
|
VÀI Ư KIẾN VỀ VẤN ĐỀ CẬN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN QUA QUÁ TR̀NH MINH TRỊ DUY TÂN (*)
Vĩnh Sính
Sau Hội nghị chuyên đề Giáo dục Đại học Việt Nam tổ chức vào tháng 2 năm 1994, đây là lần thứ hai tôi có hân hạnh tham dự và trao đổi ư kiến với các Anh Chị ở trong và ngoài nước về vấn đề giáo dục đào tạo ở Việt Nam. Khi được giấy mời, tôi thầm đoán là ban Tổ chức Hội thảo có ư khuyến khích các thành viên tham dự đóng góp ư kiến và chia sẻ những suy nghĩ, thao thức trên đề tài cấp thiết này dựa trên kinh nghiệm chuyên môn của ḿnh. Bởi vậy, về phần tôi, tôi sẽ đóng góp ư kiến với tư cách là một người nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử cận đại Nhật bản. Tuy ngành chuyên môn của chúng ta có thể khác nhau, và môi trường nghiên cứu, giảng dạy của chúng ta có thể khác nhau, nhưng giữa chúng ta có một mẫu số chung rất lớn : Đó là ḷng khát khao mong mơi đất nước sớm thoát cảnh nghèo nàn lạc hậu và từng bước vững tiến lên đài văn minh, phú cường. Giáo dục chính là con tàu chỡ nhân dân và đất nước chúng ta tiến đến mục tiêu đó. Nền giáo dục ở bất cứ một nước có chủ quyền nào cũng mang sắc thái và phong cách của nước đó. Mặt khác, v́ xu thế của thế giới ngày nay là giao lưu quốc tế, nên ngay cả những nước tiên tiến, nước nào cũng phải dốc ḿnh ra sức tiếp thu kinh nghiệm của các nước khác bằng không th́ sẽ bị đẩy lùi lại trước đà tiến hóa ngày càng gia tăng tốc độ của nhân loại. Nói một cách khác, nền giáo dục nước ta cần thể hiện : (1) sắc thái và phong cách Việt Nam, và (2) những mặt tiên tiến của văn hóa, khoa học và kỹ thuật trên thế giới ngày nay. Trong nỗ lực đưa đất nước tiến lên vấn đề là làm sao chúng ta vừa có thể tham khảo và tiếp thu kinh nghiệm của các nước khác để mang lại những khởi sắc trong sinh hoạt tri thức mà nền giáo dục đó vẫn giữ được sắc thái Việt Nam ? Trước khi đi vào đề, tôi xin giải thích v́ sao tôi chọn đề tài thuyết tŕnh này : a) Từ 90 năm nay, kể từ khi Phan Bội Châu và các chí sĩ trong Duy Tân Hội khởi động phong trào Đông Du, người Việt chúng ta thường nhắc đến Minh Trị Duy Tân mỗi khi bàn đến vấn đề canh tân đất nước. Tuy nhiên, ngay chính cả cụ Phan Bội Châu hay những người tham gia phong trào Đông Du cũng không mấy ai nói ra một cách cụ thể là chúng ta cần tham khảo và tiếp thu những kinh nghiệm ǵ từ công cuộc canh tân nước Nhật, bởi vậy nội dung của Minh Trị Duy Tân rốt cuộc nói chung vẫn là một cái ǵ trừu tượng đối với người chúng ta. Nhằm tiết kiệm th́ giờ của Hội nghị, tôi sẽ cố gắng không tŕnh bày dài ḍng hay giải thích rườm ra, mà chỉ rút tỉa những điểm chính mà tôi thiết tưởng chúng ta có thể tham khảo khi suy nghĩ về canh tân và công nghiệp hóa đất nước, dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy và suy nghĩ của người viết. b) Trước làn sóng Tây xâm vào giữa thế kỷ 19, t́nh h́nh xă hội, kinh tế và chính trị của Nhật bản (NB) đầu thời Minh Trị so với Việt Nam (VN) lúc bấy giờ có nhiều điểm không giống nhau, và dĩ nhiên cũng rất khác VN ngày nay. Điểm tương đồng chính yếu giữa NB lúc bấy giờ và VN ngày nay là cả hai bên đều phải đương đầu với những thách thức rất nghiệt ngă sau khi mở cửa để tích cực giao dịch với nước ngoài, và đây chính là tiền đề để ta có thể rút tỉa một vài kinh nghiệm của NB từ Minh Trị Duy Tân. Tôi xin liệt kê hai bài học có giá trị chiến lược của NB trong quá tŕnh canh tân và công nghiệp hóa từ thời Minh Trị mà tôi thiết nghĩ chúng ta có thể tham khảo. V́ kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy ở Việt Nam và thông tin về t́nh h́nh trong nước của tôi rất hạn chế, trong bài này tôi xin phép chỉ tŕnh bày những khía cạnh tổng quát, có tính cách "chiến lược", chứ không đi vào những chi tiết có tính cách kỹ thuật. 1. Đưa đất nước tiến lên đài văn minh là một biện pháp, một chiến lược vừa giáo dục, vừa kinh tế, vừa quốc pḥng : Khác với các nước Đông Á khác, NB từ cuối thập niên 1860 bắt đầu nỗ lực tiếp thu và học tập kinh nghiệm của các nước ngoài vừa để canh tân đất nước nhằm đưa đất nước lên đài văn minh và vừa xem đó như là một phương tiện hữu hiệu nhất để bảo vệ độc lập quốc gia. Fukuzawa Yukichi (Phúc-trạch Dụ-cát) - "người thầy của NB cận đại" và cũng là nhân vật mà cụ Phan Bội Châu thường nhắc đến trong các trước tác của ḿnh - đă khẳng định một cách rành mạch : "Phương sách giữ ǵn độc lập không thể t́m đâu ngoài văn minh. Hiện nay nước Nhật đang tiến lên đài văn minh cũng chính v́ để bảo vệ độc lập quốc gia. Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh của quốc dân là phương tiện để đạt mục tiêu đó". Nói một cách khác, , đối với Fukuzawa, nâng cao tŕnh độ tri thức của dân chúng (dân trí) để đưa nước NB lên đài văn minh là một biện pháp "nhất cử lưỡng tiện", một chiến lược vừa có tính cách giáo dục và kinh tế, vừa là một chiến lược quốc pḥng hữu hiệu và bền vững nhất. Đây chính là phương châm chiến lược căn bản mà chính quyền Minh Trị đă quán triệt và tích cực áp dụng từ khi bắt đầu Minh Trị Duy Tân. Khi NB vừa mới mở cửa để tích cực giao thương với nước ngoài, Fukuzawa nhận định rằng "trong cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập quốc gia cho NB đối với Tây phương, kẻ thù nguy hiểm nhất (keiteki, tức là ḱnh địch) của NB không phải là "kẻ thù quân sự" mà chính là "kẻ thù thương măi", không phải là "kẻ thù vũ lực" mà chính là "kẻ thù trí lực". Theo Fukuzawa, kết quả của cuộc đọ sức bằng trí năo này sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào sự mở mang dân trí của người Nhật.
Nhận thức về giáo dục đào tạo (theo nghĩa rộng) có tính cách chiến lược của Fukuzawa đáng được cho chúng ta tham khảo trong t́nh h́nh giao lưu và giao thương giữa nước VN và các nước ngày càng phát triển và gia tăng tốc độ. Nâng cao tŕnh độ kiến thức cho 75 triệu quốc dân, khởi động một phong trào tranh đua học hỏi để mở rộng kiến thức và nâng cao tŕnh độ khoa học kỹ thuật cho thanh niên trong nước, tăng cường giao lưu quốc tế để vừa trao đổi văn hóa, khoa học kỹ thuật vừa tranh thủ bè bạn và thắt chặt quan hệ với các nước - qua các biện pháp này đời sống văn hóa và vật chất ở trong nước ngày càng được cải thiện, đồng thời chủ quyền của đất nước ngày càng được vững bền mà sự hy sinh xương máu có thể hạn chế đến mức tối đa. 2. Phát huy cao độ tinh thần "tri kỷ tri bỉ" (biết người biết ta) trong các lănh vực văn hóa và kinh tế : Các nhà lănh đạo của chính phủ Minh Trị phần đông vốn xuất thân từ giai cấp vũ sĩ (samurai). V́ họ là những nhà "quân sự" thông thạo binh thư kim cổ của Nhật Bản và Trung Hoa nên trên thực chất họ suy nghĩ và t́m cách giải quyết các vấn đề trước mắt hay lâu dài của NB theo tầm mắt chiến thuật và chiến lược của "người cầm quân". Lấy tư tưởng "biết người biết ta trăm trận trăm thắng" của Tôn Tử làm phương châm chỉ đạo, họ cực kỳ khách quan về những nhược điểm của NB và những ưu điểm của nước ngoài (tức là điểm mạnh của đối phương theo lối nh́n quân sự) khi đánh giá tương quan lực lượng giữa NB và các nước Tây phương. Để có những thông tin chính xác nhất về t́nh h́nh của thế giới bên ngoài (quan sát "chiến trường"), chính quyền Minh Trị đă gửi nhiều phái đoàn sang Âu Mỹ để "thám sát" t́nh h́nh và học hỏi (Seiyô tansaku : "thám sát Tây phương"). Trên cơ sở đó, người Nhật biết được những điểm mạnh khác nhau của các nước tiên tiến trên thế giới ("đánh giá đúng đắn chiến trường") để rồi sẽ chủ động t́m cách học hỏi từ những người thầy giỏi nhất bằng cách gửi sinh viên ra nước ngoài hoặc mời những người thầy giỏi nhất trên thế giới sang NB để giúp ư kiến trong các chính sách canh tân và huấn luyện cho người Nhật. Trong quá tŕnh tiếp thu văn hóa và khoa học kỹ thuật của nước ngoài, những nhà hữu trách của chính quyền Minh Trị luôn luôn có thái độ chủ động, đóng vai tṛ "chủ nhà mời khách đến dạy" ("chủ động trong sách lược và trong tác chiến"), nhờ vậy người Nhật không bị ám ảnh bởi mặc cảm họ là "nạn nhân" của làn sóng văn hóa du nhập từ nước ngoài, một mặc cảm khá phổ biến ở "các nước đang phát triển" ngày nay. Người Nhật có tinh thần tập thể (esprit de corps) cao, trong học hỏi cũng như trong công việc họ luôn luôn có những biện pháp để ǵn giữ và nâng cao tinh thần đó. Ví dụ, vào đầu thời Minh Trị, chính quyền Minh Trị gửi đi một phái đoàn có đến 48 người gồm những nhân vật cao cấp nhất trong chính quyền sang các nước Âu Mỹ vừa để t́m cách yêu cầu sửa đổi những điều ước bất b́nh đẳng mà NB đă kư với Tây phương cuối thời Tokugawa, vừa để quan sát tận mắt t́nh h́nh Tây phương. Mặc dầu ư định thuyết phục các nước Âu Mỹ sửa đổi lại các điều ước bất b́nh đẳng không thành công, nhưng các nhà lănh đạo của chính phủ Minh Trị đă nhất trí trong cách đánh giá về t́nh h́nh thế giới bên ngoài cũng như trong các biện pháp canh tân NB bởi lẽ họ đă quan sát tập thể t́nh h́nh nước ngoài và đă cùng nhau bàn bạc và thảo luận triệt để qua chuyến du hành dài đến 22 tháng (1871-1873) này. Cũng cần nhắc lại là trong khi đó, ở VN cũng vào thời kỳ mà nền độc lập của đất nước đang bị thách thức trầm trọng này, những bản điều trần về cải cách và canh tân của Nguyễn Trường Tộ chỉ giống như một tiếng kêu tuyệt vọng trong băi sa mạc bởi lẽ những thông tin và kiến thức của Nguyễn Trường Tộ về thế giới bên ngoài bị đọng lại trong ṿng vài ba người, c̣n hầu hết quan dân th́ chẳng mấy ai quan tâm đến thế giới bên ngoài. Tinh thần trách nhiệm của người Nhật cũng rất cao, chủ yếu là v́ trước Minh Trị Duy Tân, giai cấp vũ sĩ cầm quyền ở NB có gần 700 năm và tinh thần trọng kỷ luật cùng với tinh thần trách nhiệm của giai cấp vũ sĩ đă đi vào nề nếp trong phong cách làm ăn của người Nhật trong mọi tầng lớp. Chính phủ Minh Trị cũng không kém khách quan khi đề ra những biện pháp, chủ trương nhằm khắc phục những nhược điểm của NB. "Phương án tác chiến" nhằm mang lại "chiến thắng" cho NB trong trận đọ sức bằng trí năo với các nước Tây phương phản ánh qua khẩu hiệu đầu thời Minh Trị là "Seiyôo manabi, Seiyô ni oitsuki, Seiyô o oinuku", tức là "Học hỏi Tây phương, bắt kịp Tây phương, đi vượt Tây phương". Trên thực tế, tinh thần "biết ḿnh biết ta" ở NB được phản ánh qua chủ trương của nhà nước cho đến cách nhận thức của từng cá nhân. V́ thế, cho đến bây giờ, người Nhật khi so sánh NB với ngước ngoài họ rất khiêm tốn, thường chỉ nói đến những ưu điểm của các nước ngoài mà họ cần học hỏi và những nhược điểm của NB cần được khắc phục, mà rất ít khi họ tỏ có thái độ tự măn về NB. Phong cách bushido (vũ sĩ đạo) trong quá tŕnh canh tân ở Nhật hoặc trong đường lối kinh doanh của người Nhật ngày nay mà các nhà nghiên cứu về NB ở Âu Mỹ thường nói đến (hay nguyên nhân của sự vùng dậy của Hàn quốc từ thập kỷ 1960), theo tôi hiểu, trên căn bản chính là tinh thần "biết người biết ta" và phong cách làm việc mà chúng ta đă bàn ở trên vậy. Nước ta có truyền thống quân sự rất vẻ vang, từ xưa đến nay cha ông ta đă làm nên không biết bao nhiêu chiến công hiển hách. Chúng ta nên phát huy và vận dụng tinh thần "biết người biết ta" - cũng như tinh thần tập thể, tinh thần chủ động, tinh thần trách nhiệm vốn sẵn có trong truyền thống chống ngoại xâm để giữ nước ở VN - không những trong lănh vực quốc pḥng mà ngay cả trong các lănh vực khác như kinh tế, giáo dục, v.v. Để tránh hiểu lầm, tôi xin phép nhấn mạnh là tôi hoàn toàn không có ư chủ trương quân sự hóa, mà chỉ đề nghị phát huy và áp dụng những ưu điểm về cách suy nghĩ và phong cách làm việc vốn sẵn có trong truyền thống quân sự ở VN. Làm như vậy, biết đâu mai đây, ngoài những nhà quân sự có thiên tài trong lịch sử giữ nước, nước ta lại được hănh diện có những học giả lừng danh khắp mọi ngành, cùng những nhà kinh doanh có óc tiến thủ và những người làm kinh tế xông xáo, năng nỗ làm cho dân giàu nước mạnh trong quá tŕnh dựng nước. Ước mong thay ! Tháng Giêng, 1997
* Tham luận gửi "Hội thảo về Giáo dục Đào tạo và Khoa học Công nghệ giữa trí thức Việt Nam trong và ngoài nước", 14-15 tháng 2, 1997, Hà Nội. < Trích từ : “Việt Nam và Nhật Bản : Giao Lưu Văn Hóa”, trang 317~323>
|