|

TRÁCH NHIỆM CỦA XĂ HỘI ĐỐI VỚI VẤN NẠN CỦA
NGƯỜI TRẺ VÀ GIA Đ̀NH VIỆT NAM HIỆN NAY
Nữ tu Ths. Maria Nguyễn Thị Hồng Quế
(*)
|
|
I. DẪN NHẬP
Sau 22 năm (1986 -2008) kể từ khi đất nước ta mở cửa cho nền kinh
tế thị trường cho nước ngoài vào đầu tư kinh doanh và khuyến khích
du lịch, nền kinh tế thị trường đă tạo nên một sức bật và những
bước tiến mới mà nền kinh tế tập trung trước đây không thể có. Nền
kinh tế thị trường không chỉ tác động đến sự phát triển kinh tế,
khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin mà c̣n có khả năng tác động
đến nhiều mặt của sự phát triển xă hội. Các phương tiện truyền
thông đại chúng, các dịch vụ công cộng thuận lợi, nhanh chóng và
dễ dàng hơn. Xă hội phát triển, kinh tế tăng trưởng! Những yếu tố
này giúp người dân biết cách làm việc khoa học, phát huy khả năng
sáng tạo, suy nghĩ linh động hơn.
Hơn bao giờ hết, nước Việt nam chúng ta đă, đang và sẽ có những
bước tiến vượt bậc sau khi gia nhập vào tổ chức Thương Mại Thế
Giới (WTO) ngày 07/11/2006. Việt Nam có thể tiếp cận thị trường
quốc tế rộng lớn với 148 thành viên, từ đó giữ một vị thế b́nh
đẳng trên thị trường trong tương quan với tất cả mọi quốc gia khác.
Hàng hóa Việt Nam có thể thâm nhập thị trường khổng lồ này mà
không gặp bất cứ trở ngại nào, không bị áp đặt và phá giá như
trước đây, miễn là không vi phạm những quy chế đă kư kết, và đủ
sức cạnh tranh hàng hóa với các nước khác. Việt Nam sẽ nâng cao
khả năng tiếp cận những công nghệ khoa học tiên tiến và hiện đại,
những thị trường tài chính hàng đầu và tŕnh độ cao. Tham gia WTO,
vị thế Việt nam sẽ được nâng cao trong các mối quan hệ quốc tế,
tạo nên sức sống và phong cách làm việc mới trong quá tŕnh giao
tiếp với các quốc gia trên thế giới. Người dân Việt Nam sẽ được
nâng cao mức sống và hưởng nhiều phúc lợi hơn khi nguồn hàng hóa
các nước thâm nhập rộng răi vào thị trường nội địa. Dĩ nhiên, cùng
với những lợi thế trên, Việt Nam cũng đối diện với nhiều thách
thức. Ví dụ: để cạnh tranh và tồn tại, các doanh nghiệp hàng hóa
Việt Nam buộc phải nâng cao chất lượng, giảm giá thành, áp dụng
công nghệ mới. Mặt khác, để đặt cơ sở thu hút đầu tư nước ngoài,
Nhà nước cần xem xét lại các chính sách kinh tế, cải thiện cách
làm việc của các cơ quan công quyền, tạo hệ thống chính sách minh
bạch, giảm thiểu đến mức tối đa căn bệnh “trầm kha” là hối lộ và
tham nhũng!
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc gia nhập vào WTO
từng là đề tài nóng bỏng và là niềm vui hăm hở cho biết bao người,
đặc biệt giới doanh nghiệp đầu tư. Tuy nhiên, nó cũng là nỗi lo âu,
khắc khoải của các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ, và những ai có
suy tư, có tâm huyết, đối với thế hệ tương lai và sự tồn vong của
đất nước. Đất nước chúng ta đă phải trả giá khá đắt để học một bài
học kinh nghiệm. Sau 22 năm sống trong thời mở cửa, được cũng
nhiều mà mất cũng nhiều! Nhưng dường như cái được trên b́nh diện
kinh tế không cân xứng với cái mất trên những b́nh diện khác!
Như chúng ta đă chứng kiến, trong nền kinh tế thị trường, chất
lượng sống của mọi người được tăng lên thấy rơ nhưng bên cạnh đó
đă mang đến biết bao căn bệnh nguy hiểm, không chỉ nguy hại đến
tính mạng của con người nhưng gây không ít tác hại đối với nhân
phẩm và đạo lư. Thậy vậy, các dịch vụ gia tăng th́ đồng thời các
căn bệnh xă hội cũng gia tăng: ma túy, mại dâm, HIV/AIDS, hiếp dâm,
lạm dụng t́nh dục trẻ em, trẻ em phạm pháp, quan hệ t́nh dục trước
và ngoài hôn nhân, phong trào sống chung sống thử, phá thai, ly
hôn, tự tử, bán con, thậm chí không thiếu những người con tán tận
lương tâm đánh cha đập mẹ để giành giựt tài sản của phụ thân!
Ngoài những căn bệnh trên, cách vận hành của xă hội buộc người ta
phải nói dối. Nói dối một hai lần c̣n ngượng miệng, nói nhiều trở
thành tập quán. Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy nói dối có mặt ở
mọi nơi mọi chốn từ gia đ́nh, tới nhà trường, thương trường và
thậm chí ở những nơi linh thiêng thờ phượng! Có những thủ tục hành
chánh bất hợp lư khiến người ta phải khai gian, làm giấy tờ giả;
cán bộ th́ không ít người bị hủ hóa, thậm có những bác sĩ, điều
dưỡng hay y tá chỉ khi được đút lót, tặng quà th́ mới chăm sóc
bệnh nhân như “từ mẫu”. Bộ máy th́ cửa quyền, tiền lương của công
chức th́ không xứng hợp, khiến cho người dân phải đút lót, và cán
bộ ăn hối lộ. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi người đều như thế,
nhưng các hiện tượng trên đă trở thành điều b́nh thường, khiến
không ai ngạc nhiên hay phẫn nộ trước những biểu hiện như thế. Và
đó là chính điều đáng ưu tư!
II. NHỮNG VẤN NẠN CỦA GIA Đ̀NH TRONG XĂ HỘI HIỆN ĐẠI
1. Khủng hoảng gia đ́nh
Trước hết xin xác định khái niệm “khủng hoảng gia đ́nh” sử dụng
trong bài này. “Khủng hoảng” được hiểu là đỉnh điểm của trạng thái
mất thăng bằng, là một sự biến chuyển đột ngột trong tiến tŕnh
của các sự kiện, một cuộc xung đột, một thời điểm nguy kịch hoặc
quyết định trong quá tŕnh phát triển của gia đ́nh: một sự phát
triển có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực. “Khủng hoảng gia
đ́nh” có nghĩa là những mâu thuẫn, xung đột trong gia đ́nh mang
tính xúc phạm và không tôn trọng lẫn nhau, hoặc gia đ́nh đang đối
đầu với nguy cơ tan vỡ.
Sự khủng hoảng gia đ́nh của nhiều nước trên thế giới nói chung, và
Việt Nam chúng ta nói riêng, đă đến mức báo động; đấy là một vấn
đề sục sôi mà có người so sánh như “ngọn núi lửa đang phun” hay
“lụt hồng thủy hiện đại”. Thực trạng khủng hoảng gia đ́nh đă và
đang phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đ́nh và nhân cách nhiều người,
đồng thời có nguy cơ gây những tác hại ngày càng lớn hơn.
Gia đ́nh Việt Nam vào đầu thể kỷ 21 này đă có những thay đổi lớn
so với “gia đ́nh truyền thống” trước đây. Gia đ́nh tương ứng với
một thực thể xă hội được xác định một cách rơ ràng: gia đ́nh biến
đổi theo sự biến chuyển, đổi thay của xă hội; và những thay đổi ấy
cũng có thể tốt hay xấu. Vào cuối thế kỷ 19, Việt nam, vốn là một
nước quân chủ độc lập, đă trở thành một nước thuộc địa của Pháp.
Cuộc đô hộ của phương Tây đă đem lại nhiều thay đổi trên đất nước
chúng ta, trong đó gia đ́nh bị tác động rất lớn. Trong thời tiền
công nghiệp, gia đ́nh Việt Nam luôn là một ‘đại gia đ́nh’ tập
trung vào chính ḿnh, thế nhưng hiện nay, thời hậu công nghiệp,
mẫu gia đ́nh ấy đă bị tan ră theo nhịp phân tán rất nhanh của xă
hội trong tiến tŕnh toàn cầu hóa.
Chưa bao giờ gia đ́nh Việt Nam có nhiều hiện tượng phản ánh cuộc
khủng hoảng gia đ́nh như ngày nay. T́nh trạng ly hôn ly dị, biến
đổi chức năng của vợ và chồng, cha mẹ và con cái không c̣n thời
gian giành cho nhau, trẻ em lang thang, thanh niên nổi loạn, phạm
pháp, ma túy, phá thai, mại dâm, người người cảm thấy cô đơn ngay
chính trong gia đ́nh ḿnh và t́m đến cái chết (tự tử) để trốn khổ
đau.
2. T́nh trạng ly hôn ly dị
Theo số liệu thống kê của Ṭa án nhân dân tối cao số lượng vụ ly
hôn năm sau luôn cao hơn năm trước, tỷ lệ ly hôn thật đáng ngại.
Năm 1994 cả nước có 22.000 vụ. Năm 2000 có 51.361 vụ. Năm 2001 là
54.226 vụ và năm 2005 là 65.929 vụ[1]. 6 tháng đầu 2008 số lượng
ly dị tăng lên gần gấp đôi: 60.000 trường hợp.[2]
Theo báo cáo của ṭa án nhân dân Tp. Sài G̣n th́ từ năm 1985-1990
chỉ riêng Tp. Sài G̣n có 21.834 vụ ly hôn, vậy trung b́nh một năm
là 3.639 vụ th́ từ năm 1990-1995 lên tới 31.697 vụ, trung b́nh mỗi
năm là 5.283 vụ. Như vậy so với các năm trước 1990 th́ mỗi năm sau
tăng lên gần 2000 vụ. Theo số liệu năm 1995 tại Tp Sài G̣n, có
5.195 vụ ly hôn trên tổng số 15.918 đôi kết hôn. Như vậy cứ 3 đôi
kết hôn th́ có 1 đôi ly hôn![3]
Những số liệu ly hôn trên chỉ là mặt nổi của tảng băng mà phần
ngầm c̣n nguy hại hơn và chưa thể ước tính được. Chưa có một thống
kê nào có thể xác định được mức độ tham gia hay rời bỏ những qua
hệ riêng tư của đời sống vợ chồng. Cũng chưa ai có thể đo lường
được mức độ suy giảm về đời sống thân mật, yêu thương mà vợ chồng
giành cho nhau. Trong thực tế, nhiều cặp vợ chồng không có một đời
sống hôn nhân lành mạnh, họ vẫn “cố”, để duy tŕ đời sống hôn nhân
mặc dù ‘đời sống t́nh cảm” của họ đă chết!
Ly hôn trong xă hội chúng ta hiện nay được xem như là một hiện
tượng b́nh thường của sự phát triển xă hội đi vào công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. Nhiều người cho rằng ly hôn phản ảnh hiện tượng
phát triển dân chủ và b́nh đẳng nam nữ. Con người nói chung và phụ
nữ nói riêng đă có quyền tự giải phóng ḿnh ra khỏi những t́nh cảm
bế tắc và đau khổ trong đời sống hôn nhân gia đ́nh. Tuy nhiên, đối
với đạo lư và truyền thống Việt Nam, ly hôn luôn là một đe dọa đối
với hạnh phúc của vợ chồng và của con cái trong gia đ́nh.
3. Biến đổi chức năng trong đời sống gia đ́nh
Sự biến đổi của xă hội trong giai đoạn hiện tại dẫn đến việc vợ
chồng cảm thấy lung túng trong cuộc sống chung rồi mất dần chức
năng và vai tṛ truyền thống của vợ chồng trong gia đ́nh, đương
nhiên điều này kéo theo sự phân chia chức năng và vai tṛ làm cha
mẹ.
Trong thời phát triển kinh tế thị trường, để đủ chi phí trang trải
cho gia đ́nh và đặc biệt giáo dục con cái đ̣i buộc cả vợ lẫn chồng
đi làm. Điều đáng suy nghĩ trước hết đó là cùng với sự thành đạt
của phụ nữ, vai tṛ của nữ giới được nâng cao, th́ tỷ lệ ly hôn
ngày càng gia tăng. Không ít phụ nữ thành đạt trong xă hội nhưng
lại thất bại trong hôn nhân. Đàn ông Việt nam chúng ta khó bỏ đi
được tính gia trưởng độc đoán, trong khi với đà tiến của xă hội,
phụ nữ đ̣i được b́nh đẳng và tôn trọng hơn.
Các cuộc điều tra xă hội học đều cho thấy, đa số đàn ông hiện đại
vẫn thích ḿnh "cao hơn vợ một cái đầu", cao hơn về kinh tế, tŕnh
độ và nghề nghiệp. Họ vẫn thích đóng vai tṛ khuyên răn, hướng dẫn,
chỉ bảo cho vợ. Một cách nào đó, trên đất nước chúng ta, không ít
người nam vẫn c̣n mang cái năo trạng ‘chồng chúa vợ tôi’.
Ngược lại, với bao nhiêu sự đổi mới của thời đại và tại Việt Nam,
không phải là không có những phụ nữ thành đạt hơn chồng, nhưng
thiếu tế nhị, không hiểu tâm lư chồng, nên vô t́nh đă đẩy chồng
đến chỗ tự ti mặc cảm. Họ không hiểu được người đàn ông cảm thấy
buồn khi ḿnh không làm tṛn bổn phận làm chủ, cột trụ trong gia
đ́nh. Người chồng cảm thấy ḿnh dư thừa trong gia đ́nh, v́ thế sự
rạn nứt và đổ vỡ trong đời sống vợ chồng ngày càng sâu.
Mặt khác, nhiều đôi vợ chồng trẻ Việt Nam trước khi bước đến hôn
nhân không hề có sự chuẩn bị về kiến thức, tâm lư cũng như kỹ năng
làm vợ, làm chồng trong thời đại hiện nay. Họ chỉ biết lao vào
công việc mà môi trường xă hội đ̣i hỏi. Dường như yêu cầu nghiệp
vụ và mức thu nhập đă chi phối toàn bộ đời sống của họ, nên họ
không c̣n chú trọng đến nỗ lực cùng nhau xây dựng và bảo vệ cuộc
sống hôn nhân. Bên cạnh đó cũng v́ họ thiếu kiến thức và nhận thức
về sự thay đổi xă hội tác động lên đời sống của con cái họ trong
lănh vực t́nh cảm, tâm lư, cũng như ứng xử xă hội.
[1] TTXVN, Gia đ́nh "hoàn hảo" vẫn ly hôn, 17/07/2008,
[2] Bảo Chi, (18-11-2008). Gần 2 triệu phụ nữ chọn lối sống đơn
thân.
http://afamily.channelvn.net/20081117105147149tm0ca31/Song-don-than-xu-huong-moi-cua-nu-gioi/
[3] Nguyễn Thị Hồng Nga, (1995). Quan hệ bố mẹ và trẻ có khó khăn
trong học tập, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, viện khoa học giáo dục,
số 11.
***
III. NHỮNG VẤN NẠN CỦA NGƯỜI TRẺ TRONG XĂ HỘI HIỆN ĐẠI
Giáo sư Nguyễn Thái Hợp, trong tác phẩm “Để họ lớn lên”[1] (tr
51-106) đă phác họa một bức tranh khá rơ nét và sâu sắc về sự đảo
lộn các giá trị, khi so sánh thái độ sống của người trẻ xưa và
nay.
Trước năm 1975 người trẻ Việt Nam ở hai miền Nam Bắc lớn lên trong
chiến tranh, bom đạn. Dù sống ở miền Bắc, hay ở miền Nam, người
trẻ đều giống nhau ở một điểm đó là họ lớn lên trong hoàn cảnh
sống khắc nghiệt, đầy chết chóc và chia ly. Cuộc sống mà họ đang
trải qua giống như phù du, bèo bọt, chiến tranh làm cho họ không
có một nơi chốn, một điểm tựa làm cơ sở phát triển đời sống của họ.
Cũng chính v́ thế khắc khổ, những kinh nghiệm thương đau đă làm
cho người trẻ sớm trưởng thành và chững chạc. Dù chiến đấu trên
chiến tuyến nào đi nữa, Bắc hay Nam, họ cũng có một lư tưởng để
theo đuổi.
Nếu như đối với người trẻ Việt Nam trước năm 1975, chiến tranh
khói lửa triền miên, chết chóc, ly tan là những vấn đề ảnh hưởng
sâu nặng trên cuộc sống của họ, th́ người trẻ trong thời đại kinh
tế thị trường và toàn cầu hóa đối diện với một thực trạng khác hơn:
Lợi lộc vật chất. Những điều họ quan tâm là làm sao học để lấy
bằng cấp, học cho xong một cái nghề để kiếm tiền lo cho bản thân,
mua xe mới, xoay sở mua sắm thêm những vật dụng cần thiết, có thời
gian để tương giao với bạn bè, một chuyến đi chơi xa để giảm
stress trong cuộc sống hằng ngày, có một cuộc ḥ hẹn, một cuộc gặp
gỡ thân t́nh với bạn bè, vv... Nói chung lại họ quan tâm đến những
điều trong tầm tay với, họ bằng ḷng với những nguồn vui nho nhỏ,
với t́nh người thiết thực, mà không thiết tha ǵ với những lư
tưởng cao cả, những mục đích sâu xa. Từ đó, không ít người trẻ đă
đánh mất khái niệm về các giá trị đạo đức, đồng thời cũng đánh mất
các điểm qui chiếu để xác định giá trị của ḿnh.
Cũng v́ thế mà rất nhiều người trẻ, tuy đầy đủ trên phương diện
vật chất, vẫn cảm thấy cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của ḿnh,
và cũng có những người trẻ thích và làm cho ḿnh trở nên cô đơn
như một mốt thời thượng. Họ bắt chước từ những h́nh ảnh học sinh
trung học lạnh lùng trong truyện tranh Nhật Bản, phim Hàn[2]. Và
cũng v́ mất định hướng trong cuộc sống, nên một số thích sống
chung, sống thử và nạo phá thai hơn là kết hôn. Bi đát hơn, nhiều
bạn đă t́m đến cái chết (tự tử) như một lối thoát.
1. Cô đơn ngay chính trong gia đ́nh của ḿnh
Qua phần trên, chúng ta đă thấy cha mẹ v́ phải lo công việc nên
dành rất ít thời gian cho con cái. Trẻ con th́ học ngày học đêm,
học thêm học nếm… Cha mẹ và con cái chẳng c̣n thời gian cho nhau.
Có lẽ để bù đắp lại chuyện này nhiều bậc cha mẹ lo “cày” cho được
nhiều tiền để mua xe “xịn”, mua quần áo đẹp, cung cấp những thức
ăn bổ dưỡng và gởi con vào trường học nổi tiếng mắc tiền. Ở ngoài
xă hội người trẻ càng được cung cấp vô vàn công cụ phục vụ cho nhu
cầu giải trí. Các chương tŕnh ti vi tăng về số lượng, thời lượng
và nội dung, các rạp chiếu phim nhan nhản, các kiểu pḥng trà, quá
bar đa dạng với muôn màu sắc và các loại nhạc xập x́nh, báo chí đủ
loại được rao bán khắp nơi, internet kết nối hoàn cầu được phục vụ
với giá rất rẻ… người trẻ tha hồ chọn lựa cho những cuộc chơi để
đốt thời gian và tiền bạc thâu đêm suốt sáng.
Dường như người trẻ ngày hôm nay có tất cả nhưng họ lại cảm thấy
cuộc sống vô vị, không có ư nghĩa, họ chơi vơi ngoài xă hội, đến
khi về nhà lại cảm thấy cô đơn ngay chính trong gia đ́nh của ḿnh.
Chúng tôi mới thực hiện cuộc điều tra nghiên cứu về “Prolems,
Coping Strategies and Help-Seeking Motives of Vietnamese
Adolescents”[3].Cuộc nghiên cứu được thực hiện trên 132 học sinh
Trung học trường Nguyễn Thị Minh Khai tại Sài G̣n. Trong đó có 120
học sinh trả lời bảng câu hỏi và 12 học sinh được mời phỏng vấn
sâu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ‘gia đ́nh’ là vấn đề các em
ưu tư thứ hai, sau ‘học tập’. 107 học sinh trong số 132 học sinh
than phiền rằng những mối quan hệ và bầu khí trong gia đ́nh đă trở
nên căng thẳng và gây khó khăn cho các em. Các em cho thấy ngày
càng có khoảng cách giữa cha mẹ và con cái. Bầu khí trong gia đ́nh
nặng nề. Cha mẹ và con cái thường mâu thuẫn với nhau. Người trẻ
không c̣n t́m thấy gia đ́nh là mái ấm, là nơi ḿnh có thể trao gởi
những tâm tư t́nh cảm của ḿnh. Sau đây xin trích một vài tâm sự
của các bạn trẻ đă chia sẻ cho chúng tôi. “Tôi là người cô đơn v́
thiếu thốn t́nh cảm từ khi ba mẹ ly dị. Tôi phải tự lo cho ḿnh
mọi chuyện, ngay cả những chuyện tế nhị của phụ nữ trong tuổi dậy
th́ tôi cũng không biết phải hỏi ai. Xa mẹ đă gây sốc và hụt hẫng
lớn trong đời tôi. Tôi rất tủi thân và khóc thật nhiều. Tôi thèm
khát có một gia đ́nh nghèo nhưng hạnh phúc và có đầy đủ cha và
mẹ”(N.T lớp 12). Bạn B.M lớp 11 cũng chia sẻ nguyên nhân, tác hại
và nỗi cô đơn từ trong chính gia đ́nh: “Tôi mong tôi có cuộc sống
b́nh dị như bao bạn khác. Cuộc sống của tôi rất cô đơn, buồn chán
và lập dị. Tôi không c̣n có năng lực, hứng thú để giải quyết một
vấn đề ǵ. Cứ để mặc tới đâu th́ tới v́ giải quyết làm ǵ, ngày
mai khổ đau lại tiếp diễn. Ví dụ: Ba tôi có người phụ nữ khác, mẹ
tôi buồn quá thay đổi tính t́nh và bỏ bê chăm sóc tôi và gia đ́nh.
Chiến tranh xảy ra trong gia đ́nh tôi mỗi ngày”.
Trước sự rạn nứt đỗ vỡ của đời sống gia đ́nh, người trẻ nhận thức
được và cố gắng xây dựng nhưng nhiều người cảm thấy bất lực trước
sự cố gắng thiện chí của ḿnh như bạn V.P lớp 12 tâm sự: “Ngày
càng có khoảng cách, xa lạ với Cha mẹ mặc dù em đă cố t́nh và cố
gắng nói chuyện, tâm sự với cha mẹ nhưng cha mẹ nói nhiều và không
lắng nghe em cũng không hiểu em, em không thể biểu lộ suy nghĩ của
ḿnh cho cha mẹ. Lắm lúc em ước chi ḿnh đui, mù trước mặt tiêu
cực/ mặt trái của gia đ́nh và xă hội có lẽ ḿnh sẽ sống vui và
hạnh phúc hơn”.
Đời sống vật chất quá đầy đủ và thậm chí dư thừa cũng không bù lấp
nổi những thiếu hụt trong tâm hồn. Cuộc sống dường như mất định
hướng và ư nghĩa của cuộc sống. Chưa bao giờ có hiện tượng người
trẻ tự tử nhiều như ngày hôm nay. Có thể t́nh trạng thiếu cân bằng
trong cuộc sống, t́nh trạng không c̣n t́m thấy ư nghĩa của cuộc
sống, cảm giác cô đơn trong xă hội và ngay cả trong gia đ́nh là
nguyên nhân đưa đến việc người trẻ đi t́m sự giải thoát trong cái
chết?
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) “năm 2000 có đến 1 triệu người
trên thế giới chết v́ tự tử, như thế trong 40 giây có tới 1 ca tự
tử. Số người có hành vi dọa tự tử cao gấp 20 lần so với số liệu
chết do tự tử. Tại Việt Nam chúng ta, tuổi tự tử càng ngày càng
trẻ hóa. Tự tử dần trở thành một trong 5 nguyên nhân gây chết hàng
đầu của nhóm trẻ từ 15-24 tuổi. Phần lớn các nước thuộc cộng đồng
châu Âu, tự tử là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong sau tai nạn giao
thông. Tại Việt Nam, tự tử là nguyên nhân thứ 10 gây tử vong. Năm
2003 Việt Nam có khoảng 18.000 người tự tử và 600 người đă chết v́
tự tử”[4]. Chỉ riêng bệnh viện Trưng Vương, Tp Sài G̣n trong 1 năm
từ tháng 5/2007 đến 5/2008 cho thấy, có đến 310 trường hợp nhập
viện v́ tự tử. Độ tuổi người tự tử chủ yếu dưới 35 tuổi, trong đó,
từ 25 tuổi trở xuống chiếm đến 50%[5].
2. Nạo phá thai
Trong những năm gần đây, tại các đô thị lớn như Hà Nội và Sài G̣n
đă h́nh thành nếp sống công nghiệp. Mọi người nói “tốc độ”, đi
“tốc độ”, và ăn uống cũng “tốc độ” hơn. T́nh yêu của giới trẻ cũng
không ra khỏi quỹ đạo tốc độ đó. “Yêu tốc độ” của giới trẻ đang là
nỗi lo nhức nhối của gia đ́nh và xă hội.
Việc “tiếp cận” quá nhanh chóng với những kiểu sống “tốc độ” như
trên đưa đến vấn đề dễ dăi trong quan hệ t́nh dục và nạo phá của
thanh thiếu niên. Nước ta đă được Liên Hiệp Quốc báo động và xếp
hạng là một trong năm nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế
giới[6]. Trong khi đó chỉ số phát triển con người (thu nhập GDP
tính theo đầu người, tŕnh độ học vấn, tuổi thọ, mức sinh hoạt)
tuy có tăng lên 4 bậc nhưng vẫn c̣n đứng thứ 105/177 nước trên thế
giới. Tuy nhiên so với các nước láng giềng, th́ Việt Nam c̣n xếp
sau rất xa; như Thái Lan (đứng thứ 78), Trung Quốc (đứng thứ 81),
Philippines (90) và Xri Lanca (99)[7].
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2002 cả nước có 572.425 trường hợp
nạo phá thai và năm 2003 là 540.377 trường hợp. Tỉ lệ phá thai
trên tổng số sinh chung của toàn quốc là 52%. Đặc biệt các tỉnh
miền Đông Nam bộ lên tới 80%. Tại Sài G̣n, thống kê của Trung tâm
Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em TP cho biết năm 2003 toàn TP có
114.002 ca nạo phá thai, trong khi số ca sinh là 112.426 ca (tỉ lệ
nạo phá thai trên tổng số ca sinh là hơn 101%, cao gấp đôi b́nh
quân của cả nước). TP Sài G̣n “dẫn đầu” cả nước về số ca nạo phá
thai, kế đến là Hà Nội (48.140 ca) và Cần Thơ (28.888 ca). Năm
2004 có 108.193 ca, trong khi số ca sinh là 107.314 ca (tỉ lệ cũng
hơn 100%)[8].
Năm tháng đầu năm 2008, khoa Kế hoạch hóa gia đ́nh BV Từ Dũ TP Sài
G̣n đă tiếp nhận trên 13.000 ca nạo hút thai (NHT), trong đó đối
tượng vị thành niên chiếm khoảng 10% (hơn 1.300 ca) và 60% là thai
to trên 12 tuần tuổi. Tại BV Hùng Vương, chỉ riêng việc phá thai
bằng thuốc mỗi tháng cũng tiếp nhận 800-900 ca, trong đó phần lớn
cũng ở tuổi vị thành niên[9].
Chỉ tính riêng Bệnh Viện Từ Dũ mỗi năm có trên 40.000 ca nạo phá
thai. Như thế mỗi ngày trên đất nước ta có hàng ngàn thai nhi bị
giết chết. Đây chỉ là những trường hợp đă được thống kê, các nhà
nghiên cứu c̣n ước tính cả nước ta mỗi năm nước ta có trên 3 triệu
ca nạo phá thai. Bởi v́, hiện nay tất cả các bệnh viện, các trung
tâm y tế đều được phép nạo phá thai, ngoài ra c̣n rất nhiều pḥng
mạch tư nhân nạo phá thai lậu mọc lên nên không thể kiểm tra và
thống kê được.
Chúng tôi đă thực hiện cuộc nghiên cứu phỏng vấn 150 trẻ vị thành
niên đi nạo phá thai tại bệnh Từ Dũ Tp. Sài G̣n đă ghi nhận rất rơ
về sự tác hại của nạo phá thai quả thật đúng như các y bác sĩ và
các nhà nghiên cứu đă đưa ra trong những năm vừa qua. Quan hệ t́nh
dục trước hôn nhân và nạo phá thai của tuổi vị thành niên đă mang
đến những tai hại trầm trọng về mặt sức khỏe, tâm lư và xă hội,
thậm chí tử vong cho chính đương sự và đặc biệt ảnh hưởng đến hạnh
phúc gia đ́nh, sự phát triển phồn vinh của đất nước[10]. Kết quả
cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, giới trẻ ngày nay chấp nhận quan hệ
t́nh dục một cách thoải mái, nhưng phần lớn họ đều không hiểu hoặc
hiểu không đúng về vấn đề sức khỏe sinh sản, các biện pháp tránh
thai. Họ không hiểu mang thai sớm, nạo phá thai sẽ ảnh hưởng thế
nào đối với sức khỏe phần lớn những đối tượng này chưa được chuẩn
bị kỹ về tâm lư... Thực tế này đặt ra vấn đề: Làm thế nào cung cấp
cho thanh thiếu niên những kiến thức, hiểu biết đúng đắn về t́nh
bạn, t́nh yêu và sức khỏe sinh sản.
3. Ma túy
Toàn xă hội đă và đang nhức nhối trước hàng vạn người trẻ đă sa
chân vào vực sâu ma túy, hàng ngàn gia đ́nh tan nát, điêu đứng v́
thảm họa khủng khiếp của bạch phiến. Xă hội đă mất đi hàng chục
vạn sức lao động trẻ, tiêu tốn hàng chục tỉ đồng để pḥng chống và
cai nghiện ma túy. “Số người nghiện có hồ sơ kiểm soát có trên 20
vạn lượt người nghiện được cai, gần như 100% tái nghiện. Đến cuối
năm 2007, toàn quốc có 178.305 người nghiện ma túy, trung b́nh mỗi
năm tăng trên 1 vạn người nghiện mới[11]”. Tuy nhiên những con số
trên đây chỉ là những con số được báo cáo trong những trại cai
nghiện chính thức. Cho tới nay không thể thống kê được số liệu tại
các dịch vụ, trung tâm cai nghiện tư nhân chưa có giấy phép. Theo
Ông Nguyễn Văn Minh, cục trưởng Pḥng chống tệ nạn xă hội (Bộ LĐ-TB&XH),
cả nước vẫn c̣n đến 40% người nghiện chưa được quản lư, gây bất an
cho xă hội[12].
Ma túy không phải là một tệ nạn xă hội thông thường như bao tệ nạn
khác; nó vô cùng phức tạp và đan quyện với các yếu tố chính trị,
kinh tế, tâm lư, đạo đức và tâm linh…. Nó c̣n nguy hiểm hơn cả
AIDS v́ nạn nhân nh́n nó như một cuộc chơi, và cái chết dù có thật
nhưng không sơ sờ trước mắt như AIDS. Ma túy là nguyên nhân dẫn
tới vô số tội phạm và nhiều tác hại khác: cá nhân thân tàn ma dại,
đạo đức suy yếu, gia đ́nh tan nát, tan gia bại sản, quốc gia suy
tàn. Hiện nay có tới “60% người nghiện là đối tượng có tiền án,
tiền sự; nhiều trung tâm có trên 70% đối tượng tiêm chích ma tuư
và bị nhiễm HIV; số đối tượng bị bệnh lao, gan... chiếm hơn
20%[13]”. Qua tin tức báo chí, chúng ta cũng thấy rằng ma túy
không chỉ đánh vào giới trẻ nhưng xâm nhập vào mọi địa bàn, mọi
tầng lớp trong xă hội, ngay cả các cán bộ, công nhân viên nhà nước,
công an và cả thấm phán, kẻ giữ kỷ cương cho quốc gia cũng nhận
hối lộ để cho ma túy được bành trướng, lộng hành.
Ma túy ập vào khi đất nước ta mở cửa cho nền kinh tế thị trường
đầu tư và phát triển mà chưa chuẩn bị cho người trẻ những kỹ năng
sống. Giáo dục học đường ngày càng c̣n nhiều bất cập, thiếu địa
chỉ trách nhiệm. Theo Giáo Sư Tiến Sĩ Đoàn Văn Điện th́ chương
tŕnh và phương pháp giảng dạy của ta chưa thực hiện được bốn cột
trụ giáo dục của thế kỷ 21 theo UNESCO: “học để biết, học để làm,
học để sống với cộng đồng và học để tự khẳng định ḿnh”[14]. Trách
nhiệm của xă hội đối với vấn đề ma túy quả là một trách nhiệm
chiến lược cho toàn quốc gia và cho mỗi người công dân.
4. Thiếu kỹ năng sống để đối đầu trước những khó khăn trong
cuộc sống
Người trẻ việt nam ngày này phải sống “hai trong một”, giữa nền
văn hóa truyền thống và hiện đại du nhập từ nước ngoài vào. Họ
thực sự giỏi về khoa học kỹ thuật, vi tính, ngoại ngữ… so với
những thế hệ trước đây, nhưng họ lại không biết cách ứng phó khi
gặp những khó khăn thất bại. Rất nhiều bạn trẻ suốt ngày dành thời
gian vào các phương tiện truyền thông hiện đại như internet, những
tṛ chơi điện tử một ḿnh, ít tham gia vào các hoạt động xă hội,
các cuộc giao tiếp giữa người và người. V́ thế, các kỹ năng giao
tiếp và những nhạy bén trước những nỗi đau của người khác cũng kém
đi, do không có cơ hội chứng kiến và thực hành.
Viện nghiên cứu giáo dục, trường đại học Sư phạm Sài G̣n đă thực
hiện cuộc nghiên cứu “Nhận thức và thái độ của học sinh – sinh
viên (HS/SV) về định hướng tương lai” được tiến hành trên 2.000
học sinh PTTH và sinh viên tại bốn thành phố lớn là Hà Nội, Sài
G̣n, Đà Nẵng và Cần Thơ từ tháng 6 đến tháng 11/2008, đă thu được
những kết quả đáng suy ngẫm. Cụ thể: 90,7% các em khẳng định
‘Tương lai do chính ḿnh quyết định’ và 85,7% cho rằng ḿnh có
nhiều ước mơ đẹp trong tương lai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu
cũng chỉ ra hạn chế quan trọng: “Các em c̣n e dè chưa dám dấn thân
vào đời mà cứ muốn ‘học lên’ mà thôi. Các em cũng chưa biết phải
có hành trang ǵ để lập nghiệp mà chỉ tập trung học vi tính, ngoại
ngữ’. Điều đáng báo động là hơn 80% giới trẻ Việt Nam tỏ ra lạc
quan trong cuộc sống nhưng lại thiếu định hướng cho tương lai[15].
Chuẩn bị mừng Lễ Noel 21-12-2008, chúng tôi đưa một nhóm 34 bạn
trẻ đi thực tập làm công tác xă hội từ thiện tại một nhà Hưu Dưỡng,
nơi giành cho các bà già bị bỏ rơi, không nơi nương tựa và giúp
vui cho bệnh nhân ở Bệnh Viện Tâm Thần Biên Ḥa WT2. Phải trải qua
một tuần huấn luyện mới dám “xuất quân”. Các bạn trẻ này đă được
chia sẻ, thảo luận về những điều nên và không nên làm khi đến
những nơi đó. Các bạn được học và thực tập (sắm vai) các kỹ năng
tṛ chuyện, cách tặng quà những người bất hạnh, được dạy cho cách
cắt tóc, cắt móng tay, móng chân, massage và tập múa tập hát để
cùng với các ông già Noel, hai Thiên Thần hát thánh ca và chúc
mừng năm mới cho các bệnh nhân. Hầu hết các bạn rất vui khi được
phục vụ và đă phục vụ rất tốt. Tuy nhiên cũng có một số bạn vừa
đến nơi th́ mặt đă tái mét không thể hát chung v́ sợ hăi và không
dám bắt tay mấy bà mẹ hưu dưỡng!
[1] Nguyễn Thái Hợp, (2007). Để họ lớn lên (tái bản lần 1). NXB
Đức Tin và Văn Hóa (tr. 51-106)
[2] Xu hướng "cô đơn" trong giới trẻ, http://www.baomoi.com/Home/VanHoa/2008/
[3] Nguyễn Thị Hồng Quế, Nov 13, 2007, “Problems, Coping
Strategies and Help-Seeking Motives of Vietnamese Adolescents”,
Master’s thesis, De La Salle University, Manila, Philippines.
[4] Hồng Sam,, (10-2006). Số lượng người tự tử ngày càng gia tăng.
http://vietbao.vn/Suc-khoe/So-nguoi-tu-tu-ngay-cang-gia-tang/30148250/248/
[5] Viết Toàn, (10-2008). Một năm có 300 người tự tử.
http://www.vnexpress.net/GL/Doi-song/2008/10/3BA07440/
[6] Henshaw, S. K.; Singh, S.; and Haas, T. (1999). The incidence
of abortion worldwide. International Family Planning Perspectives,
25, S 30-S38
[7] UNDP, (28-11-2007). Báo cáo phát triển con người 2007-2008, tr
227-282
[8] Lê Thanh Hà, 08-08- 2005. Trẻ nạo phá thai: tương lai dằn vặt.
tuổi trẻ online.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=92481&ChannelID=194
[9] Lê Thanh Hà, 08-08- 2005. Trẻ nạo phá thai: tương lai dằn vặt.
tuổi trẻ online
[10] Nguyễn Thị Hồng Quế, (1999).T́nh h́nh nạo phá thai của trẻ vị
thành niên Việt Nam, Luận văn cử nhân xă hội học.
[11] Hồng Long, Vai tṛ lănh đạo, chỉ đạo của các cấp Ủy Đảng –
Giải pháp quan trọng hàng đầu trong pḥng, chống ma túy – Báo Đảng
Cộng Sản Việt Nam,
http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT30110765174
[12] Phong Cầm, Cả nước c̣n 40% người nghiện ma túy chưa được quản
lư,
http://www.tin247.com/ca_nuoc_con_40_nguoi_nghien_ma_tuy_chua_duoc_quan_ly-1-141419.html
[13] ibid.
[14] Đoàn Văn Điện, (06-09-2004). Cần làm ǵ để thực hiện bốn cột
trụ trong giáo dục. Báo Người Lao Động
[15] Công ty Wrigley, (06-12). Trang bị ‘kỹ năng mềm’ để vào đời.
http://chaongaymoi.com/vn/kinh-doanh/doanh-nghiep-viet/trang-bi-ky-nang-mem-de-vao-doi/
***
IV. TRÁCH NHIỆM CỦA XĂ HỘI
Kính thưa Hội Nghị,
Vậy đâu là trách nhiệm của xă hội đối với những căn bệnh xă hội
hay hành vi lệch chuẩn nêu trên? Nói đến ‘trách nhiệm xă hội’ th́
phải xét trên cả hai b́nh diện: vừa cá nhân vừa tập thể. Khi một
người có hành vi lệch chuẩn như sử dụng ma túy, trộm cắp, tham
nhũng, mại dâm, tự tử… chúng ta không thể đổ lỗi hoàn toàn cho cá
nhân đó mà xă hội vô can; hoặc ngược lại, đổ lỗi cho xă hội để
chứng minh cá nhân ấy vô tội. Hành vi lệch chuẩn của cá nhân bị
tác động và tương tác qua lại của một chùm nguyên nhân. Trách
nhiệm xă hội không chỉ bao hàm đ̣i hỏi của xă hội đối với cá nhân,
nhưng c̣n bao hàm trách nhiệm đối với cá nhân nữa; và ngược lại,
cá nhân cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xă hội. Trách
nhiệm xă hội c̣n phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và xă
hội, giữa người dân với Nhà nước và các tổ chức chính trị, xă hội.
Tuy nhiên, trong phần tŕnh bày hôm nay, chúng ta không nói đến
trách nhiệm cá nhân đồi với xă hội (v́ trách nhiệm này đă được
luật pháp điều chỉnh), mà chỉ tập trung vào trách nhiệm của xă hội
đối với người dân. Nói cách khác, chúng ta sẽ phân tích trách
nhiệm của người lănh đạo và các tổ chức Nhà nước đối với nhân dân.
Trong hiến pháp nước Cộng ḥa Chủ nghĩa Việt Nam số 9 và 10 đă ghi
rất rơ: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ
mọi mặt của nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng nhân dân,
tận tụy phục vụ nhân dân”[1]. Cùng với thao thức xây dựng đất nước
dân giàu nước mạnh, xă hội công bằng và văn minh, trong văn kiện
đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của
các tổ chức Đảng, nhà nước, cán bộ công chức của nhà nước đối với
nhân dân: “Chủ trương xây dựng một xă hội dân chủ, trong đó cán bộ,
đảng viên, và công chức nhà nước phải thực sự là công bộc của nhân
dân, chịu sự giám sát của nhân dân”[2]. Nghĩa là những người có
chức có quyền phải làm gương, phải có trách nhiệm và chịu sự giám
sát, lắng nghe tiếng nói của dân. Nhưng đến nay, dù có những nỗ
lực trên nhiều lănh vực, th́ cũng phải công nhận rằng chủ trương
ấy chưa hoàn toàn biến thành hiện thực.
Trong bối cảnh xă hội hiện tại với những mặt tích cực và những hệ
quả tiêu cực do xă hội mở cửa cho nền kinh tế thị trường, đă có
một vài cơ quan và đoàn thể của nhà nước, những nhà nghiên cứu xă
hội lên tiếng cảnh báo. Cũng đă có những hội đoàn tôn giáo, những
nhóm thiện nguyện và nhiều cá nhân đă cố gắng với tiền của và
những nỗ lực riêng để đồng hành và xoa dịu phần nào những căn bệnh
xă hội hiện đang tràn lan khắp nơi trong nước. Tuy nhiên vấn đề
đặt ra là: Làm sao xóa được hoặc ngăn chặn, pḥng ngừa việc xảy ra
những vấn nạn xă hội đă tŕnh bày ở trên? Hay ít nhất làm sao có
thể giảm bớt những vấn đề xă hội tai hại ấy ngay từ bước đầu? Đây
là công việc đ̣i hỏi một cách tư duy toàn diện về con người và xă
hội trong việc ứng phó hoặc sống với những biến đổi trong xă hội
hiện tại, để từ đó h́nh thành nên những cấu trúc tương tác mang
tính tích cực và hiện thực giữa con người và xă hội. Kế tiếp, từ
tư duy và cấu trúc tương tác này, chúng ta có thể cung cấp cho
người trẻ và những gia đ́nh trẻ những hành trang cần thiết để sống
và hoạt động trong xă hội chúng ta đang sống, một xă hội hiện đại
nhưng cũng dầy dẫy những yếu tố phức tạp.
Trên một số phương diện, thiết nghĩ chúng ta cần có những thay đổi
căn bản: thay đổi cách sử dụng nguồn nhân lực và mối quan hệ giữa
người với người, giữa người dân với chính quyền, giữa các quốc gia
với nhau. Tuy sự lănh đạo hỗ trợ của Nhà nước là hết sức cần thiết,
nhưng vai tṛ hàng đầu dẫn đến những thay đổi này phải xuất phát
từ xă hội dân sự. Người dân cần trở nên trung tâm cho mọi mối quan
tâm của Nhà nước th́ mới mong có một sự phát triển hài ḥa và tốt
đẹp.
V. THỬ T̀M MỘT HƯỚNG GIẢI QUYẾT.
1. Minh bạch hóa những lạm dụng quyền lực.
David C.Korten trong tác phẩm “Bước vào thế kỷ XXI – hành động tự
nguyện và chương tŕnh nghị sự toàn cầu” cho rằng “việc giám sát
và phản kháng vô cùng quan trọng trong quá tŕnh chuyển hóa. Có
nhiều yếu tố đòi hỏi phải có những hành động kiểm tra
việc lạm dụng quyền lực, vừa vi phạm luật pháp, vừa vi
phạm những nguyên tắc xử thế được xã hội loài người
thừa nhận, nhất là khi sự lạm dụng quyền lực là do
chính phủ và giới kinh doanh gây nên. Then chốt để có được
sự theo dõi và phản ứng hữu hiệu, là một hệ thống giám
sát của nhân dân, đưa những hành vi lạm dụng quyền lực ra
cho mọi người cùng nhìn thấy và để có hành động”.
Sự lạm dụng quyền lực sống được là nhờ sự im lặng.
Thường thường, tâm trạng sợ bị tố giác đã đủ để ngăn
chặn sự lạm dụng quyền lực. Những người lạm dụng quyền
lực tự coi họ có quyền làm như thế và rất không thích
bị giám sát và phản đối. Cần phải có lòng dũng cảm để
giám sát và tố giác việc lạm dụng quyền lực trong xă hội
dù sau đó rất có thể sẽ bị trả đũa.
Khó có tổ chức nào tự mình giữ được tốt kỷ cương chỉ
bằng xử lý nội bộ. Chính vì thế, nền dân chủ phải dựa
vào một hệ thống chế tài và đối trọng của các định chế
xã hội, chẳng hạn một nền tư pháp độc lập và một nền
báo chí tự do. Ngay cả những định chế này nếu muốn hoạt
động hữu hiệu thì lại phải nhờ vào sự giúp đỡ của các
công dân biết cảnh giác và thông thạo tình hình[3].
2. Tăng cường khả năng tham gia của nhân dân.
Cần tăng cường khả năng tham gia của nhân dân vào việc xây
dựng các cộng đồng bền vững bằng cách nỗ lực phát triển
nhanh chóng các tổ chức nhân dân và giáo dục ý thức cho
họ. Khuyến khích các cộng đồng tăng cường việc tổ chức
và hỗ trợ cho các sáng kiến của nhau. Khuyến khích và hỗ
trợ các chính phủ trong việc tạo ra một môi trường chính
sách thuận lợi cho hành động của nhân dân, đặc biệt là các tổ
chức như các tôn giáo, đoàn thể, hiệp hội của xă hội dân sự, nghĩa
là các tổ chức hợp pháp và hợp hiến, nhưng không trực thuộc chính
quyền.
Tất nhiên thay đổi vì sự phát triển, bằng cách lấy con người
làm trung tâm, thực sự là một thách thức và lo sợ căn bản
đối với những người đang hưởng các đặc quyền đã được xác
lập lâu nay trong xã hội. Tương lai của tất cả chúng ta
tùy thuộc vào một sự chuyển hóa cơ bản về tư duy và
hoạt động, đưa mọi người khám phá lại giá trị nhân văn
đích thực và tái lập mối quan hệ giữa người và người,
giữa con người và môi trường. Muốn thực hiện công cuộc thay đổi
đó, cần đi vào thực tế, chứ không chỉ đề ra một đường hướng mang
tính lư tưởng cao nhưng lại không thể nào biến thành hiện thực
được.
Tương lai đất nước Việt Nam của chúng ta tùy thuộc vào hàng
triệu dân và người trẻ tự nguyện, mỗi người là một trung
tâm năng lực tự nguyện góp phần tăng cường sức mạnh cho
một phong trào tiến bộ năng động của đất nước. Mỗi người
đều có thể và có cơ hội góp công sức của mình. Mỗi người
sẽ góp phần vào việc xây dưng đất nước phát triển bền vững nếu
chúng ta biết khơi gợi tiềm năng và sử dụng họ đúng người đúng
việc.
3. Cải tiến hệ thống giáo dục và chương tŕnh đào tạo ở các cấp
học
Tại các trường học, các nhà văn hóa, các câu lạc bộ, các trung tâm
và các đoàn thể, tổ chức tôn giáo nên mở thêm nhiều lớp học “làm
người”. Điều này đóng góp một phần rất quan trọng và căn bản cho
việc nâng cao chất lượng chương tŕnh giáo dục gia đ́nh và giới
trẻ hôm nay. Trong quá tŕnh đào tạo căn bản này chúng ta cần phải
thay đổi phương pháp giáo dục đạo đức: Thay v́ thuyết giảng theo
kiểu giáo điều, lư thuyết khô khan, kiểu áp đặt làm cho học sinh
chỉ biết thụ động tiếp nhận, chúng ta nên dùng những phương pháp
giáo dục chủ động lấy học sinh làm trung tâm để tạo nguồn hứng thú,
sáng tạo trong học tập, ví dụ như thảo luận nhóm, sắm vai, tṛ
chơi, xem phim và thuyết tŕnh trước lớp…. Chỉ qua phương pháp
giáo dục chủ động học sinh mới có cơ hội sáng tạo và phát triển
tài năng tối đa của ḿnh.
Kế đến tùy theo lứa tuổi và kinh nghiệm sống cần có những lớp kỹ
năng làm cha làm mẹ, lớp chuẩn bị hôn nhân gia đ́nh, lớp kỹ năng
sống, giáo dục giới tính cho giới trẻ. Dùng phương pháp chủ động
và sáng tạo để học viên có thể dễ nhớ bài và được thực tập ngay
trong từng lớp học. Cần tạo điều kiện cho các học viên có cơ hội
suy nghĩ, thảo luận về mục đích, lư tưởng, giá trị sống để nhận ra
chính ḿnh.
Trong các chương tŕnh huấn luyện và giáo dục trên, chúng ta hướng
người trẻ đến với chính họ để nhận ra những giá trị riêng của ḿnh,
cho họ cảm thấy sự sống của ḿnh là một ân huệ và hạnh phúc, đồng
thời giới trẻ cũng phải thấy họ có trách nhiệm đóng góp với xă hội
đang sống. Việc này phải được giáo dục từ nhỏ ngay từ trong gia
đ́nh và được bổ túc qua nhà trường và ngoài xă hội. Hơn nữa để trở
thành công dân toàn cầu, người trẻ cần phải biết ư thức về những
vấn đề toàn cầu và phải biết ứng xử và hành động trong bối cảnh
sống mới này, phải hội nhập và tiếp nhận theo nghĩa chủ động, việc
này không thể có nếu như người trẻ không được trang bị những kiến
thức và kỹ năng cần thiết. Phần trách nhiệm này không thể thiếu
trong chương tŕnh giáo dục của nhà trường và của những trung tâm
đào tạo, các trường đại học.
4. Cung cấp các dịch vụ cho thanh niên vào đời
Các tổ chức xă hội cần cung cấp nhiều loại h́nh giáo dục, câu lạc
bộ, địa điểm vui chơi mang tính văn hóa và giáo dục cho thanh niên
vào đời, để thu hút họ tránh rơi vào những môi trường xấu, gây tác
hại đến chính họ và đến những người xung quanh.
Cần đào tạo thêm các chuyên viên tư vấn và nhân rộng thêm các
trung tâm tư vấn về tâm lư – giáo dục t́nh yêu gia đ́nh. Nhu cầu
cần được tư vấn để giải quyết các vấn đề cá nhân và gia đ́nh là
nhu cầu rất bức xúc và cấp bách hiện nay. Mặt khác, đất nước ta
không thiếu ǵ những người sẵn sàng học hỏi để trở thành chuyên
viên tư vấn, nhưng hiện nay, nhu cầu này cũng chưa được đáp ứng
đầy đủ.
Cần đào tạo thêm cách giảng viên giảng dạy theo phương pháp “chủ
động” đặc biệt trong các chương tŕnh huấn luyện kỹ năng sống cho
giới trẻ. Các phụ huynh và các bạn trẻ đă nhận ra sự thiếu hụt kỹ
năng để đối phó với cuộc sống thường ngày giữa một xă hội đầy biến
động hôm nay.
Tôi xin đơn cử một ví dụ: Đầu tháng 10/2008 chúng tôi mở lớp “Kỹ
Năng Sống” cho giới trẻ tại Trung Tâm Mục Vụ của Tổng Giáo Phận Tp.
Hồ Chí Minh đă có 130 bạn trẻ theo học. Sau ngày khai giảng 2 tuần
có gần 40 bạn nữa đến đăng kư xin học nhưng lớp học đă quá tải
chúng tôi không thể nhận thêm. Cách đây hai tuần, chúng tôi lại
khai giảng lớp “Kỹ Năng Sống” cho giới trẻ tại một giáo xứ nơi mà
giới trẻ đă xa rời dần các lớp giáo lư và những sinh hoạt của nhà
thờ, tại Tỉnh Đồng Nai. Số lượng học viên học theo phương pháp chủ
động dự trù chỉ nhận 30 bạn trẻ. Trước ngày khai giảng chúng tôi
lo lắng không biết có được 20 học sinh tham dự không. Đến ngày
khai giảng số lượng các bạn trẻ đến đông không ngờ, họ đă đăng kư
112 bạn. Lúc này chúng tôi lại phải tuyển chỉ nhận 40 bạn và có
thể mở một lớp. Nh́n khuôn mặt buồn rầu của 70 bạn trẻ khao khát
được học nhưng không được vào lớp ḷng tôi lại quặn đau. Cuối cùng
chúng tôi quyết định mở thêm một buổi nói chuyện chuyên đề hàng
tháng cho tất cả các bạn trẻ c̣n lại và cho những ai muốn tham dự.
Và sau mỗi buổi dạy học các lớp về tâm lư, kỹ năng sống cho giới
trẻ, kỹ năng làm cha làm mẹ chúng tôi có ít là 4 tới 7 học viên
xin hẹn để được tư vấn nhưng do công viêc quá tải tôi không dám
nhận. Quả thật, nhu cầu tư vấn và được tư vấn là một vấn đề thuộc
trách nhiệm của xă hội.
IV KẾT LUẬN:
Với đề tài “Trách nhiệm của xă hội đối với khủng hoảng của người
trẻ và của gia đ́nh”, chúng tôi đă nêu lên các vấn đề gây khủng
hoảng cho người trẻ và gia đ́nh, cũng như đề xuất một vài phương
hướng để giải quyết. Qua đó, chúng ta cũng thấy rằng xă hội, hay
cụ thể hơn, Nhà nước có trách nhiệm rất lớn trong việc tạo cơ sở
và môi trường để giải quyết các khủng hoảng và xóa bỏ các căn bệnh
xă hội. Chúng ta sẽ đạt những kết quả khả quan, ngày nào người dân
được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển và mọi thành phần
trong guồng máy chính quyền thể hiện đúng bản chất của một Nhà
nước XHCN, nghĩa là một Nhà nước ‘từ dân, do dân và v́ dân’.
[1] Hiến pháp nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 13-15
[2] Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006, Tr 44.
[3] David C.Korten, “Bước vào thế kỷ XXI – Hành động tự nguyện và
chương tŕnh nghị sự toàn cầu”. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
1996
***
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Wrigley, (06- 12- 2008) Trang bị ‘kỹ năng mềm’ để vào đời,
http://chaongaymoi.com/vn/kinh-doanh/doanh-nghiep-viet/trang-bi-ky-nang-mem-de-vao-doi/
Đảng Cộng Sản Việt Nam, (2006). Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X, Nxb Chính Trị Quốc Gia - Hà Nội, Tr 44.
David C.Korten, (1996). “Bước vào thế kỷ XXI – hành động tự nguyện
và chương tŕnh nghị sự toàn cầu”. NXB Chính trị quốc gia -Hà Nội
Đoàn Văn Điện, (06-09-2004). Cần làm ǵ để thực hiện bốn cột trụ
trong giáo dục. Báo Người Lao Động
Henshaw, S. K.; Singh, S.; and Haas, T. (1999). The incidence of
abortion worldwide. International Family Planning Perspectives,
25, S 30-S38
Hiến pháp nước cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam, (2002). Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 13-15
Hồng Long, Vai tṛ lănh đạo, chỉ đạo của các cấp Ủy Đảng – Giải
pháp quan trọng hàng đầu trong pḥng, chống ma túy – Báo Đảng Cộng
Sản Việt Nam
http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT30110765174
Hồng Sam, (10-2006). Số lượng người tự tử ngày càng gia tăng,
http://vietbao.vn/Suc-khoe/So-nguoi-tu-tu-ngay-cang-gia-tang/30148250/248/
Lê Minh Tiến, (20-07-2008). Ly hôn là thất bại, Báo Người Lao Động,
Lê Thanh Hà, (08-08- 2005). Trẻ nạo phá thai: tương lai dằn vặt.
tuổi trẻ online.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=92481&ChannelID=194
Nguyễn Thái Hợp, (2007). Để họ lớn lên (tái bản lần 1). NXB Đức
Tin và Văn Hóa (tr. 51-106)
Nguyễn Thị Hồng Nga, (1995). Quan hệ bố mẹ và trẻ có khó khăn
trong học tập, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, viện khoa học giáo dục,
số 11.
Nguyễn Thị Hồng Quế, (1999). T́nh h́nh nạo phá thai của trẻ vị
thành niên Việt Nam, Luận văn cử nhân xă hội học.
Nguyễn Thị Hồng Quế, (Nov 13, 2007). “Problems, Coping Strategies
and Help-Seeking Motives of Vietnamese Adolescents”, Master’s
thesis, De La Salle University, Manila, Philippines.
Phong Cầm, Cả nước c̣n 40% người nghiện ma túy chưa được quản lư,
http://www.tin247.com/ca_nuoc_con_40_nguoi_nghien_ma_tuy_chua_duoc_quan_ly-1-141419.html
TTXVN, Gia đ́nh "hoàn hảo" vẫn ly hôn, 17/07/2008
UNDP, (28-11-2007). Báo cáo phát triển con người 2007-2008, tr
227-282
Viết Toàn, (10-2008). Một năm có 300 người tự tử.
http://www.vnexpress.net/GL/Doi-song/2008/10/3BA07440/
VTC, (22-04-2008). Xu hướng "cô đơn" trong giới trẻ.
http://www.suctrevietnam.com/Web/TinTuc/Content.aspx?distid=51336
Nữ tu Ths. Maria Nguyễn Thị Hồng Quế
(*) : Nguồn : VietCatholic |
|
|