|
|
Journal of VIETNAMESE sTUDIES
Summer 2008
Merle L. Pribbenow II
TưỚng Vơ Nguyên Giáp và tiẾn tŕnh bí Ẩn cỦa kẾ hoẠch
tẤn công TẾt MẬu Thân (1968)
General Vơ Nguyên Giáp and the Mysterious Evolution of the Plan for
the 1968 Tết Offensive
Nguyễn Việt dịch
(Đă
đăng thành 4 phần trên talawas:
Phần 1,
Phần 2,
Phần 3,
Phần 4)
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà người Việt Nam gọi là “Tổng Công
Kích-Tổng Khởi Nghĩa” có lẽ là sự kiện có sức nảy nở lớn
trong lịch sử cuộc chiến tranh dài dặc của Mỹ tại Việt Nam. Như
người Việt Nam vẫn thích tuyên bố, cuộc tấn công Tết “đă làm biến
đổi cục diện”, thay đổi toàn bộ tính chất của cuộc chiến, và phần
lớn sách vở lịch sử về chiến tranh có thể chia một cách rơ ràng
thành hai giai đoạn “trước Tết” và “sau Tết”.
Câu
chuyện Tết Mậu Thân của phía Mỹ được kể lại vô cùng tỉ mỉ, từ cấp độ
chiến lược tới cấp độ chiến thuật, nhưng thật đáng kinh ngạc v́
người ta biết được rất ít về nguồn gốc kế hoạch cuộc tấn công Tết
bên phía Việt Nam. Các sử gia từng bàn nhiều về việc thành viên hay
các thành viên nào của giới lănh đạo cộng sản Việt Nam đă có ư tưởng
về cuộc tấn công Tết, những ai ủng hộ ư tưởng này và những ai phản
đối, nhưng các bàn luận thường chỉ dựa trên rất ít bằng cứ. Một số
xác định đạo diễn của cuộc tấn công Tết Mậu Thân là tướng Vơ Nguyên
Giáp, tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, người từng được cả
thế giới vinh danh ở tư cách một chiến lược gia quân sự hơn một thập
niên trước đó với chiến thắng trước người Pháp tại Điện Biên Phủ năm
1954. Những người khác lại cho rằng ư tưởng về cuộc tấn công Tết bắt
nguồn từ vị tướng đă quá cố Nguyễn Chí Thanh, người cho tới khi chết
vào tháng Bảy năm 1967 vẫn lănh đạo nỗ lực của cộng sản chống lại
các lực lượng Mỹ tại Việt Nam Cộng ḥa. Một vài người khẳng định
cuộc tấn công là một nỗ lực tuyệt vọng của những người cộng sản nhằm
lật ngược một t́nh thế khi họ đang phải đối mặt với thất bại không
thể tránh khỏi, c̣n những người khác tuyên bố cuộc tấn công là kết
quả của một nhận định quá mức lạc quan của giới lănh đạo cộng sản về
t́nh h́nh Việt Nam Cộng ḥa. Một số học giả đă kết nối quyết định
tung ra cuộc tấn công Tết với cuộc đấu tranh chia rẽ bên trong khối
chóp bu chính trị về các khác biệt ư hệ liên quan đến sự đối đầu của
phe cộng sản giữa Trung Quốc và Liên Xô (vào quăng thời gian ấy Liên
Xô đang ép Việt Nam điều đ́nh một thỏa thuận với Mỹ trong khi Trung
Quốc bắt Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu và từ chối đối thoại với
Mỹ).[1]
Chỉ
tới khi, hoặc trừ phi, người Việt Nam công khai hóa các hồ sơ nội bộ
của Bộ Chính trị và Bộ Tư lệnh tại Hà Nội, bằng không sẽ không thể
có lời đáp cuối cùng, tối hậu cho những câu hỏi trên. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, đă có một số sách vở, tài liệu của người
Việt Nam, chiếu một ánh sáng mới vào sự bí ẩn và cho phép chúng ta
có được nhiều kết luận đầy đủ thông tin hơn.
Thông tin mới
cho thấy tướng Vơ Nguyên Giáp và tướng Nguyễn Chí Thanh đều không
phải là người nghĩ ra ư tưởng về cuộc tấn công Tết; bản thân Hồ Chí
Minh cũng phản đối cuộc tấn công; cái kế hoạch sau này được thực
hiện như đă xảy ra là kết quả của một thỏa thuận ngầm giữa tướng Văn
Tiến Dũng, thuộc cấp ở cấp cao nhất của tướng Vơ Nguyên Giáp, và
tổng bí thư đảng cộng sản Lê Duẩn, đối thủ của tướng Vơ Nguyên Giáp
trong một quăng thời gian rất dài; Vơ Nguyên Giáp phản đối cuộc tấn
công Tết mạnh mẽ đến mức sau đó ông bị mất quyền, không chỉ không
được tham dự vào tiến tŕnh lập kế hoạch mà c̣n phải rời Việt Nam
sang Đông Âu và không trở về cho tới khi cuộc tấn công Tết đă thực
sự mở màn.
Mặc
dù vẫn c̣n lại vấn đề về tầm quan trọng của vai tṛ của những khác
biệt về ư hệ trong cuộc đấu đá chia rẽ nội bộ nổ ra bên trong Bộ
Chính trị Việt Nam ở quá tŕnh ra quyết định, có vẻ như là các khác
biệt ư thức hệ, được tưởng tượng ra hoặc có thật, thực tế đă được
phe chiến thắng sử dụng nhằm gia cố và bảo vệ vị thế của ḿnh.
Các tiền đề của kế hoạch
Nguồn gốc ư tưởng cuộc “Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa” Tết có thể
được t́m thấy ngay từ đầu những năm 1960. Tháng Mười hai năm 1963,
chỉ một tháng sau khi tổng thống Việt Nam Cộng ḥa Ngô Đ́nh Diệm bị
lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam đă họp tại Hà Nội để bàn luận và thông qua
Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành. Nghị quyết này nhận
định rằng “tổng công kích, tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển
tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng”.[2]
Trung ương Đảng dự tính khả năng chiến thắng cuộc chiến một cách
nhanh chóng, trước khi Mỹ quyết định có nên điều các đội quân Mỹ tới
cứu chế độ Việt Nam Cộng ḥa hay không. Vẫn duy tŕ đường hướng
chung về việc tiến hành một cuộc “chiến đấu lâu dài” ở miền Nam,
Nghị quyết 9 kêu gọi một nỗ lực đến mức tối đa nhằm “tranh thủ thời
cơ thuận lợi, tập trung lực lượng, quyết tâm giành cho được những
thắng lợi có tính chất quyết định trong mấy năm tới”.[3]
Tuy nhiên, theo nghị quyết, “tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, cái
có thể rốt cuộc sẽ lật đổ chế độ miền Nam chỉ có thể được tung ra
sau khi quân đội Việt Nam Cộng ḥa đă bị “tiêu hao” và trở nên
kiệt quệ tới mức không c̣n đủ sức đàn áp những cuộc nổi dậy của quần
chúng nằm ở trung tâm cuộc nổi dậy chung thuộc kế hoạch lớn về tổng
tiến công và nổi dậy nữa. Nghị quyết nhận định nhiệm vụ chiến lược
của các lực lượng vũ trang cộng sản tại miền Nam sẽ là “làm tan ră
quân đội tay sai, công cụ chủ yếu của chế độ địch, tạo điều kiện để
thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, lật đổ chính quyền phản
động ở miền Nam”.[4]
Tháng Chín năm 1964, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản họp tại Hà Nội
để đánh giá t́nh h́nh và xem xét quá tŕnh thực hiện Nghị quyết hội
nghị IX của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị quyết định
tiến hành một đ̣n mạnh mẽ nhằm nhanh chóng tiêu diệt quân đội Việt
Nam Cộng ḥa để “giành thắng lợi quyết định”. Ngoài việc điều các
đơn vị chính quy lớn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (cấp
trung đoàn) vào miền Nam để chiến đấu và ra lệnh mở một loạt chiến
dịch cấp trung đoàn và sư đoàn với mục đích đè bẹp Quân lực Việt Nam
Cộng ḥa,[5]
Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam cũng chỉ thị phải chuẩn bị
tung ra cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Chiến dịch sẽ được bắt
đầu sau khi quân đội Việt Nam Cộng ḥa đă bị nghiền nát, và sẽ hướng
thẳng vào thành phố thủ phủ miền Nam, Sài G̣n.
Một
cuốn sách của cộng sản thời kỳ hậu chiến tranh miêu tả kế hoạch mang
bí số “Kế hoạch X” như sau:
“Trong mùa thu năm 1964… Trung ương Cục miền Nam lập một kế hoạch
nhằm chuẩn bị nắm thời cơ tiến hành một cuộc tổng công kích và khởi
nghĩa với mục tiêu nhắm đến một thắng lợi quyết định. Kế hoạch được
đặt bí số “Kế hoạch X”… Khu vực trung tâm mà Kế hoạch X hướng tới là
Sài G̣n-Gia Định… Trong quư ba năm 1964, một cơ quan đặc chủng, được
tạo nên từ các thành viên của Quân ủy Trung ương thuộc Trung ương
Cục miền Nam và các chỉ huy quân sự của Vùng Quân sự Sài G̣n-Gia
Định được tạo nên để thực thi kế hoạch… Theo Kế hoạch X, Vùng Quân
sự Sài G̣n-Gia định phải nhanh chóng lập ra các đơn vị đặc công
thành đủ sức mạnh để tiến công và chiếm lấy những mục tiêu quan
trọng trong thành phố, đồng thời lập ra các đơn vị chiến đấu có vũ
trang và các đơn vị tự vệ cho mỗi nhánh nhằm cung cấp xương sống cho
phong trào nổi dậy chung. Vùng Quân sự cũng sẽ lập ra năm tiểu đoàn
mũi nhọn có thể được sử dụng tại năm khu vực bao quanh vùng ngoại ô
của thành phố, đủ sức tiến sâu vào thành phố từ năm hướng. Những
tiểu đoàn này có thể nhanh chóng hỗ trợ các đơn vị đặc công thành để
giúp họ nắm giữ những mục tiêu riêng lẻ trong khi chờ quân chủ lực
của chúng ta và hỗ trợ từ phong trào nổi dậy chung của người dân.”[6]
Ư
tưởng chia thành phố thành năm khu vực và ư tưởng điều các tiểu đoàn
mũi nhọn vào mỗi khu vực nhằm hỗ trợ các nhóm đặc công và “nổi dậy
chung” trong khi chờ các đơn vị lớn hơn từ bên ngoài tới nơi sau này
sẽ được sử dụng trong kế hoạch về các cuộc tấn công Tết Mậu Thân vào
Sài G̣n.
Trong một lá thư đề tháng Hai năm 1965, tổng bí thư Lê Duẩn, một
người trung thành với các ư tưởng “tổng khởi nghĩa” và “chiến đấu
trong thành phố” và có vẻ như là người ủng hộ Kế hoạch X mạnh mẽ
nhất, giải thích kế hoạch cho tư lệnh cộng sản ở miền Nam Việt Nam,
tướng Nguyễn Chí Thanh, như sau: “Vấn đề hiện nay của chúng ta là
tiếp tục mở rộng sự kiểm soát tại vùng nông thôn và chuẩn bị thực
hiện một cuộc tổng khởi nghĩa. Các đô thị sẽ trở thành điểm trọng
tâm cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới.”[7]
Lê
Duẩn nói điều kiện tiên quyết là các lực lượng cộng sản phải chuẩn
bị cho t́nh h́nh “bằng cách tiến công và tiêu diệt ba hoặc bốn sư
đoàn chính quy ngụy trên chiến trường trong các đợt sóng liên tiếp
những cuộc tiến công của lực lượng chúng ta.” Khi điều này đă được
hoàn thành, Lê Duẩn nói với tướng Nguyễn Chí Thanh, “Chúng ta sẽ
tiến hành một cuộc tổng khởi nghĩa phối hợp với một cuộc tiến công
quân sự chung hướng thẳng vào trái tim quân địch để nắm kiểm soát
chính quyền. Điều này sẽ hạ gục tinh thần quân đội ngụy. Chiếm ưu
thế từ cơ hội ấy, chúng ta sẽ tiến hành những cuộc tiến công quân sự
mạnh mẽ đi đôi với những tấn công lớn về chính trị và quân đội của
nhân dân, gây tiêu hao cho quân địch và bằng cách đó tạo ra khả năng
làm sụp đổ những đơn vị c̣n lại của quân đội ngụy.”[8]
Các
yếu tố khác của kế hoạch được Lê Duẩn tŕnh bày trong lá thư, bao
gồm việc tạo ra một tổ chức chính trị “mặt trận thứ hai” kiên quyết
mang tính trung lập nhằm lập một chính phủ mới và điều đ́nh việc rút
quân của Mỹ, sau này sẽ được lặp lại trong kế hoạch cuộc tấn công
Tết Mậu Thân.[9]
Cuối cùng, cũng như thái độ ông sẽ có trong khi lên kế hoạch cho
cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Lê Duẩn kiên quyết phủ nhận lập luận cho
rằng cuộc tổng nổi dậy của các thành phố chỉ được tiến hành khi nào
chiến thắng là chắc chắn, cho rằng nếu những cuộc tấn công tại các
thành phố thất bại, các lực lượng cộng sản có thể sẽ chỉ đơn giản là
rút lui, tập hợp lại, rồi sau đó sẽ thử lại lần nữa. Lê Duẩn viết:
“Tuy nhiên, nếu v́ lư do nào đó mà những cuộc nổi dậy tại các đô thị
gặp khó khăn và chúng ta buộc phải rút lui lực lượng, th́ cũng không
vấn đề ǵ. Đó sẽ chỉ là một dịp cho chúng ta diễn tập và rút ra các
bài học kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho sau này. Lực lượng của đồng
chí Fidel Castro đă tấn công các đô thị ba lần mới thành công. Nếu
chúng ta tiến vào được các đô thị nhưng sau đó phải rút lui, th́ vẫn
không phải lo lắng ǵ, bởi toàn bộ vùng nông thôn và rừng núi đều
thuộc về chúng ta – vị thế và lực lượng của chúng ta đều rất mạnh
tại các vùng đó.”[10]
Trong một bức thư khác gửi Nguyễn Chí Thanh vào tháng Năm 1965, sau
khi rất nhiều đội quân chiến đấu lớn của Mỹ đă bắt đầu đổ bộ vào
Việt Nam Cộng ḥa và viễn cảnh tung ra một cuộc tổng khởi nghĩa tại
các thành phố rơ ràng là đă bị thổi bay, Lê Duẩn vẫn tiếp tục bảo vệ
ư tưởng của ḿnh. Ông nói với tướng Nguyễn Chí Thanh, “Khi nào có cơ
hội, ngay cả khi các yếu tố chỉ cho phép chúng ta 70 hay 80 phần
trăm cơ may chiến thắng, th́ chúng ta cũng phải nắm lấy cơ hội và
tiến hành các cuộc khởi nghĩa thay v́ cứ bướng bỉnh đ̣i hỏi sự hoàn
hảo và đợi cho tới khi cơ hội đạt tới 100 phần trăm.”[11]
Rốt
cuộc, sự triển khai rộng lớn của các lực lượng quân sự Mỹ tại Việt
Nam Cộng ḥa bắt đầu vào mùa hè 1965 đă ngăn chặn mọi khả năng về
tung ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy, nhưng Lê Duẩn không bao giờ
thực sự rời bỏ ước mơ của ḿnh.
Vai tṛ của tướng Vơ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ
Khoảng giữa những năm 1960, vị trí của tướng Vơ Nguyên Giáp trong hệ
thống thứ bậc chính trị và quân sự của cộng sản đă có thay đổi lớn,
và vai tṛ của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến tranh nói chung đă
bị suy yếu. Mặc dù vẫn giữ các trọng trách như Tổng Tư lệnh các lực
lượng vũ trang Việt Nam, bộ trưởng quốc pḥng, và bí thư Quân ủy
Trung ương, các quyết định chiến lược về cuộc chiến tranh ở miền Nam
đă không c̣n chỉ duy nhất nằm trong tay của vị tướng nữa. Thay vào
đó, những quyết định ấy được thực hiện bởi một tiểu ban đặc biệt gồm
năm người của Bộ Chính trị, trong đó Vơ Nguyên Giáp chỉ là một thành
viên.
[12] Một sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam,
từng nhiều năm phục vụ trong Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội Nhân dân
Việt Nam và là tác giả một cuốn sách xuất bản gần đây về vị tướng
với tư cách tư lệnh quân sự viết như sau về thẩm quyền ra quyết định
của ông trong “cuộc chiến tranh chống Mỹ”: “Ngoài việc tham gia các
thảo luận và quyết định của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, và Quân
ủy Trung ương ở các bước riêng biệt ở cấp chiến lược chung, sự
dẫn dắt và chỉ huy đối với các tư lệnh ngoài chiến trường ở tướng Vơ
Nguyên Giáp không ở mức độ trực tiếp như đă từng như vậy trong cuộc
kháng chiến chín năm [chiến tranh chống Pháp].”[13]
Trong một lần phỏng vấn tại Hà Nội, vẫn vị sĩ quan này công nhận
rằng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, không giống như trong cuộc
chiến tranh chống Pháp, đă xảy ra nhiều bất đồng bên trong Bộ Chính
trị về chiến lược và chiến thuật. Vị sĩ quan nói rằng tướng Vơ
Nguyên Giáp đứng về bên thua cuộc trong rất nhiều cuộc tranh căi ấy,
nhưng “để giữ toàn cục” ông vẫn đi theo đa số sau khi không được ủng
hộ.[14]
Bản
chất chính xác của những tranh căi bên trong Bộ Chính trị – các
thành viên Bộ Chính trị thuộc về phái nào, vân vân – từng là chủ đề
t́m hiểu của vô số tác giả trong nhiều năm. Giờ đây một số sử gia
xếp Lê Duẩn và các “quân nhân miền Nam” hay các “tư lệnh miền Nam”
về một bên và nhân tố “lănh đạo miền Bắc”, với Vơ Nguyên Giáp là một
trong các nhân tố chỉ huy, ở phe bên kia.[15]
Tôi tin rằng đây là một sự đơn giản hóa quá mức bởi v́ rất rơ rằng
những bất đồng chỉ là về phương tiện chứ không phải về mục đích. Bất
kỳ ai có liên quan cũng chia sẻ cùng một mục tiêu cuối cùng, đó là
“giải phóng” miền Nam và thống nhất Bắc-Nam thành một quốc gia Việt
Nam duy nhất nằm dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản. Nhưng điều này
không làm cho các bất đồng trở nên kém gay gắt hơn.
Nguồn gốc xung đột Lê Duẩn-Vơ Nguyên Giáp rất mù mờ, nhưng có khả
năng là đă bắt đầu ngay từ hồi cuối những năm 1950. Bí thư Đảng Cộng
sản Việt Nam Trường Chinh bị mất chức lănh đạo đảng vào tháng Mười
năm 1956 v́ những “sai lầm” trong khi tiến hành chương tŕnh cải
cách ruộng đất thảm khốc, có vẻ như tướng Vơ Nguyên Giáp là ứng cử
viên một cách tự nhiên ở cương vị lănh đạo đảng.[16]
Tuy nhiên, mặc dù Vơ Nguyên Giáp từng một thời là trợ lư thân cận
của Hồ Chí Minh trong việc điều hành đảng, ông đă nhanh chóng đánh
mất vai tṛ lănh đạo của ḿnh vào tay Lê Duẩn. Tháng Tư năm 1957, Lê
Duẩn được gọi ra miền Bắc khi đang ở cương vị lănh đạo của bộ máy
cộng sản hoạt động ngầm ở Việt Nam Cộng ḥa. Tháng Mười hai cùng năm,
Lê Duẩn chính thức giữ chức lănh đạo đảng khi được bầu vào Ban Bí
thư tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng.[17]
Một
phần nguyên nhân của sự gay gắt trong cuộc đối đầu trong hàng ngũ
lănh đạo giữa Lê Duẩn và Vơ Nguyên Giáp có thể t́m thấy ở vai tṛ
của Vơ Nguyên Giáp trong việc lên dự thảo cho Nghị quyết hội nghị
lần thứ mười lăm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, tài
liệu rốt cuộc cũng cho phép sử dụng “đấu tranh vũ trang” ở miền Nam
và khiến Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa có trách nhiệm hỗ trợ nhằm “giải
phóng” miền Nam. Đầu năm 1957, trước khi Lê Duẩn được gọi từ miền
Nam ra, Hồ Chí Minh đă giao cho Vơ Nguyên Giáp nhiệm vụ lên dự thảo
nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược của đảng trong
cuộc cách mạng ở miền Nam.
Hoàng Tùng, một lư thuyết gia và nhà tuyên truyền thuộc hàng lănh
đạo của đảng, một trong hai người được chỉ định giúp tướng Vơ Nguyên
Giáp lên dự thảo nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, cho rằng vị
tướng đă nhanh chóng nhất trí với ư tưởng về sử dụng “bạo lực cách
mạng” nhằm “giải phóng” miền Nam. Tuy nhiên, Hoàng Tùng công nhận Vơ
Nguyên Giáp cũng là một người biện hộ nhiệt thành cho một giải pháp
“ḥa b́nh” đối với t́nh h́nh Việt Nam Cộng ḥa. Theo Hoàng Tùng, bản
dự thảo nghị quyết đă có rất nhiều sửa chữa và liên tục bị tŕ hoăn.
Bản dự thảo cuối cùng của tướng Vơ Nguyên Giáp chỉ được gửi cho Lê
Duẩn khi nó đă được hoàn thành vào cuối năm 1958. Hoàng Tùng cho
biết khi đó Lê Duẩn đă ngồi lại cùng hai người trợ tá viết bản nghị
quyết (nhưng không phải là với tướng Vơ Nguyên Giáp) nhằm thêm vào
nhiều điểm và thực hiện nhiều thay đổi đối với bản dự thảo cuối cùng
của vị tướng trước khi tŕnh lên Trung ương Đảng để thông qua vào
đầu năm 1959.[18]
Những tŕ hoăn liên tiếp và sự coi thường mà dường như Vơ Nguyên
Giáp thể hiện đối với những lời kêu gọi của Lê Duẩn nhằm hành động
ngay lập tức để hỗ trợ cách mạng miền Nam hẳn đă làm Lê Duẩn phật ư.
Sự giận dữ của ông lại càng tăng thêm bởi việc ông bị buộc phải thân
chinh trả lời các chất vấn lặp đi lặp lại về các vấn đề liên quan
tới nghị quyết từ hai phái viên thuộc bộ phận đảng ở miền Nam. Các
phái viên này được cử ra Hà Nội vào mùa hè năm 1957 với mục đích
thúc giục Lê Duẩn và giới lănh đạo đảng của Việt Nam Dân chủ Cộng
ḥa trong việc hỗ trợ và tham gia cuộc “cách mạng” tại miền Nam. Hai
người đó, Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô, phải chờ đợi, bị giam lỏng
trong một nhà thờ ở Hà Nội, trong suốt mười tám tháng trong khi Vơ
Nguyên Giáp và các trợ tá của ông bàn thảo về câu từ của bản dự thảo
nghị quyết. Lê Duẩn gặp hai phái viên miền Nam mỗi tháng một lần, và
lần nào ông cũng phải thông báo với họ rằng “bản dự thảo nghị quyết
vẫn chưa xong.”[19]
T́nh huống này chắc hẳn đă đóng một vai tṛ quan yếu trong việc làm
cho mối quan hệ giữa tướng Vơ Nguyên Giáp và Lê Duẩn xấu đi.
Đe dọa và thách thức – đ̣i hỏi về một thắng lợi mang tính quyết định
Vào
khoảng mùa hè năm 1966, Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ở vào t́nh thế một
cuộc pḥng thủ chiến lược trong ít nhất là một năm khi nó phải nỗ
lực một cách tuyệt vọng để cung cấp quân lính và quân trang vào miền
Nam nhằm không bị thua kém với cuộc đổ quân ồ ạt của các lực lượng
chiến đấu Mỹ vào Việt Nam Cộng ḥa. Đây không phải là một t́nh h́nh
dễ chịu cho những người cộng sản Việt Nam, những người, cũng giống
như tất cả các nhà Mác xít chân chính, tin rằng điều cốt yếu là phải
giữ vững được lập trường ban đầu và luôn không ngừng tấn công. Điều
không tránh khỏi là họ sẽ phải cố gắng giành lại thế tấn công ban
đầu.
Giữa tháng Sáu năm 1966, tiểu ban của Bộ Chính trị chuyên trách cuộc
chiến tranh ở miền Nam do Lê Duẩn đứng đầu và có thêm Nguyễn Chí
Thanh (người có mặt ở Hà Nội cho công việc tham vấn), gặp Quân ủy
Trung ương tại Hà Nội để bàn bạc về kế hoạch Bộ Tổng Tham mưu cho
chiến dịch “đông-xuân” 1966-1967. Mục đích của chiến dịch ghi trên
kế hoạch là “giành một thắng lợi mang tính quyết định” trước Việt
Nam Cộng ḥa trong năm 1967. Một cuốn sách của Cục Tác chiến Bộ Tổng
Tham mưu tóm tắt kế hoạch như sau: “[Chúng ta sẽ] sử dụng 4 khối chủ
lực tiến công địch trên 4 chiến trường: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu
5, Trị Thiên; kết hợp với tiến công và khởi nghĩa ở 3 thành phố lớn
Sài G̣n, Đà Nẵng, Huế, tiêu diệt và đánh tan ră chủ lực quân ngụy,
đánh thiệt hại nặng quân Mỹ, giành thắng lợi quyết định trên chiến
trường miền Nam trong năm 1967.”[20]
Theo các ghi chép từ cuộc gặp, Nguyễn Chí Thanh ủng hộ ư tưởng t́m
kiếm một “thắng lợi mang tính quyết định” trong năm 1967 nhưng thận
trọng v́ trong dịp đông-xuân sắp tới các lực lượng Trung ương Cục
miền Nam tại miền Nam sẽ phải tập trung vào các hoạt động pḥng thủ
nhằm đánh thắng “cuộc phản công chiến lược” mùa khô 1966-1967 của Mỹ.
Điều đó có nghĩa là các lực lượng cộng sản sẽ phải tiếp tục chiến
đấu trong mùa hè thay v́ có đợt ngưng như thường lệ để nghỉ ngơi và
củng cố lực lượng. Trong cuộc gặp, tướng Vơ Nguyên Giáp bày tỏ sự
ủng hộ của ông đối với việc tiến hành “những trận đánh lớn” nhằm
giành một thắng lợi, nhưng nhấn mạnh rằng những cuộc tấn công vào
các thành phố cần được khởi đầu bằng những tấn công quân sự nhỏ và
chỉ dần dần tiến tới bước “nổi dậy” tại một số vùng và thành phố đặc
thù, khi mà các lực lượng cộng sản đă chiếm được quyền kiểm soát ở
những vùng đó.[21]
Cuộc thảo luận tháng Sáu năm 1966 về kế hoạch cho một “thắng lợi
mang tính quyết định” hẳn đă chịu ảnh hưởng từ các cuộc nổi dậy của
Phật giáo và biến động miền Trung nửa đầu của năm 1966, những ǵ mà
phe cộng sản hẳn đă coi như là các dấu hiệu cho thấy quân đội Việt
Nam Cộng ḥa và chính phủ miền Nam bắt đầu sụp đổ. Tuy nhiên, có vẻ
như là sẽ đúng hơn nếu nói nó phản ánh một quyết định về chính sách
ban đầu của Bộ Chính trị cuối cùng được chính thức hóa vào tháng
Giêng 1967, khi Trung ương Đảng Cộng sản thông qua Nghị quyết hội
nghị mười ba, kêu gọi việc thực hiện một chiến lược “vừa đánh vừa
đàm” và khởi đầu các cuộc thương thuyết với Mỹ.
Trong các tŕnh bày riêng biệt trong cuộc tranh luận về Nghị quyết
13, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Tổng Tham mưu trưởng,
tướng Văn Tiến Dũng, nói với các đại biểu của Trung ương rằng v́ hai
phía trong cuộc chiến tranh đều đang rất bế tắc, người Mỹ đang phải
đối diện với một lựa chọn giữa ba chiến lược có thể có cho tương lai:
(1) mở rộng chiến tranh thông qua mở rộng ném bom và xâm lấn Việt
Nam Dân chủ Cộng ḥa, (2) gửi thêm rất nhiều quân và quân trang để
chiến đấu và t́m cách chiến thắng trong một cuộc chiến kéo dài tại
miền Nam, hoặc (3) nỗ lực để giành một thắng lợi quân sự quan trọng
trong năm 1968 rồi sử dụng thắng lợi đó thương thuyết một giải pháp
chính trị từ một vị thế có sức mạnh, một giải pháp có thể vẫn cho
phép giữ lại chính quyền “tân thực dân” ở Việt Nam Cộng ḥa.
Những lựa chọn đó mang lại cho người cộng sản Việt Nam không chỉ một
mối đe dọa nguy hiểm mà cả một cơ hội nữa. Bộ trưởng Ngoại giao
Nguyễn Duy Trinh nói với Trung ương rằng bởi có bất ổn ngay trong
ḷng nước Mỹ, và đặc biệt là bởi có tác động mà cuộc chiến hẳn sẽ có
lên kỳ tranh cử tổng thống năm 1968, một cuộc tranh luận nảy lửa
đang nổ ra bên trong giới chức Mỹ giữa phe “diều hâu”, những kẻ ủng
hộ hành động mạnh mẽ hơn chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, và phe
“bồ câu”, những người ủng hộ thương thuyết để chấm dứt chiến tranh
nhưng vẫn giữ lại một miền Nam Việt Nam độc lập. Vị bộ trưởng ngoại
giao nói rằng Tổng thống Lyndon B. Johnson đang không chắc sẽ phải
làm ǵ nhưng nghiêng về giải pháp thứ ba, t́m kiếm một dạng thành
công nhanh chóng về quân sự với liền tiếp theo là một thỏa thuận
thông qua thương thuyết trước khi diễn ra bầu cử, nhằm được tiếp tục
tại vị.[22]
Nguyễn Duy Trinh khuyên Trung ương thông qua chiến lược do Bộ Chính
trị đề ra, sử dụng “củ cà rốt” thương thuyết và một “chiến lược vừa
đánh vừa đàm” nhằm khai thác mong muốn của Johnson trong việc thực
hiện được một thỏa thuận thông qua thương thuyết trước kỳ bầu cử
1968. Nguyễn Duy Trinh nói rằng Bộ Chính trị đă đặt ra hai mục tiêu
chính cho các thương thuyết. Mục tiêu thứ nhất là làm cho nước Mỹ
ngừng ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, và mục tiêu thứ hai là buộc
Mỹ rút quân khỏi miền Nam.
Ư
tưởng sử dụng chiến lược vừa đánh vừa đàm không phải là điều ǵ mới
mẻ. Tổng bí thư Lê Duẩn từng bàn về ư tưởng này trong một bài phát
biểu vào dịp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng Mười
hai 1965. Trong bài phát biểu, ông nói rơ rằng có nhiều ư kiến khác
nhau ngay trong phe xă hội chủ nghĩa về việc sử dụng “vừa đánh vừa
đàm”, và ông đă chỉ ra các điều kiện cần thiết trước khi một chiến
lược như vậy có thể được sử dụng: trước hết Việt Nam Dân chủ Cộng
ḥa phải giành được “những thắng lợi to lớn và gịn giă hơn nữa” và
phải đạt được sự nhất trí ở mức độ nào đó “trong các đảng, các nước
xă hội chủ nghĩa anh em… về ư tưởng vừa đánh vừa đàm.”[23]
Nhiệm vụ có được một sự nhất trí nào đó với “các nước xă hội chủ
nghĩa anh em” trong việc sử dụng ư tưởng vừa đánh vừa đàm thuộc về
các nhà ngoại giao và lănh tụ chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng
ḥa; Liên Xô đang mạnh mẽ thúc đẩy giới lănh đạo Việt Nam Dân chủ
Cộng ḥa bước vào đàm phán, trong khi Trung Quốc kịch liệt phản đối
mọi thương thuyết với Mỹ.[24]
Tuy nhiên, trước khi các đàm phán có thể bắt đầu, trước hết Quân đội
Nhân dân Việt Nam cần giành được một thắng lợi quan trọng ở mặt trận
nhằm cung cấp cho các nhà ngoại giao của họ thế mạnh đối với người
Mỹ tại bàn đàm phán. Như Nguyễn Duy Trinh tŕnh bày trong báo cáo
của ông tại hội nghị Trung ương, “khi chưa giành được thắng lợi đó
th́ trên bàn hội nghị cũng chưa giành được thắng lợi.”[25]
Để
hỗ trợ cho chiến lược vừa đánh vừa đàm, Nghị quyết 13 của Trung ương
kêu gọi một “cố gắng cao độ… giành thắng lợi quyết định trong thời
gian tương đối ngắn”. Một “thắng lợi quyết định” được định nghĩa như
là thắng lợi gây ra tổn thất nặng nề cho quân Mỹ, tiêu diệt một lực
lượng lớn của quân đội Việt Nam Cộng ḥa nhằm làm cho quân đội đó
trở nên tê liệt, và tạo ra một cuộc “tổng công kích-tổng khởi nghĩa”
tại các thành phố và các vùng nông thôn. Mục đích tối hậu là làm cho
chính quyền Việt Nam Cộng ḥa sụp đổ và thay thế nó bằng một chính
quyền liên hiệp không cộng sản rộng răi, sẽ kiên quyết đàm phán một
thỏa thuận cho phép Mỹ rời khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt.[26]
Tuy nhiên, nghị quyết cũng rất rơ ràng ở điểm cuộc tổng công
kích-tổng khởi nghĩa sẽ chỉ được tiến hành vào thời điểm cuối của
một tiến tŕnh dần dần, từng bước một: “Kết hợp với đấu tranh chính
trị, [chúng ta phải] xây dựng thực lực, từng bước giành quyền làm
chủ của ta ở các đô thị, làm yếu sự kiểm soát của địch, đẩy mạnh
phong trào đô thị, tạo điều kiện tiến lên tổng công kích và tổng
khởi nghĩa.”[27]
Chưa hề có một ư nghĩ nào về việc tung ra một cuộc tổng công
kích-tổng khởi nghĩa một mất một c̣n tại các thành phố trước khi các
lực lượng quân sự của kẻ thù đă bị nghiền nát.
Trong ṿng hơn một năm, trọn vẹn năm 1966 và tới nửa đầu năm 1967,
Nguyễn Chí Thanh và Vơ Nguyên Giáp tiến hành một “cuộc chiến lời lẽ”
trên các tờ báo và tạp chí lư luận cộng sản về tương quan đúng đắn
giữa “những trận đánh lớn” và chiến tranh du kích. Rất nhiều điều đă
được viết ra về những lư lẽ ấy, và ở đây cũng sẽ không có ǵ nhiều
để thêm vào.[28]
Tôi tin rằng việc những lư lẽ hết sức công khai đó nghiêm túc đến
mức độ nào xứng đáng là chủ đề của một tranh luận. Trong Bộ Chính
trị của Việt Nam thời chiến, cũng như trong phần lớn các tổ chức độc
tài, lư lẽ càng nghiêm túc th́ nó càng được giữ bí mật hơn – Bộ
Chính trị không thích vạch áo cho người xem lưng.
Dẫu
cho tầm quan trọng thực thụ của cuộc đối đầu tay đôi của các bài báo
Nguyễn Chí Thanh-Vơ Nguyên Giáp có là như thế nào, th́ Nghị quyết 13
cũng rất rơ ràng về việc lănh đạo đảng đă quyết định áp dụng một
chiến lược hỗn hợp quân sự-chính trị-ngoại giao hướng tới đạt được
một thỏa thuận qua đàm phán với các điều khoản thuận lợi cho người
cộng sản nhưng điều này không gây ra một thất bại rơ ràng và làm
người Mỹ bị nhục nhă. Quyết định này có nghĩa là lư lẽ “những cuộc
chiến lớn” đă chiến thắng, bởi chiến lược mới đ̣i hỏi một thành công
quân sự nhanh chóng và có tầm vóc lớn theo một cách nào đó nhằm mang
lại cho các nhà ngoại giao phe cộng sản lợi thế mà họ cần để đàm
phán một giải pháp chấp nhận được.
Quyết định của đảng có thể dự đoán theo hai nhận định sau đây: (1)
Các đánh giá về mặt chính trị trước kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968
có thể khiến cho người Mỹ hướng theo một thỏa thuận như vậy, và (2)
nếu người cộng sản không nhanh chóng có động thái, người Mỹ có thể
tự có quyết định trước trong việc sử dụng một dạng hành động quân sự
lớn nào đó (chẳng hạn tấn công ồ ạt miền Bắc Việt Nam hoặc tấn công
sang Lào để cắt đứt đường ṃn Hồ Chí Minh) nhằm phá vỡ thế bế tắc và
kết thúc chiến tranh với lợi thế thuộc về Mỹ trước kỳ bầu cử.
Tháng Tư năm 1967, lănh đạo cấp cao của Bộ Tổng Tham mưu gặp nhau để
thảo luận về các đường hướng cho một kế hoạch nhằm giành một “thắng
lợi quyết định” trong chiến dịch “đông-xuân” 1967-1968. Các lănh đạo
nhấn mạnh mối đe dọa, cho rằng các lực lượng cộng sản phải thọc sâu
thật nhanh, trong khi Mỹ vẫn đang xem xét việc thay đổi chiến lược.
(Chính vào lúc này tướng William Westmoreland vừa mới gửi một yêu
cầu tới Washington đ̣i tăng thêm hai trăm ngh́n quân, các lực lượng
có thể được sử dụng cho các cuộc tấn công trên bộ vào Việt Nam Dân
chủ Cộng ḥa hoặc Lào).[29]
Lănh đạo Bộ Tổng Tham mưu miêu tả t́nh thế như sau: “Nếu mùa hè 1967
ta không tạo được chuyển biến để giành thắng lợi th́ cả hai miền
Nam-Bắc sẽ gặp nhiều khó khăn trong năm 1968.”[30]
Các
sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho những người chịu
trách nhiệm lên kế hoạch là trong khi làm dự thảo kế hoạch, họ cần
tính đến các “yếu tố chính trị” – cuộc bầu cử tổng thống tại Việt
Nam Cộng ḥa vào tháng Chín năm 1967 và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ
vào tháng Mười một năm 1968. Ban lănh đạo đặt ra các mục tiêu cần
đạt được nhằm giành thắng lợi mong muốn: (1) “tiêu diệt” 150.000
lính Mỹ, bao gồm cả việc tiêu diệt ba trên năm lữ đoàn Mỹ, (2) “tiêu
diệt” 300.000 quân Việt Nam Cộng ḥa, bao gồm cả việc tiêu diệt từ
sáu đến bảy sư đoàn, (3) “giải phóng” từ 5 đến 8 triệu người dân
miền Nam và (4) “giải phóng” các thành phố Đông Hà và Quảng Trị,
tiêu diệt các căn cứ địch tại Ban Mê Thuột và Kon Tum, và tiến hành
các đợt tấn công vào Huế, Sài G̣n, cũng như thủ phủ của nhiều tỉnh.[31]
Tiểu ban của Bộ Chính trị chuyên trách chiến tranh tại miền Nam gặp
nhau nhiều lần trong khoảng thời gian từ cuối tháng Tư tới tháng Sáu
năm 1967 nhằm xem xét kế hoạch do Bộ Tổng Tham mưu vạch ra. Ngay cả
Tổng Tham mưu trưởng, tướng Văn Tiến Dũng, cũng không hài ḷng với
kế hoạch. Nhiều năm sau Văn Tiến Dũng sẽ nhớ lại:
“Kế
hoạch đă được tŕnh lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, nhưng
càng nghĩ về nó, chúng tôi càng cảm thấy bất an. Kế hoạch giống như
kế hoạch của chúng ta cho chiến dịch đông-xuân trước đó, khác biệt
duy nhất là các mục đích cao hơn. Các mục tiêu và các chiến thuật,
phương pháp đánh trận, đều vẫn giống như những ǵ chúng ta đă thực
hiện năm trước đó, nhưng thực tế mặt trận cho thấy chúng ta sẽ không
thể đạt được các mục tiêu ấy.”[32]
Theo một bộ sách của Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, khi những
mối quan ngại được tŕnh bày về các khiếm khuyết của kế hoạch, tướng
Nguyễn Chí Thanh, người ở Hà Nội từ đầu năm 1967, chỉ trả lời rất
đơn giản bằng cách yêu cầu Cục Tác chiến tiếp tục nghiên cứu các ư
đồ chiến lược với mục đích sao cho các lực lượng cộng sản có thể
được đưa tới điểm nơi có thể hoàn thành các mục tiêu đă định.[33]
Vấn
đề có vẻ như là không thể giải quyết. Một cuốn sách của bên cộng sản
Việt Nam cho biết vào thời điểm kết luận của cuộc họp Bộ Chính trị
tháng Sáu năm 1967 nhằm xem xét kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu cho
cuộc tấn công 1968, “Bộ Chính trị không thể h́nh dung được là một
thắng lợi mang tính quyết định có thể đạt được trong năm 1968 thông
qua các trận đánh quy mô lớn… Sau hai năm trực tiếp chiến đấu chống
lại quân đội Mỹ… Việt Nam nhận ra rằng việc tiêu diệt hoàn toàn một
đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn… là rất khó.”[34]
Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị, Lê Duẩn nhấn mạnh mối nguy của
hành động quân sự mang tính quyết định có thể có từ phía Mỹ nếu
không t́m ra được một giải pháp cho vấn đề giành được một thắng lợi
quân sự mạnh mẽ nhanh chóng. Lê Duẩn nói, “Mỹ không c̣n con đường
nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ,
ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không
chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị.
Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam.”[35]
Một cái chết và một cuộc soán đổi
Vào
buổi sáng sớm ngày 6 tháng Bảy năm 1967, tiếp theo một ngày dành
riêng cho tiệc tùng thuộc một loạt bữa tiệc tạm biệt trước khi ông
lên đường quay về mặt trận miền Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh lên cơn
nhồi máu tại nhà ḿnh ở Hà Nội. Ông được đưa ngay vào Bệnh viện Quân
đội 108, bệnh viện tốt nhất trên toàn miền Bắc, nhưng vào lúc chín
giờ sáng, trái tim ông đă ngừng đập và ông được tuyên bố là đă qua
đời.[36]
Cái
chết của tướng Nguyễn Chí Thanh đặt chính sách cộng sản Việt Nam tại
miền Nam vào một sự lúng túng to lớn. Không chỉ đảng phải gánh lên
vai ḿnh một kế hoạch có vẻ như không hứa hẹn nhiều triển vọng thành
công, mà giờ đây vị lănh đạo lên kế hoạch ấy đă chết. Ngày hôm sau
hai sĩ quan cộng sản cao cấp, tướng Chu Huy Mân và thượng tướng
Nguyễn Văn Vịnh, được cử vào Nam (qua đường Trung Quốc và Cambodia)
để truyền đạt cho bộ tư lệnh miền Nam những dự tính mới nhất của
đảng về chiến dịch đông-xuân 1967-1968,[37]
nhưng các truyền đạt của họ không thể nào bù đắp được khoảng trống
do cái chết của Nguyễn Chí Thanh để lại. Cần phải chọn một nhà lănh
đạo mới cho miền Nam, và gần như không thể tránh khỏi việc chỉnh sửa
kế hoạch. Con đường đă rộng mở cho một con người đầy tham vọng đang
hăng hái tiến về phía trước nhằm nắm lấy quyền chỉ huy – và con
người đó đă sẵn sàng. Tên ông là Văn Tiến Dũng.
Tướng Văn Tiến Dũng từng là thuộc cấp của tướng Vơ Nguyên Giáp trong
ṿng một thập niên rưỡi. Văn Tiến Dũng từng là Tổng Tham mưu trưởng
Quân đội Nhân dân Việt Nam khi Vơ Nguyên Giáp là tư lệnh tối cao Các
Lực lượng Vũ trang và bí thư Quân ủy Trung ương. Có khả năng là hai
người không có nhiều điểm chung với nhau. Vơ Nguyên Giáp là người
gốc miền Trung, xuất thân từ một gia đ́nh quan lại, từng học đại học
và làm thầy giáo tại một trường trung học (một nghề được kính trọng
tại Đông Dương thời thuộc Pháp). Tướng Văn Tiến Dũng sinh ra ngay
tại ngoại thành Hà Nội, xuất thân từ giai cấp nông dân, chỉ học tới
lớp sáu, và từng làm công nhân b́nh thường trong một xưởng dệt.[38]
Tâm tính nóng nảy của Vơ Nguyên Giáp được cả bạn bè lẫn kẻ thù của
ông biết rơ, nên làm việc cho ông trong một quăng thời gian dài đến
vậy hẳn không luôn luôn là một việc dễ dàng. Mặc dù chúng ta không
thể biết liệu hành động mà Văn Tiến Dũng thực hiện có phải là để chủ
ư thay thế Vơ Nguyên Giáp và chuyển lên nắm giữ vị trí của người thủ
trưởng hay không, hành động của Văn Tiến Dũng rơ ràng là bước đi đầu
tiên trong việc đưa tiến tŕnh ấy vào thực tế.
Trong một bài phỏng vấn với tờ báo Quân đội Nhân dân vào năm
2004, Văn Tiến Dũng miêu tả những ǵ xảy ra sau đó: “Càng nghĩ về
t́nh h́nh, tôi lại càng tin rằng chúng ta phải có những mục đích mới,
những mục tiêu mới, và những phương pháp tiến công mới. Chúng ta cần
rà soát lại toàn bộ kế hoạch đông-xuân 1967-1968. Tôi xin được gặp
đồng chí Lê Duẩn để thảo luận về vấn đề này.”[39]
Nói một cách khác, Văn Tiến Dũng đă vượt cấp tướng Vơ Nguyên Giáp để
gặp riêng kẻ thù lớn của thủ trưởng ḿnh, Lê Duẩn. Ư nghĩa của hành
động này hẳn không lọt qua được mặt Lê Duẩn.
Sau
khi Văn Tiến Dũng tŕnh bày các mối lo ngại về tính chất không thích
hợp của kế hoạch hiện có, Lê Duẩn trả lời bằng một đề nghị rất đáng
kinh ngạc: Tại sao chúng ta lại không thể đẩy cuộc tấn công chiến
lược của chúng ta tới giai đoạn cuối cùng, cuộc tổng công kích-tổng
khởi nghĩa?[40]
Về
thực chất, Lê Duẩn gợi ư rằng, v́ các lực lượng cộng sản ở miền Nam
không có khả năng hoàn thành các mục tiêu tức thời được cho là cốt
yếu trong việc tạo ra những điều kiện cho phép “các lực lượng cách
mạng” tiến đến giai đoạn gần kết của cuộc chiến, cho nên các bước
tức thời cần được bỏ qua. Trước đây ai cũng nhất trí về các điều
kiện cần có trước khi một cuộc tổng khởi nghĩa được tiến hành – quân
đội Việt Nam Cộng ḥa và bộ máy an ninh Việt Nam Cộng ḥa bị nghiền
nát và các lực lượng Mỹ bị tê liệt và/hoặc vô hiệu hóa – bởi v́ nếu
các điều kiện đó không được đảm bảo th́ quân đội Việt Nam Cộng ḥa
và lực lượng Mỹ sẽ chỉ đơn giản là đàn áp “những người cách mạng”
thường dân không có vũ trang đưa dân chúng xuống đường trong cuộc
tổng khởi nghĩa. Giờ đây Lê Duẩn gợi ư rằng, khi thiếu vắng dù chỉ
một lựa chọn khả dĩ nào khác về việc đạt được mục tiêu tức thời,
những người cộng sản phải xem xét đến việc đánh liều mọi thứ vào một
canh bạc. Văn Tiến Dũng đồng ư ngay với Lê Duẩn, và Lê Duẩn sai Văn
Tiến Dũng điều hành Quân ủy Trung ương chuẩn bị một báo cáo theo
hướng này để Bộ Chính trị xem xét.[41]
Vơ Nguyên Giáp có thể vẫn là bí thư của Quân ủy Trung ương, nhưng
mệnh lệnh trên thực tế đă trao quyền hạn cho Văn Tiến Dũng, v́ tướng
Văn Tiến Dũng nhận lệnh trực tiếp từ đích thân Lê Duẩn.
Tại
sao Văn Tiến Dũng lại đồng ư với một gợi ư như thế? Với tư cách một
quân nhân chuyên nghiệp, hẳn ông phải nhận ngay ra những nguy cơ
tiềm tàng trong lời gợi ư của Lê Duẩn. Chắc chắn một trong các lư do
nằm ở tham vọng cá nhân của chính Văn Tiến Dũng. Một lư do khác có
thể là kế hoạch ban đầu đă đặt thẳng lên vai quân đội trách nhiệm
tiên quyết về thắng lợi hay thất bại. Gợi ư của Lê Duẩn có nghĩa là
giờ đây quân đội có thể chia sẻ trách nhiệm về thắng lợi hay thất
bại với bộ phận chính trị và tuyên truyền của đảng, bộ phận có trách
nhiệm thúc đẩy và lănh đạo cuộc tổng khởi nghĩa. Nếu kế hoạch ban
đầu thất bại, Văn Tiến Dũng có thể mất chức Tổng Tham mưu trưởng,
nhưng một liên minh với Lê Duẩn ở kế hoạch mới này có thể bảo vệ Văn
Tiến Dũng và giúp ông thăng tiến trong sự nghiệp. Ngay cả khi kế
hoạch này thất bại, th́ mọi người sẽ chỉ coi Lê Duẩn, chứ không phải
Văn Tiến Dũng, như là kiến trúc sư của kế hoạch. Chắc chắn đây không
phải lần đầu tiên một vị tướng nhắm mắt làm theo một kế hoạch đầy
nguy cơ được đẩy sang cho ông từ các thượng cấp về chính trị, một kế
hoạch lờ đi các hậu quả của những quyết định về quân sự. Chỉ cần
nghĩ tới các thành viên của Bộ Tổng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ trong
những giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Việt Nam[42]
hoặc của tướng Tommy Franks trong Chiến dịch Iraq Tự do là đủ.
Một cuộc tranh luận dai dẳng và sự biến mất của Vơ Nguyên Giáp
Ngày 18-19 tháng Bảy năm 1967, Bộ Chính trị gặp để xem xét kế hoạch
mới về giành một thắng lợi mang tính quyết định. Kế hoạch mới mà Lê
Duẩn và Văn Tiến Dũng nhất trí với nhau vẫn chưa được đưa ra, nhưng
ư tưởng chung về kế hoạch có vẻ như đă được tŕnh bày lần đầu tiên ở
cuộc gặp này: một cuộc tấn công chính trị-quân sự một mất một c̣n
hướng vào các thành phố trong khi các lực lượng lớn của cộng sản tập
trung nỗ lực vào việc lừa quân địch xa khỏi các thành phố và ḱm
chân đủ lâu để cho phép các cuộc tấn công thành phố thành công trong
việc lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng ḥa. Các ghi chép của Văn Tiến
Dũng tại cuộc gặp cho thấy lănh tụ đáng kính của Bắc Việt, Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đă nêu nhiều câu hỏi về tính khôn ngoan của kế hoạch.
Các ghi chép của Văn Tiến Dũng cho biết Hồ Chí Minh đă nêu lên những
điểm sau:
1.
Dự thảo báo cáo tốt, toàn diện, lạc quan, nhưng cần xem báo cáo
của Quân ủy có chủ quan [phi thực tế] không?
2.
Tranh thủ giành thắng lợi sớm, nhưng phải chú ư đánh lâu dài.
3.
Thuận lợi có nhiều nhưng phải thấy những khó khăn như mặt hậu
cần bảo đảm.
4.
Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ư đến việc giữ sức
dân, nếu người và của kiệt, th́ quân nhiều cũng không đánh được.
5.
Phải chú ư mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường trang bị cho du
kích.
6.
Phải làm sao ta càng đánh càng mạnh, đánh liên tục đánh được lâu dài
[nghĩa là có khả năng thực hiện một cuộc chiến tranh lâu dài].[43]
Tài
liệu đă công bố của cộng sản không cho biết phản ứng của tướng Vơ
Nguyên Giáp trước kế hoạch, cũng như việc liệu vị tướng có mặt ở
cuộc họp hay không. Từ thời điểm này trở đi không có tài liệu đă
công bố nào cho thấy Vơ Nguyên Giáp hiện diện ở bất kỳ cuộc họp lên
kế hoạch nào, và một sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam đă công
nhận rằng
“trong giai đoạn kế hoạch chiến lược đang thành h́nh, cũng như trong
những ngày khởi đầu làn sóng đầu tiên của cuộc tổng tiến công chiến
lược Tết Mậu Thân, Tổng Tư lệnh Vơ Nguyên Giáp thường xuyên vắng mặt
khỏi Bộ Tổng Hành dinh và không dự nhiều cuộc họp quan trọng của Bộ
Chính trị, Quân ủy Trung ương, hay các cuộc gặp chung của tiểu ban
năm người trong Bộ Chính trị tổ chức với Quân ủy Trung ương.”[44]
Tuy
nhiên, các nguồn thông tin của Việt Nam nói tướng Vơ Nguyên Giáp
phản đối nhiều chi tiết quan trọng trong kế hoạch ngay từ đầu bởi v́,
ông nói, một cuộc tổng khởi nghĩa là không thể thực hiện trừ khi các
lực lượng đối phương, quân đội Việt Nam Cộng ḥa và lực lượng Mỹ, đă
bị làm cho tê liệt.[45]
Mặc
cho những phản đối của Hồ Chí Minh, Vơ Nguyên Giáp và nhiều người
khác, tiến tŕnh lập kế hoạch vẫn được thực hiện với một nhịp điệu
gấp gáp, với Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng ở vị trí chỉ huy, và đến cuối
tháng Tám kế hoạch đă thành h́nh. Thành viên Bộ Chính trị Phạm Hùng,
người đă được cử vào Nam hồi tháng Tám để thay chỗ Nguyễn Chí Thanh
làm bí thư Trung ương Cục miền Nam và lănh đạo miền Nam, mang theo
cùng với ḿnh bản dự thảo đầu tiên của kế hoạch mới “tấn công các đô
thị”. Các nhà lănh đạo cao cấp từ tất cả các vùng miền Nam được gọi
ra Bắc để được thông báo về ư tưởng mới trước khi quay trở về xây
dựng kế hoạch riêng của ḿnh nhằm thực hiện ư tưởng trong sự bí mật
tuyệt đối.[46]
Kế
hoạch mới đặc biệt tập trung vào việc tấn công các thành phố và gây
nên một “cuộc tổng khởi nghĩa”, nhưng kế hoạch trước đó muốn các lực
lượng chính chiến đấu “các trận đánh lớn” vẫn không hoàn toàn bị
loại bỏ. Trên thực tế, có vẻ như là ở một số khía cạnh của cuộc tổng
công kích-tổng khởi nghĩa, nghĩa là những cuộc tấn công vào mọi đô
thị và thủ phủ các tỉnh, chỉ đơn giản là dựa vào kế hoạch cũ, nhờ
cậy tới lực lượng chính, những cuộc tấn công và những “trận đánh lớn”
đối với một số đô thị được lựa chọn nhằm tạo cơ sở cho những cuộc
nổi dậy trong tương lai. Yếu tố “trận đánh lớn” chủ yếu của kế hoạch
mới giờ đây được tập trung vào Chiến trường B5, tức nửa phía Bắc
tỉnh Quảng Trị, ngay phía Nam của Vùng Phi quân sự và giới tuyến
Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa và trải dài từ Khe Sanh trên biên giới với
Lào sang tới vùng Đông Hà, bờ biển phía Đông. Bốn sư đoàn chính quy
của Quân đội Nhân dân Việt Nam và các đơn vị hỗ trợ ở khu vực này
chịu trách nhiệm “tiêu diệt khoảng từ hai mươi tới ba mươi ngh́n
quân địch, tiêu diệt tổng cộng từ năm tới bảy tiểu đoàn lính Mỹ và
từ hai tới ba trung đoàn quân ngụy, và dụ từ hai đến ba sư đoàn địch
(ít nhất là hai trong số đó là lính Mỹ) ra khỏi các vùng khác nhằm
tham chiến dọc theo Đường 9.”[47]
Cuối tháng Mười, Bộ Chính trị họp trong năm ngày (từ 20 đến 24 tháng
Mười) để xem xét và thông qua kế hoạch mới được tŕnh lên. Thật đáng
ngạc nhiên, cả Lê Duẩn lẫn Vơ Nguyên Giáp đều không dự cuộc họp này,
và Trường Chinh là người chủ tŕ hội nghị Bộ Chính trị đó. Một cuốn
sách thời hậu chiến của Việt Nam cho biết cả Lê Duẩn lẫn Vơ Nguyên
Giáp đều “ở nước ngoài” để điều trị sức khỏe.[48]
Các “vấn đề sức khỏe” rất có thể chỉ là một cái cớ, và người ta có
thể hữu lư khi cho rằng cuộc tranh căi giữa hai người đă trở nên gay
gắt đến mức nhằm giữ được “ḥa khí” cả hai đều không được dự hội
nghị.
Quả
thực, vào quăng thời gian Bộ Chính trị họp, Vơ Nguyên Giáp, nhận ra
lư lẽ của ḿnh có khả năng bị thua, đă ở Hungary, nơi ông “nghỉ ngơi”
và điều trị bệnh thận. Vị tướng cố t́nh tŕ hoăn việc trở về Việt
Nam và măi đầu tháng Hai 1968 mới về tới Hà Nội, sau khi Cuộc
Tấn công Tết đă bắt đầu.[49]
Vơ Nguyên Giáp không công khai phản đối cuộc tấn công, nhưng ông đă
để cho sự vắng mặt của ḿnh ngầm chỉ ra sự bất đồng đối với kế hoạch
mới.
Vào
cuối cuộc hội nghị tháng Mười, Bộ Chính trị thông qua phần quân sự
của kế hoạch chiến dịch đông-xuân 1967-1968. Tuy nhiên, Bộ Chính trị
nhất quyết hoăn việc thông qua khía cạnh tổng khởi nghĩa của kế
hoạch, cho rằng cần phải “nghiên cứu thêm”. Các thành viên của Bộ
Chính trị nhận định rằng quyết định về phần cuộc tổng khởi nghĩa của
kế hoạch cần được thực hiện sau này, sau khi đă tham khảo ư kiến
“của các đồng chí lănh đạo khác”. Rơ ràng điều này muốn ám chỉ sự
vắng mặt của Vơ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, và Hồ Chí Minh, người đang
“hồi phục sức khỏe” tại Trung Quốc.[50]
Nhưng tướng Vơ Nguyên Giáp sẽ không cố gắng biện hộ cho lư lẽ của
ḿnh nữa, và “Bác Hồ”, người tỏ ra phản đối trong các thảo luận của
Bộ Chính trị hồi tháng Bảy, đă không c̣n đủ sức lực hoặc uy quyền để
lấn lướt Lê Duẩn được nữa.
Sau
thêm nhiều bàn luận và xem xét hăng hái về kế hoạch, Bộ Chính trị
lại họp vào tháng Mười hai, thông qua kế hoạch dưới h́nh thức một
nghị quyết sẽ được tŕnh lên Trung ương Đảng Cộng sản để được thông
qua lần cuối cùng. Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về một thời gian
rất ngắn để dự cuộc họp này nhưng sau đó lại ngay lập tức quay lại
Trung Quốc để tiếp tục “điều trị”.[51]
Vào
tháng giêng, Trung ương họp để xem xét và thông qua nghị quyết của
Bộ Chính trị cho phép tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Để
giữ “bí mật”, thay v́ họp ở Hà Nội các đại biểu Trung ương được
chuyển đi cách thành phố năm mươi km tới một huyện lỵ ở tỉnh Ḥa
B́nh.[52]
Lê Duẩn đọc diễn văn khai mạc phiên họp của Trung ương. Trong bài
diễn văn Lê Duẩn cho biết “trong Bộ Chính trị cũng có đồng chí bận
việc không đến được” và nói tướng Văn Tiến Dũng (chứ không phải Vơ
Nguyên Giáp) sẽ thay mặt Quân ủy Trung ương báo cáo cho hội nghị.[53]
Thành công của tướng Văn Tiến Dũng, ít nhất tạm thời, là hoàn toàn.
Sau
một số tranh luận, Trung ương thông qua kế hoạch, gọi tên là Nghị
quyết hội nghị mười bốn Ban Chấp hành Trung ương. Theo một nguồn tin
của Việt Nam, Hồ Chí Minh từ chối bỏ phiếu thông qua nghị quyết như
một cách thể hiện những dè dặt của ông về tính chất khôn ngoan của
kế hoạch.[54]
Không chỉ có một chi tiết cuối cùng c̣n chưa được rơ ràng. Thật đáng
ngạc nhiên, có lẽ là v́ những xung đột nội bộ gay gắt và các tranh
căi đi liền với việc h́nh thành kế hoạch, ngày giờ chính xác của
cuộc tấn công chưa được ấn định. Quyết định cuối cùng theo đó cuộc
tấn công sẽ được tiến hành vào đêm 30-31 tháng Giêng, đêm Nguyên đán,
măi 15 tháng Giêng mới được đưa ra, chỉ hai tuần trước khi khởi đầu
cuộc tấn công.[55]
Sự chậm trễ này gây ra bối rối đáng kể trong các tổng hành dinh cấp
vùng, tiểu vùng, và cấp tỉnh tại miền Nam. Ở một số vùng, bức điện
phút cuối của Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh mở cuộc tấn công vào đêm cuối
cùng của năm âm lịch c̣n bị hiểu nhầm v́ giữa Bắc và Nam Việt Nam có
khác biệt một ngày về khởi đầu của năm âm lịch. Chính v́ vậy, một số
tỉnh miền Trung tiến hành tấn công sớm hơn một ngày, đây là một phần
nguyên nhân làm mất đi tính chất bất ngờ của cuộc tấn công chính.[56]
Thêm vào đó, nhiều tổng hành dinh nhận được thông báo về ngày giờ
cuộc tấn công quá muộn thành thử không thể điều lực lượng đúng lúc
để tấn công theo đúng kế hoạch.[57]
Âm mưu hay trùng hợp?
Cuối tháng Bảy năm 1967, ngay tiếp theo sau sau phiên họp Bộ Chính
trị căng thẳng khi ư tưởng mới về cuộc tấn công 1968 của Lê Duẩn-Văn
Tiến Dũng được đem ra bàn luận, đợt đầu tiên trong nhiều đợt bắt các
nhóm những người bị gọi là chống đảng được thực hiện tại Hà Nội.
“Nhóm chống đảng” được cho là nằm dưới sự cầm đầu của Hoàng Minh
Chính, trước đây là viện trưởng Viện Triết học Marx-Lenin, và bị
nghi ngờ là âm mưu chống đảng và cung cấp thông tin cho một thế lực
nước ngoài không được nêu tên. Một đợt bắt bớ thứ hai những kẻ bị
coi là đồng mưu được tiến hành có tường thuật vào ngày 18 tháng Mười,
hai ngày trước khi diễn ra cuộc họp thứ hai của Bộ Chính trị bàn về
kế hoạch cuộc tấn công 1968, và đợt bắt bớ thứ ba được tiến hành vào
tháng Mười hai năm 1967, đồng thời với cuộc họp của Bộ Chính trị với
mục đích thông qua kế hoạch.[58]
“Vụ
án Chống Đảng” có nguồn gốc từ xung đột Trung Quốc-Liên Xô hồi đầu
những năm 1960. Cuối năm 1963, tiếp theo những thảo luận mở rộng và
tranh căi nội bộ, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản, dưới sự lănh đạo của tổng bí thư Lê Duẩn, đă thông
qua một nghị quyết chống lại “xét lại hiện đại”, một thuật ngữ được
người Trung Quốc dùng để miêu tả các chính sách của lănh tụ Liên Xô
Nikita Khrushchev về “cùng tồn tại ḥa b́nh” và tránh đối đầu quân
sự trực tiếp với phương Tây.[59]
Nghị quyết này và một nghị quyết đi kèm kêu gọi một nỗ lực quân sự
một mất một c̣n để đánh bại chế độ Ngô Đ́nh Diệm tại Việt Nam Cộng
ḥa chính là nguồn cơn cho sự chia rẽ bên trong Đảng Cộng sản Việt
Nam. Nhiều cán bộ cao cấp, trong đó có Hoàng Minh Chính, khi ấy là
viện trưởng Viện Triết học Marx-Lenin, và thượng tướng Đặng Kim
Giang, bị giáng chức hoặc mất chức, như là hậu quả của việc họ phản
đối các nghị quyết đó, những nghị quyết đă đặt người cộng sản Việt
Nam (ít nhất là trong thời điểm này) hẳn về phe Trung Quốc trong
cuộc xung đột Nga-Trung đang mở rộng. Sự phản đối trước các nghị
quyết mạnh mẽ đến mức một số cán bộ cao cấp Việt Nam đă trốn sang
Liên Xô.[60]
Những rạn nứt nội bộ của đảng thể hiện qua các tranh luận tại Hội
nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục dai dẳng.
Các rạn nứt nghiêm trọng đến mức vào tháng Mười hai năm 1965, tổng
bí thư Lê Duẩn buộc phải nói tới chúng trong một bài diễn văn tại
Hội nghị lần thứ mười hai Ban Chấp hành Trung ương. Trong bài diễn
văn này Lê Duẩn công nhận: “Từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9
về các vấn đề quốc tế, Trung ương Đảng ta vẫn giữ vững và làm đúng
đường lối đă đề ra. Nhưng sở dĩ có một số đồng chí hiểu lầm rằng
h́nh như đường lối của Đảng ta đă thay đổi là v́ các đồng chí ấy
không hiểu đúng tinh thần cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9
của Trung ương, do sự phổ biến nghị quyết ở một số nơi không được
đầy đủ và nghiêm túc.”[61]
Lê Duẩn tiếp tục bằng cách tuyên bố sẽ là sai lầm nếu nghĩ nghị
quyết của Hội nghị lần thứ 9 cho thấy đảng đă chọn phe trong cuộc
tranh căi Trung Quốc-Liên Xô. Ông cho biết “đường lối của Đảng ta
khác về chiến lược với đường lối của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng
Cộng sản Trung Quốc.”[62]
Một
cuốn sách chính thức của Công an Việt Nam xuất bản vào cuối những
năm 1970 công nhận rằng chế độ coi sự phản đối trước nghị quyết
“chống xét lại” năm 1963 của Trung ương Đảng Cộng sản là một mối đe
dọa về an ninh và cho biết sự phản đối này đă trực tiếp dẫn tới các
sự kiện của Vụ Chống Đảng năm 1967:
“Bè
lũ xét lại hiện đại t́m cách tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lê
nin. Một số phần tử trong nước ta đă sao chép các luận điểm của
chúng, sử dụng các khái niệm xét lại để tuyên truyền chống lại các
chính sách của đảng ta. Bọn họ đă vứt bỏ nghị quyết của Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng vào năm 1963, đường lối cơ bản của nghị
quyết là phê phán và phủ nhận chủ nghĩa xét lại hiện đại. Mặc dù các
hoạt động của bè lũ này không gây ra tổn thất nghiêm trọng, chủ
nghĩa xét lại đă bắt đầu gây ảnh hưởng tới hàng ngũ cán bộ tại một
số cơ quan chính quyền, đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ
thuật, khoa học, và luật pháp. Cần ghi nhận rằng bè lũ này đă tập
hợp các cá nhân bất măn, ghen tị và đồi trụy bên trong đảng để lập
ra một “tổ chức chính trị phản động để làm một tổ chức ngụy cho
người nước ngoài.”[63]
Một
chú thích cho đoạn trên nói, “Vụ Chống Đảng đă được giật dây bởi các
phần tử chịu ảnh hưởng của ư thức hệ xét lại và do Hoàng Minh Chính
cầm đầu.”[64]
Một
số cá nhân bị bắt trong đợt bắt bớ năm 1967 là sĩ quan cao cấp của
quân đội, gồm cả thượng tướng Đặng Kim Giang, người vào quăng thời
gian ấy đă bị điều sang Bộ Nông nghiệp, Thứ trưởng và Phó Tổng Tham
mưu trưởng thượng tướng Nguyễn Văn Vĩnh, và cục trưởng Cục Quân báo
của Bộ Tổng Tham mưu, đại tá Lê Trọng Nghĩa. Hai trong số những sĩ
quan ấy, thượng tướng Nguyễn Văn Vĩnh và đại tá Lê Trọng Nghĩa, từng
có dính líu rất sâu vào công việc chuẩn bị các kế hoạch cuộc tấn
công của Bộ Tổng Tham mưu, và cả hai đều tham gia trong các báo cáo
cho Bộ Chính trị trong cuộc thảo luận về kế hoạch vào tháng Mười.[65]
Nhiều sĩ quan trong số đó rơ ràng là có liên hệ mật thiết với tướng
Vơ Nguyên Giáp, và một số người bị bắt tuyên bố rằng các sĩ quan an
ninh thẩm vấn họ đă t́m kiếm sự liên kết giữa vị tướng họ Vơ và âm
mưu Chống Đảng.[66]
Trong hồi kư của ḿnh, tướng Cao Phá, Phó Cục trưởng Cục Quân báo
cho tới 1968, công nhận ông đă bị rối trí trước việc đảng bắt đầu
“sắp xếp lại các cấp bậc sĩ quan của… Bộ Chỉ huy Tối cao” vào quăng
thời gian diễn ra Cuộc Tấn công Tết.[67]
V́ “Chỉ huy Tối cao” là tên chính thức của bộ tổng hành dinh Vơ
Nguyên Giáp, lời b́nh luận này dường như đă xác nhận rằng quả thực
đă từng có một nhóm sĩ quan làm việc chung với tướng Vơ Nguyên Giáp.
Thông tin về vụ việc tuyệt mật này vẫn quá sơ sài, không đủ để rút
ra được kết luận cuối cùng nào về sự thật của những liên kết nước
ngoài như cáo buộc, nhưng các tài liệu do Ilya Gaiduk phát hiện tại
lưu trữ chính thức của Liên Xô trước đây cho thấy trong quăng thời
gian này các nhân viên Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội, có khả năng
là có cả một số sĩ quan t́nh báo, quả thực đă liên lạc với một nhóm
“chống đối” nhỏ gồm các nhân vật chính trị Bắc Việt từng bị cắt chức
từ nhiều năm trước đó. Những người ly khai này đă yêu cầu người Liên
Xô giúp đỡ nhằm làm giảm tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong các
quyết định về chính sách tại Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.[68]
Miêu tả của nhóm này có vẻ rất khớp với Hoàng Minh Chính và các bạn
của ông. Những liên hệ với người Liên Xô có vẻ đă là quá đủ để biện
minh cho các cuộc bắt bớ và tra hỏi, và một khi một “mối nguy về
gián điệp” và khe hở về an ninh đă lộ diện, một đợt bắt bố lớn gần
như là không thể tránh khỏi, đặc biệt là tại một nhà nước cảnh sát
như Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.
Trong khi c̣n chưa thể tiếp cận tài liệu lưu trữ của Đảng Cộng sản
và An ninh Việt Nam, không thể nào xác định tuyệt đối liệu việc lên
kế hoạch các vụ bắt bớ có liên quan tới những suy tư của Bộ Chính
trị về kế hoạch Tấn công Tết hay không, và liệu Vơ Nguyên Giáp có
quả thực là một trong các mục tiêu của cuộc điều tra hay không. Tuy
nhiên, có vẻ như là khi quyết định về thực hiện Tấn công Tết được
đưa ra, một cuộc tấn công hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố bất ngờ,
một mệnh lệnh đă được ban xuống ở mức độ cao nhất, “thắt chặt an
ninh”. Ban đầu mệnh lệnh này có thể không hướng tới các mục tiêu cụ
thể, nhưng chắc chắn là các lực lượng an ninh của Việt Nam Dân chủ
Cộng ḥa đă diễn giải nó như là một mệnh lệnh nhằm, nói như những
lời bất hủ của Claude Raines trong bộ phim Casablanca, “Tóm
hết những kẻ t́nh nghi!”
Tuy
cơ quan an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa thoạt đầu có thể chỉ
làm một việc là kiểm soát một cách thụ động các đường dây liên kết
với cán bộ Liên Xô của nhóm Hoàng Minh Chính, nhưng giờ đây đă rơ
ràng rằng các thành viên của nhóm bị bắt là để loại trừ mọi khả năng
bí mật về cuộc Tấn công Tết sắp diễn ra bị lọt ra bên ngoài. Sau đợt
bắt bớ đầu tiên, bất kỳ ai có liên hệ thậm chí là vô hại nhất với
những người âm mưu kia, bất kỳ ai từng biểu hiện bất kỳ sự dè dặt
nào đối với Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng, và bất kỳ ai có t́ vết
dù là nhỏ nhất trong lư lịch hoặc xuất thân gia đ́nh đều phải đối
mặt với các điều tra viên hăng hái đáp ứng yêu cầu của thượng cấp
trong việc t́m ra những “mối đe dọa an ninh” tiềm ẩn. Có bằng chứng
cho thấy rằng quả thực điều này đă xảy ra. Chẳng hạn, theo một hồi
kư viết bởi một sĩ quan cao cấp của t́nh báo và an ninh cộng sản
Việt Nam, sự suy sụp của tướng Nguyễn Văn Vĩnh chính là kết quả của
những nghi ngờ không có căn cứ theo đó con trai của vị tướng có liên
hệ với t́nh báo Pháp. Phải mười năm sau, ngay trước khi qua đời,
tướng Nguyễn Văn Vĩnh rốt cuộc mới minh oan được cho ḿnh.[69]
Mặt khác, việc liệu các nghi ngờ về con trai vị tướng có được sử
dụng để chống lại ông bởi ông có quan hệ mật thiết với tướng Vơ
Nguyên Giáp (Nguyễn Văn Vĩnh là thứ trưởng quốc pḥng và đă làm việc
rất gần gũi với tướng Vơ Nguyên Giáp) hoàn toàn là một vấn đề khác.
Mặc
dù không có bằng chứng chính xác nào cho thấy các vụ bắt bớ là cố
t́nh nhắm vào tướng Vơ Nguyên Giáp và các đồng minh của ông, th́
cũng rơ ràng rằng quả thực chúng đă gây tổn hại tới vị tướng, cả về
mặt nghề nghiệp lẫn mặt cá nhân. Năm 2004, trong một cuộc phỏng vấn
với phóng viên một tờ báo Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 50 năm Điện Biên
Phủ sụp đổ, Vơ Nguyên Giáp đă nhờ người phóng viên gọi điện cho một
thuộc cấp trung thành của ông, một người mà vị tướng nói đă rất gần
gũi với ông từ trận Điện Biên Phủ cho tới ngay trước cuộc Tấn công
Tết nhưng vị tướng nói là chỉ biết ông ta “tách rời” khỏi ông v́
những lư do “bất khả kháng” (tác giả nhấn mạnh). Vơ Nguyên
Giáp yêu cầu người phóng viên nói với người thuộc cấp trước kia là
trong cuộc phỏng vấn này vị tướng đă không “quên” nhắc tới đóng góp
của người thuộc cấp trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Người thuộc cấp
ngày xưa là người phụ trách bộ phận t́nh báo tại Điện Biên Phủ, đại
tá Lê Trọng Nghĩa, người từng là một trong các nạn nhân của đợt bắt
bớ năm 1967.[70]
Hành động này không chỉ cho thấy Vơ Nguyên Giáp vẫn c̣n một số t́nh
cảm đối với đại tá Lê Trọng Nghĩa và tin Lê Trọng Nghĩa đă bị đối xử
bất công, mà c̣n cho thấy vị tướng vẫn không thể trực tiếp liên lạc
với Lê Trọng Nghĩa, v́ các lư do chính trị.
Kết luận
Sau
khi từ Đông Âu trở về tiếp sau khi cuộc Tấn công Tết Mậu Thân đă bắt
đầu, Vơ Nguyên Giáp quay lại giữ chức tổng tư lệnh tối cao của Các
Lực lượng Vũ trang và bộ trưởng Bộ Quốc pḥng, nơi ông chỉ đạo đợt
Tấn công Tết thứ hai và thứ ba. Tướng Vơ Nguyên Giáp vẫn giữ các
cương vị lănh đạo trong Bộ Chính trị và các lực lượng vũ trang cho
tới khi chiến tranh kết thúc năm 1975, và ông đóng một vai tṛ quan
trọng trong việc lên kế hoạch và tiến hành cuộc tấn công cuối cùng
của cộng sản dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng ḥa và chiếm được
Sài G̣n tháng Tư năm 1975.[71]
Rơ ràng là quyền lực của ông bị giảm sút, nhưng ông vẫn là người
lính trung thành và “giữ đoàn kết” với các nhân vật c̣n lại của ban
lănh đạo đảng.
Bốn
mươi năm sau cuộc Tấn công Tết, giờ đây chúng ta vẫn chưa có được
kết luận về việc liệu quyết định của Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng tung
một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một c̣n ngay lập tức
là đúng, hay liệu Vơ Nguyên Giáp đă đúng khi phản đối quyết định ấy.
Tôi tin rằng đây là một việc tế nhị và câu chuyện quá phức tạp, với
quá nhiều biến số được đưa vào, nên không thể nói dù là ở mức độ
chắc chắn như thế nào về việc một t́nh huống cụ thể có thể xảy ra
như thế nào nếu lựa chọn một con đường khác.
Tuy
nhiên, lợi thế về thời điểm cũng cho phép chúng ta có được một số
kết luận về cuộc Tấn công Tết. Nhận định t́nh h́nh của cộng sản theo
đó chiến lược Tấn công Tết đă sinh ra rơ ràng là không chính xác ở
nhiều khía cạnh: Nhận định đó đă đánh giá quá cao số lượng thương
vong mà các lực lượng cộng sản gây ra cho Mỹ và các đồng minh; nó đă
đánh giá quá cao sự ủng hộ mà lư tưởng cộng sản nhận được trong dân
chúng miền Nam; và nó đă đánh giá thấp đến nực cười sức mạnh và khả
năng của quân đội Việt Nam Cộng ḥa. Tuy nhiên, quả thực người cộng
sản đă làm đúng được nhiều điều quan trọng: Họ đă kết luận một cách
đúng đắn rằng mức độ sẵn sàng can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam
là một điểm yếu chính có thể khai thác trong nỗ lực chiến tranh liên
minh ở miền Nam; nhận định của họ cho rằng mùa chiến dịch bầu cử
tổng thống Mỹ năm 1968 sẽ là giai đoạn trọng yếu trong việc xác định
con đường tương lai của chiến tranh Việt Nam từ phía Mỹ là vô cùng
chính xác; và kết luận của họ rằng chỉ thông qua việc sử dụng các
biện pháp đặc biệt họ mới có thể khai thác thời điểm của “điểm bùng
phát” này nhằm biến chuyển t́nh thế có lợi cho họ, xét cho cùng,
cũng là đúng. Chiến lược “các trận đánh lớn” đă từng có khả năng gây
tổn thất cho các lực lượng Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng ḥa, nhưng
Văn Tiến Dũng đă tuyệt đối đúng khi ông kết luận rằng các lực lượng
cộng sản chỉ đơn giản là không đủ khả năng dùng các trận đánh lớn để
tạo ra được các tổn thất hàng loạt lên kẻ thù mà quyết định của Bộ
Chính trị về t́m kiếm một “chiến thắng nhanh chóng” đ̣i hỏi.
Rốt
cuộc, với tất cả những thất bại của cuộc Tấn công Tết Mậu Thân của
cộng sản, ở số lượng rất nhiều, có một điều lộ ra: cuộc Tấn công Tết
đă thuyết phục cử tri Mỹ và vị lănh đạo người Mỹ, tổng thống
Johnson, rằng không thể giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh và đă
đến lúc bắt đầu đàm phán t́m ra một giải pháp và người Mỹ phải rút
đi. Đây là một thời điểm bước ngoặt trong cuộc chiến, một thời điểm
kể từ đó không có đường lùi nữa. Ư tưởng của Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng
đă hoàn thành một trong những mục tiêu được đề ra: “đè bẹp ư chí xâm
lược [của kẻ thù]… nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta.”[72]
Trong khảo luận về binh pháp của ḿnh, chiến lược gia quân sự Trung
Quốc cổ đại Tôn Tử viết:
“Phàm việc tác chiến, dùng chính binh đối địch, kỳ binh thủ thắng.”.[73]
Tôn
Tử cũng viết:
“Nước lũ chảy xiết cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ.
Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là dựa vào thế
tiết nhanh như chớp nhoáng.”[74]
Trong quyết định tung cuộc Tổng tiến công Tết, người cộng sản đă làm
theo lời chỉ dạy của Tôn Tử. Họ đă sử dụng sự “biến hóa”, và “thế
tiết” của họ là hoàn hảo.
Merle L. Pribbenow II là cựu sĩ quan tác chiến CIA và chuyên gia
tiếng Việt, về hưu vào năm 1995. Một phần tiểu luận này được tŕnh
bày tại Sixth Triennial Vietnam Symposium, Vietnam Center, Texas
Tech University, tháng Ba năm 2008. Tác giả muốn bày tỏ ḷng biết ơn
với giáo sư A. J. Langguth và Annenberg Institute for Justice and
Journalism của Đại học Southern California v́ đă tài trợ cho chuyến
đi của tác giả tới Hà Nội mùa hè năm 2007 để thực hiện các cuộc
phỏng vấn tại chỗ, một trong số những cuộc phỏng vấn đó đă làm nảy
ra ư tưởng về bài viết này. Tác giả cũng muốn cám ơn một người bạn
không nêu tên, người đă, nhiều năm trước đây, giảng qua cho tác giả
về cách tiến hành công việc nội bộ của giới lănh đạo Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Tóm
tắt: Cuộc Tấn công Tết Mậu Thân là phát minh của tổng bí thư Đảng
Cộng sản và tướng Văn Tiến Dũng. Chính quyền Hà Nội muốn khai thác
cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968 để mở ra các đàm phán với Mỹ. Khi
tướng Vơ Nguyên Giáp thất bại trong việc đề ra một kế hoạch khả dĩ
nhằm giành được một chiến thắng quân sự để mang về cho người cộng
sản lợi thế trong các đàm phán đă được lên kế hoạch, Lê Duẩn và Văn
Tiến Dũng đă thúc đẩy một kế hoạch đầy nguy cơ về “tổng tấn công”
trên phạm vi toàn quốc thông qua một Bộ Chính trị đang lưỡng lự, bất
chấp sự phản đối của tướng Vơ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh.
Ghi
chú của người dịch: Một số trích dẫn của tác giả do nằm ở các trang
web trên Internet không c̣n hoạt động hoặc ở những cuốn sách rất khó
t́m nên được dịch sát nghĩa chứ chưa được truy nguyên; cách gọi
“Đảng Cộng sản” được thống nhất trong bài, mặc dù tên chính thức hồi
đó là Đảng Lao động Việt Nam; cách viết tên riêng người Việt Nam của
tác giả được giữ nguyên, kể cả các trường hợp như “Hồ Kháng” hoặc
“Cao Phá”.
Nguồn:
Journal of Vietnamese Studies, Volume 3, Number 2, Summer
2008
Bản
tiếng Việt © 2010 talawas
[1]
Stanley
Karnow, tướng Phillip Davidson, và một người viết tiểu sử Vơ
Nguyên Giáp cho rằng tướng Vơ Nguyên Giáp là đạo diễn của cuộc
Tấn công Tết. Xem Karnow, Vietnam: A History (New York:
Penguin Books, 1987), 548-549; Davidson, Vietnam at War: The
History 1946-1975 (New York: Oxford University Press, 1988),
441-446; và Peter Macdonald, Giap: The Victor in Vietnam
(New York: W.W. Norton & Company, 1993), 262-263. Những người
khác viết tiểu sử Vơ Nguyên Giáp lại nhận định tướng Nguyễn Chí
Thanh là người đầu tiên đưa ra kế hoạch Tấn công Tết, lúc đầu
tướng Vơ Nguyên Giáp phản đối ư tưởng này nhưng đă đồng ư khi Bộ
Chính trị bỏ phiếu thông qua kế hoạch. Xem Cecil B. Currey,
Victory at Any Cost: The Genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap
(Virginia: Potomac Books, 2005), 261-265; và A. J. Langguth,
Our Vietnam: The War 1954-1975 (New York: Simon & Schuster,
2000), 439-440.
Lien Hang T. Nguyen viết về các tranh căi về ư hệ trong “The War
Politburo: North Vietnam’s Diplomatic and Political Road to the
Tết Offensive,” Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2
(2006): 4-58. Sophie Quinn-Judge cũng có cùng chủ đề trong
“The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the
Anti-Party Affair, 1967-1968,” Cold War History 5, số 4
(11/2006): 479-500. Tiến tŕnh phát triển của kế hoạch Tấn công
Tết Mậu Thân cũng tiếp tục là chủ đề trao đổi và tranh luận của
các sử gia Việt Nam. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược
của đ̣n Tết Mậu Thân 1968,” Nhân Dân, 21/1/2008,
www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=130&article=114233 (truy
cập 21/1/2008); và đại tá Trần Trọng Trung, phần đầu của bài báo
“Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào?”,
Quân Đội Nhân Dân, 9/1/2008,
www.qdnd.vn/qdnd/baongay.quocphongnghethuatquansu.27876.qdnd
(truy cập 17/1/2008).
[2]
“Nghị quyết
của hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng”, in
trong Văn kiện đảng toàn tập, Tập 24, 1963, bs. Trần T́nh
(Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 822. Cũng xem “The
Political Bureau’s Resolution on South Vietnam, November 1963,”
bản dịch một tài liệu Việt Cộng do quân lực Mỹ thu được vào
29/4/1969, số hiệu 2320109002, bộ sưu tập Douglas Pike, Unit 6,
Virtual Archive, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech
University, www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web.
Rơ ràng nghị quyết Bộ Chính trị này là tiền thân của Nghị quyết
9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
[3]
Trần T́nh, bs.,
Văn kiện đảng 1963, 839.
[5]
Viện Lịch sử
Quân sự Việt Nam, Victory in Vietnam: The Official History of
the People’s Army of Vietnam, 1954-1975 (Lawrence:
University Press of Kansas, 2002), 137-138.
[6]
Hồ Sơn Đài và
Trần Phán Chấn, Lịch sử Sài G̣n-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến
(1945-1975) (TP. Hồ Chí Minh, 1994), 391, 393.
[7]
Lê Duẩn,
Thư vào Nam (Hà Nội: Sự Thật, 1986), 79.
[12] Cục
Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử cục tác chiến
1945-2000 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2005),
www.quansuvn.net/index.php?topic=82.105 (truy cập
20/12/2007). Theo phần 7 của cuốn sách này (www.quansuvn.net/index.php?topic=82.90),
các thành viên của tiểu ban Bộ Chính trị trong khoảng giữa những
năm 1960 là Lê Duẩn, Vơ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng,
và Phạm Hùng (tiếp theo sự bổ nhiệm tướng Nguyễn Chí Thanh vào
tổng hành dinh Trung ương Cục miền Nam ở miền Nam).
[13] Đại
tá Trần Trọng Trung, Tổng tư lệnh Vơ Nguyên Giáp (Hà Nội:
Chính Trị Quốc Gia, 2006), 34 (tác giả nhấn mạnh).
[14] Đại
tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội.
[15] Để
có một phân tích tuyệt vời về xung đột bên trong Bộ Chính trị,
xem Nguyễn, “The War Politburo”.
[16]
William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life (New York:
Hyperion, 2000), 484-485.
[19]
Trịnh Nhu, bs., Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương
cục miền Nam (1954-1975) (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2002),
140.
[20] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (xem chú thích
số 12).
[22] Trần
T́nh, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 28, 1967 (Hà Nội:
Chính Trị Quốc Gia, 2003), 112, 119-120.
[23] Phạm
Thị Vinh, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 26, 1965 (Hà
Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 594-595.
[24] Đại
tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đ̣n Tết Mậu Thân 1968” (xem
chú thích số 1). Cũng xem Qiang Zhai, Beijing and the Vietnam
Peace Talks, 1965-1968: New Evidence from Chinese Sources
(Washington, DC: Cold War History International Project, Woodrow
Wilson Center, 1997), 19-22.
[25] Trần
T́nh, bs., Văn kiện đảng 1967, 125.
[28] Có
thể xem tóm tắt về những tranh luận giữa Nguyễn Chí Thanh và Vơ
Nguyên Giáp trên báo chí trong tướng Phillip Davidson,
Vietnam at War, 418-422, và Nguyễn, “The War Politburo,” 22.
[29]
Tướng William Westmoreland, A Soldier Reports (New York:
Dell Publishing, 1980), 298-299.
[30] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.
[32]
Tướng Văn Tiến Dũng, trích từ “Tạo một bước ngoặt trong kháng
chiến chống Mỹ,” Quân Đội Nhân Dân, 3/12/2004,
www.quandoinhandan.org.vn/sknc/?id=1108&subject=7, (truy cập
2/1/2005), hiện nay có ở
http://202.151.160.173/webqdndcu/sknc/?id=1587&subject=8.
Trong bài báo này Văn Tiến Dũng cho biết các mục tiêu của kế
hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu là tiêu diệt từ ba đến năm lữ
đoàn lĩnh Mỹ và từ ba đến năm sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng ḥa,
giải phóng từ tám đến mười triệu người, và “tăng cường” đấu
tranh chính trị tại các khu vực thành thị.
[33] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.
[34] Hồ
Kháng, The Tet Mau Than 1968 Event in South Vietnam (Hà
Nội: Thế Giới Publishers, 2001), 28-29.
[35] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000.
[36] Tiến
sĩ Nguyễn Thị Bảo, “Những ngày cuối cùng của anh Nguyễn Chí
Thanh,” trong Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Nhà chính trị quân
sự lỗi lạc (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1997), 350-360. Nhiều
báo cáo từ cả nguồn Mỹ và Việt Nam Cộng ḥa, một số trong đó vẫn
được các tác giả ngày nay sử dụng, theo đó Nguyễn Chí Thanh bị
giết ở miền Nam bởi một cuộc ném bom rải thảm B-52 rơ ràng là đă
nhầm lẫn. Phiên bản bên cộng sản về cái chết của ông mới đúng và
rơ ràng là không hề bị bịa ra. Rơ ràng là người cộng sản Việt
Nam thích được tuyên bố Nguyễn Chí Thanh qua đời như một anh
hùng ở mặt trận, bị một cuộc thả bom dă man của Mỹ giết chết,
hơn là chấp nhận cái chết tầm thường không lấy ǵ làm cao đẹp mà
họ miêu tả – một cơn nhồi máu v́ stress, làm việc quá sức, và ăn
uống quá độ trong những bữa tiệc khi ông quay về nhà ở Hà Nội.
[37]
Tướng Chu Huy Mân và đại tá Lê Hải Triều, Thời sôi động (Hà
Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2004), 463.
[38]
Currey, Victory at Any Cost, 231.
[39] “Tạo
một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số
32). Mặc dù bài báo không cung cấp ngày tháng chính xác về cuộc
gặp Văn Tiến Dũng-Lê Duẩn, bối cảnh và sự so sánh với thông tin
từ các nguồn khác cho thấy cuộc gặp có khả năng đă diễn ra trong
những ngày đầu tiên sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Một bài báo
mới đây của Việt Nam có thể xem là đă chỉ ra rằng cuộc gặp diễn
ra không lâu trước khi Nguyễn Chí Thanh chết, nhưng từ ngữ trong
bài báo đó rất mơ hồ. Trong phần thứ ba của một bài báo mang tên
“Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào
(Quân Đội Nhân Dân, 11/1/2008, xem chú thích số 1), đại tá Trần
Trọng Trung viết rằng một cuộc gặp giữa Bộ Chính trị và Quân ủy
Trung ương đă được tiến hành vào ngày 30 tháng Sáu và 1 tháng
Bảy năm 1967, nó được “quyết định đưa cuộc cách mạng miền Nam
tiến về phía trước tới một bước phát triển mới. Cuộc hội nghị
này khẳng định khả năng giành một thắng lợi mang tính quyết định
thông qua một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Cơ hội lớn
nhất là Đông-Xuân 1967-1968, Hè 1968, hoặc sớm hơn.” Tuy nhiên,
từ ngữ ở đây không rơ ràng và tương hợp với ư tưởng trong kế
hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu về một cuộc tấn công nhằm mục
đích tạo ra điều kiện cần thiết cho việc tung ra một cuộc tổng
công kích-tổng khởi nghĩa vào một thời điểm c̣n chưa biết trong
tương lai, bên cạnh các mục đích khác. Cục Tác chiến, Lịch sử
cục tác chiến 1945-2000, phần 8 cho biết vào ngày 20 tháng
Sáu năm 1967, Quân ủy Trung ương thông qua một “giải pháp chiến
lược”, nói, “Chúng ta cần thực hiện những cuộc tấn công mạnh mẽ,
cả về quân sự và chính trị, vào các thành phố, thị trấn, và
trung tâm chính trị nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền
ngụy và tạo ra các cơ hội và điều kiện để tung ra một cuộc
tổng tiến công và nổi dậy” (tác giả nhấn mạnh). Cuộc họp
giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ngày 30 tháng Sáu và 1
tháng Bảy năm 1967 có khả năng được tổ chức để xem xét và thông
qua “giải pháp chiến lược” ngày 20 tháng Sáu của Quân ủy Trung
ương, rơ ràng là vẫn phản ánh kế hoạch cũ trong việc “tạo điều
kiện” để tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa chứ
không phải là kế hoạch mới do Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng nói tới
trong cuộc họp. Tuy nhiên, một bài báo gần đây của một sử gia
quân sự Việt Nam kỳ cựu, lại ủng hộ giả thuyết cho rằng ư tưởng
chuyển sang một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một
c̣n đối với các thành phố chỉ xuất hiện vào tháng Bảy năm 1967,
sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu
chiến lược của đ̣n Tết Mậu Thân 1968” (xem chú thích số 1). Cân
nhắc các dữ kiện, nhiều khả năng cuộc gặp Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng
đă diễn ra không lâu sau cái chết của Nguyễn Chí Thanh
[40] “Tạo
một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số
32).
[41] Để
có một ư kiến ủng hộ việc ư tưởng của Văn Tiến Dũng theo đó ư
tưởng chung về Cuộc Tấn công Tết Mậu Thân xuất phát từ một gợi ư
của Lê Duẩn rồi được Văn Tiến Dũng phát triển, xem đại tá Nguyễn
Văn Minh, bs., Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước,
1954-1975, Tập V: Tổng tiến công và nổi dậy 1968 (Hà Nội:
Chính Trị Quốc Gia, 2001), 30-31.
[42] Xem
H. R. McMaster, Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert
McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies that Led to
Vietnam (New York: Harper Collins, 1997).
[43] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (tác giả nhấn
mạnh). Trong phần thứ hai của bài báo mang tên “Kế hoạch tổng
tiến công chiến lược ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 1),
đại tá Trần Trọng Trung cũng đưa ra cùng câu trích dẫn đó của Hồ
Chí Minh nhưng lại nói rằng nó xuất hiện trong các thảo luận của
Bộ Chính trị ngày 18 và 19 tháng Bảy năm 1966 (khác với ngày 18
và 19 tháng Bảy năm 1967 theo tài liệu của Cục Tác chiến). Xem
xét kỹ các vấn đề, tôi tin rằng 18 và 19 tháng Bảy năm 1967 mới
đúng, nhưng dù cho ngày tháng nào mới chính xác, câu trích dẫn
rơ ràng đă cho thấy Hồ Chí Minh phản đối mọi kế hoạch liều lĩnh
nhằm giành một chiến thắng nhanh chóng.
[44] Đại
tá Trần Trọng Trung, “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân
1968 ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 20).
[45] Đại
tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội.
Cũng xem Lưu Đoàn Huỳnh, “The Perspective of a Vietnamese
Witness,” trong The War That Never Ends: New Perspectives on
the Vietnam War, David L. Anderson và John Ernst bs.
(Lexington: University Press of Kentucky, 2007), 91-92.
[46] Đại
tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 29-32;
Thượng tướng Trần Văn Quang bs., Tổng kết cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học (Lưu hành nội bộ) (Hà
Nội: Chính Trị Quốc Gia, 1995), 68 và 314, các chú thích 27-28.
[47]
Hoàng Đan và Hưng Đạt, Chiến dịch tiến công đường số 9-Khe
Sanh xuân hè 1968 (Lưu hành nội bộ) (Hà Nội: Viện Lịch Sử
Quân Sự Việt Nam, 1987), 14. Vẫn những mục tiêu cho Tết Mậu Thân
ấy đối với chiến trường B5 được t́m thấy trong Kiều Tam Nguyên,
bs., Chiến trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ cứu nước toàn thắng (Huế: Thuận Hóa, 1985), 136.
[48]
Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32.
[49]
Sophie Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 482;
đại tá Trần Trọng Trung, trong lần phỏng vấn với tác giả, 19
tháng Sáu năm 2007 tại Hà Nội. Theo tướng Cao Phá, tướng Vơ
Nguyên Giáp vẫn ở Hungary cho tới cuối tháng Mười hai năm 1967.
Xem Những kư ức không bao giờ quên (Hà Nội: Quân Đội
Nhân Dân, 2006), 166. Theo tướng Philip Davidson, người ta không
thấy tướng Vơ Nguyên Giáp ở Hà Nội từ 2 tháng Chín năm 1967 cho
tới 5 tháng Hai năm 1968. Xem Davidson, Vietnam at War
(New York: Oxford University Press, 1988), 563.
[50]
Duiker, Hồ Chí Minh, 556.
[52] Đại
tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 40.
[53] Đào
Trọng Cảnh, bs., Văn kiện đảng toàn tập, Tập 29, 1968 (Hà
Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2004), 1, 32.
[54] Lưu
Đoàn Huỳnh, được trích dẫn trong Anderson và Ernst, The War
That Never Ends, 92.
[55]
Thượng tướng Trần Văn Quang, Tổng kết cuộc kháng chiến,
314, chú thích 28.
[56] Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8; đại tá Nguyễn
Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 74-75.
[57]
Tướng Huỳnh Công Thân và Nguyễn Hữu Nguyên, Ở chiến trường
Long An: hồi ức (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1994), 131-132;
đại tá Trần Dương, bs., Lịch sử quân khu 6 (cực Nam
Trung Bộ-Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ, 1954-1975 (Hà Nội:
Quân Đội Nhân Dân, 1995), 221.
[58]
Nguyễn, The War Politburo, 25-26; Quinn-Judge, “The Ideological
Debate in the DRV,” 481-482. Cũng xem “Alleged Coup d’Etat Plot
in Hanoi: 1967,” trích dịch từ cuốn sổ tay lính cộng sản bị quân
đội Mỹ thu được vào năm 1970, số hiệu 2320120032, Douglas Pike
Collection, Unit 06, Virtual Archive, The Vietnam Center and
Archive, Texas Tech University,
www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web
(truy cập 10/1/2008). Để biết một trong số rất ít dẫn chiếu tới
các vụ bắt bớ năm 1967 trong các ấn phẩm công khai của cộng sản
Việt Nam, xem “Hoàng Minh Chính: ông là ai?”, Hà Nội Mới,
20/10/2005,
http://www/hanoimoi.com.vn/41/62857 (truy cập 11/7/2007).
[59] Xem
“Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam về t́nh h́nh thế giới và nhiệm vụ quốc tế
của đảng ta, tháng 12 1963”, Trần T́nh, bs., Văn kiện đảng
1963, 716-800.
[60]
Nguyễn, “The War Politburo,” 15-19; Quinn-Judge, “The
Ideological Debate in the DRV,” 483. Để có một dẫn chiếu ngắn
tới sự phản đối của tướng Đặng Kim Giang trước nghị quyết 9 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, xem một bài diễn văn đọc năm 1969 của
Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn: “Kết luận của đồng chí Bộ
trưởng về công tác sưu tra và xác minh hiểm nghi (1969)”, trong
Một số vấn đề về đấu tranh chống phản cách mạng (Tối mật: chỉ
lưu hành nội bộ ngành công an) (Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Khoa Học
Công An, 1975), 352.
[61] Phạm
Thị Vịnh, Văn kiện đảng 1965, 609.
[63] Viện
Nghiên Cứu Khoa Học Công An, Công an nhân dân Tập II,
1954-1965 (Dự thảo: chỉ lưu hành nội bộ) (TP. Hồ Chí Minh:
Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, 1978), 206.
[65]
Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32. Theo Cục
Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8, tướng Nguyễn
Văn Vịnh tham gia các cuộc bàn luận lên kế hoạch về Tấn công Tết
cho đến tận 11/11/1967, cho nên có vẻ như là ông chưa bị bắt cho
tới đợt giam giữ/bắt bớ cuối cùng vào tháng Mười hai.
[67]
Tướng Cao Phá, Những kư ức không bao giờ quên (Hà Nội:
Quân Đội Nhân Dân, 2006), 140.
[68] Ilya
V. Gaiduk, The Soviet Union and the Vietnam War (Chicago:
Ivan R. Dee Publishers, 1996), 67-68.
[69] Trần
Quốc Hương và Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trần Quốc Hương: Người
thầy của những nhà t́nh báo huyền thoại (Hà Nội: Quân Đội
Nhân Dân, 2004), 200; tướng Trần Văn Trà, Những chặng đường
lịch sử của B2 Thành Đồng, Tập I: Ḥa b́nh hay chiến tranh (Hà
Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1992), 36.
[71] Xem
Merle Pribbenow, “North Vietnam’s Final Offensive,”
Parameters 29, số 4 (mùa xuân 1999-2000): 60.
[72] Bản
gỡ băng diễn văn của Lê Duẩn tại Hội nghị mười bốn Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, trong Văn kiện đảng 1968, Đào Trọng Cảnh
bs. (xem chú thích số 53), 23.
[73] Nhóm
dịch Denma, The Art of War: A New Translation (Boston:
Shambhala Publishing, 2001), 16.
[74]
Samuel B. Griffith, d., Tôn Tử: Binh pháp (New York:
Oxford University Press, 1963), 92.
|
|