|
Lược Sử Về
Tổng Chủng Viện Penang
(1665-1995)
Ḥa Giang Đỗ
Hữu Nghiêm
Chú thích : Từ khi Việt
Nam gia nhập tổ chức ASEAN, quan hệ giữa Việt Nam và nhiều nước
trong khối ASEAN cũng như thế giới trở nên gần gũi hơn. Trong cuộc
phong 117 vị thánh tử đạo Việt Nam năm 1988 tại Vatican, ít người
biết rằng một số vị thánh tử đạo Việt Nam đă xuất thần từ Tổng Chủng
Viện Penang, Mă Lai Á. Hơn nữa các vị đă được tôn kính đặc biệt như
niềm hănh diện lớn lao trong nhà nguyện của Tổng Chủng Viện này từ
lâu. Thiết tưởng ta nên t́m hiểu nhiều hơn về Tổng Chủng Viện đă
từng đào tạo nên nhiều linh mục, như Phillipê Minh,… và công dân,
như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kư, Ngô Đ́nh Khả,… làm vẻ vang cho
nhiều dân tộc châu Á, trong đó có Việt Nam.
_____________________________________
Tổng Học Viện hay Tổng
Chủng Viện Penang (tiếng Mă Lai: Seminari Tinggi Katolik) là
một chủng viện Công Giáo Rôma và nay là một phân nhánh của Viện Đại
Học Giáo Hoàng có vị trí tại Tanjung Bungah, Penang, Mă Lai Á.
Trong lịch sử 330 năm, Tổng
Học Viện đă trải qua nhiều thử thách, bách hại cũng như hănh diện
hân hoan, để đào tạo linh mục cho Giáo Hội tại Á Châu. Cùng với
Edmund Woon Yaw Yen, chúng ta duyệt qua một số biến cố, và một số
thời kỳ lịch sử phong phú của Đại Chủng Viện Penang với tính anh
hùng, nhẫn nại và trung thành với sứ mệnh của nó.
Thời Gian Ban Đầu Tại
Ayuthia, Xiêm La (1665 - 1765)

Lịch sử của Tổng Học Viện
có thể được t́m thấy từ những năm đầu tiên của Hội Thừa Sai Paris -
Paris Foreign Missions Society (La Société des Missions Étrangères
de Paris - MEP). Được thành lập năm 1658, Hội các linh mục truyền
giáo Paris này, quen gọi là Hội Các Thừa Sai Ba Lê, theo chỉ thị
chính thức của Bộ Truyền Bá Đức Tin, thành lập các chủng viện trên
đất truyền giáo để đào tạo hàng giáo sĩ địa phương.
V́ thế năm 1665, hai vị
Giám Mục Đại Diện Tông Ṭa François Pallu và Lambert de la Motte,
thực hiện theo các chỉ thị này, đă lập Chủng Viện Các Thánh Thiên
Thần tại Ayuthia, lúc đó là kinh đô nước Xiêm La (tức Thái Lan ngày
nay). Ba năm sau hai linh mục đầu tiên được truyền chức, và một
trong họ là cha Francis Perez, về sau được thánh hiến làm Giám Mục
Đại Diện Tông Ṭa năm 1691 tại Nam Kỳ (Cochin-China).
Năm 1670, có 33 đại chủng
sinh và 50 tiểu chủng sinh từ Xiêm La, Nam Kỳ, Ấn Độ, Trung Hoa và
Nhật Bản – và như thế ngay từ đầu trong lịch sử của nó, chủng viện
đă sống theo viễn tượng các vị sáng lập về cơ sở này đă có, là một
học viện đào tạo các ứng viên linh mục từ khắp châu Á. Từ đó cơ sở
đă được người ta biết đến, đó là một Tổng Học Viện, nghĩa là cơ sở
đào tạo chung cho toàn thể các chủng sinh từ nhiều nước khác nhau ở
châu Á. Các tiêu chuẩn của cơ sở đào tạo ấy th́ đàng hoàng như các
tiêu chuẩn bên Âu châu, như một trong các chủng sinh của cơ sở ấy là
Anthony Pinto, đă chứng minh. Sinh viên này đă tŕnh một luận án
thần học xuất sắc ngay trước mặt Đức Giáo Hoàng Innocentô XI và đă
được phép truyền chức linh mục ngay lập tức.
Những năm 1688-1691 là một
thời kỳ có nhiều biến động chính trị và bách hại tại Xiêm La. Nhiêu
nhà truyền giáo cũng như các chủng sinh đă bị đánh đập và và bị bắt
bỏ tù. Một số người đă phải ốm và chết. Nhưng bách hại đă góp phần
đổi mới cuộc sống của học viện. Dù điều này có vẻ nghịch lư, bách
hại đổi mới cuộc sống học viện và sự kiện này diễn ra nhiều lần
trong lịch sử học viện. Sau năm 1713, số chủng sinh lại gia tăng với
ḍng chảy các chủng sinh đến từ Bắc Kỳ và Trung Hoa. Một ṭa kiến
trúc mới, một nửa Âu châu và một nửa Ấn Độ, được xây dựng có thể
chứa trong nhà một cộng đoàn lớn gồm có 50 người.
Chuyển Từ Ayuthia Đến
Chantaburi, Ḥn Đất (Hà Tiên) Và Pondichéry (1765 - 1782)

Miến Điện xâm lược Xiêm La
trong những năm 1750-1765, khiến chủng viện buộc phải chuyển đến
Chantaburi (Xiêm La) trong mấy tháng và về sau chuyển đến Ḥn Đất,
mang tên chủng viện Thánh Giuse (lúc đó c̣n thuộc Cao Miên). Ở đây,
họ sống trong nghèo nàn thiếu thốn. Và trong bữa ăn thường chỉ có
một miếng thịt gà cho chừng ba người ăn. Về sau, một ṭa nhà mới xây
dựng, trước khi được hoàn tất, th́ quân nổi loạn phá b́nh địa. T́nh
h́nh chính trị ngày càng tồi tệ hơn, và bách hại thường xuyên buộc
các nhà giáo dục phải t́m nơi khác yên tĩnh hơn cho chủng sinh.
Ấn Độ được chọn và v́ thế
năm 1770, 2 giáo sư và 41 chủng sinh đến Pondicherry, Ấn Độ bằng
đường biển, sau khi dừng chân hai tháng tại Malacca. Tuy nhiên dù
yên tĩnh b́nh yên, Pondicherry tỏ ra không thích hợp, v́ quá xa
Trung hoa và Đông Dương, mà hầu hết các chủng sinh đều xuất xứ từ đó.
Thế là, năm 1782, chủng viện tạm thời ở đó, cho đến khi có thể t́m
được nơi khác thuận tiện hơn.
Tại Pulau Tikus, Penang
(1808-1914)
Sau khi cân nhắc nhiều nơi
khác nhau, Penang - một thuộc Anh từ năm 1786 - được chọn, v́ ổn
định về chính trị và vị trí địa lư có thể giúp dễ dàng đến các vùng
đất truyền giáo khác. Linh mục Letondal quản lư của MEP, đi xa măi
đến tận Mexico, để vận động thu gom tiền xây dựng chủng viện mới.
Năm 1808, một Bề Trên mới,
cha Lolivier đến Penang với 5 chủng sinh từ Macao tới. Năm sau, học
viện hồi sinh, bắt đầu ở Pulau Tikus với 20 chủng sinh Trung Hoa.
Chẳng bao lâu nhiều quốc tịch khác đến khiến danh hiệu Tổng Học Viện
có ư nghĩa hơn. Mấy năm đầu tiên có khó khăn v́ nghèo nàn, và thiếu
giáo sư từ Pháp đến. Một số thừa sai trên đường đến hiện trường
truyền giáo, đă phục vụ tại nhiều nơi, dù trên căn bản tạm thời.
Điều này là trường hợp các
Linh mục Imbert và Chastan, các vị tử đạo tương lai tại Triều Tiên.
Các ngài được dùng làm giáo sư. Linh mục Imbert năm 1821 và Linh mục
Chastan năm 1827-30. Bất chấp những khó khăn này, có một nhân chứng
nói rằng ông thấy đó là một “chủng viện có các bạn hữu làm việc vất
vả ở bên trong, và nơi đó Thiên Chúa nhân lành được mọi người yêu
mến” Chủng sinh có tinh thần nhiệt thành và kiên nhẫn chịu đựng
những khó khăn, và thực sự nhiều người trong các chủng sinh đến từ
các vùng đất truyền giáo đang trải qua bách hại. Về sau khi được đào
tạo xong, họ sẽ trở về phục vụ, khiến chủng viện, không những là
thửa vườn ươm trồng đào tạo linh mục, mà c̣n nuôi dưỡng các vị tử
đạo tương lai.
Trong năm 1834-35, nhiều
cuộc bách hại các Kitô hữu ở Annam (Trung Kỳ, An Nam) buộc vị giám
mục đại diện tông ṭa và cả chục chủng sinh phải chạy trốn sang
Penang, để tiếp tục học tập làm linh mục. Trong số họ có Philip Minh
là vị đă tử đạo tại Việt Nam năm 1835, được phong chân phúc năm 1900
và phong hiển thánh năm 1988.
Năm 1884 có một làn sóng
bách hại nữa ở Annam. Mười bốn linh mục và giáo lư viên bị tàn sát,
nhiều người trong họ là những sinh viên trước kia của Tổng Học Viện.
Khoảng 24 chủng sinh t́m cách cách trốn thoát và được gửi đến Penang.
Giám Mục Đại Diện Tông Ṭa, Đức Ông Caspar đă viết vào thời gian đó:
“Chủng viện tại Penang
nghênh đón các con người mỏi ṃn và tiếp nhận họ như một bà mẹ
thương yêu. Đó là chốn nương náu cho tất cả những ai cần đến… Nhờ
học viện này, Phái Bộ Truyền Giáo tại Bắc Nam Kỳ c̣n tồn tại, có lẽ
hơn bất cứ phái bộ truyền giáo nào, v́ các linh mục được cung ứng.
Học viện đáng quí này đă, đang và sẽ đem lại ích lợi vô song"
Với con số chủng sinh gia
tăng, Linh mục Bề Trên Wallays, trong năm 1885, đă mở rộng các toà
nhà, và xây dựng ṭa nhà chính có một dăy mái ṿm, khiến mọi người
phải thán phục. Về sau khi hoà b́nh tại trở lại trên các vùng đất
truyền giáo, th́ việc ghi danh nhập học tụt xuống, v́ các chủng viện
địa phương được phép hoạt động lại. Khi đó hầu hết các chủng sinh
đến từ các phái bộ truyền giáo mới lập tại Rangoon và Mandalay tại
Miến Điện. Trong thời kỳ này chủng viện có cơ hội xem xét lại học
tŕnh của ḿnh.
Tại Pulau Tikus từ
1914-1983

Trong thế chiến I
(1914-1918) con số các chủng sinh lại gia tăng. Lần này các chủng
sinh lại đến từ các chủng viện trong miền tạm thời bị đóng cửa, v́
các linh mục thừa sai Pháp phải trở về Pháp.
Thế Chiến II (1939-1945)
cũng không sản tạo ra kết quả tốt là nhiều linh mục thừa sai ở trong
phái bộ truyền giáo, và các chủng viện khác tiếp tục hoạt động. Hơn
nữa, người Nhật chiếm đóng Mă Lai làm gián đoạn giao thông. Trong
thời gian chiến tranh, toàn thể chủng viện phải trú tạm ở Mariophile,
một biệt thự nghỉ ngơi cách Pulau Tikus khoảng 3 km. Ở đó các chủng
sinh phải tự pḥng vệ, và lo học hành xen kẽ với những giờ làm việc
chân tay. Họ sống c̣n nhờ vào rau cỏ trồng trong nhà, đánh bắt cá,
và nuôi súc vật. Khẩu hiệu của họ là "primum vivere, deinde
philosphare" có nghĩa là “hăy sống trước, rồi mới học triết sau”
Vào tháng 2/1945, họ phải
di tản khỏi Mariophile, nhường chỗ cho Hải Quân Nhật. Mọi người, trừ
hai linh mục và chín chủng sinh Mă Lai, đều trở về chủng viện ở
Pulau Tikus. Những người di tản về sau đến ở trong Nhà Thờ Danh
Thánh Maria tại Peratang Tinggi trong đất liền. Sau khi đ́nh chiến
vào tháng Tám 1945, toàn thể cộng đoàn lại cùng nhau trở về Pulau
Tikus.
Tổng Học Viện lại đóng vai
làm nơi trú ngụ cho các chủng sinh bị bách hại và bị lưu đầy, khi
Cộng Sản xuất hiện tại Măn Châu và Trung Hoa vào cuối thập niên 1940
và 1950, bắt buộc các thanh niên chủng sinh phải trốn khỏi nước họ.
Nhiều người trong họ không thể trở về tổ quốc họ, sau khi đă học
xong, và họ chọn phục vụ tại Mă Lai Á, Tân Gia Ba hay nhiều nơi khác
của Cộng Đồng Trung Hoa Hải Ngoai, xa măi đến Vancouver, Canada.

Trong những năm 1950 và
1960 có ít chủng sinh hơn xuất xứ từ các nước lân cận,v́ họ bắt đầu
sắp đặt các chủng viện địa phương riêng của họ.
Năm 1965, Tổng Học Viện
chính thức sát nhập vào Viện Đại Học Giáo Hoàng Urbania ở Rôma và
chủng sinh đậu kỳ khảo sát th́ được cấp bằng Tú Tài Thần Học.
Vatican II đưa đến những
thay đổi mới, và mỗi khía cạnh đào tạo được xem lại, và những tiêu
chuẩn mới được đặt ra. Tinh thần đối thoại nhiều hơn, chia sẻ nhiều
trách nhiệm và cởi mở với thế giới được khuyến khích. Năm 1966,
tiếng Anh trở thành chuyển ngữ trung gian chính thức trong học vấn.
Các giáo sư Mă Lai Á và Thái Lan được huấn luyện ở Rôma trở về, thay
thế các thừa sai Pháp. Năm 1970 Cha Achiles Chung trở thành Viện
Trưởng người châu Á đầu tiên. Như thế Hội MEP đă hoàn thành sứ mệnh
huấn luyện hàng giáo sĩ địa phương, và đă bàn giao toàn thể chủng
viện cho giới chức giáo hội địa phương.
Năm 1983 giáo hội tại
Singapore đă sắp đặt một đại chủng việc riêng của ḿnh, khi các
chủng sinh có khó khăn trong việc có được chiếu khán học tại Mă Lai
Á. Từ khi đó Tổng Học Viện trở thành chủng viện miền cho ba giáo
phận trên bán đảo Mă Lai Á.
Tại Mariophile, Penang Từ
1984 -
Năm 1984, Tổng Học Viện
được sắp đặt xa chỗ ban đầu ở Pulau Tikus (nơi nó ở đó suốt 176 năm!),
chuyển đến Mariophile, khi các toà nhà quá cũ kỹ, và quá lớn cho một
số nhỏ chủng sinh bảo quản.
Ngày 19/6/1988, 117 vị Tử
Đạo Việt Nam được Đức Gioan Phaolô II phong thánh tại Rôma. Trong số
các ngài có các Cha Philippê Minh, Phêrô Quí, Phaolô Lộc, Gioan Hoan
và Phêrô Lư - đều là các học tṛ của Tổng Học Viện. Một vở kịch đóng
đời sống của các ngài và cuộc tử đạo của các ngài được các chủng
sinh dàn dựng lúc Thánh Lễ cử hành biến cố, có nhiều điềm lành, tại
Nhà Thờ Lớn Đức Mẹ Lên Trời ở Penang.
Năm 1989 ba khu nhà cư ngụ
hiện nay được hoàn tất, và vào năm 1992, các chủng sinh cùng các
giáo sư, từ các toà nhà cũ chuyến vào. Chủng viện bắt đầu nghiên cứu
và hội nhập các khuyến cáo từ Văn Kiện Pastores Dabo Vobis - tông
huấn ban hành sau công đồng về việc đào luyện linh mục.
Năm 1994, giai đoạn hai của
những toà xây dựng mới. Sảnh đường lớn, thư viện, các pḥng lớp,
trung tâm tài nguyên giao thông, hội trường thuyết tŕnh và các văn
pḥng hành chính được hoàn tất. Lễ khai mạc và chúc lành chính thức
được tổ chức vào ngày 4/10/1995.

Tổng học viện đă đào tạo ra
chừng 1.000 linh mục từ khi bắt đầu 330 năm về trước. Hầu hết trong
họ đă trở về phục vụ nhiều nơi trong xứ sở họ tại châu Á, và nhiều
người đă tuẫn đạo. Chính v́ lư do và sự kiện này, một số di tích đă
được bảo quản trong nhà nguyện của Học Viện. Nhờ đó Học Viện c̣n
được người ta biết đến là Học Viện Các Thánh Tử Đạo. Nhiêu người
trong con cái của học viện đă được truyền chức Giám mục tại quê
hương của họ.
Ngày lễ khánh thành và chúc
lành chính thức các toà nhà mới tại Mariophile ngày 4/10/1995, trùng
hợp với thời gian một trong những người con của chủng viện, cha
Murphy Pakhiam, được truyền chức làm Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận
Kuala Lumpur. C̣n quan trọng không kém là nhiều linh mục đă tốt
nghiệp từ chủng viện lịch sử này. Các ngài đă trung thành, nhiệt
t́nh và can đảm phục vụ Giáo Hội tại châu Á trong 330 năm qua -
nhiều người c̣n sẵn sàng tuẫn đạo v́ Chúa Kitô.
Có lẽ không có chủng viện
nào đă bị chuyển chỗ quá nhiều lần trong lịch sử của ḿnh, và tín
nhiệm dành cho các nhà thừa sai MEP. Dù nhiều khó khăn, bách hại,
bắt tù, đắm tầu,… các ngài đă phấn đấu để duy tŕ nó. Ít chủng viện
trên thế giới đă được chúc phúc với thật nhiều các vị tử đạo và các
vị thánh trong số các học viên của trường. Với Chúa giúp đỡ và với
lịch sử phong phú các vị tử đạo và kiên nhẫn giữa các thù nghịch,
Tổng Chủng Viện tin cậy sẽ tiếp tục đào luyện các linh mục thánh
thiện, nhiệt thành và trung tín, để rao truyền Tin Mừng trong thiên
niên kỷ thứ ba..
Tài Liệu
http://en.wikipedia.org/wiki/College_General
http://www.rc.net/malaysia/collegegeneral/
http://www.sspxasia.com/Newsletters/2003/Jan-Jun/Origins_of_Catholicism_in_Singapore.htm
http://www.rc.net/malaysia/collegegeneral/History.htm
http://en.wikipedia.org/wiki/Penang
Oakland, CA, Ḥa Giang Đỗ
Hữu Nghiêm biên khảo xong ngày 22/8/2007.4
|