|
|
MẦU NHIỆM KINH MÂN CÔI
Những lần hiện ra ở Fatima cũng như ở Mễ Du,
Đức Mẹ Maria thường thiết tha kêu gọi nhân loại: hăy hoán cải và
trở về với Thiên Chúa. Chỉ cần con người có tâm t́nh hoán cải, tức
là cải thiện đời sống của ḿnh, th́ Mẹ sẽ ban cho họ phương tiện
để thực hành sự hoán cải của ḿnh, đó là kinh Mân Côi, c̣n gọi là
chuỗi Mân Côi.
Bất cứ thời đại nào, từ khi Đức Mẹ Maria hiện
ra và dạy thánh Đa Minh truyền bá kinh Mân Côi trong Giáo Hội, th́
các Đức Giáo Hoàng đă tích cực ủng hộ truyền bá và siêng năng lần
hạt Mân Côi, coi đó như phương tiện để người tín hữu được đến gần
Thiên Chúa hơn. Đức Thánh Cha Gregory XII cũng cho rằng: "Kinh Mân
Côi được chính Thánh Đa-minh thiết lập để làm nguôi cơn giận của
Thiên Chúa và để cầu xin Rất Thánh Trinh Nữ bầu cử”.
Trong thông diệp “Trong tháng năm (Mense Maio)
Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đă nói: “Kinh Mân Côi rất đẹp ḷng Đức
Mẹ và được các giáo hoàng khuyến khích”, và Đức Giáo Hoàng
Gioan-Phao-lô II trong bài giảng ngày 13.5.1982 tại Fatima đă nói:
"Lời kêu gọi thống hối bao giờ cũng được gắn liền với cầu nguyện.
Hợp với truyền thống của bao thế kỷ, Đức Mẹ của sứ điệp này đă đề
cập đến Kinh Mân Côi, một kinh có thể được khẳng định là Kinh của
Mẹ Maria, một kinh mà Mẹ đặc biệt cảm thấy gắn liền với chúng ta."
Ngoại trừ thánh lễ ra, th́ kinh Mân Côi chiếm
vị trí quan trọng trong đời sống của người Ki-tô hữu, và thực tế
đă chứng minh được điều ấy, khi mà trong các chủng viện, các ḍng
tu và các tu hội, cũng như các đoàn thể và cá nhân tín hữu đều nô
nức yêu mến đọc kinh Mân Côi trong các đoàn thể của ḿnh, và đặc
biệt các gia đ́nh công giáo đều không thể thiếu vắng kinh Mân Côi
trong gia đ́nh của ḿnh. Kinh Mân Côi mau chóng được các chủ chăn
và con cái trong Giáo Hội đón nhận, là v́ nó như cái phao cứu hộ
cứu được rất nhiều linh hồn khỏi chết đời đời trong hỏa ngục, nó
làm cho nhiều người trở về nẻo chính đàng ngay, và nhờ kinh Mân
Côi, mà Thiên Chúa ban thêm đức tin cho những người yếu đuối được
vững mạnh trong đường trọn lành...
Khi đọc và suy niệm kinh Mân Côi với tất cả
tâm hồn, th́ cuộc đời của Chúa Giê-su và Mẹ Maria khi sống ở trần
gian như đoạn phim mầu nhiệm sống động trước mắt chúng ta, và nhờ
đó mà đức tin của chúng ta được tăng trưởng, ḷng yêu mến của
chúng ta được nhân rộng, và ḷng cậy trông của chúng ta được củng
cố thêm lên.
NĂM
SỰ VUI: Chiếc phao cứu độ linh hồn.
1. Thiên Thần truyền tin.

Năm sự Vui kinh Mân Côi nhắc nhở chúng ta suy
niệm đến t́nh yêu của Thiên Chúa đă dành cho nhân loại khi Ngài
tuyên án con rắn –đại biểu cho ma quỷ và sự dữ- rằng: “Ta sẽ gây
mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa ḍng giống mi và ḍng giống
người ấy; ḍng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó”.
Và lời hứa này đă thực hiện nơi Đức Mẹ Maria –người nữ sẽ đạp đầu
con rắn- bởi ḷng khiêm tốn vâng phục thánh ư của Thiên Chúa trong
ngày Mẹ được sứ thần truyền tin.
Năm sự Vui kinh Mân Côi được bắt đầu từ mầu
nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể trong cung ḷng Đức Mẹ Maria bởi hai
tiếng “Xin Vâng” của Mẹ, hai tiếng Xin Vâng này đă làm cho đất
trời bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của cứu độ, ân sủng và
ḥa b́nh mà muôn dân đang trông đợi, và bởi ḷng khiêm tốn và luôn
đặt ḿnh vào trong bàn tay quan pḥng của Thiên Chúa nên Đức Mẹ
Maria đă trở thành kho tàng ân sủng của Thiên Chúa –qua Chúa
Giê-su- để ban phát cho tất cả những ai nhờ Mẹ để đến với Chúa
Giê-su là nguồn mọi ân sủng.
Bởi tiếng Xin Vâng này, mà các thánh trong
ngục tổ tông vui mừng, cửa thiên đàng rộng mở và tâm hồn những
người công chính như nở hoa, bởi v́ ngày cứu độ đă đến rồi.
Bởi tiếng Xin Vâng này mà Đức Mẹ Maria được
chọn làm Mẹ của Thiên Chúa, như lời của thánh công đồng Vaticanô
II đă dạy rằng: “Thực vậy, khi sứ thần truyền tin, Đức Nữ Trinh
Maria đă đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn cùng thân xác,
và đem Sự Sống đến cho thế gian, nên được công nhận và tôn kính là
Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu Thế.”
Và với ưu thế là mẹ Thiên Chúa ấy, mà Mẹ
Maria đă không đành ḷng nh́n thấy Máu Thánh của Con ḿnh đổ ra vô
ích, Mẹ không đành ḷng nh́n thấy những đứa con ngày càng đi xuống
vực thẳm tội lỗi, Mẹ cũng đă không đành ḷng khi thấy thời gian
kiên nhẫn của Thiên Chúa sắp hết, nên Mẹ đă ra tay can thiệp với
tất cả uy quyền của người mẹ trước ṭa Thiên Chúa, để xin Ngài tha
tội cho nhân loại. Thánh I-rê-nê đă nói rất chí lư: “Chính Ngài (Đức
Mẹ Maria), nhờ vâng phục, đă trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho ḿnh
và cho toàn thể nhân loại”.
“Thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai,
ta hăy xin cho đặng ở khiêm nhượng”, sự khiêm nhượng này phải như
khiêm nhượng của Mẹ Maria, tức là biết nhận ra thánh ư của Thiên
Chúa cách minh bạch, và rồi mau mắn đáp trả và phó thác tương lai
của ḿnh trong tay Ngài. Con người ta thường có khuynh hướng ưa
làm nổi ḿnh dù biết ḿnh chẳng tài cán bao nhiêu, và thích khiêm
nhượng kiểu “ống điếu” để người khác chiều chuộng, mời mọc mới có
giá trị.v.v..
Như vậy, tiếng Xin Vâng của Đức Mẹ Maria đă
trở thành chiếc phao cứu hộ của cả nhân loại, và khi chúng ta suy
niệm đến cái mốc lịch sử này, th́ phải nhận ra giá trị vô giá
tiếng Xin Vâng của Đức Mẹ Maria.
2. Đi thăm bà Ê-li-sa-bét.

Ơn cứu độ này, niềm vui này cần phải được
chia sẻ với mọi người, trước hết là trong bà con thân thuộc, rồi
sau đó đến với người khác.
Đức Mẹ Maria là một phụ nữ nhạy cảm, một
người có tâm hồn đang tràn ngập niềm vui thiên quốc và ḷng yêu
mến tha nhân, cho nên Mẹ đă không quản ngại đường sá xa xôi để đi
đến phục vụ cho người chị em của ḿnh là bà Ê-li-sa-bét, bà cũng
đang mang thai được sáu tháng, đây là một hành động của người đang
có niềm vui của Thiên Chúa, niềm vui này không thể ấp ủ hưởng thụ
một ḿnh, nhưng là cho đi, đem tới và tỏa rộng để chia sẻ với tha
nhân, nó như ánh sáng chiếu tỏa khắp nơi chứ không chiếu sáng một
ḿnh ai, và đó chính là điểm bắt đầu của niềm vui cứu độ.
Trước mắt chúng ta là cảnh bà Ê-li-sa-bét
ngạc nhiên và vui mừng tột cùng khi Mẹ Maria đến viếng thăm, bà ôm
chầm lấy người em gái họ dễ thương và như có một sự thôi thúc đặc
biệt tự trong tâm, bà đă thốt lên: “Em được chúc phúc hơn mọi
người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc
1, 42), sự thôi thúc ấy chính là Thánh Thần Chúa đă dùng môi miệng
của bà Ê-lia-sa-bét để ca ngợi hồng phúc mà Thiên Chúa đă ban cho
Đức Mẹ Maria. Nhưng quan trọng hơn cả lời ca ngợi của bà Ê-li-sa-bét,
là lời chào của Đức Mẹ Maria đă làm cho thai nhi sáu tháng tuổi
trong bụng bà Ê-li-sa-bét cảm nghiệm được ơn cứu độ của Thiên Chúa
đă ưu ái đến ḿnh nên mừng vui nhảy lên sung sướng, và hiệu quả
của lời chào này là thai nhi –Gioan Tẩy Giả- được khỏi tội nguyên
tổ.
Cuộc thăm viếng lịch sử này của Đức Mẹ Maria
là chiếc phao cứu độ cho thánh Gioan Tẩy Giả, là đem niềm vui và
hạnh phúc đến cho gia đ́nh bà Ê-li-sa-bét. Cuộc thăm viếng này, có
thể nói là Đức Mẹ Maria đă làm người tiên phong trong việc loan
báo tin mừng cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.
Ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, chỉ có
điều là có người được đón nhận trước và có người đón nhận sau,
nhưng tất cả những ai đă diễm phúc đón nhận ơn cứu độ này, th́ noi
gương của Đức Mẹ Maria ra đi, đến với và cùng với tha nhân, để
giới thiệu cho họ biết về t́nh yêu của Thiên Chúa bằng ngay chính
cuộc sống của ḿnh.
3. Sinh hạ Chúa Giê-su.

Ngày tháng trông đợi Đấng Thiên Sai đến của
người Do Thái thật dài đăng đẳng, biết bao nhiêu người đă qua đi
khi trong ḷng họ mong mỏi được nh́n thấy Đấng Cứu Thế, nhưng dù
không đợi chờ được th́ họ vẫn cảm thấy thỏa ḷng v́ lời hứa ấy vẫn
luôn được các tiên tri loan báo qua các thời đại, nhất là tiên tri
I-sai-a, vị tiên tri khoảng hơn sáu trăm năm trước Chúa Giê-su
sinh ra đă loan báo niềm hy vọng và ngày cứu rỗi đến:
- “Dân đang lần bước giữa tối tăm đă thấy một
ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được
ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9, 1).
- V́ một trẻ thơ đă chào đời đă cứu ta, một
người con đă ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai,
danh hiệu của Người là Cố Vấn Kỳ Diệu, Thần Linh dũng mănh, người
Cha muôn thuở, Thủ Lănh ḥa b́nh” (Is 9, 5).
- Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ,
từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần Khí Đức Chúa sẽ ngự
trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và
dũng mănh, thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa...”(Is 11, 1-9).
- “Trời cao hỡi, nào hăy gieo sương, mây hăy
đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩy mầm ơn cứu độ,
đồng thời chính trực sẽ vươn lên” ( Is 45, 8).
- Này đây, người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ
sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7, 14b)
Và cuộc đợi chờ nào cũng sẽ có hồi kết thúc,
Chúa Giê-su đă được Đức Mẹ Maria sinh hạ trong hang lừa ở thành
Bê-lem, làng Na-da-rét, xứ Palestine.
Mầu nhiệm nhập thế này là cả một công tŕnh
sáng tạo của yêu thương, mà không có một kiến trúc sư nào trên thế
gian thiết kế được, chỉ có Thiên Chúa –Đấng là t́nh yêu- mới làm
được như thế: hy sinh Con Một của ḿnh để cứu chuộc nhân loại.
Nơi hang lừa Bê-lem, Ngôi Hai Thiên Chúa đă
làm người, một hài nhi nhỏ bé nghèo nàn, đang được bọc trong khăn
(bởi v́ không có áo), đang chia sẻ thân phận nghèo khó với những
con người nghèo khó, cả t́nh yêu trời đất đang ở đó, Đấng cứu độ
nhân loại đang ở đó nhưng nào có ai hay ! Mẹ Maria hiểu thấu nổi
thiếu thốn này như là một sự chia sẻ của con ḿnh với nhân loại,
và như thế càng làm nổi bật tính “đồng công” cứu chuộc nơi Mẹ hơn.
Nhưng sự nghèo khó thiếu thốn của Mẹ không
làm chùn bước các mục đồng đến thờ lạy, không làm cho các nhà bác
học xa xôi đến bái thờ Đấng Cứu Thế mới sinh ra...
Đức Mẹ Maria mời gọi chúng ta đọc kinh Mân
Côi và suy ngắm mầu nhiệm Nhập Thế này, không phải để chúng ta cảm
thấy tội nghiệp cho Chúa Giê-su và Đức Mẹ, nhưng là để chúng ta
thấy được t́nh yêu vô biên của Cha trên trời –qua kinh Mân Côi- và
nhận ra rằng, Chúa Giê-su chính là Đấng cứu độ nhân loại, là chiếc
phao cứu rỗi các linh hồn đang chới với giữa biển trần gian...
4. Dâng Chúa Giê-su trong đền thánh.

Một cái mốc quan trọng nữa trong mầu nhiệm
Nhập Thế của kinh Mân Côi –năm sự Vui- đó là suy ngắm đến Chúa
Giê-su khi mang thân phận con người như chúng ta, chịu lệ thuộc
vào lề luật của con người như tất cả mọi người khác, đó là luật
dâng con trai đầu ḷng cho Thiên Chúa như luật Mô-sê chỉ định:
“Mọi con trai đầu ḷng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa.”
(Lc 2, 23)
Đức Mẹ Maria và thánh cả Giu-se là những
người công chính thánh thiện, luôn là mẫu gương tuân giữ lề luật
của cha ông mà dâng con trai đầu ḷng của ḿnh cho Thiên Chúa, dù
nghèo, nhưng không v́ thế mà chuẩn chước cho ḿnh khỏi tuân giữ lề
luật, bởi v́ các ngài biết rằng, tuân giữ lề luật là thực hành ư
Chúa truyền dạy.
Trong ngày dâng Chúa trong đền thánh này, mọi
việc liên quan đến Chúa Giê-su mà Đức Mẹ Maria đă biết, th́ giờ
đây được bày tỏ công khai với mọi người qua lời tiên báo của một
người công chính và sùng đạo là Si-mê-on:
"Muôn lạy Chúa, giờ đây
Theo lời Ngài đă hứa,
Xin để tôi tớ này được an b́nh ra đi.
V́ chính mắt con được nh́n thấy ơn cứu độ
Chúa đă dành sẵn cho muôn dân:
Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
Là vinh quang của Ít-ra-en dân Ngài.” (Lc 2,
29-32)
Ông già Si-mê-on là đại biểu cho những người
Do Thái công chính mong đợi Đấng Cứu Thế, sự mong đợi này Thiên
Chúa đă tỏ ḿnh đặc biệt cho ông thấy nhăn tiền Hài Nhi mà ông
đang ẳm trên tay chính là Đấng mà muôn dân trông đợi, vui sướng
lắm, hạnh phúc lắm, và Chúa Thánh Thần đă qua miệng ông đă nói với
Đức Mẹ Maria rằng: “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều
người Ít-ra-en ngă xuống hay đứng lên. Cháu c̣n là dấu hiệu bị
người đời chống báng. C̣n chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm
hồn bà...” (Lc 2, 34)
Dâng con cho Thiên Chúa, thay v́ nhận được
những lời chúc phúc th́ lại nghe những lời tiên báo về tương lai
của con ḿnh và chính ḿnh, người mẹ nào lại không buồn bả lo âu,
Đức Mẹ Maria cũng thế, Mẹ lo âu buồn bả v́ lời tiên đoán th́ ít,
mà v́ tội lỗi của loài người th́ nhiều, và lời tiên báo này hiệu
nghiệm khi Mẹ đứng dưới chân thập giá để cùng đồng công cứu chuộc
nhân loại với con ḿnh khi một lưỡi đ̣ng đâm thâu cạnh nương long
Chúa Giê-su, th́ đồng thời cũng có một lưỡi gươm sắc bén thiêng
liêng đâm thâu qua Trái Tim cực thánh của Mẹ...
Lần hiện ra ở Fatima với ba trẻ, Đức Mẹ Maria
đă cho các em thấy được sự khốn nạn của hỏa ngục và những linh hồn
bị giam cầm trong đó, và Mẹ không muốn một đứa con nào của Mẹ đă
được Máu Thánh của Chúa Giê-su đổ ra để rửa sạch, tha thứ và ban
ơn phải vào trong hỏa ngục chịu h́nh phạt đời đời nữa, nên Mẹ đă
nhiều lần và nhiều cách hiện ra nhắn nhủ nhắc nhở và dạy bảo hăy
ăn năn đền tội và cải thiện đời sống. Đời sống mà ngay từ khi đón
nhận bí tích Thanh Tẩy chúng ta đă trở nên con của Thiên Chúa,
được trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần và đương nhiên
là đón nhận chính cuộc sống của Chúa Giê-su vào trong cuộc sống
đời thường của ḿnh.
Dâng Chúa Giê-su vào đền thánh, một cái mốc
lịch sử của ơn cứu độ, khi suy niệm điều này, Đức Mẹ Maria mời gọi
chúng ta hăy dâng hiến cuộc đời ḿnh cho Thiên Chúa, để Ngài làm
chủ chiếm trọn lấy linh hồn và thân xác của ḿnh, và chỉ có những
ai thành tâm dâng hiến đời ḿnh cho Thiên Chúa th́ như người trôi
nổi phiêu bạt long đong trên biển cả nắm được cái phao cứu hộ, họ
sẽ được sống và sống đời đời với Thiên Chúa, được hưởng hạnh phúc
muôn đời với Đức Mẹ Maria, các thiên thần và các thánh nam nữ.
5. T́m được Chúa Giê-su trong đền thờ.

Bạn thân mến,
Nếu chẳng may bạn đánh mất một chiếc nhẫn
kim cương quư giá mà t́m lại được, th́ niềm vui của bạn sẽ không
bút nào tả xiết; nhưng nếu chẳng may bạn mất đi người thân yêu,
th́ nổi buồn sẽ tăng gấp nhiều lần, bởi v́ bạn không bao giờ được
lại người thân yêu đă ra đi nữa.
Chúa Giê-su là con duy nhất của Đức Mẹ Maria,
là cả kho tàng yêu thương và hạnh phúc của Mẹ và thánh cả Giu-se,
lạc mất Chúa Giê-su cũng có nghĩa là Mẹ đă mất cả hạnh phúc của cả
đời ḿnh, Mẹ buồn lắm và cùng với thánh cả Giu-se tất tả t́m kiếm
khắp nơi như lời tường thuật của thánh sử Lu-ca: “Xong kỳ lễ, hai
ông bà trở về, c̣n cậu bé Giê-su th́ ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha
mẹ chẳng hay biết, ông bà cứ tưởng cậu là cậu về chung với đoàn lữ
hành, nên sau một ngày đường, mới đi t́m kiếm giữa đám bà con và
người thân thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại
Giê-ru-sa-lem mà t́m.” (Lc 2, 43-45)
Ḷng dạ của người mẹ khi lạc mất con th́ như
có lửa đốt cháy, nóng bừng và rối bời bời, bà chạy khắp nơi hỏi
han người này người nọ để coi có ai biết tung tích con ḿnh không
? Đức Mẹ Maria cũng vậy, ba ngày t́m kiếm con là ba ngày Mẹ như
sống trên lửa cho đến khi t́m gặp lại Chúa Giê-su ở trong đền thờ
ngồi giữa các thầy thông thái mà tṛ chuyện, và ai nghe Ngài nói
cũng đều thán phục trí thông minh và những lời đối đáp của Ngài (Lc
2, 46-48). Không có niềm vui nào sánh bằng khi t́m lại được con
ḿnh sau ba ngày lạc mất, Đức Mẹ Maria vừa vui mừng vùa suy nghĩ
những việc vừa xảy ra để chấp nhận thánh ư của Thiên Chúa, để
chuẩn bị chia sẻ và đón chịu những nổi buồn lớn hơn sau này, khi
Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá.
Đức Mẹ Maria mời gọi chúng ta suy niệm về
việc t́m lại được Chúa Giê-su trong đền thánh của Mẹ và của thánh
cả Giu-se, là để chúng ta nh́n lại bản thân ḿnh, đă bao lần chúng
ta lạc mất Chúa Giê-su, đă bao lần chúng ta lạc đường chính lộ, đă
bao lần chúng ta đă v́ sự thế phù vân mà lạc mất đường về với t́nh
yêu của Cha trên trời ?
Mẹ mời gọi mọi người chúng ta hăy trở về nẻo
chính đường ngay, tức là cải thiện cách sống của ḿnh cho phù hợp
lời dạy của Chúa Giê-su. Đă có nhiều linh hồn cố chấp trước lời
mời gọi thiết tha của Mẹ nên đă bị h́nh phạt hỏa ngục, đă có nhiều
người biết ḿnh lạc mất phương hướng trong đời sống tu đức, nhưng
vẫn cố chấp kiêu ngạo không sửa đổi, nên đă bị án phạt đời đời
trong hỏa ngục như các linh hồn mà ba trẻ ở Fatima đă được Mẹ
Maria cho thấy.
T́m được Chúa Giê-su trong đền thờ là một
niềm vui và là một bài học cho chúng ta, Đức Mẹ Maria đă lo âu khi
Chúa Giê-su lạc mất thế nào, th́ Mẹ cũng lo âu khi lạc mất chúng
ta như vậy, đó là niềm hy vọng và là niềm vui của những người con
tội lỗi là chúng ta. Mau mắn trở về với Chúa và từ bỏ con đường
lầm lạc để trở lại con đường mà Chúa Giê-su và Đức Mẹ Maria đă đi
qua, đó là con đường hẹp, đường lên núi Sọ, đường đưa đến hạnh
phúc đời đời.
NĂM SỰ THƯƠNG: Con đường hẹp cứu rỗi linh hồn
1. Chúa Giê-su lo buồn đổ mồ hôi máu.

Có lẽ trong các mầu nhiệm của kinh Mân Côi,
không có mầu nhiệm nào làm cho chúng ta cảm động và thấy ḿnh quá
tội lỗi cho bằng mầu niệm thương khó –năm sự Thương- này, bởi v́
khi suy ngắm đến những đau khổ mà Chúa Giê-su phải chịu v́ tội lỗi
nhân loại và của chúng ta, th́ không một ai trong chúng ta cảm
thấy ḿnh là người tốt lành thánh thiện cả, bởi v́ Chúa Giê-su là
Đấng thánh đă trở nên như một tội nhân, th́ chúng ta là cái ǵ
trước mặt Thiên Chúa ?
Nơi vườn Ghết-sa-ma-ni, Chúa Giê-su đă cầu
nguyện với Cha trên trời, thánh Mát-thêu đă thuật lại như sau:
“Bấy giờ Đức Giê-su đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là
Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ: “Anh em ngồi lại đây,
Thầy đến đằng kia cầu nguyện.”
Trong cơn đau buồn nhất của con người, Chúa
Giê-su đă khước từ sự ồn ào của những người thân, Ngài muốn yên
tĩnh một ḿnh để suy nghĩ đến những đau khổ mà trong giây lát nữa
đây ḿnh sẽ phải chịu. Chúa Giê-su cầu nguyện lâu giờ với Chúa
Cha, cũng có nghĩa là Ngài đang đắm ḿnh trong sự vâng phục ư Cha
trên trời, coi ư Cha là lẽ sống của ḿnh, và dù cho dù Ngài có can
đảm đến đâu th́ sự sợ hăi vẫn cứ xâm chiếm tâm hồn Ngài trong chốc
lát, khi Ngài thốt lên: “Lạy Cha,, nếu con cứ phải uống chén này
mà không sao tránh khỏi, th́ xin câng ư Cha.”
Ư của Cha là con phải hy sinh, một thứ hy
sinh mà đến các thiên thần thông minh sáng láng mà cũng không hiểu
nổi, nột thứ hy sinh mà chính ngay ma quỷ trong hỏa ngục cũng ṿ
tai bức tóc cũng không nhận ra đó là Đấng cứu độ trần gian, là
Đấng mà ngày xưa trong vườn địa đàng Thiên Chúa đă nói với con rắn
–sa tan- rằng: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa
ḍng giống mi và ḍng giống người ấy; ḍng giống đó sẽ đánh vào
đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó”.
Đức Mẹ Maria khi hiện ra đă lần chuỗi Mân Côi
chung với những người mà Mẹ chọn (ba trẻ Lucia, Jancintha,
Phanxico ở Fatima, và Bernadette ở Lộ Đức), chắc chắn Mẹ cũng rất
đau khổ khi suy đến cảnh Chúa Giê-su đang cầu nguyện trong vườn
Ghết-sê-ma-ni: mồ hôi và máu chảy ra, và thật cô đơn khi các môn
đệ đă ngủ say. Mồ hôi và máu chảy ra đó, không phải là do làm việc
mệt nhọc mà chảy mồ hôi, cũng không phải do bị thương tích mà chảy
máu, nhưng là do tự nổi đau khổ tột cùng ở trong tâm hồn đă làm
đứt các mạch máu và máu chảy ra, nổi đau khổ tột cùng này chính là
Chúa Giê-su đă thấy trước những vô ơn bội nghĩa của nhân loại,
nh́n thấy những tội lỗi mà nhân loại đă xúc phạm đến t́nh yêu vô
biên của Ngài dành cho họ.
Đă có những lần chúng ta đau buồn v́ bị người
thân khinh dể, bị người t́nh phản bội, đă có những lần chúng ta
cảm thấy buồn chán thất vọng v́ chung quanh ḿnh không t́m ra được
người bạn thân biết thông cảm và chia sẻ những nổi buồn với ḿnh.
Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni c̣n đau buồn hơn chúng ta
nhiều lần, bởi v́ tất cả những tội lỗi của chúng ta mà Ngài phải
gánh lấy trên thân ḿnh, đang làm cho Ngài đau khổ đến nổi mồ hôi
máu chảy ra.
Đức Mẹ Maria đă nhiều lần nhắn nhủ loài người
hăy ăn năn đền tội, hăy cải thiện đời sống của ḿnh, để làm dịu
bớt đi những đau khổ mà Chúa Giê-su vẫn đang chịu v́ chúng ta, để
lau đi những mồ hôi máu đang làm cho Chúa Giê-su như đang hấp hối,
không phải trong vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng là hằng ngày trong các
nhà tạm trong nhà thờ lớn nhỏ trên khắp thế giới.
Chỉ có thật ḷng hối cải tội lỗi của ḿnh mới
thật là con đường để được tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự cứu
rỗi đời đời.
2. Chúa Giê-su chịu đánh đ̣n.

Một h́nh hài đang quằn quại dưới những đ̣n
roi vọt dă man của những người lính Rô ma, một con người đă từng
đưa tay thi ân giáng phúc cho nhiều người, giờ đây hai cánh tay bị
trói vào cột đá để chịu người đời trả ơn bằng những đ̣n roi tủi
nhục. Chúa Giê-su đó, h́nh hài của Ngài đang biến dạng dưới những
đ̣n roi của quân lính, thân thể Ngài đang bị xâu xé tả tơi bởi
những cây roi sắt đánh vào, không một tiếng rên la, không một lời
oán trách, như lời tiên báo của tiên tri I-sai-a đă nói về Ngài
trong bài người Tôi Trung của Thiên Chúa :
- “Tôi đă đưa lưng cho người ta đánh đ̣n,
- giơ má cho người ta giật râu.
- Tôi đă không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ
nhổ.” (Is 50, 6)
Đức Mẹ Maria mời gọi chúng ta suy niệm giây
phút bị đánh đ̣n này của Chúa Giê-su, để chia sẻ những đau khổ tủi
nhục mà Ngài phải chịu v́ tội lỗi của chúng ta. Chính Mẹ, dù rằng
không đến tận nơi trói giữ Chúa Giê-su để nh́n thấy thân xác con
ḿnh đang bị hành hạ, nhưng t́nh thương và quả tim của Mẹ đă cảm
nghiệm được những đau khổ ấy, qua tiếng hét tiếng la man rợ của
những tên lính không hề xúc động trước những đau đớn của người
khác, và những ngọn đ̣n chí tử ấy như quất vào thân xác, vào con
tim của Mẹ, làm cho Mẹ trở nên Đấng đồng công cứu chuộc loài người
với con ḿnh.
Trong tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi” gởi
cho các giám mục, linh mục và giáo hữu, Đức Giáo Hoàng Gioan
Phao-lô II đă nói: “Sự đau khổ hèn hạ đó mặc khải không những t́nh
yêu Thiên Chúa nhưng c̣n ư nghĩa của chính con người nữa”. T́nh
yêu của Thiên Chúa dành cho loài người th́ đă quá rơ qua việc Chúa
Giê-su -Con Một Ngài- đă chịu chết trên thập giá, nhưng ư nghĩa
của con người th́ nhân loại chưa nhận ra được t́nh yêu cao trọng
này của Thiên Chúa, cho nên, nhân loại vẫn cứ măi mê trong những
đam mê tội lỗi, mà mỗi lỗi phạm của con người là mỗi đ̣n roi sắt
đánh vào thân ḿnh của Chúa Giê-su.
“Chúa Giê-su chịu đánh đ̣n, ta hăy xin cho
được hăm ḿnh chịu khó bằng ḷng”, nhờ lời dạy của Giáo Hội mà
chúng ta biết hy sinh đời sống hưởng thụ của ḿnh, biết bằng ḷng
với những ǵ mà Thiên Chúa ban cho mà không so đo phân b́ với
người khác, đó chính là con đường hẹp để được cứu rỗi của chúng ta,
và đó cũng là một trong những ḷng nhắn nhủ tha thiết của Đức Mẹ
Maria qua những lần hiện ra với con cái loài người, và nhất là
trong bí mật thứ ba ở Fatima, chị Lucia đă đă thuật lại như sau:
“Sau hai phần mà con đă giải thích, phía bên trái của Đức Bà và
cao hơn một ít, chúng con đă thấy một Thiên thần cầm một thanh
gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa
dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến
ánh quang chiếu toả từ tay phải của Đức Bà hướng về trần gian: chỉ
về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Đền tội,
Đền tội, Đền tội!”.
3. Chúa Giê-su chịu đội măo gai.

Chúa Giê-su là vua cả trời đất, không một
triều thiên vương miện nào trên thế gian này có thể đội trên đầu
của Ngài, v́ không xứng đáng. Nhưng khi đă trút tất cả vinh quang
và mặc lấy thân nô lệ trở nên một kẻ phàm nhân (Pl 2, 6-8), bị
những người Pha-ri-siêu và các kinh sư v́ ghen ghét mà kết án tử
h́nh, th́ mũ triều thiên của Ngài chính là ṿng gai nhọn bện lại
thành cái ṿng đóng vào đầu để làm tṛ cười nhạo báng của quân
lính.
Cái ṿng gai nhọn ấy tượng trưng cho những
tội kiêu ngạo của loài người, khi mà con người ngày càng chối bỏ
Thiên Chúa trong cuộc sống của ḿnh; chính những kiêu ngạo ấy đă
làm cho con cái của Giáo Hội bị chia rẻ, tấm áo tinh tuyền của
Chúa Giê-su bị xé ra thành nhiều mảnh nhỏ, để rồi trở thành ṿng
gai nhọn đóng vào đầu của Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su chịu đội măo gai tức là Ngài chịu
gánh lấy tất cả tội của loài người trút lên đầu Ngài, qua những
trận đ̣n và những lời nhạo báng xúc phạm của những người linh dă
man.
Khi suy ngắm đến thảm kịch nhạo báng này của
những người lính Rô ma dành cho Chúa Giê-su, chúng ta giận dữ ḷng
sục sôi v́ quân vô đạo này đă tàn nhẫn với Chúa Giê-su là Đấng
thánh, chúng ta ước ao có được quyền phép để trừng phạt những tên
lính độc ác ấy để cứu Chúa Giê-su. Nhưng có lúc nào chúng ta tự
xét ḿnh: chính tôi là tên lính đă đội măo gai, đă nhạo cười Chúa
Giê-su bằng cuộc sống bê tha tội lỗi của ḿnh, chính tôi đă dùng
những ghét ghen, kiêu căng, nói xấu, vu khống, tham lam, dục vọng
bện lại thành một ṿng gai nhọn để đội trên đầu của Chúa Giê-su !
Đức Mẹ Maria vẫn tha thiết kêu gọi chúng ta
đừng phạm tội nữa, đừng trở thành những tên lính đánh đ̣n nhạo
báng Chúa Giê-su nữa. Mẹ kêu gọi chúng ta hăy ăn năn sám hối, cải
thiện đời sống và hy sinh thật nhiều, bởi v́ chỉ có những việc làm
như thế, mới mong măo gai trên đầu Chúa Giê-su trở nên nhẹ nhàng,
và án phạt của Thiên Chúa cũng sẽ cất khỏi trên đầu chúng ta.
“Chúa Giê-su chịu đội măo gai” Giáo Hội dạy
chúng ta cầu xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng ḷng. Bởi v́
chỉ có chấp nhận chịu sỉ nhục mới đánh tan được kiêu ngạo, biết
bằng ḷng chịu những hiểu lầm, ghét ghen của tha nhân, mới có thể
chấp nhận đội măo gai khiêm nhường của Chúa Giê-su. Đó chính là
con đường hẹp dẫn đưa chúng ta đến nguồn ơn cứu độ.
4.Chúa Giê-su chịu vác cây thánh giá.

Chỉ có ăn năn hối cải và đền tội, th́ chúng
ta mới có thể làm nhẹ bớt sự công thẳng của Thiên Chúa sắp trút
xuống trên thế gian, và chỉ có đền tội mới có thể trở thành một
ông Simon thứ hai vác đỡ thánh giá với Chúa Giê-su, tức là chia sẽ
những đau khổ do tội đang trở thành cây thánh giá nặng nề trên
thân thể Chúa Giê-su. Đức Mẹ Maria hiểu thấu những nặng nề đau khổ
của Chúa Giê-su, bởi v́ Mẹ cũng chen chúc trong đám đông hiếu kỳ
để nh́n cho tường tận khuôn mặt “chẳng c̣n h́nh tượng người ta nữa”
của Con ḿnh, đang lê lết đôi chân vác thập giá đi ra pháp trường
để chịu chết. Ḷng Mẹ quặn thắt lại, đau đớn vô cùng như chính Mẹ
vác cây thập giá vậy.
Đường lên núi Sọ không bằng phẳng dễ đi,
nhưng dốc đá gồ ghề, với thân xác bị đánh tả tơi suốt một đêm,Chúa
Giê-su thật sự sức đă kiệt lực đă cùng, nhưng vẫn cứ gắng gượng để
làm tṛn bổn phận mà Cha đă giao phó cho ḿnh.
Chúng ta dễ dàng nổi quạu khi trách nhiệm
nặng nề đè trên vai của chúng ta, chúng ta dễ dàng oán trách người
khác khi thấy họ thong dong tự tại, chúng ta cũng dễ dàng tự măn
khi làm được nhiều công việc, và dù muốn hay không th́ tất cả cũng
đều là thánh giá của chúng ta phải vác trong cuộc sống của ḿnh,
để cùng đồng hành với Chúa Giê-su trên đường lên núi Sọ, và đó
cũng là điểm vinh quang của người Ki-tô hữu, bởi v́ khi chết đi là
khi bắt đầu cuộc sống mới với Thiên Chúa ngay tại trần gian này.
Trên đường lên núi Sọ, cây thánh giá của Chúa
Giê-su đă là cớ vấp phạm cho nhiều người đi theo để bàn tán: người
th́ đấm ngực ăn năn, kẻ th́ nhạo báng chê cười, người th́ suy nghĩ
những việc đang xảy ra trước mặt. Và Đức Mẹ Maria cũng đang đi
theo đám đông ấy, nhưng không ồn ào la hét, chỉ nh́n theo con để
khóc và chia sẻ cây thánh giá cứu độ vói con ḿnh.
Hôm nay, có nhiều nơi trên thế giới, thánh
giá cũng là một cớ vấp phạm cho nhiều người như lời của ông già
Si-mê-on đă tiên báo khi Chúa Giê-su được cha mẹ dâng vào đền
thánh: “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en
ngă xuống hay đứng lên. Cháu c̣n là dấu hiệu bị người đời chống
báng. C̣n chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà...” (Lc
2, 34) và thánh giá vẫn c̣n măi măi là án phạt cho những ai luôn
chối bỏ chân lư là Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của ḿnh, và thánh
giá cũng là biểu hiệu của ơn cứu độ và đem lại sự sống viên măn
cho những ai tin vào Đấng đang bị treo trên nó: Chúa Giê-su.
Điểm cuối cùng của chặng đàng thánh giá là
núi Sọ, nơi để hành h́nh các tội trọng phạm, Chúa Giê-su đang đứng
nơi mà ḿnh sẽ là người làm ứng nghiệm lời của Đức Chúa đă phán
dạy ông Mô-se ngày xưa trong hoang địa khi dẫn dân Do Thái vể miền
đất hứa: "Ngươi hăy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất
cả những ai bị rắn cắn mà nh́n lên con rắn đó, sẽ được sống.” Ông
Mô-se bèn làm một con rắn đồng và treo lên một cây cột, và hể ai
bị rắn cắn mà nh́n lên con rắn đồng, th́ được sống.” (Ds 21, 8-9)
Lời của Đức Chúa lát nữa đây sẽ ứng nghiệm khi Chúa Giê-su bị đóng
đinh vài thập giá, và trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai nh́n
lên “Đấng đă bị đâm thâu” và được sự sống đời đời.
Đức Mẹ Maria đă chứng kiến cảnh quân lính lột
áo Chúa Giê-su ra, đă tận mắt nh́n thấy từng cái đinh với âm thánh
chát chúa của búa tạ đóng vào trên tay chân con của ḿnh vào cây
gỗ giá, nổi đau vô vàn của Chúa Giê-su đang thấm thấu vào trong
tâm hồn của Mẹ, Mẹ như bị những cái đinh to lớn ấy đóng vào trong
tim của ḿnh, bởi v́ tay chân h́nh hài đang quằn quại trên cây gỗ
giá ấy chính là h́nh hài được Mẹ cưu mang trong dạ chín tháng mười
ngày, được máu thịt và hơi thờ của Mẹ nuôi sống từng ngày để giờ
đây trở thành tế phẩm dâng lên Chúa Cha để xin Ngài tha tội cho
nhân loại tội lỗi.
Tại sao Chúa Giê-su bị đóng đinh chân tay vào
thánh giá th́ chúng ta đă hiểu rơ, bởi v́ chính Ngài đă yêu thương
nhân loại, yêu thương chúng ta mà vâng lời Chúa Cha để chịu nhiều
đau khổ, như lời trong thư gởi tín hữu Do Thái đă viết: “Dầu là
Con Thiên Chúa, Người đă phải trải qua nhiều đau khổ mới học được
thế nào là vâng phục.” (Dt 5, 8) mà cái đau khổ tột cùng nhất
trong các đau khổ chính là sự phản bội của người mà ḿnh đă hy
sinh cho họ.
“Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thánh giá, ta
hăy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa.”
Tay của Chúa Giê-su bị đóng vào thánh giá để
cho chúng tay của chúng ta được vươn tới với những người đang cần
chúng ta giúp đỡ, để tay của chúng ta trở thành tay của Chúa
Giê-su an ủi xoa dịu những vết thương tích nơi người bất hạnh, để
tay của chúng ta vươn ra nắm lấy những bàn tay đang ngă xuống vũng
sâu của đam mê trụy lạc; chân của Chúa Giê-su bị đóng đinh vào
thánh giá là để cho chân của chúng ta ra đi rao giảng tin mừng
Nước Trời, để chân của chúng ta rảo bước đến với những nơi mà bóng
tối bất công đói nghèo dang ngự trị, chân của Chúa Giê-su bị đóng
vào thánh giá là để chân của chúng ta đi đến nhà thờ thay cho
những người ao ước đến mà không được...
Cây thập giá được dựng đứng lên trên đồi cao
với h́nh hài đẩm máu của Chúa Giê-su, th́ đối với những người
Pha-ri-siêu và các kinh sư th́ coi như đă giải quyết được một vấn
đề liên quan đến quyền lợi và uy tín của họ, cái gai trong mắt họ
đă được nhổ ra và treo trên thập giá. Người bị họ kết án tử và
treo trên thập giá ấy, chính là Đấng sẽ xét xử họ trong ngày thế
mạt, Đấng mà họ coi như một tử tội ấy sẽ là Đấng ngự xuống uy
nghiêm trên mây trời để phán xét thế gian (Mt 25, 31-46).
Trong những lần hiện ra tại thành phố Akita -
Nhật Bản, vào ngày 3.8.1973 Đức Mẹ Maria đă nói cho nữ tu Sumako
Sugawara biết: “Rất nhiều người đang gây buồn phiền cho Chúa. Mẹ
muốn nhiều linh hồn an ủi Ngài để làm dịu cơn thịnh nộ của Chúa
Cha. Cùng với Con của Mẹ, Mẹ muốn nhiều linh hồn dâng những đau
khổ và khó nghèo của ḿnh, để đền tạ cho kẻ tội lỗi và những kẻ vô
ơn bội nghĩa.”
Ngày hôm nay, nhân loại vẫn c̣n đóng đinh
Chúa Giê-su vào thập giá bằng những tội lỗi của ḿnh, các con cái
Mẹ vẫn c̣n đóng đinh người Anh Cả của ḿnh bằng những tội bất
trung, bằng những thói hư tật xấu, bằng những ghen ghét bon chen,
bằng những sự phạm thánh mà chính Mẹ đă báo cho nữ tu Sumako
Sugawara rằng: “Thế lực ma quỷ sẽ xâm nhập vào trong Giáo Hội, đến
nỗi người ta sẽ thấy Hồng y chống đối Hồng y, Giám mục chống đối
Giám mục. Những linh mục có ḷng sùng kính Mẹ sẽ bị chính đồng bạn
của họ khinh miệt và chống đối...” Lời tiên báo này của Mẹ đang
ứng nghiệm trên khắp thế giới, khi mà những con cái ưu tuyển của
Mẹ, các môn đệ của Chúa Giê-su vẫn có những người muốn chối bỏ ân
sủng mà ḿnh đă lănh nhận từ nơi Giáo Hội, để rồi trở thành những
người lính đóng đinh Chúa Giê-su vào thánh giá một lần nữa.
5.Chúa Giê-su chịu chết trên thánh giá.

Phúc Âm của thánh Mat-thêu thuật lại rằng:“Từ
giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, măi đến giờ thứ chín.
Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma
xa-bác-tha-ni”, nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con,
sao Ngài bỏ rơi con.... ..Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi
trút linh hồn?” (Mt 27, 45-50)
Chúa Giê-su đă chết thật trên cây thánh giá,
Ngài đi qua sự chết khổ nhục để phục sinh vinh quang, và từ đó sự
chết không c̣n quyền ǵ trên Ngài nữa.
Chúa Giê-su đă chết trên cây thánh giá, các
môn đệ thất vọng tán loạn, những người Pha-ri-siêu và các kinh sư
hớn hở vui mừng, và những người đạo đức th́ đau buồn, người tội
lỗi ăn năn sám hối. Cái chết của Chúa Giê-su là khơi nguồn sự sống
cho những ai tin vào Ngài bắt đầu từ người lính dùng lưỡi đồng đâm
cạnh nương long Chúa Giê-su đă chứng thực Ngài là Con Thiên Chúa (Ga
19, 34-35), và viên đại đội trưởng đứng đối diện với Chúa Giê-su,
khi thấy Ngài tắt thở liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên
Chúa.” (Mc 15, 39)
Chúa Giê-su đă chết để dụ ngôn hạt lúa ḿ của
Ngài nói với các môn đệ biến thành sự thật nơi Ngài: “Thầy bảo
thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào ḷng đất mà không chết đi, th́
nó vẫn trơ trọi một ḿnh; c̣n nếu nó chết đi, nó mới sinh được
nhiều hạt khác.” (Ga 12, 24)Ngài chính là hạt lúa từ trời xuống và
được Cha gieo vào trần gian, để rồi chết đi bởi những thế lực của
tội ác, và sống lại vinh quang để trở nên nguồn sống cho những kẻ
tin vào Ngài.
Đức Mẹ Maria khi đối diện với sự thật này, Mẹ
vẫn đứng vững vàng dưới chân thánh giá như một Ki-tô hữu tham dự
thánh lễ đầu tiên của con ḿnh trên thánh giá. Mẹ đă thực sự cộng
tác với Thiên Chúa trong chương tŕnh cứu độ loài người, đă đồng
công với Chúa Giê-su, không những chia sẻ những vui buồn với Ngài,
mà c̣n chia sẻ con đường khổ giá của Ngài để đem ở cứu độ cho nhân
loại.
“Chúa Giê-su chịu chết trên thánh giá” Giáo
Hội kêu mời chúng ta đóng đinh tính xác thịt ḿnh vào thánh giá
với Chúa Giê-su, là con đường hẹp dẫn đưa chúng ta đến sự cứu rỗi
đời đời.
Đóng đinh xác thịt ḿnh vào thánh giá, đau
lắm, khốn khổ lắm, nhưng Chúa Giê-su đă làm như thế để bày tỏ t́nh
yêu thương của Ngài dành cho chúng ta. Giáo Hội kêu gọi chúng ta
chia sẻ vào cuộc thương khó của Chúa Giê-su và sự chết của Ngài
bằng những hy sinh nho nhỏ, bằng những đóng đinh thú vui dục vọng,
thú vui ăn uống, thú vui thỏa măn tính ṭ ṃ, để chúng ta trở
thành những hạt lúa được Chúa Giê-su gieo vào ḍng đời thế gian,
được trổ sinh nhiều hạt lúa tốt đẹp và trở nên bánh cho tha nhân
hưởng dùng.
Mầu nhiệm năm sự Thương, quả là con đường hẹp
dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời với Chúa Giê-su và Mẹ Maria.
NĂM
SỰ MỪNG: Niềm vui cứu độ
1. Chúa Giê-su sống lại.

Thánh Phao-lô tông đồ rao giảng cho giáo đoàn
Cô-rin-tô về Chúa Giê-su sống lại như sau: “Trước hết, tôi đă
truyền lại cho anh em chinh điều mà tôi đă lănh nhận, đó là: Đức
Ki-tô đă chết v́ tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi
Người đă được mai táng, và ngày thứ ba đă trỗi dậy, đúng như lời
Kinh Thánh.” (1 Cr 15, 3-4) Chúa Giê-su đă sống lại, như lời Ngài
đă mạc khải cho các người Pha-ri-siêu, nhưng có lẽ v́ đầu óc kiêu
ngạo mà họ không tin hoặc không muốn biết: “Quả thật, ông Giô-na ở
trong bụng ḱnh ngư ba ngày ba đêm thế nào, th́ Con Người cũng sẽ
ở trong ḷng đất ba ngày ba đêm như vậy.” (Mt 12, 40).
Chúa Giê-su đă sống lại như lời các thiên sứ
đă báo cho hai bà Maria Magdala và một bà Maria khác: “Này các bà,
các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà t́m Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh.
Người không có ở đây, v́ Người đă trỗi dậy như Người đă nói.” (Mt
28, 5b-6)
Chúa Giê-su đă sống lại vả đang giải thích
Sách Thánh cho hai môn đệ trên đường Em-mau: “Các anh chẳng hiểu
ǵ cả! Ḷng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào
Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ h́nh như thế, rồi mới vào trong
vinh quang của Người sao ?” (Lc 24, 25-26)
Và c̣n rất nhiều bằng chứng để cho chúng ta
biết được và tin rằng: Chúa Giê-su đẵ sống lại thật rồi, và từ đây
tiếng hát vui mừng Alleluia sẽ được vang xa đến tận chân trời góc
biển, và kéo dài cho đến khi Chúa lại đến lần thứ hai trong vinh
quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Chúa Giê-su đă sống lại là niềm tin căn bản
của người Ki-tô hữu, một niềm tin mà nếu không có ân sủng đặc biệt
th́ chắc chắn không một ai tin được, bởi v́ như một số người ác
cảm với Giáo Hội, chống đối Thiên Chúa, đă nói rằng, Chúa Giê-su
sống lại chỉ là chuyện cổ tích hoang đường của các môn đệ Ngài bịa
đặt láo khoét. Thế nhưng, dù họ tin hay không tin, công nhận hay
phủ nhận, th́ Chúa Giê-su vẫn cứ là Thiên Chúa làm người, Đấng đă
từ trong cơi chết sống lại, và muôn đời sự chết sẽ không c̣n làm
chủ được Ngài nữa, mà trái lại, muôn loài trên trời dưới đất đều
phải tùng phục quyền bính của Ngài, bởi v́ trong Ngài mà mọi loài
được tạo thành (Cl 1, 16).
Đức Mẹ Maria –Đấng đồng công cứu chuộc loài
người- đă chờ đợi từng giây từng phút lịch sử này, giờ đây đă rất
vui mừng v́ Con ḿnh đă sống lại, và Mẹ càng vui mừng hơn nữa khi
nhân loại, từ đây, sẽ nhận biết bao là ân sủng từ trời xuống bởi
sự sống lại của Chúa Giê-su.
Hạt lúa ḿ gieo vào ḷng đất giờ đây đă nẩy
mầm, sự sống bất diệt –Chúa Giê-su – từ đây sẽ không bao giờ chết
nữa. Các thiên thần vui mừng v́ thần dữ sa tan từ đây sẽ không c̣n
quyền lực ǵ trên sự sống, các thánh trong ngục tổ tông vui mừng
v́ họ đă thoát khỏi cảnh giam cầm trong tối tăm để lên thiên đàng
với Chúa Giê-su, người thế vui mừng, v́ từ đây họ sẽ được hạnh
phúc đón nhận lại thiên chức làm con của Chúa qua sự chết và sống
lại của Chúa Giê-su. Cả trên trời dưới đất đều vui mừng, và triều
thiên vinh quang bất diệt thuộc về Chúa Giê-su –Đấng Thiên Chúa
làm người- như trong sách Khải Huyền đă viết: “Con Chiên đă bị
giết xứng đáng nhận quyền năng và Thiên Tính, sự khôn ngoan, sức
mạnh, danh dự, vinh quang và phúc lộc. Lạy Chúa, Chúa đă cứu chuộc
chúng con trong máu Chúa, chúng con thuộc mọi chi tộc, mọi ngôn
ngữ, mọi sắc dân, mọi quốc gia, Chúa làm cho chúng con trở thành
vương tước và tư tế của Thiên Chúa, và chúng con sẽ thống trị trái
đất.” (Kh 5, 9-12).
“Chúa Giê-su đă sống lại” Giáo Hội cầu xin
cho mỗi người trong chúng ta sống lại thật về phần linh hồn.
Sống lại thật về phần linh hồn, tức là ăn năn
đền tội và cải thiện đời sống như Đức Mẹ Maria dạy, bởi v́ chỉ có
thật ḷng cải thiện, thật ḷng thay đổi cuộc sống cũ qua cuộc sống
mới của ḿnh mới có thể sống lại với Chúa Giê-su.
Sự thay đổi thật nào có đau khổ, hy sinh và
rướm máu th́ sự thay đổi ấy mới có giá trị, như Chúa Giê-su đă đi
từ đau khổ qua sự chết để đến vinh quang phục sinh. Các môn đệ của
Ngài cũng không đi ra khỏi quỷ đạo ấy, tức là đi theo con đường mà
Chúa đă đi qua, như lời Ngài nói với thánh Tô-ma: “Chính Thầy là
con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa
Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14, 6) và chỉ có con đường này mới làm
cho chúng ta phục sinh với Chúa Giê-su mà thôi.
Chúa Giê-su sống lại từ cơi chết là một phép
lạ vĩ đại nhất để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa thật và là người
thật, cũng như để củng cố niềm tin cho các tông đồ. Ngài chính là
sự cứu rỗi của nhân loại và là niềm hy vọng của những người tin
kính và yêu mến Ngài.
2. Chúa Giê-su lên trời.

Thánh Phao-lô tông đồ trong thư gởi cho giáo
đoàn Ê-phê-xô đă viết: “Khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cơi chết,
và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1, 20)
Mầu nhiệm kinh Mân Côi không dừng lại ở việc
suy niệm Chúa Giê-su sống lại mà thôi, nhưng c̣n mời gọi chúng ta
tiếp tục suy ngắm quê hương thật của chúng ta là thiên đàng, nơi
mà Chúa Giê-su đang ngự bên hữu Chúa Cha sau khi sống lại từ cơi
chết. Lên trời tức là lên trong vinh quang của Thiên Chúa, nơi mà
Chúa Giê-su đă khước từ vinh quang để xuống thế mặc xác phàm nhân
như con người, ngoại trừ tội lỗi. Để từ đây Chúa Giê-su “từ cơi
trời, Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của
Thánh Thần.” (Ep 1, 3b)
Mỗi người chúng ta đều có một quê hương tạm ở
trần gian và một quê hương thật ở trên trời; quê hương tạm là nơi
để chúng ta đền tội, lập công, là nơi để chúng ta chuẩn bị cho
ngày hội ngộ với Thiên Chúa trên thiên đàng mai sau, tuy nhiên,
việc được về quê thật hay không là tùy thuộc vào những công việc
mà chúng ta làm ở trần gian này. Nếu ở trần gian này chúng ta biết
nghe và thực hành Lời Chúa dạy, th́ việc sẽ được cư ngụ vĩnh viễn
trên thiên đàng sẽ là hiện thực, nhưng nếu chúng ta sống như những
người con của tội lỗi, của ma quỷ, nghĩa là chúng ta sống theo dục
vọng, để bản năng thống trị ư chí tinh thần mà trở thành công cụ
của ma quỷ, th́ chắc chắn nơi ở của chúng ta trên trời sẽ bị người
khác chiếm đoạt.
Tại sao Chúa Giê-su phải xuống thế làm người,
bởi v́ Thiên Chúa muốn chúng ta nhờ Ngài mà được lên thiên đàng;
tại sao Chúa Giê-su phải chịu chết trên thánh giá, bởi v́ ư Thiên
Chúa muốn nhờ Ngài mà chúng ta được dự phần thiên đàng; tại sao
Đức Mẹ Maria lại luôn thôi thúc chúng ta ăn năn đền tội cải thiện
đời sống, là bởi v́ Mẹ biết rằng, nếu không ăn năn hối cải th́
chúng ta sẽ đời đời xa cách Thiên Chúa mà nhập bọn với ma quỷ
trong hỏa ngục.
Giáo Hội mời gọi chúng ta yêu mến ái mộ những
sự trên trời khi suy ngắm mầu nhiệm lên trời của Chúa Giê-su, bởi
v́ nếu không yêu mến những hạnh phúc mà các thánh đă đạt tới trên
thiên đàng, th́ chúng ta không thể nào sống đẹp ḷng Chúa ở trần
gian này được.
Yêu mến và ái mộ những sự trên trời, tức là
yêu mến Cha và mong đợi ngày được sum họp với Cha trên trời, đó
cũng chính là điều mà Chúa Giê-su đă mạc khải cho chúng ta khi dạy
chúng ta cầu nguyện với Cha trên trời: “Lạy Cha chúng con là Đấng
ngự trên trời...” (Mt 6, 9-13)
Đức Mẹ Maria từ trời hiện xuống để dạy dỗ con
cái ḿnh biết thực hành ư của Thiên Chúa trong cuộc sống đời
thường, để ngày sau được hưởng thiên đàng với Chúa, với Mẹ, với
các thiên thần và các thánh nam nữ. Đó cũng là mục đích sống ở đời
này của chúng ta.
3. Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Trước khi về trời, Chúa Giê-su đă hứa ban
Chúa Thánh Thần xuống cho các tông đồ: “Anh em không cần biết thời
giờ và kỳ hạn Chúa Cha đă toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận
được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em.” (Cv
1, 7-8a) Và việc trước tiên mà Chúa Giê-su sau khi về trời ngự bên
hữu Chúa Cha phải làm là ban Chúa Thánh Thần xuống cho các tông đồ,
để Thánh Thần trở nên Thần Khí, Đấng an ủi, Đấng bảo trợ của các
tông đồ và tất cả những kẻ tin vào Ngài.
Thánh sử Lu-ca trong sách Công Vụ Tông Đồ đă
thuật lại việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ như sau:
“Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu lại một nơi, bỗng
từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả
căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những h́nh lưỡi
giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống trên từng người một. Và ai nấy
đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác,
tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” Cv 2, 1-4) Chúa Thánh Thần
là Đấng an ủi mà Chúa Giê-su sai đến nhân danh Ngài để giúp các
tông đồ trong giai đoạn “mồ côi” này, chính Ngài –trong ngày lễ
Ngũ Tuần- đă khai sinh Giáo Hội Chúa Ki-tô ở trần gian, chính Ngài
hướng dẫn Giáo Hội đi theo đường hướng mà Chúa Giê-su đă vạch ra
cho các tông đồ trong những ngày giàng dạy tại trần gian là: yêu
thương, hiệp nhất và phục vụ.
Hiệu quả của ơn Thánh Thần ban cho các tông
đồ ngay lập tức khi đón nhận là ơn nói tiếng lạ, bởi v́ Thánh Thần
là thầy dạy, nên Ngài biết nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn sơ
khai của Giáo Hội là truyền đạt tin mừng Nước Trời cho muôn dân
thiên hạ, chứ không riêng ǵ cho dân tộc Do Thái. Và như một cơ
hội hiếm có -mà như có bàn tay Chúa sắp đặt- trong ngày lễ Ngũ
Tuần của người Do Thái, rất đông người đến tham dự, đủ mọi dân tộc,
mọi thứ ngôn ngữ, và nắm bắt cơ hội này, các tông đồ lập tức nói
về Chúa Giê-su cho mọi người nghe, và ai nấy đều nghe các ông nói
tiếng bản xứ của ḿnh. (Cv 2, 6)
Chúa Thánh Thần hiện xuống để khai mở ḷng
trí các tông đồ, để các ngài nhớ lại những ǵ mà Chúa Giê-su đă
dạy các ông, và từ đó các tông đồ đă mạnh dạn ra đi rao truyền
Phúc Âm cho mọi người. Chính trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống,
Đức Mẹ Maria cũng đă hiện diện giữa các tông đồ, Mẹ cũng được diễm
phúc đón nhận Chúa Thánh Thần, như một dấu chỉ và điềm báo trước
là từ nay Đức Mẹ Maria có một vị thế rất quan trọng trong Giáo Hội
của Chúa Ki-tô ở trần gian, và Mẹ đă nên Đấng cầu bàu cho chúng ta
và Chúa Giê-su.
Giáo Hội của Chúa Ki-tô được lập ra v́ trần
gian và cho trần gian, nhưng không phải của trần gian, do đó cần
phải được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và dạy bảo, chính nhờ sự hướng
dẫn của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội Công Giáo đă đi suốt chặng
đường lịch sử hơn hai ngàn năm và sẽ tồn tại cho đến khi viên măn
trong Nước Trời, tức là ngày Chúa Giê-su lại đến trong vinh quang
để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Đức Mẹ Maria ngay từ khi sứ thần Gabriel
truyền tin, đă được sung măn ơn Chúa Thánh Thần, và nhờ Thánh Thần
soi sáng mà Mẹ mau mắn nhận ra chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa
sẽ thực hiện trên trần gian, do đó mà Mẹ đă mạnh dạn cất tiếng đáp
trả lời đề nghị của Thiên Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1, 38) Và hôm
nay, trong ngày lễ Ngũ Tuần của người Do Thái, Chúa Thánh Thần lại
ngự xuống trên Mẹ cùng với các tông đồ, lần hiện xuống này Chúa
Thánh Thần đă mạc khải cho các tông đồ nhận ra Đức Mẹ Maria là Mẹ
của Giáo Hội, bởi v́ chính Mẹ đă sinh ra Đấng Cứu Thế, là thầy và
là Chúa của các tông đồ, do đó, Mẹ vẫn luôn đồng hành với Giáo Hội
của Chúa Giê-su để nâng đỡ, an ủi và dạy bảo Giáo Hội giữa cảnh
phong ba thế tục này.
Chúa Thánh Thần là ngự xuống trên các tông đồ
và Đức Mẹ Maria trong ngày lễ Ngũ Tuần, và vẫn c̣n hiện diện với
Giáo Hội luôn măi cho đến ngày tận thế, vai tṛ Chúa Thánh Thần
trong suốt chặng đường lịch sử của Giáo Hội rất quan trọng, bởi v́
Giáo Hội như chiếc thuyền đang đi trên biển lớn trần gian để cập
bến Nước Trời, mà Chúa Thánh Thần chính là bánh lái điều khiển con
thuyền theo đường hướng của Chúa Giê-su đă dạy, và các tông đồ
cũng như những người kế vị các ngài trong chức giám mục đều cứ
nhắm hướng ấy mà hướng dẫn con tàu đụa phương đi đến đích của ḿnh
là Nước Trời.
Giáo Hội khi suy ngắm đến việc Chúa Thánh
Thần hiện xuống cho các tông đồ và Đức Mẹ Maria trong ngày lễ Ngũ
Tuần của người Do Thái, đă mời gọi chúng ta hăy cầu xin Chúa
Giê-su luôn ban ơn Thánh Thần xuống cho ḿnh để hướng dẫn và dạy
bảo chúng ta sống đẹp ḷng Chúa ở trần gian này. Tâm hồn của chúng
ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là nơi mà Thiên Chúa Ba Ngôi
ngự trị, Đức Mẹ Maria đă nhiều lần nhắc nhở chúng ta hiểu biết
điều ấy khi Mẹ luôn dạy chúng ta hăy ăn năn sám hối, hăy cải thiện
đời sống. Để làm ǵ ? Là để cho tâm hồn chúng ta được thanh sạch,
để xứng đáng là nơi ngự của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Xin được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần là để
chúng ta biết phân biệt được đâu là công việc của Chúa và đâu là
việc của ma quỷ, đâu là tiếng nói của Chúa và đâu là tiếng nói của
tự ái kiêu căng, đâu là việc nên làm và đâu là việc không nên làm.
Để như lời thánh Phao-lô tông đồ nói: “Những ai tự hào th́ hăy tự
hào trong Chúa, người được chấp nhận không phải là kẻ tự cao tự
đại, nhưng là người được Chúa đề cao.” (2 Cr 10, 17-18)
4. Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời.

Cuộc sống ở trần gian cũng có lúc đến hồi kết
thúc, Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho lên trời cả hồn lẫn xác, đó
là một đặc ân cao quư vô cùng, như lời Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII
tuyên bố trong ngày lễ Các Thánh Nam Nữ 1.11.1950: “Ta tuyên xưng,
công bố và xác nhận tín điều được Thiên Chúa mạc khải là Mẹ Thiên
Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria trinh nguyên, khi thời gian
sống tại thế hoàn tất, cả hồn lẫn xác của Người đă được đưa về
trời trong vinh quang thiên quốc” (TCF, 207).
Thiên Chúa tôn vinh Mẹ, Giáo Hội tôn vinh Mẹ
và mỗi người con đều hân hoan vui sướng v́ người mẹ cao quư của
ḿnh đă được diễm phúc lên trời cả hồn lẫn xác. Qua miệng của vị
đại diện Con Mẹ ở trần gian, Giáo Hội nh́n nhận và tin rằng: Đức
Mẹ Maria đă được Thiên Chúa cất nhắc lên trời cả hồn lẫn xác. Đó
không phải là chuyện thần thoại hoang đường, nhưng là một thực tại
của đức tin, đức tin mà Đức Mẹ Maria đă biểu hiện ngay khi c̣n ở
thế gian, nhất là khi nói hai tiếng Xin Vâng th́ đức tin của Mẹ
càng thêm mạnh mẽ, và càng mạnh mẽ hơn khi Chúa Giê-su sinh ra cho
đến khi Ngài bị đóng đinh vào thập giá và chết, và niềm tin tuyệt
vời này đă sinh hoa trái là Chúa Giê-su Con Mẹ đă sống lại vinh
quang.
Đức Mẹ Maria lên trời cả hồn lẫn xác, để rồi
được tôn vinh là Mẹ Thiên Chúa, là Nữ Vương trên trời dưới đất, và
biết bao danh hiệu đẹp và cao quư khác mà nhân loại dành cho Mẹ.
Chính việc lên trời cả hồn lẫn xác này mà Mẹ đă trở thành kẻ cầu
bàu cho chúng ta trước mặt Chúa Giê-su. Cũng như Chúa Giê-su, Mẹ
lên trời để dọn chỗ cho chúng ta là con cái của Mẹ, Mẹ biết vị trí
tương lai của từng đứa con một trên thiên đàng, và khi thấy nhân
loại ngày càng xa cách Thiên Chúa và vị trí của họ trên thiên đàng
đang mất dần, th́ Mẹ lại xuất hiện nhắc nhở, khuyên bảo con cái
hăy cải thiện đời sống, hăy ăn năn đền tội để nguôi cơn thịnh nộ
của Thiên Chúa và để vị trí của họ trên thiên đàng khỏi mất.
Đức Mẹ Maria từ giả cơi đời b́nh an trong
ṿng tay thân yêu và trong sự thương tiếc của các tông đồ, những
môn đệ thân yêu của Chúa Giê-su, từ nay vị thế cao trọng của Mẹ
trước mặt Thiên Chúa càng cao hơn và quyền thế hơn, không những
cho Mẹ mà c̣n cho nhân loại được nhờ công phúc của Mẹ mà được đến
gần với Chúa hơn.
Giáo Hội mời gọi chúng ta khi suy ngắm đến
mầu nhiệm Mẹ lên trời này, th́ cầu xin Mẹ phù hộ cho chúng ta được
ơn chết lành trong tay Mẹ, đó là lời cầu xin xứng đáng, như Mẹ đă
từng hứa cho những ai hết ḷng yêu mến Mẹ và Chúa Giê-su con Mẹ,
được sự an ủi và giúp đỡ của Mẹ trong giờ lâm chung. Đức Mẹ Maria
lên trời là cả một niềm hy vọng cho chúng ta, những đứa con của Mẹ,
bởi v́ Thiên Chúa không tàn nhẫn để mẹ con cách biệt sau khi từ
giả cơi đời, Mẹ ờ đâu th́ con ở đó, chỉ khi nào chúng ta tự ḿnh
muốn tách khỏi Mẹ để đi t́m cho ḿnh một nơi khác ngoài thiên đàng
mà thôi.
Đức Mẹ Maria lên trời là niềm hy vọng và ủi
an của giáo hữu ở trần gian, bởi v́ một ngày nào đó, chúng ta cũng
sẽ được ở trên thiên đàng với Mẹ.
5. Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời.

Đức Mẹ Maria đă lên trời, đó là phần thưởng
của Thiên Chúa dành cho những ai khi c̣n sống ở thế gian này mà
hết ḷng kính mến Thiên Chúa và yêu người thân cận như chính ḿnh.
Nhưng Thiên Chúa c̣n muốn thưởng Đức Mẹ Maria những ơn khác ở khi
Mẹ ở trên trời, để nhờ Mẹ mà nhân loại chúng ta đón nhận dồi dào
những ơn của Chúa hơn.
Trước hết, Thiên Chúa đặt Mẹ làm Nữ Vương
trên trời dưới đất, cũng có nghĩa là Mẹ có toàn quyền ban phát ơn
lành cho người thế, và là Đấng cầu bàu rất có thế giá trước mặt
Thiên Chúa và con của ḿnh là Chúa Giê-su. Nói như thế không phải
là Mẹ quyền năng phép tắc hơn Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa là Đấng
tạo dựng con người, Ngài rất “rành” tâm lư của con người, bởi v́
Thiên Chúa là Đấng cao trọng, mà con người khi phạm tội th́ không
dám đến trước mặt Chúa để xin lỗi, nên nhờ công nghiệp của Mẹ và
chức vị Nữ Vương của Mẹ để xin Chúa tha tội cho họ, bởi v́ không
một ai yêu mến Đức Mẹ Maria mà lại không kính thờ Thiên Chúa.
Ơn cao trọng kế tiếp mà Thiên Chúa thưởng cho
Đức Mẹ Maria khi ở trên trời chính là Mẹ trở nên kho tàng mọi ân
sủng của trời cao, có thể nói tất cả ân sủng của Thiên Chúa đều đă
ban cho Mẹ, như lời dạy của thánh Công Đồng Vatican II: “Thực vậy,
sau khi về trời, vai tṛ của Ngài (Mẹ) trong việc cứu độ không
chấm dứt, nhưng Ngài vẫn luôn tiếp tục cầu bàu để đem lại cho
chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời.” (1)
Giáo Hội đă xác định như thế, v́ Giáo Hội qua bao nhiêu thăng trầm
của chính ḿnh và của thế giới, đă cảm nghiệm được quyền thế của
Đức Mẹ Maria trước ṭa Thiên Chúa, và nhờ đó mà Mẹ can thiệp kịp
thời và ban ơn lành xuống cho Giáo Hội và cho thế giới.
Đức Mẹ Maria là kho tàng ân sủng của Thiên
Chúa, có nghĩa là Mẹ cũng được Thiên Chúa cho phép được chia sẻ
một phần nhỏ vào vinh quang và quyền năng của Ngài, để qua Mẹ mà
nhân loại dễ dàng đến với Chúa hơn.
Những lần Đức Mẹ Maria hiện ra cho loài người,
là những lần Mẹ tỏ cho loài người thấy và biết quyền thế của Mẹ
trước ṭa Thiên Chúa, những lời Mẹ dạy, những phép lạ Mẹ làm đều
phù hợp với ư định của Thiên Chúa muốn cứu độ nhân loại. Và thánh
công đồng Vatican II lại một lẫn nữa khẳng định Mẹ chính là kho
tàng ân sủng của Thiên Chúa: “Thật thế mọi ảnh hưởng có sức cứu
rỗi của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần
thiết khách thể nào, nhưng từ ư định nhân lành của Thiên Chúa và
bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Ki-tô.” (1)
Thiên Chúa thưởng công cho Đức Mẹ Maria trên
trời là kết thúc mầu nhiệm mùa Mừng, Giáo Hội mời gọi chúng ta hăy
sống xứng đáng với những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho, qua trung
gian Đức Mẹ Maria, để ngày sau chúng ta cũng được Thiên Chúa
thưởng ở trên trời với Mẹ. Bởi v́ được sum họp vớ Chúa và Mẹ trên
trời chính là mục đích sống của chúng ta ở đời này.
Mầu nhiệm mùa Mừng của kinh Mân Côi là niềm
vui và hy vọng cứu độ của chúng ta, suy ngắm và sống với mầu nhiệm
này là chúng ta biết Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria yêu thương chúng
ta đến chừng nào.
NĂM
SỰ SÁNG: Ngọn đèn dẫn đường cứu rỗi
Bạn thân mến,
Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II –được gọi là
người con của Đức Mẹ- đă thêm vào Mười Lăm mầu nhiệm kinh Mân Côi:
Năm Sự Vui, Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng truyền thống thêm một “Sự”
nữa, đó là Năm Sự Sáng, có lẽ như nhiều người nói là “để cám ơn
Đức Mẹ Maria đă cứu ngài khỏi chết bởi cuộc ám sát của một thanh
niên người Thổ Nhỉ Kỳ thuộc Hồi giáo cực đoan”.
Và chắc có lẽ chỉ có những ai yêu mến Đức Mẹ
Maria mới cảm nghiệm được t́nh yêu của Mẹ dành cho ḿnh, như Đức
Giáo hoàng Gioan Phao-lô II.
Năm Sự Sáng là mầu nhiệm Nhập Thế hành động
công khai rao giảng tin mừng Nước Trời của Chúa Giê-su, là mầu
nhiệm rất phù hợp chó công cuộc truyền giáo hiện nay của Giáo Hội,
bởi v́ Giáo Hội được Chúa Giê-su thiết lập trên nền tảng các tông
đồ, tức là những con người ở trong thế gian, v́ thế gian mà loan
báo Tin Mừng của Chúa Giê-su.
Năm Sự Sáng –có thể nói- là một chuổi dài suy
tư và truyền giáo của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II, là một cảm
nghiệm rất sâu sắc về vai tṛ của Đức Mẹ Maria trong đời sống của
Giáo Hội, qua việc đồng hành với Chúa Giê-su khi Ngài bôn ba rảo
bước trên các nẻo đường Palestine để loan báo tin vui cứu độ và
chữa lành nhiều bệnh tật, cũng như xua đuổi mà quỷ ra khỏi những
người bị nó không chế.
Với tâm t́nh cảm tạ Thiên Chúa và Đức Mẹ
Maria, qua người con ưu tuyển của Me là Đức Giáo Hoàng Gioan
Phao-lô II, tôi cũng xin chia sẻ với bạn mầu nhiệm mới này:
NĂM SỰ SÁNG.
1. Đức Chúa Giê-su chịu phép rửa tại sông
Gio-đan.

Khởi đầu công khai sứ vụ rao giảng tin mừng
của Nước Trời, Chúa Giê-su đă làm một việc rất khiêm tốn là xuống
sông Gio-đan xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho ḿnh. Đấng vô
tội đă như một tội nhân đến giữa những anh chị em và để chia sẻ
thân phận yếu hèn như mọi người, thánh sử Mát-thêu đă thuật lại
như sau: “Bấy giờ Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan,
gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho ḿnh.” (Mt 3, 13)
Hai con người, hai nhân vật của lịch sử ơn
cứu độ đang gặp nhau. Một người có tên là Gioan Tẩy Giả đang làm
công việc dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến, và một người được Chúa
Cha sai đến, là Đấng mà muôn dân trông đợi, người mà ông Gioan Tẩy
Giả đang chuẩn bị cho mọi người dọn tâm hồn để đón tiếp Ngài, đó
là Chúa Giê-su.
Phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi
người sám hối, tức là kêu gọi những tội nhân hăy quay trở về với
Thiên Chúa, hăy làm lành tránh ác, và hăy sửa mọi ư nghĩ gian tà
thành ư nghĩ thánh thiện. Và như lời tường thuật của thánh sử
Mát-thêu: “Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da,
lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ
Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan,
kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông
Gio-đan” (Mt 3, 4-7) Để được đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa,
th́ điều kiện trước tiên là phải thật ḷng sám hối và thay đổi
cuộc sống của ḿnh.
Chúa Giê-su –Con Chiên Thiên Chúa, Đấng vô
tội- cũng tự ḿnh đi đến sông Gio-đan xin ông Gioan làm phép rửa,
Ngài không nề hà thân phận cao quư của ḿnh, Ngài cũng không bày
tỏ ḿnh là Đấng mà ông Gioan đang rao giảng và chuẩn bị tâm hồn
mọi người chờ đón Ngài. Chính Ngài đă tự nguyện, như một tội nhân
đến xin ông làm phép rửa, nhưng Thánh Thần đă soi mở tâm trí của
ông Gioan, và ông đă nhận ra Đấng mà ông đang làm phép rửa chính
là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, và ông đă từ chối làm
phép rửa cho Ngài, nhưng Chúa Giê-su đă nói: “Bây giờ cứ thế đă.
V́ chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.” (Mt 3,
15) sự khiêm tốn giữa hai con người này chính là biểu hiệu của
người được Thiên Chúa kêu gọi, bởi v́ Thiên Chúa thường
“Hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư,
người giàu có lại đuổi về tay trắng.” (Lc 1,
52-53)
Chúa Giê-su, trong thân phận con người, khi
chịu phép rửa bởi tay ông Gioan Tẩy Giả, Ngài đă thật sự trở nên
đồng h́nh đồng dạng với chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thế nhưng, dù
thời giờ chưa đến, Chúa Cha vẫn cứ làm một dấu lạ để cho mọi người
biết Ngài là Đấng từ trời xuống, bởi Cha mà đến, cả ba thánh sử
đều có ghi chép lại giây phút quan trọng của lịch sử cứu độ này:
“Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, th́ các
tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim
bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu
dấu của Ta, Ta hài ḷng về Người.” (Mt 3, 16-17; Mc 1, 9-11; Lc 3,
21-22)
Tiếng Chúa Cha từ trời vang xuống như một
chứng thực Chúa Giê-su là Đấng thiên sai mà loài người trông đợi,
trong lời giới thiệu long trọng ấy, Thiên Chúa muốn chúng ta từ
nay hăy vâng nghe lời giảng dạy của Chúa Giê-su, lời ban sự sống
đời đời cho những kẻ tin vào Ngài.
Phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả hướng chúng ta
đến bí tích Rửa Tội do Chúa Giê-su lập ra, nơi phép rửa của ông
Gioan mời gọi con người sám hối, mà nơi bí tích Rửa Tội th́ Chúa
Giê-su thứ tha tội lỗi và trả lại cho chúng ta ơn làm con Thiên
Chúa, mà do tội nguyên tổ đă đánh mất trong vườn địa đàng.
Mỗi người chúng ta khi lănh nhận bí tích Rửa
Tội th́ cả Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện và ngự trong tâm hồn của
ḿnh, đó chính là mầu nhiệm t́nh yêu cao cả mà Chúa Cha, nhờ sự
chết và sống lại của Chúa Giê-su, và nhờ ân sủng thánh hóa của
Chúa Thánh Thần đă ban cho chúng ta. Ân huệ cao cả này, t́nh
thương cao cả này vượt qua trí thông minh sáng láng của các thiên
thần, vượt qua tất cả sự thông minh của các nhà thông thái trên
mặt đất gộp lại, và chỉ có những ai khiêm nhường –nhờ đức tin Chúa
ban cho- mới nhận ra và hiểu được mà thôi.
Khi suy niệm mầu nhiệm này, Đức Giáo Hoàng
Gioan Phao-lô II mời gọi chúng ta –những người đă được lănh nhận
bí tích Rửa Tội- hăy luôn nhớ ḿnh là những người con được Chúa
yêu thương rất đặc biệt, được Máu Thánh Chúa Giê-su đổ ra để rửa
sạch tội lỗi, được Thánh Thần xức dầu thánh hiến để trở nên đền
thờ Thiên Chúa Ba Ngôi ngự, do đó mà chúng ta cũng phải luôn sống
tâm t́nh khiêm tốn như thánh Gioan Tẩy Giả như khi ngài giảng dạy
cho người Do Thái: “Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước
để giục ḷng các anh ăn năn sám hối. C̣n Đấng đến sau tôi th́
quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.” (Mt 3, 11)
Chúa Giê-su chịu phép rửa nơi sông Gio-đan là
Ngài mở một con đường sáng để cho chúng ta đi theo, con đường sáng
ấy chính là thái độ khiêm tốn của Ngài khi xuống sông Gio-đan xin
ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa. Và chỉ có thái độ và ḷng khiêm
tốn trong cuộc sống ấy mới có thể làm chúng ta đi trên con đường
sáng để đến với Chúa và với tha nhân mà thôi.
2. Đức Chúa Giê-su dự tiệc cưới Ca-na.

Tiệc cưới, là một ngày vui của đôi tân hôn,
và là ngày hội vui vẻ của bà con thân thuộc bên họ nhà trai và nhà
gái, tiệc cưới là dấu chỉ của yêu thương và hạnh phúc. Do đó,
những người khách được mời tham dự tiệc cưới cần phải có tâm hồn
yêu thương để chia sẻ hạnh phúc với đôi tân hôn.
Tiệc cưới Ca-na hôm nay, Đức Mẹ Maria được
mời và Chúa Giê-su cùng các môn đệ của Ngài cũng được mời.
Qua câu chuyện tiệc cưới Ca-na này, chúng ta
thấy vai tṛ của Đức Mẹ Maria rất quan trọng, Mẹ không những làm
những việc của người nội trợ ở trong bếp, mà c̣n quan tâm đến
những nhu cầu của người khác, nhất là quan tâm đến niềm vui của họ,
sự quan tâm này được Phúc Âm của thánh Gioan tông đồ kể lại như
thế này: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người:
”Họ hết rượu rồi”. Đức Giê-su đáp: “Thưa bà, chuyện đó can ǵ đến
bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.” Thân mẫu Người nói với gia nhân:
“Người bảo ǵ, các anh cứ việc làm theo.” (Ga 2, 1-5) Khi nói:
”Người bảo ǵ, các anh cứ việc làm theo”, th́ Đức Mẹ Maria đă dạy
cho chúng ta một bài học vâng lời và phó thác vào bàn tay quan
pḥng của Thiên Chúa, chính Mẹ đă làm gương trước cho chúng ta, Mẹ
đă phó thác đôi tân hôn cho Chúa khi xin Ngài làm cho niềm vui của
họ được kéo dài, v́ họ đă hết rượu, và Chúa Giê-su đă nhậm lời Mẹ
xin.
Đức Mẹ Maria, Chúa Giê-su và các thánh tông
đồ là một gia đ́nh, một khối yêu thương bất khả phân ly trong mầu
nhiệm cứu độ của Thiên Chúa. Thật vậy, nơi tiệc cưới Ca-na này, sự
liên kết hiệp nhất ấy càng nổi bật hơn khi có sự hiện diện của
Chúa Giê-su và Mẹ Maria cũng như các tông đồ, và chúng ta có thể
nói, đó là mô h́nh của Giáo Hội tương lai mà Chúa Giê-su sẽ thiết
lập để đem ơn cứu độ đến cho nhân loại. Là người mẹ của Giáo Hội
trong nhiệm thể Chúa Ki-tô, Mẹ Maria với tấm ḷng mẹ hiền luôn cầu
bàu cho Giáo Hội trước ṭa Thiên Chúa, và khi được Thiên Chúa đem
lên trời cả hồn lẫn xác th́ vai tṛ của Mẹ càng nổi bật hơn trong
nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.
Khi suy ngắm đến việc Chúa Giê-su hiện diện
trong tiệc cưới Ca-na, Giáo Hội muốn nhắn nhủ chúng ta những điều
sau đây:
- Tha nhân là h́nh ảnh của Thiên Chúa, và
trong Chúa Ki-tô tất cả chúng ta đều là anh em với nhau, họ chính
là những Ki-tô khác mà chúng ta gặp hằng ngày trong cuộc sống, do
đó mà chúng ta cần phải có những quan tâm cần thiết đến với họ.
- Con người ta, trước mặt Thiên Chúa đều b́nh
đằng như nhau, cho nên cần phải lấy sự công bằng mà tiếp đăi nhau,
như tiếp đăi Chúa Giê-su vậy.
- Noi gương Chúa Giê-su và Đức Mẹ Maria luôn
cố gắng đem niềm vui đến cho mọi người.
Chính v́ học theo gương Chúa Giê-su và Đức Mẹ
Maria khi tham dự tiệc cưới Ca-na, mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô
II mỗi khi đi thăm viếng mục vụ một quốc gia nào đó, th́ việc
trước tiên của Ngài làm khi bước xuống máy bay là hôn đất của quốc
gia ấy, bày tỏ niềm vui sướng và t́nh thương mà ngài dành cho họ.
3. Đức Chúa Giê-su rao giảng Nước Trời và
kêu gọi sám hối.

Trong Phúc Âm nhất lăm, các thánh sử đều nhắc
đến viêc Chúa Giê-su công khai sứ vụ rao giảng tin mừng Nước Trời
của Ngài. Thánh Lu-ca, vị thánh sử viết Phúc Âm cho người ngoại đă
trở lại, tường thuật lại như sau: “Được quyền năng Thần Khí thúc
đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra
khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được
mọi người tôn vinh.” (Lc 4, 14-15)
Thánh sử Mát-thêu chú trọng viết tin mừng cho
người Do Thái vùng Xy-ri-a đă tin vào Chúa Giê-su th́ kể rằng:
”Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gioan bị nộp, Người lánh qua miền
Ga-li-lê. Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành
ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Máp-ta-li...Từ
lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hăy sám
hối, v́ Nước Trời đă đến gần.” (Mt 4, 12-17).
Thánh sử Mác-cô viết Phúc Âm cho các tín hữu
không phải là gốc Do Thái sống ngoài xứ Palestin kể lại như sau:
“Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng
Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đă măn, và triều đại
Thiên Chúa đă đến gần. Anh em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
(Mc 1, 14-15)
Lời đầu tiên mà Chúa Giê-su rao giảng là kêu
gọi mọi người hăy sám hối và tin vào Tin Mừng, sám hối và tin vào
Tin Mừng là điều kiện để được cứu rỗi, bởi v́ không thể nào sám
hối tội lỗi ḿnh th́ cũng không thể nào tin vào Tin Mừng, và chỉ
nhờ Tin Mừng th́ mới có thể nh́n thấy rơ đời sống của ḿnh không
phù hợp Phúc Âm để mà ăn năn sám hối.
Dân thành Ni-ni-vê đă nghe lời của tiên tri
Giô-na và đă ăn năn sám hối, mặc áo nhặm rắc tro trên đầu, và Đức
Chúa đă tha h́nh phạt cho họ. (Gn 3, 1-10), ḷng sám hối chân
thành của dân thành Ni-ni-vê đă đụng chạm đến nơi thẳm sâu t́nh
yêu thương nhân từ của Thiên Chúa, bởi v́ Ngài là Thiên Chúa thứ
tha chứ không phải là Thiên Chúa chấp tội, là Thiên Chúa nhân từ
chứ không phải là Thiên Chúa độc ác, là Thiên Chúa luôn quên hết
tội lỗi khi con người thật ḷng hoán cải quay về nẻo chính đường
ngay.
Ḷng sám hối và tin vào Đấng đang bị đóng
đinh với ḿnh trên thập giá kia của người trộm lành (Lc 23,
40-43), cũng là một dấu hiệu rất rơ ràng để cho chúng ta thấy rằng,
lời rao giảng “hăy sám hối và tin vào Tin Mừng” của Chúa Giê-su,
chính là hé mở hạnh phúc thiên đàng cho chúng ta có niềm hy vọng
vào sự sống đời sau.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà khoa học
phát triển từng ngày từng giờ, thế giới như thu nhỏ lại trong bàn
tay, nhưng giữa tâm hồn con người với nhau vẫn cứ có khoảng xa
cách v́ ư thức hệ, v́ thù hận và v́ kiêu căng. Và khi con người
càng sống dư thừa vật chất, xây dựng được một vài công tŕnh to
lớn th́ càng trở thành những kẻ chối bỏ Thiên Chúa là Đấng tạo
thành vũ trụ và tạo dựng nên con người. Do đó, lời rao giảng “hăy
sám hối” của Chúa Giê-su vẫn c̣n vang dội cho đến ngày nay, đă và
đang làm cho nhiều người hoán cải đời sống để trở nên những môn đệ
thật sự của Chúa Giê-su Ki-tô.
Sám hối để được tha tội và tin vào Tin Mừng
để được cứu rỗi, là hai điều căn bản phải có nơi những người môn
đệ của Chúa Giê-su.
4. Đức Chúa Giê-su biến h́nh trên núi.

Để củng cố đức tin cho các môn đệ, và để cho
các ngài “nếm” trước mùi vị ngọt ngào của hạnh phúc trong Nước
Trời, Chúa Giê-su đă biến h́nh sáng láng trên núi, thánh sử Mat-thêu
đă tường thuật như sau: “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ,
tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến h́nh dạng trước mặt các ông.
Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục của Người trắng
tinh như anh nắng. (Mt 17, 1-2). Biến cố biến h́nh của Chúa Giê-su
là một sự mở con mắt đức tin của ba môn đệ, để các ngài biết rằng,
Đấng mà các ngài tin và đi theo đúng là vị tiên tri từ trời xuống.
Nhưng điều làm cho các tông đồ ngạc nhiên sợ hăi chính là tiếng
Chúa Cha phán ra từ đám mây: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài
ḷng về Người. Các người hăy vâng nghe lời Người.” (Mt 17, 5b)
Tiếng từ trong đám mây là tiếng của Cha đang
giới thiệu Con yêu quư của ḿnh, là lời mạc khải về thiên tính của
người Con duy nhất, và là lời chứng thực, chỉ có người Con này mới
là Đấng từ trời xuống để thi hành thánh ư của Cha mà thôi.
Chúa Giê-su là Con yêu quư của Chúa Cha,
chính Ngài –dù đang mang thân phận con người- vẫn là h́nh ảnh vô
h́nh của Chúa Cha (Cl 1, 15) đang hiện diện ở trần gian, và chỉ có
Ngài mới có đủ tư cách cứu nhân loại khỏi ách thống trị của ma quỷ
và tội lỗi, chỉ có Ngài mới là Đấng ban lại cho nhân loại ơn làm
con Thiên Chúa mà thôi.
Cuộc biến h́nh trên núi của Chúa Giê-su là
một sứ điệp đức tin cho các môn đệ, những người chỉ tin mà chưa
thấy, chỉ nghe mà chưa tường tận, giờ đây, qua cuộc biến h́nh sáng
chói này của Chúa Giê-su và là Thầy của ḿnh, đức tin của các ông
như được tăng lên gấp bội.
Suy niệm đến việc Chúa Giê-su biến h́nh này
với lời giới thiệu long trọng của Chúa Cha, Giáo Hội mời gọi chúng
ta hăy bước theo Chúa Giê-su để tiếp tục sứ mạng mà Ngài đă giao
phó trong ngày chúng ta lănh nhận bí tích Rửa Tội, đó là sứ mạng
rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho mọi người; Giáo Hội cũng mời gọi
chúng ta khi bước theo Chúa Giê-su th́ cố gắng liên tục–nhờ ơn
Chúa- biến đổi cuộc sống của ḿnh cho phù hợp với những ǵ mà ḿnh
đă tin và đă rao giảng. Đó chính là điều mà mọi người đang chờ đợi
nơi chúng ta: những người –nhờ đức tin- mà thấy được niềm hy vọng
nơi Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su biến h́nh trên núi, là dịp để
chúng ta suy ngắm lại sự sống đời sau của chúng ta, hơn là chúng
ta chỉ sống trong ước mơ muốn được thấy Chúa biến h́nh như ba
thánh tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan.
- Tôi đă thực sự thay đổi cuộc sống của ḿnh
chưa, thay đổi hoàn toàn mà không giữ lại những thói quen làm cho
ḿnh dễ chịu, nhưng sẽ làm hại linh hồn ḿnh.
- Tôi đă thực sự tin vào Chúa Giê-su chưa,
hay là vẫn c̣n hoài nghi về Ngài, khi mà cuộc sống của tôi chỉ
toàn đau khổ mà không thấy vinh quang.
- Tôi đă nghe lời Chúa Cha giời thiệu Chúa
Giê-su cho các môn đệ, có lúc nào tôi giới thiệu Chúa Giê-su cho
bạn bè, người thân của tôi chưa ?
Cuộc biến h́nh của Chúa Giê-su và lời giới
thiệu của Chúa Cha là ngọn đèn dẫn nhân loại đến con đường cứu rỗi,
mà chúng ta –người Ki-tô hữu- chính là những ngọn đèn ấy, lấy cuộc
sống gương sáng của ḿnh để chiếu soi Tin Mừng vào trong cuộc sống
của tha nhân.
5. Đức Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể.

Thánh Thể là nguồn sống của Giáo Hội, là
lương thực nuôi sống mỗi người Ki-tô hữu. Thánh Thể là mầu nhiệm
của sự hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu với nhau trong Chúa Ki-tô, bởi
đó mà trong tông thư về bí tích Thánh Thể, Đức Giáo Hoàng Gioan
Phao-lô đă nói: “Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể (Ecclesia de
Eucharistia vivit). Chân lư này không chỉ diễn tả một kinh nghiệm
hằng ngày của đức tin, nhưng dưới h́nh thức tổng hợp nó c̣n gồm
tóm cả cốt lơi của mầu nhiệm Giáo Hội. Trong hân hoan, Giáo Hội
cảm nghiệm dưới nhiều h́nh thức sự thể hiện liên tục lời hứa: “Và
Thầy, Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20).
Chúa Giê-su đă lập bí tích Thánh Thể để ban
Ḿnh và Máu Thánh của Ngài cho Giáo Hội, để Giáo Hội làm lương
thực thần thiêng trên đường lữ thứ trần gian về quê trời. Bí tích
Thánh Thể là bí tích cao trọng nhất của Giáo Hội, là dấu chỉ của
hiệp thong và yêu thương, và có thể nói, nếu không có bí tích
Thánh Thể th́ không có Giáo Hội và không có Giáo Hội th́ không có
bí tích Thánh Thể. Chính Chúa Giê-su thấy rơ và tiên liệu trước
cho Giáo Hội của Ngài ờ trần gian nên đă lập bí tích yêu thương
này, để qua đó, mà Ngài tiếp tục ở lại với Giáo Hội cho đến ngày
tận thế. Tông thư trên cũng đă lập lại lời của công đồng Vatican
II: “Công đồng Vaticanô II đă chính thức công bố rằng Hy Tế Thánh
Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô hữu.”
Thánh Mát-thêu tường thuật lại việc Chúa
Giê-su lập phép Thánh Thể như sau:”Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su
cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rôi bẻ ra, trao cho các môn đệ
mà nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là ḿnh Thầy. Rồi Người cầm lấy
chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả an hem hăy
uống chén này, v́ đây là máu Thầy, máu Giáo Ước, đổ ra cho muôn
người được tha tội.” (Mt 26, 26-28) Ư định của Chúa Giê-su đă rơ
rang, các môn đệ cũng hiểu được lời của Chúa Giê-su nói: đây là
ḿnh và máu của Thầy, ḿnh và máu này sẽ trở nên lương thực thần
thiêng cho Giáo Hội, là sự bảo đảm của ơn cứu rỗi cho những ai tin
và tham dự bàn tiệc Thánh Thể.
Giáo Hội hơn hai ngàn năm lịch sử, đă và đang
được tiếp tục nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, và từ nơi Thánh Thể, Giáo
Hội càng ngày càng nhận ra được t́nh yêu thương của Chúa Giê-su
dành cho Giáo Hội và nhân loại, cho nên, Giáo Hội càng thấy ḿnh
có thêm một một sứ mạng đặc biệt nữa là rao giảng sự hiệp nhất
giữa các Ki-tô với nhau, và giữa những con người với nhau. Giáo
Hội, giữa bao thăng trầm của thế giới, giữa bao đau thương mà Giáo
Hội phải chịu, th́ Thánh Thể chính là nguồn an ủi và là nguồn cảm
hứng tràn đầy thánh dược để Giáo Hội tiếp nối tục làm tṛn sứ mạng
của ḿnh giữa thế gian này.
Mỗi ngày trong thánh lễ, Giáo Hội lại hân
hoan cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, và Chúa Giê-su Ki-tô vẫn hằng
ngày hiện diên trên các bàn thờ trên khắp thế giới, để luôn là
niềm khích lệ và là nguồn sống của Giáo Hội và của mỗi người Ki-tô
hữu, đó là mầu nhiệm khôn sánh mà nhân loại không thể nào hiểu
thấu, nhưng con cái của Giáo Hội Chúa th́ vẫn luôn yêu mến và
thường xuyên năng đón nhận bí tích yêu thương này, bởi v́ Thánh
Thể là nguyên nhân của mọi t́nh yêu và bác ái của họ.
Chúa Giê-su lưu lại cho Giáo Hội Ḿnh và Máu
của Ngài, như một bằng chứng yêu thương và quyền năng của Đấng
Thiên Chúa làm người giờ đây đă trở lại trong vinh quang Thiên
Chúa, và khi tham dự bàn tiệc thiên quốc này ở trần gian, th́ Giáo
Hội cũng luôn mong mỏi đến ngày được tham dự tiệc thánh trên trời
với Chúa Giê-su và các thánh nam nữ, những con người đă luôn yêu
mến Thánh Thể khi c̣n ở trần gian.
Khi suy ngắm đến mầu nhiệm t́nh yêu này, Giáo
Hội mời gọi chúng ta hăy siêng năng tham dự thánh lễ, bởi v́ trong
thánh lễ, Chúa Giê-su hiện diện thực sự trên bàn thánh để trở nên
lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta, và trở nên nguồn mạch yêu
thương nối kết ḷng chúng ta lại với Thiên Chúa và với tha nhân.
Cho nên, Giáo Hội khuyên dạy chúng ta phải có
thái độ cung kính, nghiêm trang và yêu mến khi đi tham dự thánh lễ,
bởi v́ có nhiều con cái của Giáo Hội ngày càng tục hóa các bí tích,
coi các bí tích như là những việc làm vô ích mà Giáo Hội bày ra để
“hù dọa” thiên hạ, và nguy hiểm hơn, họ coi Thánh Thể như là một
tṛ đùa của Giáo Hội phỉnh gạt những người không hiểu biết. Có
những lúc, chúng ta đi tham dự tiệc Thánh Thể bằng thái độ không
nghiêm túc, đi rước lễ chỉ là h́nh thức che giấu tội lỗi của ḿnh
mà thôi. Đó chính là điều mà Chúa Giê-su rất đau buồn, bởi v́ khi
chúng ta rước Thánh Thể cách bất xứng là chúng ta lại đóng đinh
Chúa Giê-su vào thập giá lần nữa, mà lần này th́ Chúa đau khổ hơn
khi Ngài bị đóng đinh trên thập giá trên đồi Can-vê, bởi v́ những
kẻ đóng đinh Ngài là chúng ta, những người được Ngài yêu thương và
cứu chuộc bằng cái chết nhục nhả của ḿnh. Từng giờ và từng phút,
nơi nhà tạm trong nhà thờ, Chúa Giê-su Thánh Thể vẫn chờ đợi chúng
ta đến viếng thăm an ủi Ngài, bởi v́ từng giay từng phút có rất
nhiều người xúc phạm đến Chúa Giê-su Thánh Thể trên khắp thế giới,
đó là lư do mà Giáo Hội mời gọi chúng ta luôn viêng Thánh Thể và
chầu Thánh Thể.
Ngay từ thời sơ khai của Giáo Hội, thánh
Phao-lô tông đồ đă lên tiếng cảnh cáo những người tham dự Thánh
Thể cách bất xứng, ngài nói: “V́ thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống
Chén của Chúa cách bất xứng, th́ cũng phạm đến Ḿnh và Máu Chúa."
(1 Cr 11, 27)
|
|