|
|
Tiểu La
Nguyễn Thành,
người
khai sáng Duy Tân hội

Tiểu La Nguyễn Thành
Đầu thế kỷ XX, Quảng Nam - miền đất địa linh nhân kiệt, đă khai
sinh ra hai phong trào cách mạng cứu nước rất quan trọng trong
lịch sử dân tộc đó là Duy Tân hội và phong trào Duy Tân.
Duy Tân hội thường gọi là "Ám xă", hoạt động bí mật, theo đường
lối quân chủ, chủ trương "bài Pháp giành độc lập".
Phong trào Duy Tân thường gọi là "Minh xă", hoạt động công khai,
theo đường lối dân chủ, chủ trương "ỷ Pháp tự cường" do Phan Châu
Trinh khởi xướng cùng với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp lănh đạo.
Nói đến Duy Tân hội và phong trào Đông Du, lâu nay sử sách chỉ
đề cao Phan Bội Châu là người "lănh đạo", "đề xướng thành lập",
c̣n Tiểu La Nguyễn Thành chỉ được xem là một sáng lập viên (1).
Thực ra, Tiểu La Nguyễn Thành mới là "ông tổ mở mối", là người đặt
ra "kế hoạch vĩ đại" cho đường lối cứu nước những năm đầu thế kỷ
XX của Phan Bội Châu như chính Phan Bội Châu đă thừa nhận (2).
Nguyễn Thành trước có tên là Nguyễn Hàm, sinh năm Quí Hợi
(1863) tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam (nay là
ấp Quí Thạnh, xă B́nh Quí, huyện Thăng B́nh, Quảng Nam).
Ông xuất thân trong một gia đ́nh quan lại, thân phụ là Nguyễn
Trường làm quan dưới triều Tự Đức, từng giữ chức Bố Chánh tỉnh
B́nh Định, sau sung chức Kinh lược sứ An Khê, hàm Tham tri. Ông là
con trai thứ, được phong hàm Ấm tử nên người trong vùng thường gọi
là Ấm Hàm, tự là Triết Phu, hiệu Nam Thịnh.
Thuở nhỏ ông học chữ Hán và luyện tập vơ thuật, năm Ất Dậu
(1885) ông ra Huế dự kỳ thi Hương nhưng sắp đến ngày thi th́ xảy
ra cuộc binh biến đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885 do
Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết lănh đạo, tấn công quân Pháp ở
trấn B́nh Đài (tức đồn Mang Cá Huế) và toà Khâm Sứ. Cuộc binh biến
không thành công, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở,
Quảng Trị phát hịch Cần vương. Kinh thành Huế thất thủ, con đường
cử nghiệp của Ấm Hàm cũng chấm dứt, ông quay về quê hương, nuôi
chí diệt thù cứu nước.
Tham gia Nghĩa Hội Cần Vương
Hịch Cần Vương vừa ban ra, khắp nơi đều hưởng ứng, nhưng Tôn
Thất Thuyết cùng những quần thần theo pḥ vua không có chủ trương,
đường lối để tổ chức, lănh đạo cuộc kháng chiến nên các sĩ phu yêu
nước phải tự động đứng ra chiêu mộ binh mă lập căn cứ chống Pháp ở
từng vùng riêng lẻ, tự ḿnh đảm đương mọi việc, không có sự trợ
giúp và chỉ đạo chung.
Toàn thể các tỉnh, thành, phủ, huyện miền Trung, nơi nào cũng
có căn cứ của Nghĩa Hội Cần Vương, Văn Thân.
Theo Nguyễn Thanh Dân, cháu nội đích tôn của Tiểu La Nguyễn
Thành, Ấm Hàm lúc bấy giờ mới 22 tuổi, đă tận mắt chứng kiến những
hành động ngang ngược vô nhân đạo của giặc Pháp xâm lược lúc kinh
thành Huế thất thủ nên vô cùng căm phẫn, v́ thế sau khi ông vượt
đèo Hải Vân về đến quê nhà liền đứng ra tập hợp các thanh niên
trai tráng trong vùng Thăng B́nh, Quế Sơn ngày đêm luyện tập vơ
thuật, binh pháp đợi ngày xông pha chiến trận.
Tháng 9 năm Ất Dậu (1885), Tiến sĩ Trần Văn Dư, giữ chức Sơn
pḥng sứ Quảng Nam, hưởng ứng chiếu Cần vương, quyết định đánh
chiếm thành tỉnh Quảng Nam, kêu gọi Ấm Hàm đem quân phối hợp. Ấm
Hàm nhận nhiệm vụ chỉ huy đội quân đi tiên phong và họp kín với
Trần Văn Dư đưa ra kế hoạch tác chiến. Cuộc tấn công chớp nhoáng,
bất ngờ, quân địch không kịp chống trả nên nghĩa quân đă chiến
thắng vẻ vang. Ấm Hàm ra lệnh cho quân của ḿnh vào kho vũ khí thu
hết súng đạn đem về trong lúc các tướng khác đua nhau lấy tiền bạc
của cải.
Sau chiến thắng, Ấm Hàm bàn với Trần Văn Dư nên rút lực lượng
về vùng núi để lập căn cứ kháng chiến, không nên chiếm giữ thành
tỉnh v́ thế nào quân Pháp cũng phản công và cần phải phát triển
lực lượng nhiều thêm nữa mới có thể chiến đấu lâu dài với kẻ thù.
Trần Văn Dư nghe theo thuộc hạ không chấp nhận ư kiến của Ấm Hàm,
ông đành phải rút quân của ḿnh về vùng núi Ô Gia thuộc huyện Đại
Lộc, lập căn cứ.
Trần Văn Dư cùng các bộ tướng ngày đêm lo đắp luỹ, sửa thành,
canh pḥng nghiêm ngặt, quyết tâm chống giữ. Quân Pháp cùng với
quân triều kéo vào tấn công, nghĩa quân chiến đấu hết sức anh dũng
nhưng do vũ khí thô sơ, thiếu thốn nên phải rút lui khỏi tỉnh
thành kéo về căn cứ để bảo toàn lực lượng. Đến tháng 10 năm 1885
Sơn pḥng bị thất thủ, sau đó Trần Văn Dư bị bắt và bị sát hại vào
tháng 12 năm 1885.
Đầu năm 1886 Nghĩa Hội Cần Vương Nam-Ngăi-Định chính thức thành
lập tôn Nguyễn Duy Hiệu làm hội chủ, lập trụ sở gọi là Tân Tỉnh ở
Trung Lộc thuộc huyện Quế Sơn để chỉ huy. Nguyễn Duy Hiệu viết thư
mời Ấm Hàm tham gia và cử ông giữ chức Tán Tương quân vụ, kiêm
Tham biện tỉnh vụ. Từ đấy nhân dân trong vùng gọi ông là Tán Hàm.
Tán Hàm tổ chức nghĩa quân thành cơ, đội, đề ra kỷ luật, thưởng
phạt nghiêm minh, ngày đêm ráo riết luyện tập binh pháp, vơ thuật.
Để mở rộng địa bàn kháng chiến, ông đề nghị với Nguyễn Duy Hiệu
lập thêm các căn cứ phía nam của tỉnh như căn cứ ở núi Gai, La Nga,
Eo Gió, An Lâm, kho quân lương ở Dốc Trâm, các ḷ rèn đúc binh khí
ở Đồng Linh, Phước Cang và một nơi chế hoả pháo, tạc đạn ở Phước
Hà.
Đây là thời gian Nghĩa Hội Cần Vương Quảng Nam phát triển rầm
rộ nhất, dân chúng các nơi hưởng ứng tham gia rất đông, các phú
hào, tiểu nông, thương gia đóng góp lương thực, tiền của khá nhiều.
Tuy thế do lập thêm căn cứ, quân sĩ đông, chi phí tăng nên các
đóng góp của dân chúng vẫn không đủ, Tán Hàm phải xin bà đích mẫu
cho bán gần 30 mẫu ruộng của gia đ́nh để chi dùng vào việc quân
(3).
Sau khi phát triển lực lượng, Tán Hàm liền mở các cuộc tập kích
vào các đồn binh của Pháp và Nam triều làm cho quân địch bối rối
phải lo pḥng thủ. Tháng 11 năm Bính Tuất (1886), quân Pháp và
quân Nam triều dưới sự chỉ huy của Đại tá Braxcini mở cuộc hành
quân lên Ái Nghĩa, Đại Lộc để tiêu diệt nghĩa quân. Tán Hàm đem
quân mai phục ở các địa thế hiểm trở, chờ lúc nửa đêm khi quân
địch ngủ say bất ngờ tấn công, chúng phải mở đường máu chạy về Thu
Bồn để phối hợp với quân Pháp đồn trú tại đây. Thừa thắng, Tán Hàm
lại tiếp tục tấn công Thu Bồn, quân Pháp bại trận phải bỏ luôn Thu
Bồn chạy về Đà Nẵng. Từ đó thanh thế của Nghĩa hội vang dậy, nghĩa
quân đă làm chủ hầu hết các vùng nông thôn của Quảng Nam.
Từ khi thực dân Pháp dùng Nguyễn Thân đem quân tấn công Nghĩa
Hội Cần Vương ở Quảng Ngăi và Đốc Phủ sứ Trần Bá Lộc mang đội quân
lính tập từ Nam kỳ ra miền Trung đánh dẹp Cần Vương B́nh Định, Phú
Yên, th́ lực lượng nghĩa quân ở đây lâm vào t́nh thế nguy khốn,
Nguyễn Duy Hiệu cử Tán Hàm đem quân vào Quảng Ngăi rồi sau đó vào
B́nh Định tiếp cứu, đánh cho quân địch tổn thất nặng nề. Tuy quân
Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc thất trận phải rút lui, nhưng nghĩa
quân Quảng Ngăi và B́nh Định cũng bị suy yếu rất nhiều.
Qua hai mặt trận Quảng Ngăi, B́nh Định, Nguyễn Thân đă đánh giá
cao về tài quân sự của Tán Hàm nên căn dặn tướng sĩ của ḿnh phải
hết sức cẩn trọng đối với Nguyễn Hàm. Trong lúc giao chiến, cấm
không được khinh suất chuốc lấy thảm bại v́: "Nam Ngăi dụng binh
duy Hàm nhất nhơn" (Ở Quảng Nam, Quảng Ngăi, về tài quân sự chỉ
Nguyễn Hàm là số một).
Sau khi đặt Đồng Khánh lên ngôi, thực dân Pháp mở chiến dịch
quân sự quyết liệt tấn công các căn cứ Cần Vương ở khắp nơi. Tại
Quảng Ngăi, sau trận kịch chiến với Nguyễn Thân, lực lượng nghĩa
binh suy yếu, thủ lănh Nguyễn Bá Loan qua đời. Cần Vương Quảng
Ngăi, B́nh Định tuy chưa bị tan ră nhưng cũng không c̣n đủ sức tấn
công quân giặc như trước.
Nguyễn Thân đem quân ra Quảng Nam phối hợp với quân Pháp và
quân Nam triều tấn công vũ băo vào các căn cứ nghĩa quân, Tân Tỉnh
bị đánh ác liệt. Tại trận kịch chiến ở G̣ May, nghĩa quân đại bại,
Tân Tỉnh bị đốt cháy, san bằng, Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến
phải giải tán lực lượng. Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự tử,
Nguyễn Duy Hiệu tự trói ḿnh nạp mạng cho quân thù để nhận lănh
hết trách nhiệm rồi chịu chết.
Lúc bấy giờ, nghĩa quân c̣n lại rất ít, phải thường xuyên lẫn
quất ở vùng triền núi Quảng Ngăi, nhưng Tán Hàm và Hồ Học dùng mưu
lược chiến đấu suốt cả năm trời mà Nguyễn Thân không tiêu diệt
được. Tuy thế, t́nh h́nh đất nước ngày càng xấu đi, cuối năm 1888,
vua Hàm Nghi bị Pháp bắt và đưa đi đày, tinh thần của nghĩa quân
nao núng, nhiều người bỏ về quê, quân số chỉ c̣n khoảng mấy chục
người, đa số là người Quảng Nam thuộc lực lượng đưa vào tiếp viện
cho Quảng Ngăi và B́nh Định năm trước. Trong t́nh thế đó, Tán Hàm
phải rút quân về Eo Gió Quảng Nam bằng đường núi. Khi đoàn quân
của ông đến đoạn đường hiểm trở, hai bên vách núi cheo leo tên là
Cầu Cháy thuộc huyện B́nh Sơn th́ bị quân Nguyễn Thân phục kích
vây đánh, tướng Hồ Học trúng đạn tử thương, c̣n ông th́ bị bắt
giam tại nhà lao Quảng Ngăi. Nguyễn Thân v́ phục tài của ông nên
đă ra lệnh cho thuộc hạ không được giết chết mà phải bắt sống hầu
mua chuộc, dụ dỗ ông ra làm quan với Nam triều, nhưng ông đă khéo
léo từ chối.
Ẩn nhẫn đợi thời
Lấy cớ phụng dưỡng mẹ già, Nguyễn Hàm xin được về quê cày cuốc
làm ăn sinh sống, Nguyễn Thân bất đắc dĩ chấp thuận nhưng đồng
thời lệnh cho nha phủ Thăng B́nh quản thúc, theo dơi ông.
Về quê, ông xây dựng Nam Thịnh sơn trang ở làng Thạnh Mỹ, phủ
Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam. Cũng theo Nguyễn Thanh Dân th́ những
năm đầu, ông chăm chú điều khiển công việc cày cấy, vui vẻ chuyện
tṛ, nhắc nhở người làm, chứng tỏ thái độ an phận làm ăn để che
mắt bọn mật thám của nha phủ, chỉ sau ba năm nông trang đă phát
triển, người làm ra vào tấp nập. Ông thường đi thăm các gia đ́nh
nông dân nghèo khổ, hoà đồng với cuộc sống của họ, cùng ăn với họ
củ khoai lang chấm muối, uống bát nước lá mồng năm, ai cũng vui
sướng, hớn hở khi được ông ghé đến túp lều tranh của họ và nhờ đó
ông hiểu thêm cuộc sống cũng như thân phận của họ.
Lúc bấy giờ, nhiều người thấy ông lúc nào cũng vui vẻ, không đá
động ǵ đến chuyện đất nước nên lầm tưởng ông đă thoả măn với cuộc
sống ấm no của riêng ḿnh mà lăng quên tổ quốc đồng bào, nhưng nào
có ai biết, đêm đêm, khi mọi người đă ngon giấc, th́ ông vẫn một
ḿnh đi lại trong vườn suy nghĩ đắn đo, t́m kiếm một hướng đi khác
thích hợp để đánh đuổi quân thù. Con đường Cần Vương đă thất bại,
mấy chục chàng trai năm xưa hăng hái theo ông pḥ vua cứu nước nay
đă thành liệt tử cô thần, đất nước vẫn điêu linh mà hướng đi mới
th́ chưa ló dạng. Ông đem tâm sự đó gửi đến hai người đồng chí của
ḿnh là Đỗ Đăng Tuyển và Châu Thượng Văn.
Ít lâu sau, ông được Đỗ Đăng Tuyển trao cho văn bản Thiên hạ
đại thế luận của Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch và sau đó ông c̣n nhận được
các sách báo của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu và của các tác giả
khác như: Trung Quốc Hồn, Tân Văn Tùng Báo, Dinh Hoàn Chí Lược,
Trung Đông Chiến Kỷ, Phổ Pháp Chiến Kỷ, các sách nói về nhân quyền,
dân quyền, dân chủ của các nhà tư tưởng Âu Tây dịch sang Hán văn
như: Dân ước luận, Vạn pháp tinh lư..., do các lái buôn người Hoa
đến Hội An bằng thương thuyền đem bán mà ông Châu Thơ Đồng (Châu
Thượng Văn) đă chọn mua. Nhờ nghiên cứu các tài liệu sách báo đó,
ông đă hiểu rơ thực trạng nghèo đói, lạc hậu của Trung Quốc và
Việt Nam lúc bấy giờ và thúc đẩy ông quyết tâm cứu nước theo quan
điểm, tư duy mới. Từ đây ông huỷ bỏ tên Nguyễn Hàm mà thời tham
gia Nghĩa Hội Cần Vương những người trong vùng quen gọi là Tán Hàm
và thay bằng tên Nguyễn Thành, hiệu Tiểu La để bước sang một giai
đoạn mới.
Thành lập Duy Tân hội
Từ lâu người ta chỉ nói đến Phan Bội Châu là người thành lập
Duy Tân hội và lănh đạo phong trào Đông Du mà không chú ư đến Tiểu
La Nguyễn Thành. Sự thực chính Tiểu La Nguyễn Thành mới là người
khai sáng Duy Tân Hội. Vai tṛ tổ chức, lănh đạo của ông đă thể
hiện rơ ràng qua những sự việc cụ thể do chính Phan Bội Châu kể
lại trong hai tài liệu vô cùng quí giá là Ngục Trung Thư và Tự
Phán:
* Tiểu La Nguyễn Thành gặp Phan Bội Châu, đưa ra những kế
sách hành động:
Mùa xuân năm Quư Măo (1903), dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Quưnh,
Phan Bội Châu từ trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế vào Quảng Nam
đến nông trang Nam Thịnh gặp Nguyễn Thành. Thế là lửa đă gặp gió,
Nguyễn Thành đă gặp được người đồng tâm đồng chí để mưu bàn đại sự,
v́ thế ngay từ đầu mới gặp Phan Bội Châu mà Nguyễn Thành vui thích
như bạn quen đă lâu ngày, cùng nhau kể chuyện tâm phúc đến suốt
đêm. Trong cuộc hội kiến này, mọi nhân tố đă được Nguyễn Thành
chuẩn bị sẵn sàng, ông đưa ra 3 kế sách hành động mà ông đă dày
công suy ngẫm bấy lâu nay khiến cho Phan Bội Châu vô cùng khâm
phục. Trong Ngục Trung Thư, Phan Bội Châu kể lại:
"Tôi đem chí muốn ra phân trần. Cụ vỗ tay nói: "Hay dữ! Thuở
nay, ai muốn mưu toan đại sự, trước hết phải cần ba điều này: một
là thu phục ḷng người, hai là góp số tiền lớn, ba là sắp đặt mua
sắm quân khí cho đủ. Hễ ḷng người đă chịu tin phục th́ số tiền
lớn có thể góp được. Có tiền th́ vấn đề quân giới không khó giải
quyêt đâu". (4, tr 279)
* Tiểu La Nguyễn Thành chủ trương Tôn phù nhà Nguyễn để thu
phục nhân tâm:
Nguyễn Thành cho rằng: "...phải hiểu dân trí và tập quán của
dân nước nhà, không thể nào bắt chước làm theo châu Âu cho được.
Bọn ta muốn có cách kêu gọi nhân tâm cho dễ, nếu không mượn tiếng
pḥ vua giúp chúa th́ những nhà sang họ lớn kia, ai chịu phụ hoạ
theo ḿnh. Vậy th́ ta dầu có bụng cứu nước mặc ḷng, chẳng qua chỉ
chết thân ḿnh cho tṛn được một tiếng vậy thôi, ngoài ra không ăn
thua lợi ích ǵ cho việc lớn.
"Vua Hàm Nghi trốn tránh ở chốn nào, đă lâu không nghe tin tức
ra sao. C̣n vua Thành Thái hiện tại th́ ở trong tay người Pháp
kiềm chế, anh em ta không làm cách ǵ ra vào thân cận bên ḿnh
ngài đặng. Sẵn có ḍng dơi của đức Đông Cung Cảnh là đích tự Cao
Hoàng, hiện nay đang c̣n. Chúng ta khởi nghĩa nên trước hết tôn
ngài lên làm cung chủ, có thế th́ danh nghĩa mới thuận, hiệu lệnh
được chuyên, mỗi khi ta cất tiếng kêu gào, thuận theo chiều gió,
tất nhiên có tiếng vang bóng sâu xa lắm vậy" (4, tr 279).
Để thực hiện kế sách này, ông giới thiệu với Phan Bội Châu một
người trong hoàng tộc đă từng âm mưu quang phục bị thất bại, trốn
vào Quảng Nam được ông lo liệu, giúp đỡ, ẩn thân tại đây 5, 6 năm
rồi. Đó là Tôn Thất Toại, nhưng Phan Bội Châu không vừa ư, muốn
t́m một người khác có tài trí hơn.
Trong Tự Phán Phan Bội Châu đă nói rơ chủ trương này của Nguyễn
Thành: "Tiểu La nói với tôi rằng: "Món ta khỉ sự, trước hết phải
thu ḷng người. Hiện những người nước ta bây giờ, ngoài tôn quân
thảo tặc ra c̣n chưa có tư tưởng ǵ lạ. Sở Hoài Vương, Lê Trang
Tôn, chẳng qua là một thủ đoạn. Vả lại sắp tính việc lớn, tất phải
trù có món tiền thật to. Kim tiền nước ta là ở Nam kỳ, mà khai
thác ra Nam kỳ là công đức triều Nguyễn làm. Vua Gia Long lấy lại
nước rặt là nhờ tài lực ở trong ấy. Bây giờ nếu ta t́m được chính
gịng Gia Long, đặt làm minh chủ, hiệu triệu Nam kỳ tất ảnh hưởng
mau lắm" (4, tr 36).
Đối với Tiểu La Nguyễn Thành, trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy
giờ, chủ nghĩa tôn quân vẫn c̣n đắc dụng, nó là nước cờ để thu
phục nhân tâm, tập hợp quần chúng, vận động tài chánh, điều vô
cùng quan trọng mà Phan Bội Châu chưa hề nghĩ đến. Trong Ngục
Trung Thư, chính Phan Bội Châu đă xác nhận:
"Tôi với hai ông Đặng (Đặng Tử Kính) , Lê (Lê Vơ), ban đầu thật
chúng tôi chưa hề suy tính tới việc tôn người ḍng dơi nhà vua.
Tới đây nghe Nguyễn Quân, chúng tôi cho là phải lẽ lắm (4, tr
279).
Phan Bội Châu tán đồng chủ trương tôn quân của Tiểu La Nguyễn
Thành v́ nó là một "biện pháp" hữu hiệu đối với hoạt động cách
mạng cứu nước lúc bấy giờ, nhất là ở Nam kỳ, dân chúng vẫn c̣n nhớ
triều đại cũ, nên muốn thu hút sự hợp tác của họ, cần phải xướng
lên việc "phù trợ quân vương" để kêu gọi ḷng người.
Về vấn đề này nhà Sử học Nhật Bản Shiraishi Masaya cũng nhận
định: "Như vậy tuy Phan và các đồng chí của ông ủng hộ lập người
trong hoàng tộc làm minh chủ, nhưng điều đó không có nghĩa là họ
thừa nhận ông vua bù nh́n hiện thực, mà họ có ư đồ phủ nhận ông ta,
đặt vị vua "chính thống" đối lập với ông ta. Hơn nữa mục đích của
họ không phải là để khư khư bám lấy hệ tư tưởng trung quân, mà suy
cho cùng, chỉ là để lấy đó làm một "phương tiện" tập hợp người và
tiền của mà thôi" (5, t1, tr 155, 156).
Để kế hoạch khỏi bị bại lộ, Nguyễn Thành giao cho Phan Bội Châu
lo t́m người trong hoàng tộc, nhất là ḍng chính vua Gia Long, tức
là con cháu Đông Cung Cảnh, v́ lúc này Phan Bội Châu đang ở Quốc
Tử Giám tại kinh đô Huế, rất thuận lợi cho việc t́m kiếm, c̣n
Nguyễn Thành vốn là người của Nghĩa Hội Cần Vương, đang bị theo
dơi, mọi hành động của ông đều dễ bị phát hiện.
Sau khi bàn bạc với Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Bội Châu bắt tay
vào thực hiện những kế hoạch do Nguyễn Thành đề ra và thường xuyên
báo cáo với ông kết quả việc làm của ḿnh.
Trước tiên, Phan Bội Châu lo t́m người trong ḍng tộc nhà vua,
ông đă t́m được Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là đích tự tôn của Đông Cung
Anh Duệ Hoàng Thái Tử. Lấy cớ xem tướng số, ông vào nhà Kỳ Ngoại
Hầu dùng chuyện tướng mệnh để ḍ la, biết được Kỳ Ngoại Hầu sẵn có
chí lớn, ông mới đem những lời của Tiểu La giải bày với Kỳ Ngoại
Hầu, Kỳ Ngoại Hầu đồng thuận, hai người cùng ăn thề đính ước với
nhau nguyện xả thân v́ đất nước, rồi ông gấp rút vào Quảng Nam báo
cáo với Tiểu La và hẹn Tiểu La ra Huế gặp Kỳ Ngoại Hầu. (4)
* Tiểu La Nguyễn Thành gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để:
Tháng 10 năm Quư Măo (1903), Nguyễn Thành với hành trang của
một lái buôn bí mật đến kinh thành Huế gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để
tại tư gia quan Bố Chánh Phạm Quư Thích, ông tŕnh bày với Cường
Để những kế sách chống Pháp và ngỏ ư mời Cường Để tham gia với vai
tṛ đứng đầu để có danh nghĩa hiệu triệu người trong nước, huy
động kim tiền, và để liên kết với nước ngoài. Cường Để rất phấn
khởi và hứa với ông sẽ vào Quảng Nam dự họp bất cứ lúc nào nhận
được tin của ông và Phan Bội Châu.
* Tiểu La Nguyễn Thành sắp đặt cho Phan Bội Châu đi Nam kỳ:
Tháng 12 năm Quư Măo (1903) Nguyễn Thành thúc giục Phan Bội
Châu lên đường vào Nam kỳ, Nguyễn Thành nói với Phan Bội Châu: "Anh
bây giờ Nam hành được rồi "(4, tr 38). Ông lo liệu cho Phan Bội
Châu rất chu đáo, từ việc mua sẵn giấy thông hành, đưa tiền lộ phí
đến việc phái người nhà là Tư Doăn đi theo giúp đỡ Phan Bội Châu,
do đó cuộc Nam du của Phan Bội Châu chẳng những đạt được những mục
đích là gặp Trần Thị, một nhà tu hành yêu nước ẩn cư tại Thất Sơn
thuộc tỉnh Châu Đốc để bàn việc, t́m tin tức của dư đảng nghĩa
quân Nam kỳ và giới thiệu ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với Nam kỳ
Nghĩa dân, mà c̣n mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho phong
trào Đông du về sau.
Phan Bội Châu trở về đến Quảng Nam, vào nhà Nguyễn Thành báo
cáo những việc Nam hành, ở lại một hôm rồi trở về kinh.
* Tiểu La Nguyễn Thành lập Duy Tân hội:
Nam Thịnh sơn trang, nơi ở của Nguyễn Thành là địa điểm tụ họp
thường xuyên của tổ chức hội.
Tháng 3 năm Giáp Th́n (1904), Nguyễn Thành đă tiếp đón ông Trần
Thị ở tỉnh Châu Đốc cùng vài đồng chí khác từ Nam kỳ đến Nam Thịnh
sơn trang, và Phan Bội Châu ở Huế vào họp bàn để định ước ngày
khai hội.
Ngày 8 tháng 4 năm Giáp Th́n (1904), Tiểu La Nguyễn Thành tổ
chức cuộc hội nghị bí mật tại Nam Thịnh sơn trang. Cuộc họp qui tụ
hơn 20 nhân vật trọng yếu để quyết định thành lập Duy Tân hội và
bầu Cường Để làm Hội trưởng. Sự kiện lịch sử quan trọng này đă
được Phan Bội Châu ghi lại trong Tự Phán:
"Đến ngày kỳ ước chính là thượng tuần tháng tư, tôi vào nhà
Tiểu La, có cả ông Kỳ Ngoại Hầu tới. Giữa hội chỉ là người trọng
yếu hơn hai chục người...
Bắt đầu khai hội từ buổi sáng qua chính trưa tan hội. Tên hội
chỉ người trong hội biết, không lập sổ sách, không biên chép họ
tên, chương tŕnh kế hoạch chỉ miệng trao ḷng nhớ mà thôi. Đặt Kỳ
Ngoại Hầu làm Hội chủ, hễ lúc xưng hô chỉ gọi bằng ông chủ, cấm
không được hở chữ "Hội" ra. Hội viên trọng yếu lúc ấy th́ có những
người như: Nguyễn Hàm, Phan Bội Châu, Tŕnh Hiền, Lê Vơ, Đặng Tử
Kính, Đặng Thái Thân và các người khác nữa. Những tiếng xưng hô
nhau, chỉ gọi bằng anh em, tuyệt không đặt ra danh mục ǵ. (4, tr
43)
Cuộc họp đă quyết định tổ chức triển khai kế hoạch hoạt
động,chủ yếu có ba điểm:
1) Mở rộng lực lượng của Hội. Muốn vậy phải nhanh chóng kết nạp
đảng viên, thu được nhiều đảng phí, trù tính cho đủ các món tài
liệu
2) Sau khi khởi phát bạo động, phải lo gấp các tài liệu để tiếp
tục tiến hành hoạt động.
3) Xác định phương châm ra nước ngoài cầu viện và phương thức
làm việc đó.
Hai khoản trên giao cho toàn thể đảng viên đảm đương, c̣n khoản
thứ ba th́ uỷ thác cho Nguyễn Thành và Phan Bội Châu bàn kín và
thực hiện, các đảng viên khác không được biết để bảo đảm bí mật
tuyệt đối. Ngoài 3 điều trên, hội nghị chưa đề ra thể chế chính
trị.
Đối với việc tập hợp đồng chí và quyên mộ quỹ có thể giải quyết
được, nhưng khó nhất lúc này là vấn đề quân giới. Trong Ngục Trung
Thư, Phan Bội Châu đă viết rơ:
"Phải chi ḿnh ở vào những thời Đinh, Lư, Lê, Trịnh thuở xưa,
th́ chỉ vung tay mà kêu lên một tiếng, tức thời sóng dậy sấm vang
chỉ là việc thành trong giây lát mà thôi. Nhưng đời nay th́ khác
hẳn. Từ lúc đời có súng đạn phát minh ra, bao nhiêu khí giới gọi
là gươm giáo đao thương đă hoá ra đồ bỏ. Cái thứ để chặt cây làm
mác kia, đời xưa người ta vác đi đánh Tần đuổi Sở được, chứ đời
nay có dùng nó làm nên tṛ vè ǵ! Phải biết vũ khí của người Pháp
tinh nhuệ hơn của người ḿnh muôn lần ngàn lần". (4, tr 285,286)
Phan Bội Châu đă thấy rằng tuy dân tộc ta vốn có truyền thống
kháng chiến anh dũng chống ngoại xâm, nhưng Thực dân Pháp ngày nay
không giống với thế lực phong kiến Trung Quốc thuở xưa v́ họ có vũ
khí hiện đại do đó đă áp đảo được chúng ta.
Nguyễn Lộ Trạch trong cuốn Thời vụ sách cũng bàn về tương quan
lực lượng giữa ta và Pháp: "Tây dương (Pháp) là nước có binh lực
lớn mạnh chưa từng thấy, hơn nữa quân đội của họ lại cơ động tự do
trong phạm vi 70 ngh́n dặm. So sánh địch ta, chúng ta không có cả
binh thuyền vững chắc, súng ống mạnh mẽ lẫn tài năng quân sự. Tàu
thuỷ, súng cối, binh khí của phương Tây từ xưa đă trác việt, trong
khi đó chúng ta về mọi mặt đều kém cỏi. Phía ta chỉ có thể ra xa
bờ biển một thước, trong khi chiến thuyền của địch đi lại trên mặt
biển. Trong các trận chiến ở Hà Nội, Ninh B́nh trước đây (trận
Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất năm 1873), binh lính của chúng chỉ
có mấy mươi tên mà chúng ta không thể đối phó đầy đủ được. Nếu
chúng dùng mấy mươi chiếc tàu thuỷ tiến công th́ tuy có chiều dài
mấy ngh́n dặm, nước ta vẫn không thể trụ lại được. (6,tr 18, 19)
Vậy muốn đánh đổ thực dân Pháp cần phải có vũ khí hiện đại. Ở
Việt Nam lúc bấy giờ không có khả năng kiếm được những vũ khí đó
v́ bị người Pháp độc chiếm, quản lư và kiểm soát gắt gao.
Trong Ngục Trung Thư, Phan Bội Châu viết: "C̣n khẩu súng nào ở
trong tay người ḿnh, th́ ngày đêm có tướng tá Pháp ǵn giữ coi
chừng hoài. Trong hàng quân ngũ, từ chức cai đội trở lên cũng
không có người ḿnh được làm. Nếu muốn dỗ họ trở súng cộng sự với
ḿnh, lúc b́nh thường không phải là chuyện dễ, trừ ra khi nào có
phát sinh đại chiến, họa chăng sự mưu tính mới được thực hiện. Các
ông sách sĩ (người chuyên nghĩ mưu tính kế) trong đảng chúng tôi
lúc ấy, gặp phải một vấn đề to lớn khó khăn mà không sao giải
quyết được, ấy chính là vấn đề quân giới.
Trong nước ta có sở chế tạo quân giới nào, đều có binh lính
Pháp chiếm giữ, canh gác cẩn mật, nếu bà con ḿnh đi qua hơi liếc
mắt ḍm mấy nơi đó cũng bị tội nặng lập tức. Như vậy th́ chúng tôi
có nhúng tay vô chỗ nào mà lấy khí giới được đâu!
Muốn mua khí giới ở ngoại quốc chở vào cho ḿnh lại cũng không
được. Là v́ bao nhiêu cửa biển trong nước, cửa nào cũng có nhà
chuyên trách của Bảo hộ cắt đặt, khám xét ḍ la hết sức nghiêm
ngặt. Dầu cho ḿnh mua ở ngoài được, nhưng một số quân giới rất
nhiều, ḿnh có phép tiên, chước quỷ ǵ mà vận tải nó lọt vô xứ này
cho nổi?" (4, tr 286)
Con đường t́m kiếm vũ khí đă bị bế tắc, bàn tính măi, cuối cùng
chỉ c̣n cách xuất dương cầu viện. Vấn đề khó khăn này cũng đă được
Tiểu La Nguyễn Thành tiên liệu.
* Nguyễn Thành tổ chức cho Phan Bội Châu xuất dương:
Để việc xuất dương cầu viện có kết quả, cần phải có hai yếu tố:
- Hành phí
- Người có tài ngoại giao và người dẫn đường.
Tiểu La đă tính trước và trù bị mọi việc một cách chu đáo, từ
lo kinh phí, cử người xuất dương và người dẫn đường đến phân tích
thời cuộc rạch ṛi để t́m nước nào có thể giúp đỡ ḿnh một cách
hiệu quả. Trong Tự phán Phan Bội Châu đă thuật lại rất đầy đủ:
"Tiểu La mới bàn với tôi rằng: "Về việc kinh phí chỉ ḿnh (Tiểu
La) với Sơn Tẩu (Ô Gia Đỗ Đăng Tuyển) biện được xong, ngoại giao
nhân tài hiện nay thật khó, đă không người khác, tất phải anh (Phan
Bội Châu) thân đi, c̣n hướng đạo viên th́ tôi tính sẵn đă lâu ngày.
Tôi tưởng t́nh thế liệt cường bây giờ, nếu không phải nước đồng
chủng đồng văn, tất không ai chịu giúp ta: Nước Tàu đă chịu nhượng
nước Việt Nam cho Pháp, huống ǵ hiện nay quốc thế suy hèn, cứu
ḿnh không xong mà cứu được ai? Duy Nhật Bản là nước tân tiến ở
trong ṇi giống vàng, vừa mới đánh được Nga, dă tâm đương hăng hái
lắm, qua tới đó đem lợi hại bày tỏ, tất có hiệu quả, dầu họ không
xuất binh mă, mà mượn tư lương, mua khí giới tất có thể dễ dàng.
Vậy nên chúng ta muốn đứng khóc sân Tần, không chi bằng Nhật Bản
là phải.
Ông Tăng Bạt Hổ từ ngày Cần Vương thất bại, từng chạy khắp
Quảng Đông Quảng Tây, lại có mang quốc thư đi qua Lữ Thuận thông
hiếu với Nga sứ, việc đó bất thành chuyển qua Đài Loan, dựa Lưu
Vĩnh Phúc. Nhật lấy Đài Loan, Vĩnh Phúc thua chạy. Tăng quay sang
Xiêm, mượn đường về nước, hiện nay núp giấu ở Hà Nội, tấm ḷng báo
quốc càng kiên lắm. Tôi từng viết thư kêu anh về, chẳng rày th́
mai, Tăng quân tất về đây. Gánh cái gánh người đưa đường, anh
không phải không có xe chỉ nam nữa" (4,tr 45,46).
Ngày 20 tháng giêng năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu, Tăng Bạt
Hổ và Đặng Tử Kính xuống tàu thuỷ tại Hải Pḥng ra đi. Từ đó theo
phân công, ba ông sẽ đảm đang những việc ở nước ngoài (Nhật Bản)
c̣n Tiểu La Nguyễn Thành và Ngư Hải Đặng Thái Thân điều hành đảng
và các hoạt động trong nước.
Đến Nhật Bản, Phan Bội Châu đă gặp được Lương Khải Siêu và các
yếu nhân trong chính giới Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị, Bá tước Đại
Ôi để nhờ Nhật Bản giúp cho binh lính, vũ khí, lương thực, nhưng
bị Nhật khước từ. Theo sự góp ư của Lương Khải Siêu về sách lược
chống Pháp, Phan Bội Châu viết "Việt Nam vong quốc sử" với lời lẽ
vô cùng thống thiết kêu gọi thanh niên xuất dương cầu học để đào
tạo nhân tài, làm nền tảng hưng dân khí, khai dân trí.
Tháng 6 năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính mang
một số sách ấy bí mật về nước với mục đích:
- Đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sang Nhật
- Chọn một số du học sinh sang Nhật để mở đường cho công cuộc
du học sau này
- Gặp Tiểu La để báo cáo t́nh h́nh bên Nhật, nhưng Phan Bội
Châu không gặp được v́ bị thực dân Pháp niêm yết truy nă khắp nơi,
ông phải gấp rút trở lại Nhật Bản đem theo 3 du học sinh đầu tiên,
c̣n việc đưa Kỳ Ngoại Hầu xuất dương và tuyển chọn nhân tài đi du
học, Tiểu La cùng Ngư Hải lo liệu sau.
Vậy là sau khi bị Nhật Bản từ chối giúp đỡ binh lực cho ta,
Phan Bội Châu đă chuyển hướng "cầu viện" sang "cầu học" tạo nên
phong trào Đông Du, do đó Nguyễn Thành cùng các đồng chí trong
nước phải tập trung vào việc t́m nhân tài đưa đi du học và đẩy
mạnh công tác kinh tài. Để có số tiền lớn gởi sang Nhật, Nguyễn
Thành đă khéo léo phối hợp với các sĩ phu yêu nước của phong trào
Duy Tân tổ chức các hội học, hội nông, hội công, hội thương... ở
các tỉnh, chăm lo sản xuất, kinh doanh, thu lợi tức, quyên góp
tiền bạc. Theo tài liệu của sở Mật thám Pháp, Nguyễn Thành có quan
hệ chặt chẽ với 72 cơ sở "thương hội" trong toàn miền (7, tr 31).
Ông c̣n góp cả cổ phần kinh doanh lấy tiền gởi cho Phan Bội Châu
chi phí cho du học sinh.
Phong trào Đông Du được giới trẻ hưởng ứng rầm rộ, nhất là
thanh niên Nam kỳ, trong ṿng một năm đă có 200 học sinh xuất
dương và số tiền gởi sang Nhật lên đến 12.000 đồng. Trong cuộc vận
động này, Nguyễn Thành đă giữ một vai tṛ rất quan trọng.
Năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" nổi lên rầm rộ ở Quảng
Nam rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp đàn
áp dă man, các chí sĩ cách mạng kẻ bị tử h́nh, người bị giam cầm,
khổ sai, Nguyễn Thành bị bắt đày đi Côn đảo và mất tại đó năm
1911.
Từ khi Tiểu La bị bắt, lưu học sinh bên Nhật cũng lao đao, phần
th́ thiếu tiền phần th́ thực dân Pháp bắt tay với Nhật yêu cầu
trục xuất lưu học sinh Việt Nam, Phan Bội Châu rồi Cường Để cũng
lần lượt phải rời đất Nhật, Duy Tân hội tan ră, phong trào Đông Du
kết thúc.
Những đóng góp to lớn của Tiểu La Nguyễn Thành chứng tỏ ông là
người khai sáng và lănh đạo Duy Tân Hội, đảng cách mạng cứu nước
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Phan Bội Châu chỉ là người thực
hiện và được giao trách nhiệm lănh đạo ở hải ngoại, do đó trở
thành linh hồn của phong trào Đông Du. Cho đến khi Tiểu La Nguyễn
Thành hy sinh tại Côn đảo th́ Duy Tân hội và phong trào Đông Du
cũng bị khai tử theo ông. Năm Nhâm Tư (1912) Phan Bội Châu thành
lập Việt Nam Quang Phục hội thay đổi đường lối từ chủ nghĩa quân
chủ sang chủ nghĩa dân chủ để "khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt
Nam Cộng hoà Dân quốc" (4, tr 178), đáp ứng t́nh h́nh chuyển biến
mới trên trường quốc tế.
Từ khi thành lập Duy Tân hội (1904) cho đến khi bị đày ra Côn
đảo (1908), Tiểu La Nguyễn Thành là một nhà lănh đạo xuất sắc đă
tiên liệu và trù bị mọi việc của đảng một cách tài t́nh, chu đáo
nhờ thế Phan Bội Châu mới có điều kiện vận dụng tài năng xuất
chúng và nhiệt t́nh cứu nước của ḿnh để hoàn thành những nhiệm vụ
được giao, cho nên trong những năm đó bất cứ làm việc ǵ Phan Bội
Châu cũng báo cáo và thỉnh ư Nguyễn Thành. Chính v́ vậy, khi nghe
tin Tiểu La Nguyễn Thành đă vĩnh viễn ra đi, Phan Bội Châu vô cùng
đau xót, hụt hẩng và cô đơn. Trong bài Văn tế ông đă khóc Nguyễn
Thành bằng những lời thống thiết xuất phát tự tâm can:
"Nghĩ một người đă tạo
ra em, thành tựu cho em, mà nay kẻ mất người c̣n, hồn trời phách
đất!
Mây Hải Vân mờ mịt bóng
gươm vàng
Bể Đà Nẵng chập chờn cơn sóng bạc".
và tuyên bố với đồng chí và quốc dân: "Tiểu La tiên sinh mất,
Việt Nam mất một trang đại quốc sĩ".
Tài lănh đạo của Nguyễn Thành cũng được Huỳnh Thúc Kháng đánh
giá một cách đầy đủ trong câu đối điếu Tiểu La:
"Mấy mươi năm giống trái vẫn c̣n, nào
kinh tế gia, nào quân lữ gia, nào bí mật vận động gia. Trăm lần
uốn chẳng cong, đời cựu, buổi tân vị trí nghiễm nhiên giành một
chiếu".
Phan Bội Châu, người đồng chí, đồng sự với Tiểu La Nguyễn Thành
đă xác nhận: "Từ Duy Tân hội đến phong trào Đông Du, chính Tiểu La
tiên sinh là ÔNG TỔ mở mối, vạch đường khai sinh ra tất cả".
Hậu thế lẽ nào lại không công nhận những điều xác nhận của Phan
Bội Châu.
Sách tham khảo:
(1) Uỷ ban KHXHVN, Lịch sử Việt Nam, T2, NXB KHXH, 1985
(2) Phan Bội Châu Toàn tập, T4, NXB Thuận Hoá Huế 1990
(3) Nguyễn Thanh Dân, Tiểu La Nguyễn Thành nhà ái quốc và cách
mạng VN cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
(4) Phan Bội Châu, Tự Phán và Ngục Trung Thư, NXB Văn hoá Thông
tin
(5) Shiraishi Masaya - 白石昌也 : Phong trào dân tộc VN và quan hệ của nó
với Nhật Bản và châu Á -Tư tưởng của Phan Bội Châu về cách mạng và
thế giới
(6) Anh Minh, Nguyễn Lộ Trạch, tr 18,19
(7) Dẫn theo Chương Thâu, 100 năm thành lập Duy Tân hội - Thân
thế và sự nghiệp Tiểu La Nguyễn Thành, kỷ yếu hội thảo
Châu Yến Loan
........
Nguồn :
Việt Báo
|
|