ điệp
(coquille saint jacque), tôm: 50 µg/100gr, trứng: 20 µg/100gr, rau
cải: 1-2 µg/100gr.
Vài thí dụ đáng
chú ư:
- Quả hồ đào
(Noix) Brésil chứa rất nhiều sélénium: một hạt noix Brésil (5 gr/hạt)
chứa 95µg sélénium
- Gạo chưa xay
chứa sélénium cao gấp 15 lần gạo đă xay.
NƯỚC
Nước
là một thành phần cấu tạo chánh của cơ thể, nước chiếm vào khoảng
65% trọng lượng của cơ thể. Nước cần thiết cho sự sống của những tế
bào và giúp cho sự tuần hoàn máu
Cũng như oxy cơ
thể ta không có nước dự trữ, mỗi ngày cơ thể chúng ta đào thải trung
b́nh 2,5 lít nước qua đường tiểu, hô hấp, mồ hôi và những hoạt động
hàng ngày và phải bổ sung bằng phương thức ăn uống, trung b́nh trong
thức ăn chứa vào khoảng 1 lít nước/ngày và cần phải uống thêm 1,5
lít nước để có được số lượng cân bằng với số lượng bị đào thải, hơn
nữa cơ thể ta không cho phép bị mất quá 3% nước mỗi ngày.
Uống nước đầy đủ
hàng ngày có thể ngừa được bệnh sỏi thận và tránh viêm đường tiểu,
trái lại nếu thiếu nước sẽ gây ra nhiều tai hại có thể dẫn đến tử
vong nhất là cho những người nhỏ tuổi, già và những người bệnh. Nước
tham gia vào sự vận hành tốt cho cơ thể, đối với những người lớn
tuổi mặc dù không cảm thấy khát nước nhưng cần phải uống nhiều nước
để có được sự cân bằng.
Trong trường hợp
chúng ta làm thể dục, khí hậu oi bức hoặc bị bệnh, lượng nước hấp
thụ cho cơ thể phải được cung cấp nhiều hơn, những người làm thể dục
nên uống nước nhiều lần trước khi, trong khi và sau khi thực hành để
cơ thể đào thải dễ dàng những chất bă sinh ra, chất bă nầy là hậu
quả của sự sản xuất năng lượng của cơ thể.
|
Hoạt động |
Mất nước |
Mất chất muối |
|
B́nh thường |
0,3 lit |
2 gr/24 gio |
|
Thể dục nhẹ |
1 lit |
4 gr/24 gio |
|
Thể dục mạnh ở nhiệt độ cao |
>2 lit |
>6-7 gr/24 gio |
Đối với những chứng bệnh
như nóng lạnh, tiêu chảy, ói mửa, cơ thể bị mất nước rất nhiều cần
được bổ sung, nên uống nước nhiều lần mỗi lần một lượng nhỏ.
Ở những nước phát triển
nước uống có hai loại chánh là nước khoáng và nước dùng hàng ngày (nước
robinet) trái lại ở những nước đang phát triển v́ việc xử lí nước
chưa được hoàn hảo nên cần phải đun sôi để nguội hoặc lọc trước khi
dùng, nhất là đối với những đứa trẻ mới sinh dưới 6 tháng không nên
dùng nước máy (nước robinet) v́ nồng độ nitrate cao nếu trên 15 mg/lít
sẽ cho kết quả độc hại cho đứa bé, hơn nữa số lượng chất khoáng phải
ít hơn
500 mg/lít v́ thận của đứa bé
sẽ bị quá tải và không tốt cho sức khoẻ, v́ vậy phải cẩn thận chọn
lựa nước khoáng vô vi khuẩn và ít nitrate cho đứa bé dưới 6 tháng.
Ngoài ra nước là
một dung môi có thể làm loăng độc tố sau đó sẽ được đào thải ra
ngoài, pHi của nước trung b́nh pHi=7 nên nước có thể trung ḥa một
phần acid dư thừa trong bao tử trong những trường hợp như bị stress,
ăn nhiều thịt, uống nhiều sữa vân vân.
Nên dùng
lượng nước theo đúng phương pháp để có được sự điều chỉnh b́nh
thường nhiệt độ cho cơ thể, tham gia vào sự vận hành tốt cho năo,
cho tế bào, cho cơ bắp và thận.
Mất nước có thể
làm cho ta mất tập trung, nước giúp cho sự tiêu hóa, nước tham gia
vào sự vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các bộ phận của cơ thể.
Phần kết
Năm chất c̣n được
người xưa gọi là ngũ chất: chất đạm, chất béo, chất đường,
chất khoáng và chất vitamine, ngoài ra c̣n có ngũ vị: chua,
cay, mặn, ngọt và đắng và ngũ sắc: trắng, xanh, vàng, đỏ và
đen. Những chất nầy được bổ túc và hỗ trợ cho nhau để giúp cho cơ
thể được tồn tại trong trạng thái b́nh thường, cấu trúc của cơ thể
ta rất tinh vi, phức tạp, bên trong cơ thể chúng ta có nhiều chất
hóa học, bên ngoài có nhiều loại thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng
khác nhau như vậy rất khó để có thể biết tất cả những ǵ xảy ra hàng
ngày trong các cơ quan, càng phức tạp hơn khi mỗi cơ quan của mỗi
người lại có sự vận hành khác nhau dính liếu tới sự di truyền như
bệnh tiểu đường, bệnh suyễn vân vân, dinh dưỡng có thể tốt cho một
số người nhưng lại không hợp cho một số người khác. Nhưng nói chung
tế bào của tất cả cơ quan trong cơ thể hoạt động liên tục qua nhiều
phản ứng sinh hóa học và phát sinh ra nhiều gốc tự do, mỗi ngày số
tế bào bị hủy hoại và mất đi rất nhiều nên cần phải được thay thế.
Hơn nữa những nhà
nghiên cứu dinh dưỡng Nhật Bản thường hay khuyên rằng mỗi ngày nên
ăn uống trên 20 chất bao gồm ngũ chất, ngũ vị và ngũ sắc (thịt, cá,
sữa, rau cải, ngũ cốc, trái cây) để có được cân bằng về dinh dưỡng.
Nên cẩn thận về sự
hấp thụ chất béo như tránh những thức ăn chứa nhiều chất béo bảo ḥa
và chất béo trans. Dùng ít đường đơn c̣n gọi là đường trực tiếp.
Muốn có được sức
khoẻ tốt, nên bắt đầu từ lúc c̣n trẻ, không nên ăn uống tùy sở thích,
mà nên theo một cơ chế ăn uống cân bằng, nên thận trọng hơn bắt đầu
từ tuổi 30 trở lên, v́ lúc nầy tế bào mất đi nhiều hơn là tái tạo
đó là hậu quả của sự lăo hóa tự nhiên, nên sự cân bằng giữa sự hấp
thụ và sự đào thải sẽ bị thay đổi v́ vậy cơ thể ta cần được bổ sung
thêm những chất cần thiết để giúp cho sự vận hành của tất cả các cơ
quan được tốt và để làm giảm sự lăo hóa, nâng cao hệ miễn dịch, có
được sức đề kháng tốt
Thể dục là phương
pháp rất hữu ích cho việc đào thải những chất bă dư thừa trong cơ
thể, chất dư thừa nầy có thể làm rối loạn cân bằng của những chất
đạm, chất béo, chất đường và dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm cho cơ thể.
Nên
có cơ chế ăn uống cân bằng, ư thức được vai tṛ và nhiệm vụ của mỗi
loại dinh dưỡng cho cơ thể một cách khoa học tùy theo tuổi, phái,
t́nh trạng sức khoẻ của mỗi người, không tùy sở thích th́ dinh dưỡng
sẽ giúp cho ta tránh được nhiều sự suy yếu của cơ thể.
Từ xưa ông bà chúng
ta có câu « con mắt to hơn cái bụng » trước những bửa tiệc ngon
chúng ta có khuynh hướng ăn uống nhiều, hiện tại nhiều nhà nghiên
cứu về dinh dưỡng khuyên rằng nên ăn khoảng 7/10, c̣n lại 3/10 để
lại cho vài món ăn tráng miệng tốt nhất là trái cây, giúp cho sự
tiêu hóa, giúp cho sự điều ḥa độ acide trong cơ thể và tránh sự làm
việc quá tải của các cơ quan.
Tham khảo
Những tài liệu
dùng để viết bài nầy phần đông được tham khảo trên sách vở, báo chí
của Pháp và Nhật Bản nhất là những kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng
của nhiều giáo sư tại các đại học Nhật Bản, ngoài ra có những tài
liệu được trích ra từ những thông tin trên mạng internet.
Vài
lời tâm sự
Trước
hết tôi mong rằng bài viết này sẽ hữu ích cho tất cả mọi người nhất
là toàn thể gia đ́nh exryu trong sự đề pḥng và bảo vệ sức khoẻ của
ḿnh kế đến tôi cũng hi vọng rằng những tài liệu này sẽ góp một phần
nhỏ vào thư viện của anh Nguyễn Văn Chuyển mà chúng tôi thường gọi
anh là “Chuyển sensei” như chị Lê Thị Hàn mỗi khi nhắc đến anh, một
người bạn thân đă ra đi quá sớm.
Tôi không phải là
người chuyên môn về dinh dưỡng, nhưng lư do chánh mà tôi viết được
bài nầy là nhờ anh Chuyển đă gợi ư cho tôi. Tôi và Chuyển cùng vài
người bạn thân khác qua Nhật Bản cùng năm.
Sau khi học xong tiếng
Nhật, anh Chuyển ở lại Tokyo và vào Todai c̣n tôi xuống Kyoto và vào
Kyodai. Trong thời gian miệt mài ở đại học
chúng tôi cũng có dịp gặp lại vài lần. Sau
khi tốt nghiệp Chuyển ở lại Nhật và tiếp tục cao học, c̣n tôi lại
phiêu lưu thêm một lần nữa, tôi qua Pháp. Từ đó đến khi biết được
hung tin của anh Chuyển, thời gian trôi qua quá nhanh cũng đă hơn 40
năm, trong thời gian này chúng tôi được gặp lại nhau chỉ có 4 lần,
có lẽ v́ công ăn việc làm hơn nữa mỗi người, mỗi nơi quá xa xôi, lại
bận rộn cho gia đ́nh. Chúng tôi đă gặp
nhau hai lần ở Việt-Nam và hai lần ở Pháp. Trong hai lần gặp nhau ở
Pháp, Chuyển có dịp đến thăm tôi vài ngày, nơi tôi làm việc cách
Paris hơn 125 km về phía bắc. Sau khi biết
được công việc của tôi, Chuyển có tâm sự và khuyên tôi nên viết một
bài về những ǵ tôi đang làm, xí nghiệp này chuyên về sản xuất chất
amino acides (một phần trong dinh dưỡng có nguồn gốc từ chất đạm
động vật) bằng phương pháp khá đặc biệt và cần một kỹ thuật rất cao
giống như phương pháp ứng dụng trong pḥng thí nghiệm là HPLC (high
performance liquid chromatographie). Có lẽ
Chuyển nghĩ rằng phương pháp nầy sẽ rất hữu dụng cho Việt Nam hơn
nữa nguyên liệu dùng để sản xuất những amino acides này ở Việt-Nam
có rất nhiều và rất rẻ (lông gà, lông vịt, xương ḅ, da ḅ, xương
heo, da heo, gélatine). Tôi đă nói với
Chuyển rằng một lúc nào đó tôi sẽ viết v́ lúc đó bản quyền của phương pháp sản xuất những chất
đạm này c̣n giá trị (trong thời gian c̣n làm việc, hăng này đứng đầu
Âu-Châu và xếp hàng thứ 2 thế giới sau hăng Ajinomoto về lượng sản
xuất những chất đạm). Sau khi Chuyển mất, tôi bắt đầu học hỏi, t́m
ṭi những tin tức liên quan đến dinh dưỡng nhất là sau khi tôi có
dịp nghiên cứu về một chất khoáng quan trọng là calcium (calcium
marin có nguồn gốc từ vỏ ṣ) và từ đó tôi bắt đầu viết lên được bài
này.
V́ không phải là
chuyên môn trong dinh dưỡng nên nội dung bài nầy chắc sẽ có những
sai sót, vậy nếu có nhờ các bạn chỉ dẫn và bổ túc cho.
Phần
hai của bài viết này: công nghệ sản xuất chất amino acides sẽ được
thực hiện sau.
Nguyễn Hoàng Anh
Paris
8/2009
|
* Vài
hàng về anh Nguyễn Hoàng Anh.
Anh Nguyễn Hoàng Anh qua Nhật năm 1963. Sau khi xong
chương tŕnh học tiếng Nhật anh vào Đại học Kyoto. Theo anh
Anh cho biết sempai của anh lúc đó là anh Nguyễn Trung Chí và
anh Nguyễn Đại Ca. Anh theo học môn hóa học cơ khí (kikai
kagaku). Sau khi tốt nghiệp anh ở lại cao hoc thêm một năm.
Năm 1969 anh qua Pháp. Tại đây anh làm việc cho viện nghiên
cứu đại học Marie-Curie Paris. Sau đó anh làm việc cho một xí
nghiệp cách Paris 125 km, xí nghiệp này chuyên sản xuất những
chất amino acides có thể gọi là xí nghiệp hóa dược, anh chịu
trách nhiệm về bộ môn phương pháp và sản xuất (méthode et
production). Hiện giờ anh đă nghỉ hưu và đang sinh sống ở
Paris.
|
|
|
|